Mục đích nghiên cứu của luận án nhằm làm rõ lý luận và thực trạng về nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, luận án đề xuất những quan điểm cơ bản và một số giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở Lào hiện nay.
Trang 1ĐAVON BUTTHANUVÔNG
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
Ở NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
HIỆN NAY
LUẬN ÁN TIẾN SĨ
CHUYÊN NGÀNH: CHỦ NGHĨA XÃ HỘI KHOA HỌC
HÀ NỘI 2018
Trang 2ĐAVON BUTTHANUVÔNG
NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
Ở NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan các kết quả nghiên cứu đưa ra trong luận án này dựa
trên các kết quả thu được trong quá trình nghiên cứu của riêng tôi Nội dung
của luận án có sự tham khảo và sử dụng một số thông tin, tài liệu từ các
nguồn sách, tạp chí, đề án, quyết định… đã được tác giả ghi rõ nguồn gốc và
liệt kê trong danh mục tài liệu tham khảo
Tác giả luận án
Đavon Butthanuvông
Trang 4MỤC LỤC
Chương 1.TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN
ĐỀ TÀI 6 1.1 Các công trình, nghiên cứu có liên quan đến đề tài luận án 6 1.2 Những giá trị tham khảo từ các công trình có liên quan và những nội dung luận án cần tập trung nghiên cứu 23 Kết luận chương 1 28 Chương 2.CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO Ở NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO 29 2.1 Quan niệm về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao 29 2.2 Quan điểm của đảng nhân dân cách mạng lào về nguồn nhân lực chất lượng cao; các bộ phận cầu thành và tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực chất lượng cao của lào 35 2.3 Những yếu tố tác động đến nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào 46 Kết luận chương 2 57 Chương 3.THỰC TRẠNG NGUỒN NHÂN LỰC CHẤT LƯỢNG CAO
NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA 58 3.1 Thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay 58 3.2 Những vấn đề đặt ra đối với nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay 93 Kết luận chương 3 109 Chương 4.QUAN ĐIỂM CƠ BẢN VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 110
NƯỚC CỘNG HÒA DÂN CHỦ NHÂN DÂN LÀO HIỆN NAY 110
Trang 54.1 Quan điểm cơ bản nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước
cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay 110
4.2 Giải pháp chủ yếu nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước cộng hòa dân chủ nhân dân lào hiện nay 117
Kết luận chương 4 154
KẾT LUẬN 155
MỘT SỐ KIẾN NGHỊ 158
DANH MỤC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 160
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 161
PHỤ LỤC 172
Trang 6DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT TRONG LUẬN ÁN
(Tổ chức thương mại thế giới)
Trang 7DANH MỤC CÁC BẢNG TRONG LUẬN ÁN
Bảng 3.1: Tổng số cán bộ lãnh đạo quản lý cấp Bộ trưởng và vụ trưởng ở các
bộ và cơ quan ngang bộ (16 Bộ và 20 cơ quan ngang Bộ) 61
Bảng 3.2: Trình độ chuyên môn của cán bộ lãnh đạo quản lý cấp bộ trưởng, thứ trưởng và vụ trưởng ở các bộ và cơ quan ngang bộ 63
Bảng 3.3: Số lượng giáo viên trong hệ thống giáo dục phổ thông Lào 68
Bảng 3.4: Số lượng giáo viên, nghiên cứu viên Lào 68
Bảng 3.5: Tình trạng sức khỏe của nguồn nhân lực chất lượng cao Lào 92
Trang 8DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ TRONG LUẬN ÁN
Biểu đồ 3.1: Lao động làm việc theo tổ chức 78 Biểu đồ 3.2: Nguồn kỹ năng công việc của đội ngũ công nhân lành nghề ở CHDCND Lào 80 Biểu đồ 3.3: Trình độ học vấn của nông dân chất lượng cao ở Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào 90 Biểu đồ 3.4 Thu nhập bình quân theo tháng của đội ngũ nông dân giỏi so với các đội ngũ khác 91 Biểu đồ 3.5: Nhu cầu của thị trường lao động ở Lào năm 2010-2016 93
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Hiện nay, toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế và sự phát triển mạnh mẽ của cuộc cách mạng khoa học - công nghệ hiện đại, đặc biệt là kinh tế tri thức và cách mạng công nghiệp lần thứ tư (4.0) đang đặt ra cho mọi quốc gia dân tộc cả thời cơ và thách thức trong tiến trình phát triển Mỗi quốc gia có tranh thủ được thời cơ, vượt qua được thách thức để phát triển nhanh và bền vững hay không, điều đó tùy thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó đặc biệt là chất lượng nguồn nhân lực, trước hết là nguồn nhân lực chất lượng cao Để đáp ứng yêu cầu này, nhiều quốc gia đang xây dựng chiến lược phát triển nguồn nhân lực, trong đó nguồn nhân lực chất lượng cao (NNLCLC) được xem là khâu “đột phá”
Nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân (CHDCND) Lào cũng đang trong thời kỳ xây dựng và bảo vệ đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa Sự nghiệp này có thành công hay không phụ thuộc phần lớn vào nguồn nhân lực quốc gia Khẳng định điều này, Đảng Nhân dân Cách mạng (NDCM) Lào chỉ rõ: "Con người là yếu tố quyết định cho sự phát triển và coi con người là đối tượng ưu tiên của sự nghiệp phát triển Việc phát triển đất nước có hiệu quả
Sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa (CNH, HĐH), xây dựng và bảo
vệ Tổ quốc trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ở CHDCND Lào càng đi vào chiều sâu, càng đòi hỏi phải phát triển nhanh NNLCLC vì đây là bộ phận tinh hoa nhất của nguồn nhân lực giúp cho Lào có thể tranh thủ thời cơ, vượt qua mọi thách thức để xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội (CNXH) ở nước CHDCND Lào Nhận thức rõ tầm quan trọng có ý nghĩa quyết định của NNLCLC đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước, mới đây tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2016), Đảng NDCM Lào chỉ rõ: “Phát triển nguồn nhân lực là yếu tố hàng đầu để nâng cao lực lượng sản xuất và xây dựng nền
Trang 10kinh tế tri thức, trong đó phát triển NNLCLC trở thành yếu tố quyết định sự phát triển đất nước: tạo được nhân lực có tay nghề cao, có kỷ luật và cần cù lao động” [88, tr 84] Do vậy, NNLCLC trở thành một trong những yếu tố then chốt, có vai trò đặc biệt trong sự nghiệp CNH, HĐH ở nước CHDCND Lào hiện nay
Tuy nhiên do xuất phát điểm thấp nên bước vào thế kỷ XXI, Lào vẫn là một quốc gia nông nghiệp lạc hậu; cơ sở vật chất - kỹ thuật cho xây dựng chủ nghĩa xã hội thiếu thốn; chất lượng giáo dục và đào tạo, y tế ở nhiều nơi chưa đảm bảo; trình độ văn hoá, dân trí và các chỉ số phát triển con người còn thấp; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân Lào nhìn chung còn rất khó khăn; năng lực cạnh tranh của nền kinh tế thấp… Tất cả những hạn chế đó suy cho cùng do chất lượng nguồn nhân lực của Lào còn thấp, đặc biệt thiếu hụt nghiêm trọng NNLCLC Một thực tế không thể phủ nhận là hiện tại nguồn nhân lực chất lượng cao ở Lào thiếu về số lượng, thấp về chất lượng; bất cập về cơ cấu
và phân bố Đây là một trong những rào cản, điểm nghẽn đang cản trở quá trình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội… ở Lào Nếu không sớm xây dựng và phát triển được NNLCLC thì sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa ở CHDCND Lào sẽ còn rất gian nan và mục tiêu mà Kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội 5 năm lần thứ VIII (2016-2020) của Đảng NDCM Lào nêu ra sẽ khó đạt được - mục tiêu đó là: “Đảm bảo ổn định chính trị, trật tự, an toàn xã hội vững chắc; phát triển đất nước thoát khỏi nước kém phát triển vào năm 2020, thúc đẩy kinh tế phát triển liên tục theo hướng phát triển xanh và bền vững; có sự quản lý và sử dụng tài nguyên thiên nhiên một cách hiệu quả, tạo được sự đổi mới mô hình phát triển theo hướng phát huy tiềm năng và thế mạnh của đất nước, chủ động tham gia hội nhập khu vực và quốc tế”[66, tr 15]
Với những lý do trên, tôi chọn vấn đề “Nguồn nhân lực chất lượng
cao ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay” làm đề tài nghiên
cứu của luận án
Trang 112 Mục đích và nhiệm vụ của luận án
