Làm rõ cặp phạm trù “ bản chất và hiện tượng ” Vận dụng nội dung của cặp phàm trù “ bản chất và hiện tượng ” này để phân tích, đánh giá thực trạng công tác đấu thầu trong các dự án ở Ban QLLA thuộc TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình trong năm 2018.
Trang 1A. ĐẶT VẤN ĐỀ
I. Lý do chọn đề tài
Cùng với công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá hiện nay hoạt động đấu thầu sẽ giúp cho chủ đầu tư lựa chọn được nhà thầu đáp ứng tốt nhất những yêu cầu của mình, nhờ đó họ có được những công trình có chất lượng cao, giá cả hợp lý
Hiện nay, Chính phủ đã ban hành Quy chế đấu thầu (Nghị định số 88/1999/NĐ-CP) và Nghị định 14/2000/NĐ-CP sửa đổi bổ sung một số điều của Quy chế đấu thầu đã tạo khung pháp lý cho hoạt động đấu thầu
Tuy nhiên, hoạt động đấu thầu đang còn rất mới mẻ ở nước ta cho nên chưa thể có được sự hoàn thiện trong hoạt động đấu thầu kể cả quản lý nhà nước
về đấu thầu và hoạt động dự thầu của các doanh nghiệp xây dựng
Trong cơ chế thị trường thì sự cạnh tranh là rất khốc liệt và đó là một trong những động lực cho sự phát triển kinh tế-xã hội Trong hoạt động đấu thầu thì sự cạnh tranh cũng không kém phần quyết liệt đó là cạnh tranh về giá bỏ thầu, cạnh tranh về chất lượng công trình, cạnh tranh về tiến độ thi công (thể hiện thông qua các biện pháp kỹ thuật-thi công) và sự cạnh tranh giúp cho các nhà thầu lớn lên về mọi mặt Cùng với sự đòi hỏi ngày càng cao của các chủ đầu tư về chất lượng công trình tiến độ thi công đòi hỏi Các nhà thầu phải luôn luôn nổ lực để nâng cao năng lực của mình Hoạt động đấu thầu ngày càng trở nên có tính quyết định đến sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp xây dựng, việc nâng cao hiệu quả đấu thầu có ý nghĩa to lớn
Thực hiện một dự án thì đầu tiên chủ đầu tư phải lựa chọn được một nhà thầu đáp ứng các yêu cầu và quy đinh luật pháp, đồng thời giúp cho chủ đầu tư tìm được nhà thầu có đầy đủ những chỉ tiêu về chất lượng và chi phí thấp nhất cho dự án mình đề ra và việc tìm ra một nhà thầu đáp ứng được các yêu cầu đề
ra của chủ đầu tư thì công tác đấu thầu là quá trình lựa chọn đó Để hiểu hơn và làm rõ các công tác trong đấu thầu thì đề tài: Vận dụng cặp phạm trù “ bản chất
Trang 2và hiện tượng “ trong quá trình Đấu thầu các Dự án của Ban QLDA tại TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình, để làm tiểu luận triết học của mình
II. Mục đích của đề tài
Làm rõ cặp phạm trù “ bản chất và hiện tượng ”
Vận dụng nội dung của cặp phàm trù “ bản chất và hiện tượng ” này để phân tích, đánh giá thực trạng công tác đấu thầu trong các dự án ở Ban QLLA thuộc TP Đồng Hới, tỉnh Quảng Bình trong năm 2018
B. NỘI DUNG
I. Cơ sở lý luận
I.1Phép biện chứng duy vật
Phương pháp duy vật biện chứng hay chủ nghĩa duy vật biện chứng là một
bộ phận của học thuyết triết học do Karl Marx đề xướng Đặc trưng của phương pháp duy vật biện chứng là coi một sự vật hay một hiện tượng trong trạng thái luôn phát triển và xem xét nó trong mối quan hệ với các sự vật và hiện tượng khác Cốt lõi của chủ nghĩa duy vật biện chứng là chủ nghĩa duy vật kết hợp với phép biện chứng
I.2 Nội dung cặp phạm trù
I.2.1 Các khái niệm của bản chất và hiện tượng.
