H ỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH Đề tài: Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước dân chủ và s ự vận dụng của Đảng ta trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ n
Trang 1H ỌC VIỆN BÁO CHÍ VÀ TUYÊN TRUYỀN
MÔN TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH
Đề tài:
Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước dân chủ và
s ự vận dụng của Đảng ta trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân,
do nhân dân, vì nhân dân hi ện nay
Sinh viên: Phan Th ị Thu Thảo
Mã SV: 2051040045 Lớp: Truyền thông đa phương tiện K40
Gi ảng viên: ThS Lê Đình Năm
HÀ N ỘI - 2021
Trang 2M ỤC LỤC
M Ở ĐẦU 1
1 Lý do ch ọn đề tài 1
2 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu 3
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn 4
6 K ết cấu của tiểu luận 4
N ỘI DUNG 5
Chương 1: Sự hình thành và những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh v ề Nhà nước dân chủ 5
1.1 Khái ni ệm dân chủ 5
1.2 S ự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước dân chủ 5
1.3 Nh ững nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước dân ch ủ 8
Chương 2: Sự vận dụng của Đảng ta trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã h ội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân hiện nay 19
2.1 S ự cần thiết của việc vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước dân ch ủ vào xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay 19
2.2 Đặc trưng cơ bản của nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam 20
2.3 S ự vận dụng của Đảng ta trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội ch ủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân hiện nay 20
K ẾT LUẬN 27
TÀI LI ỆU THAM KHẢO 29
Trang 3M Ở ĐẦU
1 Lý do ch ọn đề tài
Sinh ra và lớn lên trong giai đoạn đầy biến động của đất nước, từ thuở thiếu niên, người thanh niên tên Nguyễn Tất Thành đã thấu hiểu nỗi đau mất nước, xót xa trước nỗi thống khổ của người dân, quyết ra đi tìm con đường độc lập cho Tổ quốc,
tự do, hạnh phúc cho nhân dân Một mình bôn ba khắp năm châu bốn bể, hòa mình vào cuộc sống của nhân dân lao động, tìm tòi nghiên cứu thực tiễn cách mạng thế giới, Người đến với chủ nghĩa Mác - Lê-nin, trở thành người cộng sản và tìm thấy con đường cứu nước đúng đắn Với trí tuệ thiên tài, tầm nhìn vượt thời đại, Chủ tịch
Hồ Chí Minh đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác - Lê-nin vào thực tiễn nước ta, dày công chuẩn bị những điều kiện cho sự ra đời một chính đảng cách mạng chân chính, đội tiên phong của giai cấp công nhân, đồng thời là đội tiên phong của nhân dân lao động và dân tộc Việt Nam Nhắc tới người là nhắc tới một vị anh hùng dân tộc, một danh nhân văn hoá của nhân loại, một vị lãnh tụ tài ba và đặc biệt là người cha già kình yêu của dân tộc Người để lại cho Đảng ta, nhân dân ta, các thế
hệ hôm nay và mai sau di sản tư tưởng vô cùng quý báu Đó là hệ thống quan điểm,
lý luận toàn diện và sâu sắc về đường lối cách mạng Việt Nam, đã được thực tiễn
chứng minh tính khoa học, đúng đắn, phù hợp điều kiện nước ta và mãi mãi soi sáng con đường đi lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trong di sản tư tưởng Hồ Chí Minh, vấn đề Nhà nước và pháp luật giữ một vị trí đặc biệt quan trọng và có ý nghĩa to lớn đối với sự nghiệp xây dựng, củng cố một nhà nước kiểu mới của dân, do dân, vì dân Tư tưởng Hồ Chí Minh về Nhà nước thật