- Phân tích, đánh giá thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước CHDCND Lào và những vấn đề đặt ra trong việc phát triển nguồn nhân lực này ở Lào hiện nay
- Đề xuất những quan điểm cơ bản và những giải pháp chủ yếu góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước CHDCND Lào hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Luận án tập trung nghiên cứu nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước CHDCND Lào hiện nay
3.2 Phạm vi nghiên cứu
- Giới hạn về thời gian: Đề tài nghiên cứu nguồn nhân lực chất lượng
cao ở nước CHDCND Lào từ năm 2010 đến nay
- Giới hạn về đối tượng nguồn nhân lực chất lượng cao: Trong giới
hạn của đề tài, luận án chỉ tập trung nghiên cứu 4 bộ phận cơ bản của nguồn nhân lực chất lượng cao ở Lào, đó là: đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; đội ngũ trí thức; đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề và đội ngũ nông dân chất lượng cao Bốn bộ phận này đồng thời là lực lượng hạt nhân, cốt lõi nhất của nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước CHDCND Lào hiện nay
Trang 124 Cơ sở lý luận và thực tiễn, phương pháp nghiên cứu
4.1 Cơ sở lý luận
Luận án được triển khai trên cơ sở lý luận của chủ nghĩa Mác - Lênin,
tư tưởng Cay Sỏn Phôm Vi Hản và những chủ trương, quan điểm cơ bản của Đảng và chính sách của Nhà nước Lào về con người, nguồn nhân lực, nguồn
nhân lực chất lượng cao
4.2 Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn trong nước và quốc tế tác động đến nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao của Lào;
Thực trạng nguồn nhân lực, đặc biệt là nguồn nhân lực chất lượng cao
ở nước CHDCND Lào; kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao của một số nước trên thế giới
4.3 Phương pháp nghiên cứu
- Luận án sử dụng phương pháp duy vật biện chứng và duy vật lịch sử làm nền tảng cơ sở phương pháp luận cho việc triển khai các nội dung của
đề tài
- Luận án sử dụng một số phương pháp nghiên cứu khoa học như: lôgíc - lịch sử, phương pháp phân tích tổng hợp, khái quát, phương pháp hệ thống cấu trúc, so sánh, phương pháp kết hợp giữa lý luận và thực tiễn, phương pháp điều tra xã hội học (điều tra 4 đối tượng: đội ngũ cán bộ lãnh đạo quản lý, đội ngũ trí thức, đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề và đội ngũ nông dân chất lượng cao Mỗi đối tượng điều tra 100 phiếu, mỗi phiếu có 18 câu hỏi, xem mẫu phiếu ở phụ lục 9), phân tích số liệu thống kê để định lượng, định tính nhằm triển khai thực hiện các nhiệm vụ của luận án
Ngoài ra luận án còn sử dụng phương pháp kế thừa, sử dụng kết quả nghiên cứu từ các công trình khoa học trên góc độ khác nhau có liên quan đến
đề tài để nghiên cứu về nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước CHDCND Lào dưới góc độ chính trị - xã hội
Trang 135 Đóng góp mới của luận án
- Góp phần đưa ra quan niệm, quan điểm về nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước CHDCND Lào và những yếu tố tác động đến nguồn nhân lực này
- Góp phần làm rõ thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao, và một số vấn đề đặt ra đối với nguồn nhân lực này ở nước CHDCND Lào
- Đề xuất một số giải pháp mang tính khả thi nhằm góp phần phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước CHDCND Lào hiện nay
6 Ý nghĩa thực tiễn của luận án
- Kết quả nghiên cứu của luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu, hoạch định chiến lược phát triển nguồn nhân lực nói chung, NNLCLC nói riêng ở CHDCND Lào
- Luận án có thể được sử dụng làm tài liệu tham khảo cho công tác nghiên cứu, giảng dạy và học tập những vấn đề có liên quan tại nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào
7 Kết cấu của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo và phụ lục, luận án được kết cấu thành 4 chương, 9 tiết
Trang 14Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 CÁC CÔNG TRÌNH, NGHIÊN CỨU CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI LUẬN ÁN
1.1.1 Những công trình khoa học nước ngoài liên quan đến nguồn nhân lực
- Trần Văn Tùng, Lê Ái Lâm (Viện kinh tế thế giới), Phát triển nguồn
nhân lực: kinh nghiệm thế giới và thực tiễn nước ta [52] Cuốn sách giới thiệu
khái quát về vai trò của nguồn nhân lực trong nền kinh tế đổi mới và những kinh nghiệm trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực
ở một số nước trên thế giới Công trình này khẳng định rằng: vận dụng tốt những kinh nghiệm quý báu đó vào phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam sẽ tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển
- Nguyễn Trọng Bảo (chủ biên), Gia đình, nhà trường, xã hội với việc
phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài [1]
Cuốn sách giúp chúng ta tìm hiểu vấn đề “bồi dưỡng nhân tài” của Đảng Cộng sản Việt Nam Đặc biệt, các tác giả đã tập trung làm rõ vai trò của gia đình, nhà trường và xã hội trong việc phát hiện, tuyển chọn, đào tạo, bồi dưỡng, sử dụng và đãi ngộ người tài, trên cơ sở đó, đề xuất một số giải pháp
để nâng cao và phát triển nguồn nhân lực này
- Mai Quốc Chánh, Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu
cầu CNH, HĐH đất nước [2] Cuốn sách đã phân tích vai trò của nguồn nhân
lực và sự cần thiết phải nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, từ đó đề xuất những giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH đất nước
- Christian Batal, Quản lý nguồn nhân lực trong khu vực Nhà nước [119] Nội dung trong cuốn sách này tập trung phân tích năng lực làm việc
của cán bộ công chức thuộc khối doanh nghiệp nhà nước Xây dựng khung
Trang 15năng lực tiêu chuẩn, trên cơ sở đó phân loại năng lực; đồng thời mô tả công việc chuyên môn của một số công việc chuyên trách yêu cầu nhân lực chất lượng cao như: Phụ trách đào tạo trong một cơ quan Nhà nước, công việc của một thủ trưởng đơn vị trong doanh nghiệp Nhà nước…
- Nguyễn Hữu Dũng, Sử dụng hiệu quả nguồn lực con người ở Việt Nam
[7] Cuốn sách làm rõ một số vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến phát triển, phân bố, sử dụng nguồn lực con người trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam; đồng thời đề xuất các chính sách và giải pháp nhằm phát triển, phân bố hợp lý và sử dụng hiệu quả nguồn lực con người trong quá trình phát triển kinh tế - xã hội
- Phạm Thành Nghị và Vũ Hoàng Ngân (chủ biên), Quản lý nguồn
nhân lực ở Việt Nam: một số vấn đề lý luận và thực tiễn [38] Cuốn sách là
tập hợp các bài nghiên cứu, bài viết, bài tham luận tại Hội thảo của Đề tài KX.05.11 thuộc Chương trình khoa học - công nghệ cấp nhà nước KX.05 (giai đoạn 2001-2005), với các vấn đề lý luận, kinh nghiệm và những khuyến nghị chính yếu trong quản lý nguồn nhân lực Việt Nam Công trình có ý nghĩa quan trọng để Nhà nước Việt Nam quản lý hiệu quả nguồn nhân lực Việt Nam, góp phần đẩy mạnh CNH, HĐH và thực hiện công cuộc đổi mới đất nước theo định hướng XHCN
- Đoàn Văn Khái, Nguồn lực con người trong quá trình công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở Việt Nam [17] Tác giả đã phân tích về con người với
tư cách là nguồn nhân lực cho công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Tác giả coi con người là nguồn lực của mọi nguồn lực, là tài nguyên của mọi tài nguyên; giữ vị trí trung tâm trong toàn bộ quá trình CNH, HĐH là
do con người và vì con người Tác giả cũng đưa ra những giải pháp cơ bản nhằm khai thác và phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay
Trang 16- Bùi Văn Nhơn, Quản lý và phát triển nguồn nhân lực xã hội [39]
Cuốn sách gồm 6 chương, trình bày: Dân số - cơ sở tự nhiên hình thành nguồn lực xã hội; nguồn nhân lực và những đặc điểm của nguồn nhân lực Việt Nam; phát triển nguồn nhân lực phục vụ sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; việc sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực xã hội vào sản xuất xã hội; việc tổ chức tiền lương và bảo hiểm xã hội trong nền kinh tế quốc dân; tổ chức phân bổ dân cư và nguồn nhân lực xã hội