- Thực tế chúng ta thấy, khi xem xét những sự vật và quá trình diễn ra trong tự nhiên và xã hội sẽ xó những mặt bên ngoài mà giác quan có thể nhận thức được nhưng cũng có những mặt, những mối liênhệ ở bên trong bị che khuất, chỉ dùng tư duy trừu tượng mới có thể hiểu được Mặt bên ngoài đó gọi
là hiện tượng, còn mặt bên trong gọi là bản chất Trong cuộc sống, sự vật và quá trình nào cũng có cả hai mặt ấy, chúng luôn luôn vận động và phát triển cùng nhau Vì vậy, khi xem xét sự vật và quá trình trong tự nhiên và xã hội,
ta cần phân biệt rõ đâu là bản chất và đâu là hiện tượng
- Bản chất là tổng hợp tất cả những mặt, những mối liên hệ tất nhiên, tương đối ổn định bên trong sự vật, quy định sự vận động và phát triển của sự vật
Trang 3- Hiện tượng là biểu hiện ra bên ngoài của bản chất.
I.2.2 Mối liên hệ biện chứng giữa bản chất và hiện tượng.
Bản chất và hiện tượng có tính khách quan và gắn bó chặt chẽ, thống nhất với nhau:
- Bản chất và hiện tượng luôn luôn tồn tại song song với nhau Bản chất bao giờ cũng bộc lộ ra qua hiện tượng và ngược lại hiện tượng bao giờ cũng
là sự biểu hiện của một bản chất nào đó
- Thực vậy, không có bản chất nào thuần tuý nằm ở một nơi nào đó bên ngoài các sự vật, bản chất cũng không phải là cái gì thần bí bên trong sự vật Bản chất nhất thiết phải bộc lộ qua hiện tượng Hiện tượng có tính bản chất, nghĩa là bất cứ hiện tượng nào cũng là biểu hiện của bản chất, hoặc biểu hiện một mặt nào đó của bản chất Bản chất như thế nào thì hiện tượng cũng như thế ấy Khi bản chất bị tiêu diệt thì sớm hay muộn hiện tượng do nó sinh ra cũng biến mất theo Bản chất mới ra đời thì các hiện tượng mới phù hợp với nó cũng dần xuất hiện
- Chính vì có sự thống nhất giữa bản chất và hiện tượng mà con người mới có thể thông qua những hiện tượng để nhận thức bản chất, phát hiện
ra những quy luật phát triển của sự vật
Bản chất và hiện tượng là quan hệ có tính mâu thuẫn:
- Mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng là mâu thuẫn giữa cái bên trong và cái bên ngoài
- Bản chất phản ánh cái chung sâu xa, cái bên trong của sự vật Hiện tưọng phản ánh cái riêng, cái biểu hiện ra bên ngoài của bản chất Tất
cả các hiện tượng biểu hiện bản chất theo nhiều cách khác nhau: có hiện tượng biểu hiện một phần bản chất, có hiện tượng biểu hiện bản chất tương đối đầy đủ, đúng đắn, nhưng đôi khi hiện tượng biểu hiện bản chất không hoàn toàn đúng đắn, thậm chí còn sai lệch bản chất bởi vì nếu hiện tượng nào cũng bộc lộ ngay tức khắc và hoàn toàn đầy đủ bản chất thì con người chỉ cần
Trang 4dùng giác quan mà nhận thức sự vật, chứ không cần dùng đến các ngành khoa học, kỹ thuật hiện đại
- Mâu thuẫn giữa bản chất và hiện tượng còn biểu hiện là mâu thuẫn giữa cái tương đối ổn định và cái thường xuyên biến đổi
- Bản chất của sự vật tồn tại trong suốt quá trình phát triển của nó, chỉ khi nào sự vật mất đi thì bản chấtcủa nó mới thay đổi hẳn Chính vì thế bản chất có tính tương đối ổn định Nhưng trong quá trình phát triển của sự vật thì bản chất của nó được biểu hiện bằng những hiện tượng khác nhau và luôn thay đổi tuỳ vào những điều kiện khách quan bên ngoài Điều đó chứng tỏ hiện tượng thường xuyên biến đổi
- Hiện tượng phong phú hơn bản chất còn bản chất thì sâu sắc hơn hiện tượng
- Hiện tượng phong phú hơn bản chất vì ngoài bản chất chung mà các hiện tượng đều có ra nó còn chứa đựng những nhân tố cá biệt mà chỉ riêng
nó có vì trong hiện tượng có sự thống nhất giữa cái bản chất và những cái không bản chất vì bản chất là cái tương đối ổn định ở trong còn hiện tượng là cái
biểu hiện ra bên ngoài Ngược lại, bản chất sâu sắc hơn hiện tượng vì nó là những mối liên hệ tất nhiên bên trong, là những quy luật quyết định sự tồn tại và phát triển của sự vật, nó được lặp đi lặp lại trong những hiện tượng khác nhau, biểu hiện quy luật phát triển chung của hiện tượng đó
I.2.3 Ý nghĩa phương pháp luận.