sự to lớn, sâu sắc không chỉ được thể hiện trong các bài viết, các bài phát biểu, trong các văn kiện quan trọng do Người trực tiếp chỉ đạo xây dựng và ban hành mà cả trong hành động thực tiễn của Người trên cương vị là người lãnh đạo cao nhất của Đảng và Nhà nước
Trang 42
“Bao nhiêu lợi ích đều vì dân Bao nhiêu quyền hạn đều của dân Công việc đổi mới, xây dựng là trách nhiệm của dân Sự nghiệp kháng chiến, kiến quốc là công việc của dân Chính quyền từ xã đến Chính phủ trung ương do dân cử ra Đoàn thể
từ Trung ương đến xã do dân tổ chức nên Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều
ở nơi dân” Nghiên cứu tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân, vì dân không những có ý nghĩa lịch sử mà còn cung cấp cho chúng ta những kinh nghiệm quý báu để tiến hành cải cách bộ máy nhà nước, xây dựng đội ngũ cán bộ công chức thực sự là công bộc của dân, hoàn thiện hệ thống pháp luật, đấu tranh loại bỏ những thói hư, tật xấu trong bộ máy nhà nước, phát huy dân chủ xã hội chủ nghĩa, bảo vệ
có hiệu quả các quyền và lợi ích của nhân dân, đảm bảo cho nhà nước luôn giữ được bản chất cách mạng, từng bước xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam
Việc thực hiện đề tài: “Tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước dân chủ và sự
v ận dụng của Đảng ta trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân hi ện nay” có ý nghĩa lý luận và thực tiễn đối
với sự nghiệp đổi mới đất nước, phát triển và hoàn thiện bộ máy cơ cấu nhà nước dân chủ, công bằng, văn minh, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam của dân, do dân, vì dân
2 M ục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu tổng quát của đề tài là nghiên cứu, tìm hiểu tư tưởng Hồ Chí Minh
về nhà nước dân chủ, là nhà nước của dân, do dân, vì dân; và từ đó Đảng ta đã và đang vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh vào quá trình xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
Để đạt được mục tiêu tổng quát nêu trên, luận văn tập trung giải quyết các nhiệm vụ cụ thể sau đây:
Trang 5M ột là, phân tích sự hình thành và những nội dung cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí
Minh về nhà nước dân chủ
Hai là, làm sáng tỏ sự vận dụng tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước của dân, do dân,
vì dân và một số nội dung Đảng ta đã và đang vận dụng vào xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam hiện nay
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là nội dung tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ
và sự vận dụng tư tưởng ấy của Đảng vào xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân hiện nay
Phạm vi nghiên cứu của đề tài dựa trên nội dung Giáo trình Tư tưởng Hồ Chí
Minh về tư tưởng dân chủ của Người, những tư tưởng của Hồ Chí Minh cùng những quan niệm của Đảng trong thời kì mới, đặc biệt trong kì Đại hội lần thứ XIII Ban chấp hành Trung ương Đảng
4 Cơ sở lý luận và phương pháp nghiên cứu
Luận văn được thực hiện trên cơ sở các quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin
và tư tưởng Hồ Chí Minh, các quan điểm của Đảng và Nhà nước ta về nhà nước của dân, do dân, vì dân cùng những quan điểm chỉ đạo, kết luận của Đảng ta qua các kì Đại hội