- Phạm Minh Hạc (Chủ biên), Phát triển văn hoá, con người và nguồn
nhân lực thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước [12] Cuốn sách đã
phân tích mối quan hệ biện chứng giữa văn hoá, con người và nguồn nhân lực Phát triển văn hoá, con người và nguồn nhân lực phải đặt trong một tổng thể không tách rời nhau, gắn kết nhau trong một thể thống nhất Đồng thời, nhóm tác giả cũng làm rõ chất lượng nguồn nhân lực của người lao động được thể hiện ở tri thức tốt, kỹ năng cao và tính nhân văn Công trình đã phân tích các vấn đề lý luận về con người, phát triển con người, phát triển nguồn nhân lực; các định hướng và giải pháp phát triển NNLCLC Trong đó, phát triển giáo dục - đào tạo là biện pháp quan trọng hàng đầu, có tầm quyết định
để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
- Phạm Công Nhất, Phát huy nhân tố con người trong phát triển lực
lượng sản xuất ở Việt Nam hiện nay [34] Tác giả khẳng định Việt Nam là
một nước có tốc độ phát triển nguồn nhân lực nhanh cả về số lượng và chất lượng Tuy nhiên, trong quá trình phát triển kinh tế đất nước và hội nhập kinh
tế quốc tế ngày càng sâu rộng, sự cạnh tranh giữa các quốc gia về nguồn nhân lực và khoa học - công nghệ, thì chất lượng nguồn nhân lực của Việt Nam hiện nay còn nhiều bất cập và hạn chế Từ đó, tác giả đề xuất một số giải pháp nhằm góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở Việt Nam
- Nguyễn Văn Tài, Phát huy tính tích cực xã hội của đội ngũ cán bộ
nước ta hiện nay [43] Trên cơ sở quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư
Trang 17tưởng Hồ Chí Minh, cuốn sách đã phân tích, làm rõ những cơ sở lý luận và thực tiễn của đường lối, chính sách cán bộ của Đảng Cộng sản Việt Nam Đặc biệt với phương pháp tiếp cận hệ thống, tác giả đã đưa ra những đánh giá sát thực về tình hình cán bộ Việt Nam hiện nay, đề xuất những giải pháp
cụ thể, có tính khả thi để góp phần kiện toàn, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ các cấp
- Trần Khánh Đức, Giáo dục và phát triển nguồn nhân lực trong thế kỷ
XXI [10] Cuốn sách đã làm rõ vai trò quan trọng của giáo dục và đào tạo
trong phát triển con người nói chung và nguồn nhân lực đất nước nói riêng Tác giả đã làm rõ khái niệm về nguồn nhân lực, phát triển nguồn nhân lực và các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực Tác giả cho rằng, khâu đột phá để phát triển nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là phải đổi mới, cải cách giáo dục và đào tạo
- Nguyễn Văn Phúc, Mai Thị Thu (Đồng chủ biên), Khai thác và phát triển tài nguyên nhân lực Việt Nam [41] Nội dung của cuốn sách đề cập đến
quá trình hình thành và phát triển của nguồn nhân lực Việt Nam trong thời gian qua dưới sự tác động của các yếu tố văn hóa, lịch sử, kinh tế và chính trị cũng như quá trình hội nhập quốc tế trong xu thế toàn cầu hóa Cuốn sách khẳng định, trên thực tế, tài nguyên nhân lực Việt Nam đã hình thành được những lợi thế nhất định, đã được khai thác, sử dụng và phát huy được vai trò tích cực của mình đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Tuy nhiên, tài nguyên nhân lực nói chung và lực lượng lao động Việt Nam nói riêng vẫn còn nhiều hạn chế và bất cập Việc khai thác, sử dụng tài nguyên này vẫn có những yếu kém đòi hỏi cần có những nỗ lực to lớn để khắc phục Cuốn sách
đề xuất những giải pháp, chính sách cụ thể về khai thác, sử dụng và phát triển tài nguyên nhân lực trong giai đoạn tới là nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, nội dung và cách tiếp cận đối với việc khai thác, phát triển tài nguyên
nhân lực quốc gia
Trang 18- Công trình nghiên cứu của các chuyên gia Ngân hàng phát triển Châu
Á (ADB: Asean Development Bank - 2005) [116], đã đưa ra cảnh báo với các quốc gia đang phát triển sẽ có nguy cơ rơi vào 3 cái bẫy kỹ năng thấp nếu thiếu quan tâm đầu tư vào vốn con người Ba cái bẫy đó là: Một là: Kỹ năng
của người lao động thấp, lao động ít được đào tạo, năng suất lao động, năng lực cạnh tranh thấp Nếu cố gắng khai thác lợi thế chi phí tiền lương thấp thì
có thể rơi vào vòng luẩn quẩn Hai là: Công nghệ thấp, công nhân không có
đủ kỹ năng để làm chủ và vận hành máy móc thiết bị hiện đại, không khai thác hết công suất máy móc, thiết bị, gây lãng phí Hậu quả lâu dài là không
có động lực đầu tư đổi mới máy móc, thiết bị và nâng cao trình độ công nghệ,
năng suất sẽ tiếp tục giảm Ba là: Người lao động ít sáng kiến, sáng tạo do
thiếu tích luỹ kiến thức và kỹ năng thông qua giáo dục - đào tạo
- Nguyễn Tiệp, Tác động của WTO đối với phát triển nguồn nhân lực
Việt Nam [48] Trong bài viết tác giả đã phân tích tác động hai chiều đến phát
triển nguồn nhân lực của Việt Nam khi gia nhập WTO; đồng thời đề xuất một
số giải pháp phát triển nguồn nhân lực trong thời gian tới như: Nhà nước cần có chương trình đào tạo nhân lực chuyên môn kỹ thuật cho các ngành nghề chịu
sự tác động lớn sau khi gia nhập WTO; Mở rộng đào tạo nhân lực chuyên môn,
kỹ thuật thuộc các ngành nghề công nghiệp và dịch vụ; Tăng nhanh nhân lực chuyên môn - kỹ thuật; Tiếp tục hoàn thiện thể chế, tiêu chuẩn lao động phù hợp với thông lệ chung của WTO và hoàn thiện chính sách thị trường lao động
- Nguyễn Thị Hồng Vân, Giáo dục với phát triển nguồn nhân lực phục
vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa [54] Trong bài báo, tác giả đã phân tích rõ
vai trò của giáo dục với phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ CNH, HĐH; chỉ ra thực trạng và một số vấn đề bất cập của giáo dục trong vấn đề này; đề xuất một số ý kiến đổi mới giáo dục đào tạo đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ cho sự nghiệp
CNH, HĐH đất nước
Trang 19- PGS.TS Bùi Thị Ngọc Lan, Một số bổ sung, phát triển trong chiến
lược phát triển nguồn nhân lực Việt Nam [24] Tác giả đã nghiên cứu một
cách hệ thống những quan điểm cơ bản của Đảng Cộng sản Việt Nam về nguồn nhân lực qua các kỳ Đại hội của Đảng; Làm rõ cơ sở lý luận của việc phát triển NNLCLC theo tinh thần của Đại hội lần thứ X (2006)
- Tăng Minh Lộc, Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực nông thôn [30]
Tác giả khẳng định, hiện nay nông nghiệp, nông thôn ở Việt Nam còn nhiều mảng yếu Vì vậy trong quá trình tác động của CNH, HĐH, của hội nhập kinh
tế quốc tế, những mảng yếu đó càng bộc lộ rõ hơn và chỉ rõ một trong những mảng yếu đó là chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng được yêu cầu của sự phát triển Từ đó tác giả đi sâu vào phân tích tìm ra nguyên nhân và đưa ra một số giải pháp để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực ở nông thôn
- Phạm Thành Nghị, Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực ở những
quốc gia và vùng lãnh thổ Đông Á, [36] Bài viết tập trung làm rõ kinh
nghiệm phát triển nguồn nhân lực của Nhật Bản và một số nước Đông Á như: Hàn Quốc, Hồng Kông, Singapore, Đài Loan với những nội dung cơ bản, toàn diện: luôn coi con người - nhân lực là yếu tố quyết định nhất; phát triển nguồn nhân lực theo nhu cầu của quá trình phát triển kinh tế - xã hội, theo chiến lược đón đầu; kết hợp đào tạo nghề đại cương và đào tạo nghề chuyên sâu; vai trò của Nhà nước và trách nhiệm của doanh nghiệp và khu vực tư nhân; thu hút
và trọng dụng nhân tài
- Nguyễn Huy Hiệu, Giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực trình độ cao
đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa theo tinh thần nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI [13] Theo
tinh thần Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XI, trong bài viết của mình, tác giả đã chỉ ra tính cấp thiết của việc giáo dục - đào tạo nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực trên cơ sở thực trạng việc phát triển nguồn nhân lực ở Việt Nam trong thời gian qua Bên cạnh đó, tác giả cũng đã chỉ ra những
Trang 20nguyên nhân chủ yếu dẫn tới thực trạng, từ đó đã đưa ra những giải pháp về giáo dục - đào tạo nhằm phát triển nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH của Việt Nam