- Con đường nhận thức sự vật là đi từ hiện tượng đến bản chất, từ bản chất cấp một đến bản chất cấp hai để nhận thức ngày càng sâu hơn, chính xác hơn
- Con người muốn làm chủ được sự vật phải nắm được bản chất của nó nhưng không thể nắm bản chất trực tiếp đựơc mà phải thông qua hiện tượng
Trang 5Nhưng trong hiện tượng có những loại khác nhau, vì thế phải biết thu thập phân tích nhiều hiện tượng để rút ra bản chất, và từ bản chất soi sáng, kiểm tra lại hiện tượng và tiếp tục nắm sâu hơn bản chất
II. Vận dụng thực trạng
2.1. Một số khái niệm.
2.1.1. Đấu thầu.
Đấu thầu là quá trình chủ đầu tư lựa chọn được một nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của mình Trong nền kinh tế thị trường, người mua tổ chức đấu thầu để người bán ( các nhà thầu ) cạnh tranh nhau Mục tiêu của người mua là có được hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu của mình về kỹ thuật, chất lượng và chi phí thấp nhất Mục đích của nhà thầu là giành được quyền cung cấp hàng hóa dịch vụ đó với giá đủ bù đắp các chi phí đầu vào và đảm bảo mức lợi nhuận cao nhất có thể
2.1.2. Đấu thầu trong nước.
Đấu thầu trong nước là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu với sự tham gia của các nhà thầu trong nước
2.1.3. Đấu thầu quốc tế.
Đấu thầu quốc tế là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu với sự tham gia của các nhà thầu nước ngoài và nhà thầu trong nước
2.1.4. Dự án.
Là tập hợp các đề xuất để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc nhằm đạt được mục tiêu hay yêu cầu nào đó trong một thời gian nhất định dựa trên nguồn vốn xác định
2.1.5. Chủ đầu tư.
Là người sở hữu vốn hoặc được giao trách nhiệm thay mặt chủ sở hữu, người vay vốn trực tiếp quản lý và thực hiện dự án
2.1.6. Bên mời thầu.
Trang 6Là chủ đầu tư hoặc tổ chức chuyên môn cóđủ năng lực và kinh nghiệm được chủ đầu tư sử dụng để tổ chức đấu thầu theo các quy định của pháp luật về đấu thầu
2.1.7. Nhà thầu chính.
Là nhà thầu chịu trách nhiệm về việc tham gia đấu thầu, đứng tên dự thầu,
ký kết và thực hiện hợp đồng nếu được chọn ( Sau đây gọi là nhà thầu tham gia đấu thầu ) Nhà thầu tham gia đấu thầu một cách độc lập gọi là nhà thầu độc lập Nhà thầu cùng với một hoặc nhiều nhà thầu khác tham gia đấu thầu trong một đơn dự thầu thì gọi là nhà thầu liên danh
2.1.8. Nhà thầu phụ.
Là nhà thầu thực hiện một phần công việc của gói thầu trên cơ sở thỏa thuận hoặc hợp đồng được ký với nhà thầu chính Nhà thầu phụ không phải là nhà thầu chịu trách nhiệm về việc tham gia đấu thầu
2.1.9. Nhà thầu trong nước.
Là nhà thầu được thành lập và hoạt động theo pháp luật Việt Nam
2.1.10. Nhà thầu nước ngoài.
Là nhà thầu được thành lập và hoạt động theo pháp luật của nước mà nhà thầu mang quốc tịch
2.1.11. Gói thầu.
Là một phần của dự án, trong một số trường hợp đặc biệt gói thầu là toàn
bộ dựán, gói thầu có thể gồm những nội dung mua sắm giống nhau thuộc nhiều dựán hoặc khối lượng mua sắm một lần đối với mua sắm thường xuyên
2.1.12. Hồ sơ mời thầu.
Là toàn bộ tài liệu sử dụng cho đấu thầu rộng rãi hoặc đấu thầu hạn chế bao gồm các yếu cầu cho một gói thầu làm căn cứ pháp lýđể nhà thầu chuẩn bị
hồ sơ dự thầu và để bên mời thầu đánh giá hồ sơ dự thầu nhằm lựa chọn nhà thầu trúng thầu; là căn cứ cho việc thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng
2.1.13. Hồ sơ dự thầu.
Trang 7Là toàn bộ tài liệu do nhà thầu lập theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu và được nộp cho bên mời thầu theo quy định nêu trong hồ sơ mời thầu
2.1.14. Giá gói thầu.
Là giá trị gói thầu được xác định trong kế hoạch đấu thầu trên cơ sở tổng mức đầu tư hoặc tổng dự toán, dự toán được duyệt và các quy định hiện hành
2.1.15. Giá dự thầu.
Là giá do nhà thầu nêu trong đơn dự thầu thuộc hồ sơ dự thầu Trường hợp nhà thầu có thư giảm giá thì giá thầu là giá sau giảm giá
2.1.16. Giá đề nghị trúng thầu.
Là giá do bên mời thầu đề nghị trên cơ sơ giá dự thầu của nhà thầu được lựa chọn trúng thầu sau sửa lỗi, hiệu chỉnh các sai lệch theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu
2.1.17. Giá trúng thầu.
Là giá được phê duyệt trong kết quả lựa chọn nhà thầu làm cơ sởđể thương thảo, hoàn thiện và ký kết hợp đồng
2.1.18. Hợp đồng.
Là văn bản ký kết giữa chủ đầu tư và nhà thầu được lựa chọn trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên nhưng phải phù hợp với quyết định phê duyệt kết quả lựa chọn nhà thầu
2.2. Đánh giá thực trạng việc đấu thầu trong hiện nay.
Nhờ việc đấu thầu mà nhiều dự án được diễn ra suôn sẽ và các nguồn lực được đáp ứng tốt cho công tác thi công Đánh giá được khả năng của nhà thầu khi tham gia vào dự án Ở Việt Nam hiệu quả sử dụng các nguồn lực trong đấu thầu, đầu tư rất thấp Trách nhiệm của đôi bên còn thực hiện chưa nghiêm túc dẫn tới việc đấu thầu chưa minh bạch
2.3. Bản chất của đấu thầu đối với các dự án.
Bản chất là cơ sở để chủ đầu tư lập nên gói thầu để đấu thầu rộng rải Và khi nền kinh tế thị trường thúc đẩy cạnh tranh phát triển, những người bán hàng
Trang 8hóa, dịch vụ luôn luôn có sự cọ sát để tranh dành người mua Cơ chế đó làm cho người mua có được sự lựa chọn tốt nhất cho mình Trên cơ sở đó đấu thầu xuất hiện Cơ chế đấu thầu cho phép người mua lựa chọn một hoặc một số người bán
có khả năng cung ứng hàng hóa, dịch vụ mà mình có nhu cầu sao cho đạt được hiệu quả tối ưu cả về số lượng, chất lượng, giá cả, và kỹ thuật, công nghệ…
Luật Đấu thầu năm 2013 vừa được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam thông qua đã đưa ra một định nghĩa có tính cách pháp lý như sau: “Đấu thầu là quá trình lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng cung cấp dịch vụ tư vấn, dịch vụ phi tư vấn, mua sắm hàng hóa, xây lắp; lựa chọn nhà thầu để ký kết và thực hiện hợp đồng dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư, dự án đầu tư có sử dụng đất trên cơ sở bảo đảm cạnh tranh, công bằng, minh bạch và hiệu quả kinh tế” Định nghĩa này đã nói tới tổng quát các yêu cầu cơ bản của hoạt động đấu thầu hiện nay ở Việt Nam Đây là một định nghĩa khá chi tiết, khác hẳn với định nghĩa tổng quát của UNCITRAL rằng: “đấu thầu là tiến hành mua sắm hàng hóa, xây dựng và dịch vụ theo một cách nào đó” (Luật mẫu của UNCITRAL, Điều 2)
Tựu chung, các định nghĩa trên dù ở giác độ học thuật hay thông dụng đều hướng tới việc chỉ ra rằng: đấu thầu là một thuật ngữ 5 để chỉ một quá trình mua sắm hàng hóa, xây lắp và dịch vụ thông qua một quá trình mang tính chuẩn hóa
do bên mời thầu áp dụng để lựa chọn nhà thầu phù hợp với các tiêu chí bên mời thầu đưa ra thực hiện việc cung ứng hàng hóa, xây dựng và dịch vụ
Từ những nghiên cứu ở trên, có thể định nghĩa khái niệm đấu thầu xây
dựng như sau: Đấu thầu xây dựng là hình thức đấu thầu với mục đích lựa chọn được nhà thầu hoặc một nhóm nhà thầu (liên danh) đáp ứng được tốt nhất các yêu cầu do bên mời thầu đặt ra để xây dựng các công trình
Bản chất của đấu thầu đối với các dự án.