Tác giả của luận văn sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau, phương pháp phân tích, tổng hợp; phương pháp hệ thống; phương pháp quy nạp và
diễn dịch; phương pháp so sánh, phương pháp xã hội học…
Trang 64
5 Ý nghĩa lý luận và thực tiễn
Luận văn đóng góp những lý luận về tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh, bổ khuyết nhất định cho những thiết sót về lý thuyết nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ là tài liệu nghiên cứu thiết thực bổ sung vào kho tài liệu nghiên cứu về tư tưởng dân chủ, đóng góp những giải pháp cho Đảng và nhà nước thực hiện tốt công cuộc xây dựng nhà nước của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân
6 K ết cấu của tiểu luận
Ngoài phần mở đầu, kết luận và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung của
luận văn gồm 2 chương:
Chương 1: Sự hình thành và những nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về
Nhà nước dân chủ
Chương 2: Sự vận dụng của Đảng ta trong xây dựng nhà nước pháp quyền xã hội
chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân hiện nay
Trang 7N ỘI DUNG
C hương 1: Sự hình thành và những nội dung cơ bản của tư tưởng
H ồ Chí Minh về Nhà nước dân chủ 1.1 Khái ni ệm dân chủ
Dân chủ là một hình thức tổ chức thiết chế chính trị của xã hội, trong đó thừa nhận nhân dân là nguồn gốc của quyền lực Có nhiều khái niệm được đưa ra Trong
học thuyết chính trị, “dân chủ” dùng để mô tả cho một số ít hình thức nhà nước và cũng là một loại triết học chính trị Theo Từ điển Tiếng Anh Oxford, “dân chủ” cũng
để chỉ một hình thức nhà nước, trong đó mọi thành viên đều tham gia vào việc ra quyết định về các vấn đề của mình, thường bằng cách bỏ phiếu để bầu người đại diện trong quốc hội hoặc thể chế tương tự Theo từ điển Webster, Dân chủ “là chính phủ được thành lập bởi nhân dân trong đó quyền lực tối cao được trao cho nhân dân và được thực hiện bởi nhân dân hoặc bởi các đại diện được bầu ra từ một hệ thống bầu
cử tự do” Theo Abrham Lincoln, dân chủ là một chính phủ “của dân, do dân và vì dân”
Mặc dù chưa có một định nghĩa thống nhất về dân chủ, nhưng hai nguyên tắc dân chủ luôn được nhắc đến: Nguyên tắc thứ nhất là tất cả mọi thành viên của xã hội (công dân) đều có quyền tiếp cận đến quyền lực một cách bình đẳng Thứ hai, tất cả mọi thành viên (công dân) đều được hưởng các quyền tự do được công nhận rộng rãi
1.2 S ự hình thành tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước dân chủ
1.2.1 Nh ững truyền thống tốt đẹp của dân tộc, trước hết là chủ nghĩa yêu nước
Vi ệt Nam
Trang 86
Sinh ra trong một vùng quê có truyền thống yêu nước, ngay từ nhỏ phải tận
mắt chứng kiến cuộc sống nghèo khổ, bị áp bức, bóc lột đến cùng cực của đồng bào mất nước đã thôi thúc Nguyễn Tất Thành đi tìm con đường cứu nước, cứu dân Trong muôn vàn những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Việt Nam chủ nghĩa yêu nước luôn
là dòng chủ lưu xuyên suốt lịch sử ngàn năm dựng nước và giữ nước của dân tộc
chảy trong mình dòng máu Lạc Hồng Tư tưởng yêu nước của Hồ Chí Minh là yêu
Tổ quốc, yêu nhân dân, coi việc đánh đổ đế quốc, thực dân, đánh đổ ách thống trị của nước ngoài là yếu tố hàng đầu để giải phóng dân tộc, nhưng không dừng lại ở
đó, cái đích vươn tới là dân phải được tự do, ấm no, hạnh phúc Đó là lòng yêu nước chân chính, sâu sắc và triệt để, không mang tính nửa vời
1.2.2 Tinh hoa văn hóa nhân loại: phương Đông và phương Tây