- Đỗ Thị Thạch, Chiến lược phát triển nguồn nhân lực trong văn kiện
Đại hội lần thứ XI của Đảng [45] Trong bài báo, tác giả đã phân tích rõ chiến
lược phát triển nguồn nhân lực trong văn kiện Đại hội lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam; đồng thời, chỉ rõ những quan điểm mới trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực, từ đó làm rõ quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam về những giải pháp để phát triển nguồn nhân lực và NNLCLC
- Phan Thanh Khôi, Nguyễn Văn Sơn, Xây dựng đội ngũ trí thức lớn
mạnh, chất lượng cao, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước [21] Các tác giả
đã khẳng định vai trò của trí thức - lực lượng sáng tạo đặc biệt quan trọng trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ đất nước Từ đó đưa ra những quan điểm mang tính giải giáp cơ bản nhất để xây dựng đội ngũ trí thức, đặc biệt là việc thực hiện xây dựng đội ngũ trí thức theo Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam
- Trần Quang Quý, Hợp tác giáo dục và phát triển nguồn nhân lực Việt
Nam - Lào [42] Tác giả đã khái quát về tình hình của Việt Nam và Lào, tình
đoàn kết gắn bó đặc biệt, giúp đỡ lẫn nhau trên tình đồng chí anh em trong sáng, thủy chung trong suốt hơn nửa thế kỷ qua, là tài sản quý giá của hai Đảng, hai Nhà nước và Nhân dân hai nước Việt Nam - Lào Trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, sự hợp tác giúp đỡ lẫn nhau giữa hai nước cũng đã có bề dày lịch sử theo từng giai đoạn của hai nước Tác giả đã chỉ rõ: trước yêu cầu phát triển của hai nước trong giai đoạn mới, việc nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao cho Lào là nhiệm vụ chính trị quan trọng, có ý nghĩa chiến lược của hợp tác giáo dục và đào tạo giữa Việt Nam và Lào trong giai đoạn 2011-2020
Trang 211.1.2 Những công trình nước ngoài liên quan đến nguồn nhân lực chất lượng cao
Những năm gần đây, các quốc gia trên thế giới rất quan tâm đến vấn đề nguồn nhân lực và NNLCLC để đáp ứng yêu cầu phát triển nhanh, bền vững của mình, theo đó cũng có nhiều công trình khoa học đề cập đến những khía cạnh khác nhau của vấn đề này Tiêu biểu là một số công trình sau đây:
- Bushmarrin, Trí tuệ hoá lao động ở các nước có nền kinh tế thị
trường [118] Trọng tâm của công trình nghiên cứu là luận điểm về vai trò
quyết định của cá nhân trong hoạt động sống của công ty Các công ty hiện nay đều mong muốn nói đến chính sách cán bộ có tính chất chiến lược, nhằm đào tạo, tiếp nhận và cung cấp lực lượng lao động chất lượng cao, có khả năng sáng tạo đến tất cả các khâu của quá trình sản xuất
- Thẩm Vinh Hoa - Ngô Quốc Diện, Tôn trọng trí thức, tôn trọng nhân
tài kế lớn trăm năm chấn hưng đất nước [14] Đây là cuốn sách đề cập một
cách có hệ thống tư tưởng Đặng Tiểu Bình về trí thức, nhân tài, về tôn trọng
và phát triển nhân tài, về giáo dục, đào tạo phát triển NNLCLC trong quá trình cải cách, mở cửa ở Trung Quốc Các tác giả khẳng định, tư tưởng của Đặng Tiểu Bình về nhân tài là sự kế thừa và phát triển tư tưởng của Mác - Lênin, của Mao Trạch Đông, đồng thời là bộ phận cấu thành quan trọng trong kho tàng lý luận của Trung Quốc Nhấn mạnh việc Trung Quốc luôn coi công tác nhân tài, giáo dục, đào tạo phát triển NNLCLC là vấn đề có tầm quan trọng đặc biệt, là kế lớn trăm năm để chấn hưng đất nước Nhiều vấn đề lý luận, thực tiễn cơ bản trong tư tưởng Đặng Tiểu Bình về giáo dục, đào tạo phát triển nhân tài và NNLCLC của đất nước đã được làm rõ trong cuốn sách, đặt cơ sở lý luận cho Đảng Cộng sản Trung Quốc thực hiện đường lối, chính sách cán bộ, phát triển NNLCLC thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội đặc sắc Trung Quốc
Trang 22- Jang Ho Kim, Khung mẫu mới về phát triển nguồn nhân lực: các sáng
kiến của chính phủ để phát triển kinh tế để hội nhập xã hội tại Hàn Quốc
[16] Trong công trình, tác giả không chỉ đề cập đến những thách thức trong phát triển kinh tế - xã hội mà cả những thách thức trong phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao Tác giả cũng phân tích rõ hơn vai trò to lớn của NNLCLC đối với phát triển kinh tế - xã hội của Hàn Quốc; dự báo về khả năng cạnh tranh NNLCLC và đưa ra định hướng phát triển lực lượng này trong tương lai Trong đó, nhấn mạnh việc Chính phủ Hàn Quốc phải quan tâm nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo nghề, kết hợp đào tạo với nghiên cứu và xây dựng xã hội học tập
- Lý Quang Diệu, Tuyển tập 40 năm chính luận [5] Đây là cuốn sách
luận giải khá toàn diện những tư tưởng của Lý Quang Diệu về trọng dụng nhân tài đất nước, về tầm quan trọng của nhân tài, vai trò của giáo dục, đào tạo đối với sự phát triển nguồn nhân lực, đào tạo nhân tài Trong đó, nhấn mạnh tư tưởng “chế độ Singapore thực hành là chế độ trọng dụng nhân tài”; khẳng định bí quyết thành công của Singapore trong phát triển nhân lực bậc cao, nhân tài của đất nước chính là việc biết đào tạo và dùng người tài
- Đỗ Minh Cương, Nguyễn Thị Doan, Phát triển nguồn nhân lực giáo
dục đại học Việt Nam [4] Cuốn sách đã đề cập đến một số nội dung về giáo
dục đại học, đồng thời đề xuất những giải pháp có tính khả thi nhằm phát triển nguồn nhân lực giáo dục đại học, bộ phận nhân lực có trình độ cao trong nguồn nhân lực Việt Nam, để phục vụ cho sự nghiệp CNH, HĐH
- Bùi Thị Ngọc Lan, Nguồn lực trí tuệ trong sự nghiệp đổi mới ở Việt
Nam [22] Tác giả đã chỉ ra vai trò quan trọng của nguồn lực trí tuệ đối với sự
phát triển của xã hội; đồng thời làm rõ đặc điểm, thực trạng phát huy và xu hướng phát triển nguồn lực trí tuệ Việt Nam, từ đó khẳng định sự cần thiết phải chăm lo phát triển và phát huy cao độ sức mạnh của nguồn lực trí tuệ trong công cuộc đổi mới ở Việt Nam Trên cơ sở đó, tác giả đã đề xuất những
Trang 23quan điểm cơ bản và những giải pháp chủ yếu mang tính khả thi để phát triển nguồn nhân lực tinh hoa trong nguồn nhân lực của đất nước
- Trần Văn Tùng, Đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nguồn nhân lực tài
năng - kinh nghiệm của thế giới [53] Cuốn sách đã giới thiệu kinh nghiệm
phát triển, đào tạo và sử dụng tài năng khoa học - công nghệ, sản xuất kinh doanh, quản lý của Mỹ và một số nước châu Âu (Đức, Pháp, Anh), châu Á (Nhật Bản, Trung Quốc, Hàn Quốc và một số quốc gia Châu Á khác) Từ đó tác giả đã cho rằng: Việt Nam cần đổi mới các chính sách đào tạo, bồi dưỡng
và sử dụng nguồn nhân lực tài năng hiện có của mình Công trình nghiên cứu này có ý nghĩa thực tiễn to lớn đối với nước Việt Nam trong việc phát hiện, đào tạo, sử dụng tài năng khoa học - công nghệ phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH và công cuộc đổi mới đất nước
- Đỗ Thị Thạch, Phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự
nghiệp CNH, HĐH [44] Tác giả đã làm rõ một số vấn đề chung về trí thức và
trí thức nữ; đặc điểm, vai trò của đội ngũ trí thức nữ Việt Nam đối với sự phát triển của đất nước và những vấn đề đặt ra hiện nay Trên cơ sở đó, tác giả đã
đề xuất phương hướng và một số giải pháp chủ yếu như: phát triển giáo dục
và đào tạo; xây dựng chính sách hợp lý trong đào tạo và sử dụng đội ngũ trí thức nữ; xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc bền vững nhằm phát huy nguồn lực trí thức nữ Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH Công trình này góp phần xóa bỏ định kiến giới, đồng thời khẳng định vai trò
to lớn của người phụ nữ đối với sự phát triển của xã hội, thực hiện bình đẳng giới ở Việt Nam hiện nay, góp phần tôn vinh vai trò quan trọng của người phụ
nữ đối với sự phát triển của xã hội
- Nguyễn Văn Khánh (chủ biên), Xây dựng và phát huy nguồn lực trí
tuệ Việt Nam [18] Công trình này là kết quả nghiên cứu của các nhà khoa học
thuộc các lĩnh vực khác nhau trong khuôn khổ đề tài nghiên cứu khoa học cấp
nhà nước KX.03.22/06-10 “Xây dựng và phát huy nguồn lực trí tuệ Việt Nam