Sản phẩm của xây dựng nhìn dưới góc độ kinh tế là loại hàng hóa đặc biệt Nó có thể là tri thức (ví dụ: trong dịch vụ tư vấn) Nó có thể là các hạng
Trang 9mục công trình, hoặc công trình xây dựng Các sản phẩm này thường có giá trị lớn, và được tạo ra trong một khoản thời gian dài, và có thời gian sử dụng rất lâu dài Do đó đấu thầu xây dựng rất cần thiết, có vị trí hết sức quan trọng, liên quan đến hầu hết các lĩnh vực kinh tế, văn hóa, xã hội, nhất là đối với công nghiệp và khoa học kỹ thuật
Chính nhờ có đấu thầu mà tình trạng vô trách nhiệm, thất thoát lãng phí các nguồn vốn dành cho dự án được khắc phục, chất lượng công trình được nâng cao Dưới góc độ nhà đầu tư nó là công cụ giúp các chủ đầu tư lựa chọn được các công trình xây dựng chất lượng tốt nhất với giá cả hợp lý nhất làm sao để sử dụng đồng vốn có hiệu quả Ngoài ra đối với các nhà thầu đây chính là phương thức tìm kiếm cơ hội kinh doanh và phát triển doanh nghiệp
Thông qua các tiêu chí mà bên mời thầu đưa ra các nhà thầu có thể tự đánh giá khả năng của mình để quyết định có tham gia hay không Do đó, đấu thầu đã thiết lập nên một môi trường cạnh tranh mà trong đó các nhà thầu có thể chủ động đưa ra được các đề nghị phù hợp nhất với yêu cầu của bên mời thầu
Nhờ tính cạnh tranh công bằng của đấu thầu, các nhà thầu cùng nhau đưa
ra những điều kiện tối ưu của mình về kinh nghiệm, năng lực, tài chính, kỹ thuật…để có thể trúng thầu Điều này giúp hạn chế tình trạng giao thầu cho bên không đủ năng lực thực hiện dẫn đến dự án kéo dài, phát sinh tranh chấp
Thông qua các hoạt động đấu thầu bên mời thầu có thể chọn ra nhà thầu đáp ứng tốt nhất các yêu cầu đặt ra mà hạn chế tối đa được yếu tố tham nhũng Hơn thế nữa, qua tính công khai minh bạch của đấu thầu, chủ đầu tư có thể giám sát nhà thầu dễ dàng hơn hoặc các nhà thầu có thể giám sát lẫn nhau tránh các hiện tượng tiêu cực xảy ra Đấu thầu, dưới góc độ quản lý nhà nước đó là công
cụ quản lý vĩ mô giúp nhà nước bảo toàn ngân sách và minh bạch trong các vấn
đề xây dựng
2.4. Hiện tượng của đấu thầu.
Trang 10Hiện tượng là hình thức mà chủ đầu tư chào thầu tùy theo số lượng nhà thầu tham gia đấu thầu thì có thể phân chia các hình thức chọn lựa nhà thầu khác nhau Có 7 hình thức đấu thầu khác nhau và đã được quy định trong luật đấu thầu 2013 bao gồm:
- Đấu thầu rộng rãi:
Là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà thầu tham gia Bên mời thầu phải thông báo công khai về các điều kiện, thời gian dự thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng tối thiểu 10 ngày trước khi phát hành hồ sơ mời thầu Đấu thầu rộng rãi là hình thức chú ý áp dụng trong đấu thầu
- Đấu thầu hạn chế:
Là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một số nhà thầu (tối thiểu là 5) có đủ năng lực tham dự Danh sách nhà thầu tham dự phải được người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền chấp thuận Hình thức này chỉ được xem xét áp dụng khi có những điều kiện sau:
+ Chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng được yêu cầu của gói thầu + Các nguồn vốn sử dụng yêu cầu phải tiến hành đấu thầu hạn chế
+ Do tình hình cụ thể của gói thầu mà việc đấu thầu hạn chế có lợi thế
- Chỉ định thầu:
Chỉ định thầu là hình thức chọn trực tiếp nhà thầu đáp ứng yêu cầu của gói thầu để thương thảo hợp đồng
Hình thức này chỉ được áp dụng trong các trường hợp đặc biệt sau:
+ Trường hợp bất khả kháng do thiên tai, địch hoạ, được phép chỉ định ngay đơn vị có đủ năng lực để thực hiện công việc kịp thời, sau đó phải báo cáo