Cùng với chủ nghĩa yêu nước, Hồ Chí Minh còn chịu ảnh hưởng của văn hóa phương Đông và phương Tây Từ nhỏ, Hồ Chí Minh đã được giáo dục Nho học và bước đầu tiếp cận văn hóa phương Tây Trong suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Người không ngừng học hỏi, tiếp cận, am tường văn hóa Đông, Tây, kim, cổ Người luôn quan tâm tìm hiểu và tiếp thu những’giá trị tốt đẹp, tiến bộ Người đã tiếp thu
và kế thừa có phê phán tư tưởng dân chủ, nhân văn của văn hóa Phục hưng, thế kỷ ánh sáng, của cách mạng tư sản phương Tây như’Pháp, Mỹ, Anh; những giá trị tư tưởng của Nho giáo, kiêm ái của Mặc gia, thuận theo tự nhiên của Lão gia, từ bi bác
ái của nhà Phật đã góp phần hình thành nên tư tưởng Hồ Chí Minh về một nhà nước
vì con người, một nhà nước của dân, do dân và vì dân
1.2.3 Ch ủ nghĩa Mác - Lênin
Tháng 12 năm 1920, trong Đại hội thứ XVIII của Đảng xã hội Pháp họp ở thành phố Tua, đồng chí Nguyễn ái Quốc bỏ phiếu tán thành gia nhập Quốc tế cộng sản và tham gia thành lập Đảng Cộng sản Pháp Sự kiện này đánh dấu một bước
Trang 9ngoặt trong đời hoạt động cách mạng của Người, bước ngoặt từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa cộng sản, bước ngoặt đứng hẳn về con đường cách mạng tháng Mười, đứng hẳn về chủ nghĩa Mác- Lênin và đứng hẳn về Quốc tế cộng sản
Người đã nghiên cứu, học tập’chủ nghĩa Mác - Lênin một cách cơ bản, hệ
thống Theo Người: “Tất cả mọi người đều có quyền nghiên cứu một chủ nghĩa Riêng tôi, tôi đã nghiên cứu chủ nghĩa Các Mác” Và trong suốt quá trình hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh không bao giờ “tách mình”’ra khỏi C.Mác, Ph.Ăng-ghen và V.I.Lênin để đưa ra các quan điểm riêng, mà như Người nói là “cố
gắng vận dụng” tư tưởng’của các nhà kinh điển đó, “nhưng vận dụng một cách sáng
tạo phù hợp với thực tiễn Việt Nam” Nếu không có chủ nghĩa Mác - Lênin thì không
có tư tưởng Hồ Chí Minh Chỉ khi tiếp nhận được chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng
Hồ Chí Minh mới thực sự được xác lập và phát triển “Không có chủ nghĩa Mác- Lênin thì cũng không có tư tưởng Hồ Chí Minh’sánh ngang tầm thời đại và giải quyết được những nhiệm vụ lịch sử của cách mạng Việt Nam”
1.2.4 Th ực tiễn hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh
Suốt chặng đường 30 năm bôn ba tìm đường cứu nước, vừa lao động, vừa học tập, nghiên cứu chủ nghĩa Mác- Lênin, vừa tham gia trực tiếp các phong trào đấu tranh của công nhân và nhân dân lao động, Người đã tích lũy được vốn tri thức và kinh nghiệm phong phú, từng bước hình thành tư tưởng lý luận và phương pháp cách mạng của mình
Thống nhất giữa lý luận và thực tiễn là nét nổi bật, đặc sắc thuộc về bản chất khoa học của tư tưởng Hồ Chí Minh Mọi luận điểm của Người đều là những khái quát lý luận từ thực tiễn chính trị - xã hội, được phân tích trên quan điểm lịch sử - cụ
thể, quan điểm toàn diện, hệ thống và phát triển Người viết: “Thực hành sinh ra hiểu biết; Hiểu biết tiến lên lý luận; Lý luận lãnh đạo thực hành” Đó là con đường của
Trang 10hiện trong mọi lĩnh vực sống và hoạt động của Người, tạo thành một chỉnh thể nhất quán
Đối với Người,’sự nghiệp cách mạng là của nhân dân, do nhân dân và vì nhân dân Sự ấm no, hạnh phúc của nhân dân là mục đích duy nhất trong mọi suy nghĩ cũng như hành động của Người Từ những suy nghĩ đó mà trong mọi hành động cũng như việc làm, Người luôn luôn đặt địa vị và quyền lợi của nhân dân lên trên hết Người rất gương mẫu và cũng luôn căn dặn, giáo dục cán bộ, đảng viên phải kính dân, trọng dân, yêu dân, gần dân, học dân, tin tưởng vào trí tuệ và lực lượng của dân