Trang 24phục vụ sự nghiệp chấn hưng đất nước trong thế kỷ XXI” Bằng cách tiếp cận
liên ngành, công trình góp phần nhận thức, lý giải một số vấn đề cơ bản về trí tuệ, nguồn lực trí tuệ Cuốn sách có ý nghĩa tham khảo quan trọng về mặt lý luận cũng như thực tiễn trong việc phát huy nguồn lực trí tuệ của Việt Nam hiện nay, phục vụ yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước
- Lê Thị Hồng Điệp, với đề tài luận án tiến sĩ: Phát triển NNLCLC để
hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam [9] Tác giả đã nghiên cứu: Góp
phần làm phong phú thêm những lý luận mới về phát triển NNLCLC để hình thành nền kinh tế tri thức thông qua phân tích những tiêu chí và những yếu tố tác động tới quá trình phát triển NNLCLC; đồng thời đề xuất một số giải pháp phát triển NNLCLC để hình thành nền kinh tế tri thức ở Việt Nam trong tương lai
- Bùi Thị Ngọc Lan (chủ nhiệm đề tài), Báo cáo tổng hợp kết quả
nghiên cứu đề tài khoa học cấp cơ sở năm 2010, “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức”[25] Đề tài đã tập trung làm rõ lý luận về NNLCLC và CNH, HĐH gắn
với kinh tế tri thức, đồng thời tìm hiểu kinh nghiệm thế giới về phát triển NNLCLC; đánh giá thực trạng NNLCLC của Việt Nam hiện nay và những vấn đề đặt ra Trên cơ sở đó, đề tài chỉ ra xu hướng phát triển NNLCLC, đồng thời, đề xuất những giải pháp cơ bản để phát triển nguồn lực này đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh CNH, HĐH gắn với kinh tế tri thức của Việt Nam
- Nguyễn Ngọc Tú, Nhân lực chất lượng cao của Việt Nam trong hội
nhập kinh tế quốc tế [51] Trong luận án, tác giả đã nhấn mạnh tới vai trò
quan trọng hàng đầu của nhân lực chất lượng cao trong phát triển kinh tế - xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của Việt Nam Trong quá trình nghiên cứu vai trò, tác động to lớn của nhân lực chất lượng cao trong hội nhập kinh tế quốc
tế, thì cũng không thể bỏ qua sự tác động trở lại của hội nhập kinh tế quốc tế
Trang 25đối với việc phát triển nhân lực của đất nước Tác giả coi nhân lực chất lượng cao là sự cần thiết khách quan trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế Đó là đưa kinh tế Việt nam gia nhập phân công lao động quốc tế, nâng cao khả năng cạnh tranh vào thị trường quốc tế Như vậy, việc phát triển nhân lực chất lượng cao trong tương lai, phải hướng vào phát triển nhân lực có trình độ đại học, cao đẳng; nhân lực quản lý hành chính nhà nước; nhân lực khoa học - công nghệ và phát triển đội ngũ giáo viên đại học và cao đẳng Đây là một khâu đột phá nhằm thực hiện thắng lợi quá trình hội nhập kinh tế quốc tế
- Bùi Thị Ngọc Lan, Điểm mới về chiến lược phát triển nguồn nhân
lực trong văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X [23] Tác giả đã trình
bày những quan điểm cơ bản trong chiến lược phát triển nguồn nhân lực qua các kỳ đại hội (từ Đại hội lần thứ VI đến Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam), từ đó tác giả đã chỉ ra cơ sở khoa học cho chiến lược phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đó là: xuất phát tự thực trạng nguồn nhân lực Việt Nam, xuất phát từ đường lối phát triển kinh tế của Việt Nam đã
có những thay đổi, phát triển NNLCLC xuất phát từ yêu cầu của kinh tế tri thức Từ đó tác giả đã rút ra quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao
- Nguyễn Hữu Dũng, Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong
sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế [6]
Trong bài viết của mình, tác giả đã đưa ra quan niệm về NNLCLC, về thực trạng NNLCLC ở Việt Nam hiện nay, trên cơ sở đó, đề xuất những giải pháp
cơ bản nhằm phát huy nguồn lực này ở Việt Nam trong thời kỳ đổi mới
- Vũ Thị Phương Mai, Phát triển NNLCLC qua thực tiễn công nghiệp
hoá, hiện đại hoá ở một số nước [33] Tác giả đã nêu rõ kinh nghiệm phát
triển NNLCLC ở một số nước như Mỹ, Nhật, trong đó có cả các nước công nghiệp hoá mới Đông Á, từ đó rút ra những vấn đề Việt Nam có thể tham khảo trong phát triển NNLCLC của mình
Trang 26- Phan Thanh Khôi, Đóng góp của đội ngũ trí thức vào chủ trương,
đường lối hội nhập kinh tế quốc tế [20] Bài viết đã làm rõ vai trò quan trọng
của đội ngũ trí thức Việt Nam trong sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Tác giả
đã chỉ ra vai trò quan trọng của đội ngũ trí thức trong việc xây dựng luận cứ khoa học; bổ sung, hoàn thiện hệ thống pháp luật; đào tạo nguồn nhân lực; góp phần vào quá trình CNH, HĐH nông nghiệp và nông thôn Đồng thời, tác giả đã chỉ ra một số những giải pháp nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức trong bối cảnh thực hiện CNH, HĐH ở Việt Nam hiện nay
- Hoàng Văn Châu, Phát triển NNLCLC cho hội nhập kinh tế - vấn đề
cấp bách sau khủng hoảng [3] Trong bài viết của mình, ở góc độ tiếp cận
nguồn nhân lực có trình độ cao - lực lượng lao động có học vấn, có trình độ chuyên môn cao được đào tạo chủ yếu ở các trường đại học, tác giả đã đề cập tới thực trạng thị trường lao động chất lượng cao ở Việt Nam; tác động của khủng hoảng tài chính tới thị trường NNLCLC cho các trường đại học nói chung, trường Đại học Ngoại thương của Việt Nam nói riêng
- Nguyễn Văn Khánh, Hoàng Thu Hương, Đào tạo nguồn nhân lực chất
lượng cao ở Việt Nam hiện nay: Thực trạng và triển vọng [19] Các tác giả đã
đưa ra quan niệm về NNLCLC, thực trạng NNLCLC ở Việt Nam hiện nay Trên cơ sở đó, các tác giả đã chỉ ra triển vọng phát triển NNLCLC và một số khuyến nghị để phát triển NNL phục vụ sự nghiệp CNH, HĐH của đất nước
- Lê Văn Phục, Kinh nghiệm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
ở một số nước trên thế giới [40] Bài viết đã nêu lên kinh nghiệm về phát triển
NNLCLC ở các nước Tây Âu, Mỹ, các nước Đông Nam Á, Đông Á, từ đó rút
ra những bài học cho Việt Nam trong việc phát triển NNLCLC hiện nay
- Văn Tất Thu, Nhân tài và những vấn đề cơ bản trong sử dụng, trọng
dụng nhân tài [48] Trên góc độ tiếp cận nhân tài là bộ phận tinh túy nhất
trong NNLCLC, tác giả đã đưa ra khái niệm và những đặc điểm của nhân tài,
vị trí, vai trò của nhân tài Từ đó, tác giả đã đưa ra những vấn đề cơ bản trong
Trang 27sử dụng nhân tài; phát hiện nhân tài; sử dụng, trọng dụng, tôn vinh nhân tài và kinh nghiệm về phát hiện, đào tạo, bồi dưỡng và sử dụng nhân tài của Việt Nam trong lịch sử
- Bùi Thị Ngọc Lan, Nhân lực khoa học và công nghệ cao Việt Nam
trong bối cảnh cách mạng công nghiệp lần thứ tư [26] Tác giả đã làm rõ thực
trạng đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ cao Việt Nam hiện nay trong
đó nêu ra 5 tiêu chí đối với nguồn nhân lực khoa học và công nghệ trình độ cao Đồng thời phân tích tác động của cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư đến đội ngũ này theo cả hai mặt Từ đó bài viết khẳng định tầm quan trọng của việc phát triển đội ngũ nhân lực khoa học và công nghệ Việt Nam trước yêu cầu của cách mạng công nghiệp lần thứ tư
Như vậy, ở nước ngoài đã có khá nhiều công trình khoa học của các nhà khoa học nghiên cứu về nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao dưới nhiều góc độ khác nhau Những kết quả nghiên cứu đó có giá trị
tham khảo tốt cho việc triển khai các nội dung của luận án
1.1.3 Những công trình khoa học có liên quan đến vấn đề nguồn nhân lực và nguồn nhân lực chất lượng cao ở Lào
Ở Lào, cho đến nay đã có một số công trình khoa học của lãnh đạo Đảng, Nhà nước, các nhà khoa học trong và nước ngoài nghiên cứu về nguồn nhân lực ở những góc độ, phạm vi khác nhau:
- Ban Tổ chức Trung ương Đảng NDCM Lào, Chiến lược phát triển
nguồn nhân lực đến năm 2020 [114] Nội dung chính trong công trình này đề
cập một cách khá toàn diện, hệ thống về thực trạng nguồn nhân lực ở nước CHDCND Lào, đặc biệt công trình đã chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và bài học kinh nghiệm trong công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực ở nước Lào trước yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Công trình cũng đã đưa ra