1.3 Nh ững nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước dân chủ
1.3.1 Khái quát nh ững quan ’ điểm cơ bản trong tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước dân chủ ’
- T ổ chức quyền lực nhà nước phải có sự phân công, phân quyền và kiểm tra, giám sát l ẫn nhau nhằm phòng tránh sự lạm quyền và bảo đảm chủ quyền của nhân dân
Theo Hồ Chí Minh, để nhà nước thực sự là của dân, do dân, vì dân thì trong
tổ chức quyền lực nhà nước phải có sự phân công, phân quyền rõ ràng, có sự kiểm
Trang 11tra và giám sát lẫn nhau giữa các nhánh quyền lực Tất cả quyền lực của Nhà nước thuộc về Nhân dân trên nền tảng chính trị xã hội là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức, dưới ngọn cờ của Đảng Cộng sản Việt Nam Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát
giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp Nhà nước ban hành pháp luật, tổ chức, quản lý xã hội bằng pháp luật một cách dân chủ
và bảo đảm tối cao pháp chế xã hội chủ nghĩa Tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước theo nguyên tắc tập trung dân chủ, thông qua sự phân công, phân cấp, đồng
thời bảo đảm sự chỉ đạo thống nhất và đồng bộ từ cấp Trung ương tới cơ sở Điều này không chỉ nhằm phòng tránh sự độc đoán, chuyên quyền dẫn đến lồng quyền, lạm quyền, xâm hại đến các quyền, tự do và dân chủ của nhân dân mà còn bảo đảm cho nhà nước hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, có tinh thần trách nhiệm đối với nhân dân
- Xây d ựng chính quyền mạnh mẽ, sáng suốt; xây dựng chế độ trách nhiệm của nhà nước, của chính phủ đối với nhân dân
Hồ Chí Minh luôn giữ vững quan điểm “Xây dựng chính quyền mạnh mẽ, sáng suốt của Nhân dân”, vì Người đã thấu hiểu, thực hiện chế độ dân chủ trước hết
là quyền tự quyết định lấy số phận của mình, quyền bình đẳng dân tộc, việc bảo đảm
tự do, dân chủ, hạnh phúc của Nhân dân phải do chính Nhân dân nước đó xây dựng lên Bác cũng đã nhiều lần căn dặn: Nhân dân rất thông minh, một chính quyền mạnh
mẽ, sáng suốt là chính quyền “được lòng dân”
Theo Người, để có được chính quyền mạnh mẽ, sáng suốt của nhân dân thì trong tổ chức bộ máy nhà nước còn phải tinh gọn, phân định rõ ràng chức năng, nhiệm vụ và trách nhiệm giữa các cơ quan nhà nước, giữa chính quyền trung ương
và địa phương; phải giáo dục, bồi dưỡng và xây dựng được một đội ngũ cán bộ, công
Trang 1210
chức vừa hồng, vừa chuyên; phải phát huy dân chủ rộng rãi và phải biết dựa vào nhân dân để xây dựng và cổng cố chính quyền cách mạng Bên cạnh đó, có những biện pháp phòng tránh và kiên quyết chống lại những căn bệnh thường gặp trong bộ máy nhà nước như tham ô, lãng phí, quan liêu Nếu không thường xuyên và kiên quyết
chống lại những căn bệnh đó sẽ làm hủy hoại, suy yếu và biến dạng nhà nước
- Xây d ựng đội ngũ cán bộ, công chức có phẩm chất đạo đức tốt, tinh thông nghiệp
v ụ
Theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, cán bộ, công chức là nguồn vốn của nhà nước;
“Cán bộ là gốc của công việc”, “Muôn việc thành công hoặc thất bại, đều do cán bộ
tốt hoặc kém”; chủ trương, chính sách dù có hay, có tốt mấy đi chăng nữa nhưng nếu không có đội ngũ cán bộ với phẩm chất đạo đức tốt, có năng lực chuyên môn thì cũng không thể thực hiện được Do vậy, nhà nước chỉ thực sự là của dân, do dân, vì dân khi và chỉ khi có được một đội ngũ cán bộ, công chức “cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư”
- Xây dựng một nền tư pháp độc lập, chỉ tuân theo pháp luật, là thành trì của công
lý và l ẽ phải
Khi phải bôn ba khắp thế giới để tìm đường cứu nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã xác định tính thiết yếu của pháp luật và pháp quyền đối với việc bảo đảm quyền độc lập, tự do cho dân tộc, quyền dân chủ và các quyền cơ bản của con người Người khẳng định: “Trăm điều phải có thần linh pháp quyền” Nhà nước pháp quyền phải thượng tôn pháp luật, pháp luật phải bảo đảm được công lý và lẽ phải Cốt lõi giá trị trong tư tưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh chính là quan điểm vì con người và giải phóng con người, vì đất nước, vì dân tộc Đó là chủ nghĩa nhân đạo cao cả, chủ nghĩa nhân văn cách mạng sáng ngời lý tưởng cộng sản Theo Người, chỉ có độc lập thì tòa
Downloaded by Út Bé (beut656@gmail.com)
Trang 1311
án mới có đủ khả năng bảo vệ chế độ nhà nước, chế độ xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân, bảo vệ công lý và công bằng xã hội
- Dân ch ủ và thực hành dân chủ trong tưởng Hồ Chí Minh mang những nét độc đáo
Theo Hồ Chủ tịch, dân chủ vừa là mục đích, vừa là động lực, chìa khoá của sự phát triển, là “của báu” vì đó là lý tưởng, là ước vọng của toàn thể nhân dân ta về
một xã hội tốt đẹp trong tương lai Thực hành dân chủ sẽ huy động và sử dụng được tối đa quyền hạn, lực lượng của toàn dân để thực hiện những nhiệm vụ cách mạng vì lợi ích của nhân dân Tư tưởng Hồ Chí Minh về dân chủ được thể hiện rất rõ ở ba thành tố, đó là: triết lý về con người, về công quyền và về thiết chế xã hội
Trước hết về con người, theo Chủ tịch Hồ Chí Minh, con người là quý giá nhất Nên mọi hoạt động của nhà nước, của xã hội, của mối người đều phải nhằm mục đích đem đến những điều tốt đẹp nhất cho con người Chủ tịch Hồ Chí Minh
viết: “Trong bầu trời không gì quý bằng nhân dân”, “Dân là quý nhất, là quan trọng hơn hết, là tối thượng”, “Dân là gốc của nước, của cách mạng”, “Nước lấy dân làm
gốc Gốc có vững cây mới bền Xây lầu thắng lợi trên nền nhân dân”
Thành tố thứ hai trong tư tưởng dân chủ của Hồ Chí Minh là công quyền Quyền của nhân dân, quyền của công dân, quyền của từng tập đoàn công dân trong dân tộc và trong xã hội, “Làm cho nhân dân biết hưởng quyền dân chủ, biết dùng quyền dân chủ của mình, dám nói, dám làm”, quyền hạn luôn đi đôi với nghĩa vụ, với trách nhiệm
Thành tố thứ ba là thiết chế xã hội Người đề cao tư tưởng về một xã hội theo
luật (thay chế độ ra các sắc lệnh bằng chế độ ra các đạo luật) Luật nêu rõ dân có quyền hạn, có lợi ích, có trách nhiệm đối với nhà nước và xã hội Chính phủ phải đặt
lợi ích của nhân dân nên trên hết, nếu làm hại dân thì dân có quyền đuổi
Trang 1412
- K ết hợp hài hòa giữa đạo đức và pháp luật trong quản lý xã hội
Suốt cuộc đời hoạt động cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn chủ trương xây dựng nền chính trị đạo đức được bảo đảm bởi sức mạnh của luật pháp.“Đạo đức
là gốc, pháp luật là chuẩn”, để thực hiện mục tiêu xây dựng Nhà nước pháp quyền
xã hội chủ nghĩa của dân, do dân và vì dân, thì phải xây dựng, hoàn thiện hệ thống