và phân tích một hệ thống các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực của nước CHDCND Lào đến năm 2020
Trang 28- Ban Tổ chức Trung ương Đảng NDCM Lào, Công tác phát triển nguồn
nhân lực đối với 8 tỉnh miền Bắc và 9 tỉnh miền Trung, Nam nước CHDCND Lào [57] Đề tài thuộc Chương trình Khoa học Công nghệ cấp Nhà nước từ năm
2005 - 2008 Đề tài làm rõ công tác phát triển nguồn nhân lực của CHDCND Lào trong thời gian qua; phân tích thực trạng nguồn nhân lực của CHDCND Lào; đề xuất các quan điểm, chính sách và giải pháp phát triển nguồn nhân lực, trong đó chỉ rõ giáo dục - đào tạo có vai trò quyết định trong quá trình phát triển nguồn nhân lực của Lào Đề tài đề xuất chính sách và giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ 2008 - 2009, trong đó đặc biệt coi trọng phát triển con người trở thành người tốt, có lòng yêu nước, yêu chế độ dân chủ nhân dân, yêu CNXH Đề tài cũng chỉ rõ chính sách và giải pháp nhằm nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, phải đầu tư nhiều hơn nữa vào giáo dục - đào tạo để nâng cao chất lượng các bậc học; phải đảm bảo dịch vụ y tế và bảo hiểm xã hội cho nhân dân các dân tộc Lào, đặc biệt là những người nghèo và gia đình khó khăn;
về lao động và tạo công ăn việc làm phải đầu tư nhiều hơn nữa xây dựng các trường trung học chuyên nghiệp trên cả nước và đào tạo nghề cho người lao động
- Nguyễn Hải Hữu, Một số vấn đề về phát triển nguồn nhân lực ở Cộng
hoà Dân chủ Nhân dân Lào [15], Kỷ yếu hội thảo khoa học: Việt - Lào, Mã
số ĐKXB: 706 - 2001/CXB/ĐHKTQD Tác giả đã nêu quan điểm về phát
triển nguồn nhân lực ở CHDCND Lào; nhấn mạnh những thay đổi cơ bản về nhận thức và tư duy đối với phát triển nguồn nhân lực trong thời kỳ đổi mới (1986-2009) Đặc biệt trong bài viết của mình, tác giả nhấn mạnh công cuộc đổi mới ở CHDCND Lào đã đạt được những thành tựu rất to lớn, góp phần đưa đất nước Lào đi nhanh hơn vào quá trình CNH, HĐH Tuy nhiên, quá trình này cũng gặp không ít khó khăn, thách thức, nhất là vấn đề phát triển nguồn nhân lực Lực lượng lao động qua đào tạo nghề còn thấp chưa đáp ứng được nhu cầu phát triển của nền kinh tế, và đang là lực cản đối với sự phát triển Do vậy, để quá trình CNH, HĐH được đẩy mạnh và phát triển thì nguồn
Trang 29nhân lực nói chung và NNLCLC ở CHDCND Lào cần được chú trọng phát triển hơn cả về lượng và chất Đặc biệt, theo tác giả cần có một hệ thống giải pháp đồng bộ để nâng cao hiệu quả công tác phát triển nguồn nhân lực của
Lào đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn hiện nay
- Nguyễn Đình Cử, Những giải pháp góp phần thực hiện đột phá: Phát
triển tài nguyên con người nhằm thúc đẩy sự phát triển nhanh và bền vững ở nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào [15] Kỷ yếu hội thảo khoa học: Việt -
Lào, Mã số ĐKXB: 706 - 2001/CXB/ĐHKTQD Trong bài viết, tác giả đã phân tích thực trạng chất lượng dân số, chất lượng nguồn nhân lực, nhằm làm rõ
vì sao cần phát triển nguồn tài nguyên con người lại được lựa chọn là một trong những khâu đột phá ở nước CHDCND Lào Qua đó tác giả đưa ra một số kết luận về nguyên nhân dẫn đến chất lượng nguồn nhân lực chưa cao, từ đó đề xuất một số giải pháp góp phần thực hiện khâu đột phá nói trên
- Sommad Phonesena, Chiến lược đào tạo và phát triển nguồn nhân lực
để đáp ứng cho công cuộc phát triển kinh tế - xã hội tại Lào [106] Kỷ yếu hội
thảo khoa học: Việt - Lào, Mã số ĐKXB: 706 - 2001/CXB/ĐHKTQD Qua bài viết, tác giả đã chỉ ra sau hơn hai thập kỷ thực hiện chủ trương đổi mới, đất
nước Lào đang bước sang một thời kỳ đổi mới, trong đó vị thế kinh tế và năng lực không còn đơn thuần phụ thuộc vào sự sẵn có của các lợi thế cạnh tranh truyền thống, dựa trên tài nguyên thiên nhiên và chi phí lao động rẻ Trong thời
kỳ đổi mới, yếu tố NNLCLC, có đủ tri thức và kỹ năng sẽ giữ vai trò then chốt đảm bảo cho khả năng phát triển, hội nhập thành công của nền kinh tế
Những kết quả nghiên cứu của các đề tài khoa học trên mà tác giả luận
án có thể chọn lọc kế thừa và phát triển là: Một số tiêu chí đánh giá nguồn nhân lực và chỉ số phát triển con người (HDI) của Lào Những chính sách và giải pháp phát triển nguồn nhân lực; các giải pháp phát triển nguồn nhân lực gồm: chiến lược và chính sách đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng và phải dành ngân sách thoả đáng cho chiến lược này hơn nữa
Trang 30- Sư Lao Sô Tu Ky, Nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở
Lào [107] Luận án làm rõ cơ sở lý luận về nguồn nhân lực cho phát triển kinh
tế - xã hội; phân tích, đánh giá thực trạng làm rõ cơ sở thực tiễn nguồn nhân
lực cho phát triển kinh tế - xã hội ở Lào thời kỳ từ năm 2006 đến năm 2013; đề xuất một số giải pháp chủ yếu, kiến nghị nhằm đảm bảo nguồn nhân lực cho phát triển kinh tế - xã hội Lào đến năm 2020
- Keo Chăn Tha Vi Xay, Sự di cư tự do của lực lượng lao động, ảnh
hưởng và thử thách khi gia nhập AEC [93] Hội thảo khoa học với chủ đề: Cộng đồng kinh tế ASEAN 2015, sự sẵn sàng và thách thức của CHDCND Lào, Viện Khoa học Xã hội Quốc gia Lào, Viêng Chăn Tác giả đã định
hướng trong phát triển tay nghề và tạo việc làm, và khẳng định rằng: Một là,
tăng cường phát triển lực lượng lao động đảm bảo về tri thức, năng lực, tay
nghề và kỷ luật lao động; Hai là, tăng cường tạo việc làm phù hợp với người
sử dụng lao động và người bán sức lao động, khuyến khích tự tạo việc làm;
Ba là, tăng cường sự quản lý, bảo vệ và kiểm tra lao động, xây dựng hệ
thống phúc lợi xã hội, an ninh, sức khỏe và môi trường lao động của người lao động để bảo vệ lợi ích của người lao động và người sử dụng lao động
theo pháp luật; Bốn là, tăng cường quan hệ hợp tác với các doanh nghiệp nước ngoài, tranh thủ vốn đầu tư và kỹ thuật để phát triển tay nghề; Năm là,
tăng cường xây dựng hệ thống thông tin - tư liệu về lao động
- Bun Sạ Thiên King Keo Bun Nong, Phát triển nguồn lực con người với
việc phát triển tay nghề [72] Nội dung bài viết khẳng định vai trò của lực
lượng lao động trong phát triển kinh tế - xã hội của Lào, “tiếp tục phát triển nguồn lực con người để có thể đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước”, để thực hiện được điều đó, tác giả đã nêu ra một số định hướng như:
“phát triển lực lượng lao động Lào giỏi về tay nghề, có kiến thức, năng lực, thông thạo tay nghề, kỷ luật; phát triển hệ thống phúc lợi xã hội, huy động toàn
xã hội tham gia giúp đỡ hỗ trợ cho những người gặp rủi ro, tệ nạn xã hội ” và
Trang 31“quan tâm đến vấn đề tạo việc làm cho người lao động ở trong nước và nước ngoài, bảo vệ lợi ích, sức khỏe, quyền bình đẳng, giáo dục con người trở thành con người có tri thức, đạo đức cách mạng và công dân tốt của đất nước”
Những định hướng trên mang tính tham khảo, nó cũng có giá trị nhất định giúp nghiên cứu sinh trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài luận
án của mình
Tóm lại, các công trình nêu trên đều đánh giá rất cao vai trò của nguồn nhân lực trong phát triển kinh tế - xã hội, đồng thời phân tích, đề xuất các chính sách phát triển nguồn nhân lực, tạo tiền đề cho phát triển kinh tế ở các quốc gia và các địa phương
1.2 NHỮNG GIÁ TRỊ THAM KHẢO TỪ CÁC CÔNG TRÌNH CÓ LIÊN QUAN VÀ NHỮNG NỘI DUNG LUẬN ÁN CẦN TẬP TRUNG NGHIÊN CỨU
1.2.1 Những giá trị tham khảo từ các công trình có liên quan đến
đề tài luận án
Qua nghiên cứu, phân tích các công trình tiêu biểu có liên quan đến đề tài, luận án đã rút ra được nhiều giá trị tham khảo hữu ích làm cơ sở triển khai những nội dung của luận án Giá trị tham khảo này tập trung ở những nội dung sau:
- Những giá trị tham khảo từ các công trình trong nước và nước ngoài nghiên cứu về nguồn nhân lực
Thứ nhất, Trong nghiên cứu các vấn đề lý luận về nguồn lực con người,