luật pháp với mục đích thể hiện quyền làm chủ của nhân dân và thể chế hóa thành các quy định mang tính pháp quyền, thành nguyên tắc tổ chức và vận hành của Nhà nước, cũng như các thiết chế chính trị khác, tạo nên chế độ dân chủ
1.3.2 Nh ững nội dung cơ bản của tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước dân chủ,
là nhà nước của dân, do dân, vì dân
1.3.2.1 Nhà nước thực sự của dân, do dân, vì dân
Ngay từ năm 1927, trong cuốn “Đường Kách mệnh”, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đã xác định: “Chúng ta đã hy sinh làm cách mệnh, thì nên làm cho đến nơi, nghĩa là làm sao cách mệnh rồi thì quyền giao cho dân chúng số nhiều, chớ để trong tay một
bọn ít người Thế mới khỏi hy sinh nhiều lần, thế dân chúng mới được hạnh phúc” Sau khi Cách mạng Tháng Tám thành công, Nhà nước cách mạng được thành lập, Người nhấn mạnh: “Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu quyền hạn đều của dân, bao nhiêu lợi ích đều vì dân Nói tóm lại, quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” Đây
là điểm khác biệt về bản chất giữa nhà nước dân chủ nhân dân với các nhà nước của giai cấp bóc lột từng tồn tại trong lịch sử
Nhà nước của dân là nhà nước mà ở đó tất cả quyền lực thuộc về nhân dân,
nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước Nhân dân là gốc, là chủ của quyền lực nhà nước, bao nhiêu quyền hạn của Nhà nước đều là của nhân dân Điều thứ 1 của
Hiến pháp 1946 ghi rõ: “Nước Việt Nam là một nước dân chủ cộng hòa Tất cả quyền
Downloaded by Út Bé (beut656@gmail.com)
Trang 1513
bính trong nước là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo” Do đó, đội ngũ cán bộ của chính quyền các cấp
là đầy tớ trung thành của nhân dân, là công bộc của nhân dân, chứ không phải là cha
mẹ dân, cai trị dân như nhà nước của chế độ bóc lột trước đây Nhân dân là người có quyền quyết định các vấn đề hệ trọng liên quan đến vận mệnh quốc gia dân tộc Ngay trong Điều 32 Hiến pháp năm 1946 đã nêu rõ: “Những việc liên quan đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra cho nhân dân phúc quyết”
Nhà nước do dân là nhà nước do nhân dân lựa chọn, bầu ra những đại biểu của
mình, những đại biểu này thay mặt nhân dân tổ chức, điều hành các cơ quan nhà nước từ Trung ương đến địa phương thông qua chế độ tổng tuyển cử phổ thông đầu phiếu Trong phiên họp Hội đồng Chính phủ ngày 03/9/1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh
đề nghị tiến hành cuộc Tổng tuyển cử Người khẳng định: “Tổng tuyển cử là một dịp cho toàn thể quốc dân tự do lựa chọn những người có tài, có đức để gánh vác công
việc nước nhà Trong cuộc Tổng tuyển cử, hễ là những người muốn lo việc nước thì đều có quyền ra ứng cử, hễ là công dân thì có quyền đi bầu cử… Do Tổng tuyển cử
mà toàn dân bầu ra Quốc hội Quốc hội sẽ cử ra Chính phủ Chính phủ đó thật là Chính phủ của toàn dân” Mặt khác, nhân dân tham gia góp ý xây dựng Nhà nước,
kiểm soát và giám sát quyền lực của Nhà nước “Nếu Chính phủ làm hại dân thì dân
có quyền đuổi Chính phủ”, nghĩa là Nhà nước không đáp ứng được nhu cầu và lợi ích chính đáng của nhân dân thì nhân dân có quyền bãi miễn Chính phủ
Nhà nước vì dân là nhà nước phục vụ lợi ích và nguyện vọng chính đáng của
nhân dân, lấy hạnh phúc của nhân dân làm mục tiêu phấn đấu Người nhắc nhở các
cấp chính quyền phải:
“Làm cho dân có ăn Làm cho dân có mặc