mỗi tác giả với các góc nhìn khác nhau đã đóng góp làm sáng tỏ những khía cạnh khác nhau về nguồn nhân lực Đó là các vấn đề lý luận về con người, về nhân tố con người, về nguồn lực con người Trong đó, những khái niệm cơ bản như nguồn lực con người, phát triển nguồn lực con người; vai trò của nguồn lực con người trong phát triển xã hội, các yếu tố cấu thành nguồn lực con người
và mối quan hệ giữa nó với các nguồn lực khác… đã được luận giải khá rõ và xem đó là bộ công cụ để luận giải các vấn đề đặt ra của các công trình nghiên
Trang 32cứu này Những vấn đề lý luận cơ bản này giúp cho tác giả luận án có thể kế thừa và tiếp tục bổ sung, phát triển phù hợp với góc độ nghiên cứu của luận án
Thứ hai, về vai trò của nguồn lực con người đối với sự phát triển của xã
hội, nhiều tác giả đã nghiên cứu và làm sáng tỏ vấn đề này thông qua việc phân tích những nhận định của chủ nghĩa Mác - Lênin, của Chủ tịch Cay Xỏn Phôn
Vi Hản và Đảng NDCM Lào Điển hình như tác giả: Trần Văn Tùng, Lê Ái
Lâm; Nguyễn Hữu Dũng; Đoàn Văn Khái; Bùi Thị Ngọc Lan; Phạm Minh
Hạc; nghiên cứu của các chuyên gia Ngân hàng phát triển Châu Á…
Thứ ba, một số công trình bên cạnh những vấn đề lý luận, đã giới thiệu,
phân tích những kinh nghiệm thực tiễn phát triển nguồn nhân lực của một số nước như Trung Quốc, Việt Nam, Nhật Bản, Singapore… Những phân tích này giúp cho tác giả luận án có cái nhìn toàn diện hơn về nhận thức của các nước trên thế giới về vị trí, vai trò của nguồn nhân lực, đồng thời qua đó có thể tiếp thu, học tập những kinh nghiệm hay của các nước này để vận dụng một cách sáng tạo vào quá trình phát triển nguồn nhân lực của Lào hiện nay
- Những giá trị tham khảo từ các các công trình nghiên cứu về nguồn nhân lực chất lượng cao
Thứ nhất, một số công trình nước ngoài đã trực tiếp nghiên cứu về chất
lượng nguồn nhân lực; về nguồn nhân lực trình độ cao, hay nguồn nhân lực chất lượng cao Trong các công trình này, những thuật ngữ: nguồn nhân lực chất lượng cao, các tiêu chí đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực và các bộ phận tiêu biểu của nguồn nhân lực chất lượng cao… cũng đã được xem xét Ví
dụ nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Hữu Dũng, Bùi Thị Ngọc Lan, Nguyễn Văn Khánh, Vũ Thị Phương Mai…
Một số tác giả cũng phân tích chỉ ra những yếu tố tác động đến sự phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trên cả hai phương diện: tác động tích cực
và tác động tiêu cực Đây là những gợi ý bổ ích mà luận án có thể tham khảo trong quá trình triển khai các nội dung của đề tài
Trang 33Thứ hai, trong quá trình nghiên cứu, hầu hết các tác giả đều chỉ ra được
những nhiệm vụ cấp bách, những giải pháp cơ bản để vừa phát huy vai trò của nguồn nhân lực chất lượng cao, vừa giải quyết các vấn đề liên quan đến cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm lợi ích và tạo động lực thúc đẩy nguồn nhân lực này phát triển cả về số lượng và chất lượng
Tuỳ theo góc độ, phạm vi nghiên cứu của từng tác giả mà những nội dung trên được nhìn nhận ở phạm vi quốc gia hoặc là một vùng, một tỉnh, một khu vực cụ thể Dù nhìn nhận ở góc độ nào, phạm vi nào thì những kết quả trên cũng có giá trị tham khảo quan trọng để tác giả thực hiện nội dung nghiên cứu của Luận án
Thứ ba, ở Lào, những năm qua đã có Chương trình Khoa học Công
nghệ cấp nhà nước, một số nhà khoa học, một số luận án tiến sĩ, luận văn thạc
sĩ đã nghiên cứu vấn đề phát triển nguồn nhân lực của CHDCND Lào; phân tích thực trạng nguồn nhân lực của CHDCND Lào - chỉ ra những ưu điểm, hạn chế và bài học kinh nghiệm trong công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực ở nước Lào trước yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH đất nước Từ đó các công trình này cũng đã làm rõ nguyên nhân của thực trạng và đề xuất một hệ thống các giải pháp nhằm phát triển nguồn nhân lực của nước CHDCND Lào đến năm 2020, trong đó đặc biệt nhấn mạnh đến vai trò của giáo dục - đào tạo trong phát triển nguồn nhân lực của Lào
- Thứ tư, cho đến nay ở Lào vấn đề chất lượng của nguồn nhân lực đã
được các công trình đi trước phân tích ở các góc độ nhất định như: khẳng định tính cấp thiết của việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, CNH, HĐH của Lào; những tiêu chí đánh giá chất lượng của nguồn nhân lực…
Song đối với CHDCND Lào, vấn đề phát triển nguồn nhân lực chất
lượng cao là vấn đề mới mẻ Qua nghiên cứu và tổng hợp các công trình khoa
Trang 34học, tạp chí đã được công bố trong nước CHDCND Lào, có thể khẳng định cho đến nay chưa có một công trình nào nghiên cứu hoàn chỉnh và có hệ thống về nguồn nhân lực chất lượng cao ở Lào, càng chưa có công trình nào nghiên cứu vấn đề này dưới góc độ chính trị - xã hội một cách đầy đủ và có tính hệ thống Vì vậy, đề tài của luận án mặc dù có kế thừa những giá trị của các công trình đi trước ở những góc độ nhất định song không trùng lặp với các công trình đã được triển khai thực hiện và đây là hướng nghiên cứu mới
mẻ, cần thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn đối với nước Cộng hoà Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay
1.2.2 Những nội dung luận án cần tập trung nghiên cứu
Trên cơ sở tổng quan tình hình nghiên cứu liên quan đến đề tài, với những kết quả nghiên cứu đã đạt được và những góc độ chưa được tiếp cận trong nghiên cứu về nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào, luận án xác định cần tập trung nghiên cứu làm rõ những vấn đề cơ bản sau:
- Làm rõ cơ sở lý luận của đề tài, bao gồm: quan niệm về nguồn nhân lực
và nguồn nhân lực chất lượng cao; các tiêu chí đánh giá chất lượng nguồn nhân lực và các bộ phận cấu thành của nguồn nhân lực chất lượng cao ở Lào; phân tích làm rõ vai trò của nó ở nước CHDCND Lào hiện nay; đồng thời nhận diện các yếu tố tác động đến nguồn nhân lực chất lượng cao của Lào theo cả hai chiều: tác động tích cực và tiêu cực
- Trên cơ sở những kết quả điều tra, khảo sát của đề tài và các nguồn
tư liệu đã thu thập được, luận án đánh giá đúng thực trạng nguồn nhân lực chất lượng cao của Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào hiện nay (qua nghiên cứu 04 nhóm cơ bản: đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý; đội ngũ trí thức và các nhà khoa học; đội ngũ công nhân kỹ thuật lành nghề; đội ngũ nông dân trình
độ cao); đồng thời phân tích làm rõ những vấn đề đang đặt ra, những bất cập của nguồn nhân lực chất lượng cao của Lào hiện nay
Trang 35- Đề xuất những quan điểm và giải pháp cơ bản nhằm đảm bảo phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao ở CHDCND Lào đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới và công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước
Tóm lại, phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao là vấn đề cấp bách,
cấp thiết đối với nước Lào hiện nay nhằm bảo đảm chất lượng cao của nguồn nhân lực trong thời kỳ phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, hội nhập quốc tế và thực hiện thành công chủ trương: đưa đất nước thoát khỏi nước nghèo, vươn lên trở thành nước phát triển trung bình vào năm
2020 và cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2050 của Đảng Nhân dân Cách mạng Lào đã đề ra
Trang 36Kết luận chương 1
Nhìn chung đã có nhiều công trình nghiên cứu liên quan đến vấn đề nguồn nhân lực, nguồn nhân lực chất lượng cao và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước của mình Những kết quả nghiên cứu đó có những giá trị nhất định và là những gợi ý quan trọng để luận án có thể tham khảo trong việc triển khai những nội dung của
đề tài; đồng thời đó là những kinh nghiệm, bài học quí mà CHDCND Lào
có thể nghiên cứu vận dụng sáng tạo và phù hợp vào việc phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao của mình nhằm phục vụ sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội ở Lào hiện nay, trong đó nhấn mạnh đến chất lượng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp CNH, HĐH trong thời kỳ phát
triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa
Nguồn nhân lực chất lượng cao ở nước CHDCND Lào là một vấn đề mới, đây là công trình đầu tiên nghiên cứu về vấn đề này dưới góc độ chính trị - xã hội Tác giả luận án mong muốn sẽ đóng góp một phần nhằm phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc, thời kỳ hội nhập quốc tế và thực hiện thành công chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước Lào, đưa đất nước thoát khỏi nước nghèo và
cơ bản trở thành nước công nghiệp vào năm 2020
Trang 372.1.1 Quan niệm về nguồn nhân lực
Nhân lực là nguồn lực về con người Nghiên cứu về vai trò của con người, C.Mác chỉ ra rằng, hoạt động của con người chủ yếu là hoạt động sản xuất, hoạt động cải tạo tự nhiên, cải tạo xã hội và thông qua những hoạt động này, con người cải tạo chính bản thân mình, nhằm làm cho con người ngày càng hoàn thiện Theo C.Mác, mỗi con người - với tư cách là một cá thể, đồng thời là chủ thể của nguồn nhân lực sẽ tham dự vào nguồn nhân lực chung của
xã hội trong hoạt động thực tiễn để thúc đẩy xã hội phát triển không ngừng
Trong sản xuất và phát triển xã hội, con người được xem là một trong những nguồn lực của phát triển, thậm chí là một nguồn lực giữ vị trí quan trọng nhất - nguồn lực con người hay còn gọi là nguồn nhân lực Trong điều kiện hiện nay, cuộc cách mạng khoa học và công nghệ phát triển rất nhanh đã đạt đến trình độ kinh tế tri thức và cách mạng công nghiệp 4.0, vai trò, vị trí trung tâm của con người càng được khẳng định Con người giữ vai trò quyết định đối với sự phát triển xã hội Trong quá trình sản xuất, việc nâng cao trình
độ văn hóa, khoa học kỹ thuật, nâng cao trình độ dân trí trở thành nhu cầu bức bách Nó vừa là đòi hỏi của nền sản xuất xã hội, vừa là điều kiện để nền sản xuất phát triển nhanh hơn Sức lao động là tổng hợp thể lực và trí lực của con người Nó phản ánh khả năng lao động của con người và là điều kiện tiên quyết của mọi quá trình lao động sản xuất xã hội C.Mác đã chỉ rõ: “Sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người đó
Trang 38đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” [32, tr 251] Khái niệm này cho thấy: sức lao động tồn tại ngay trong chính bản thân người lao động; tồn tại dưới dạng năng lực (sức cơ bắp) và trí tuệ (sức thần kinh, trí óc) của con người; người sở hữu sức lao động chính là người tiêu dùng sức lao động và là yếu tố chi phí của quá trình sản xuất sản phẩm Cùng với sự trưởng thành của cơ thể và quá trình tham gia lao động, sức lao động của mỗi người được phát triển, hoàn thiện dần
Nguồn nhân lực trước hết được biểu hiện ra là nguồn lao động Nó bao gồm toàn bộ những người lao động đang có khả năng phục vụ cho xã hội và các thế hệ nối tiếp sẽ phục vụ cho xã hội Từ những người lao động trực tiếp đến các nhà quản lý, các nhà khoa học công nghệ, những người làm công tác văn phòng, dịch vụ đến lực lượng dự bị cho lao động trẻ đều thuộc về nguồn nhân lực của một quốc gia, dân tộc Từ khía cạnh này có thể hiểu sử dụng nguồn nhân lực trước hết là sử dụng lực lượng lao động Tạo việc làm và sử dụng có hiệu quả nhất nguồn lao động hiện có, đó chính là yêu cầu cơ bản và chủ yếu của sử dụng nguồn nhân lực
Khi nói đến con người với tư cách là động lực thúc đẩy sự phát triển xã hội, người ta xem con người như một nguồn lực của phát triển Như đã biết,
sự nghiệp phát triển đất nước trong giai đoạn hiện nay phải dựa trên tổng thể các nguồn lực Cho đến nay đã có nhiều quan niệm khác nhau về nguồn nhân lực (hay nguồn lực con người) Tổ chức Ngân hàng Thế giới (World Bank) cho rằng: “Nguồn nhân lực được hiểu là toàn bộ tiềm năng về vốn người bao gồm: thể lực, trí lực, tâm lực mà mỗi cá nhân sở hữu” Tổ chức Liên hợp quốc (UNESCO) thì cho rằng: “Nguồn nhân lực là tất cả những kiến thức, kỹ năng, kinh nghiệm, năng lực và tính sáng tạo của con người có quan hệ tới sự phát triển của mỗi cá nhân và đất nước” [55, tr 8] Nguồn nhân lực được đặc trưng bởi ba yếu tố cơ bản: số lượng, chất lượng và cơ cấu
Trang 39Số lượng nguồn nhân lực là toàn bộ lực lượng lao động xã hội của một
quốc gia, địa phương Số lượng nguồn nhân lực ở nước Cộng hòa Dân chủ Nhân dân Lào bao gồm những người trong độ tuổi lao động, có khả năng lao động, không kể đến tình trạng có việc làm hoặc không có việc làm, theo quy định của Bộ Lao động và Phúc lợi xã hội Lào, từ 15-60 tuổi đối với nam, 15-55 tuổi đối với nữ Đến nay theo Luật Cán bộ công chức do Quốc hội Lào ban hành năm 2015, quy định từ năm 2016 tuổi lao động của nữ có thể được kéo dài 15-60 tuổi (tùy vào điều kiện sức khỏe), họ có khả năng lao động đều thuộc nguồn lao động Vậy, nguồn nhân lực bao gồm số người đang làm việc trong các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế - xã hội; số người thất nghiệp;
số người làm việc nội trợ và số học sinh, sinh viên trong độ tuổi lao động
Về chất lượng, nguồn nhân lực được biểu hiện ở năng lực thể chất, tinh
thần, trình độ tri thức, năng lực thực tế, kỹ năng nghề nghiệp, phẩm chất đạo đức, tác phong lao động đã, đang và sẽ tham gia vào quá trình sản xuất ra của cải vật chất và tinh thần thúc đẩy sự phát triển của quá trình CNH, HĐH Chất lượng nguồn nhân lực được biểu hiện ở trạng thái thể lực và trí lực, cụ thể: trạng thái sức khỏe, trình độ học vấn, chuyên môn kỹ thuật, cơ cấu ngành nghề, phẩm chất đạo đức, nhân cách, lối sống Trong đó, thể lực là yếu tố quan trọng, là nền tảng để trên cơ sở đó phát triển trí tuệ, vận dụng trí tuệ vào công việc thực tiễn; trình độ học vấn là yếu tố quan trọng nhất, nó không chỉ
là cơ sở để đào tạo kỹ năng nghề nghiệp mà còn là yếu tố hình thành nhân cách và lối sống của mỗi cá nhân người
Về cơ cấu, cơ cấu nguồn nhân lực là yếu tố phản ánh thành phần, tỷ lệ
các bộ phận người lao động và mối quan hệ tương tác giữa chúng trong tổng thể một lĩnh vực lao động, ngành nghề nhất định của xã hội, bao gồm cơ cấu
độ tuổi, cơ cấu giới tính, cơ cấu về nghề nghiệp, cơ cấu phân bố nguồn nhân lực theo lĩnh vực kinh tế, xã hội khác nhau, tập trung ở thành phố, đô thị
Cơ cấu nguồn nhân lực của một quốc gia được quyết định bởi cơ cấu kinh tế
Trang 40và cơ cấu xã hội, trong đó cơ cấu giáo dục và đào tạo phù hợp với cơ cấu kinh tế, xã hội thì tạo ra cơ cấu nguồn nhân lực hợp lý và nó sẽ là động lực
to lớn thúc đẩy đất nước phát triển
Từ các cách tiếp cận khác nhau và những nội dung đã nêu, có thể hiểu
một cách tổng quát: Nguồn nhân lực là phạm trù chỉ số dân, cơ cấu dân số và
nhất là chất lượng con người với tất cả đặc điểm và sức mạnh của nó trong
sự phát triển xã hội
2.1.2 Quan niệm về nguồn nhân lực chất lượng cao
Nghiên cứu những quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về con người,
có thể khẳng định các ông chưa sử dụng thuật ngữ “nguồn nhân lực chất lượng cao” Song, C.Mác đã từng đưa ra quan niệm về vấn đề này Theo Mác, nguồn nhân lực chất lượng cao là “những con người có năng lực phát triển toàn diện, đủ sức tinh thông toàn bộ hệ thống sản xuất trong thực tiễn” [31, tr 474-475]
Đến V.I.Lênin, việc nâng cao chất lượng của NNL để có NNLCLC phục vụ sự nghiệp cách mạng được ông đặc biệt coi trọng Vì vậy, Người đòi hỏi công nhân, nông dân và người lao động phải ra sức học tập, “học, học nữa, học mãi”, phải coi trọng việc học, thực hiện chế độ học tập suốt đời, bởi
vì sự thành bại của CNXH phụ thuộc phần lớn vào việc giai cấp công nhân và nhân dân lao động có đủ năng lực làm chủ quá trình sản xuất và xây dựng thành công CNXH hay không Muốn vậy, giai cấp công nhân và nhân dân lao động phải không ngừng nâng cao năng lực của mình, biết phát huy mọi tiềm năng trí tuệ của cá nhân, của cộng đồng và đặc biệt phải biết tiếp thu có chọn lọc những tri thức khoa học tiên tiến của thời đại và những tinh hoa trí tuệ của nhân loại để tạo ra nguồn lực cho sự phát triển Do vậy, nỗ lực học tập, trau dồi tri thức để nâng cao năng lực tư duy, năng lực trí tuệ, tạo ra NNLCLC phục vụ sự nghiệp cách mạng chính là nghĩa vụ và trách nhiệm của mỗi người cộng sản chân chính V.I.Lênin viết: “Người ta chỉ có thể trở thành một người