Mục tiêu nghiên cứu luận văn trình bày tìm hiểu về sự thay đổi quan niệm con người qua một hình tượng đã xuyên suốt dọc chiều dài lịch sử đất nước, là tượng đài cho cả một thế hệ là tìm hiểu về sự thay đổi của quan niệm về cuộc đời, để nhìn lại cả một thời đại, giúp người đọc, nhất là lớp hậu sinh có cái nhìn tổng quát hơn, đi sâu hơn và thấu hiểu hơn. Chiến tranh, lịch sử không còn chỉ được tái hiện qua những kiến thức khô khan mà thực tế, gần gũi và đa chiều.
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THỊ MINH HƯƠNG
SỰ THAY ĐỔI QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI
QUA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH
TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT VIỆT NAM
ĐẦU THỜI KỲ ĐỔI MỚI
LUẬN VĂN THẠC SĨ Chuyên ngành: Lí luận văn học
Hà Nội – 2015
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC XÃ HỘI VÀ NHÂN VĂN
-
TRẦN THỊ MINH HƯƠNG
SỰ THAY ĐỔI QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI
QUA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH TRONG MỘT SỐ TIỂU THUYẾT VIỆT NAM
ĐẦU THỜI KỲ ĐỔI MỚI
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 3
1 Lý do chọn đề tài 4
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 6
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu 13
3.1 Mục đích 13
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 14
4 Phương pháp nghiên cứu 15
5 Cấu trúc luận văn 16
Chương 1: SỰ VẬN ĐỘNG CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM THỜI ĐỔI MỚI VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA CÁC NHÀ VĂN VIẾT VỀ NGƯỜI LÍNH 17 1.1 Những chuyển biến của hoàn cảnh lịch sử - xã hội 17
1.1.1 Hoàn cảnh lịch sử - xã hội 17
1.1.2 Những chuyển biến về xã hội, văn hóa - tư tưởng 18
1.1.3 Nhu cầu đổi mới của văn học 20
1.2 Sự vận động của văn học thời kỳ đổi mới và sự thay đổi quan niệm về con người 20
1.2.1 Văn học trước 1975 21
1.2.2 Văn học từ 4/1975 đến 1985 23
1.2.3 Văn học thời kỳ đổi mới 25
1.2.3.1 Đổi mới quan niệm về sứ mệnh văn chương và quan niệm về nhà văn………26
Trang 41.2.3.2 Đổi mới quan niệm về hiện thực và con người 28
1.3 Sáng tác của một số nhà văn tiêu biểu giai đoạn đổi mới trong đề tài chiến tranh và đời sống người lính 29
1.3.1 Con người và sự nghiệp 30
1.3.2 Giới thiệu sơ lược nội dung tác phẩm 33
Chương 2: NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA SỰ THAY ĐỔI QUAN NIỆM VỀ CON NGƯỜI QUA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH TRONG TIỂU THUYẾT ĐẦU THỜI KỲ ĐỔI MỚI 36
2.1 Quan niệm về con người và hình tượng người lính trong tiểu thuyết 36 2.1.1 Quan niệm về con người và hình tượng người lính 36
2.1.2 Thể loại tiểu thuyết 39
2.2 Sự thay đổi quan niệm về con người qua hình tượng người lính 40
2.2.1 Con người được tiếp cận một cách toàn diện trong mọi hoàn cảnh 40
2.2.1.1 Con người hiện diện cả trong đời sống cộng đồng và đời sống cá nhân ………42
2.2.1.2 Con người được khắc họa chân dung trong cả chiến tranh và hòa bình ………47
2.2.2 Con người được nhìn một cách toàn diện, nhân bản 52
2.2.2.1 Con người với những nét tính cách phức tạp, mâu thuẫn, không hoàn hảo ……….55
2.2.2.2 Con người mang vẻ đẹp bình dị, đời thường 64
Chương 3: NGHỆ THUẬT THỂ HIỆN NHÂN VẬT NGƯỜI LÍNH TRONG TIỂU THUYẾT THỜI KỲ ĐỔI MỚI 74
Trang 53.1 Xây dựng tính cách nhân vật 74
3.1.1 Xây dựng quan hệ chặt chẽ giữa tính cách và hoàn cảnh 74
3.1.2 Xây dựng nhân vật có cá tính độc đáo, sắc nét 77
3.1.3 Điểm nhìn trần thuật 81
3.2 Thời gian và không gian nghệ thuật 85
3.2.1 Không gian đan xen giữa hiện thực và mộng ảo 86
3.2.2 Thời gian tuyến tính và xáo trộn 90
3.3 Kết cấu đồng hiện và cốt truyện lồng 92
3.3.1 Kết cấu đồng hiện theo “hai trình tự thời gian” 94
3.3.2 Kết cấu đồng hiện theo dòng ý thức 95
3.4 Ngôn ngữ và giọng điệu 98
3.4.1 Ngôn ngữ 98
3.4.2 Giọng điệu 102
KẾT LUẬN 110
TÀI LIỆU THAM KHẢO 112
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Con người luôn là đề tài không vơi cạn của văn học và đích đến của văn học luôn hướng tới con người Hình tượng con người trong văn học thể hiện quan niệm nhân sinh của tác giả, quan niệm về văn hóa, về cuộc đời, về các quy luật vĩnh cửu của cuộc sống Hình tượng con người tập trung mọi giá trị tư tưởng cũng như nghệ thuật văn học Tuy nhiên, cũng giống như sự biến thiên không ngừng của các chuẩn mực mỹ học trong lịch sử, quan niệm về con người trong văn học cũng thay đổi theo từng thời kỳ, thời đại Mỗi thời đại có một quan niệm
về con người lý tưởng riêng, cách hiểu và đánh giá con người riêng biệt, và khi một biến cố lịch sử đủ lớn làm biến chuyển tư tưởng thì quan niệm đó cũng không còn vững chãi nữa, mà lung lay và bị thay thế Tìm hiểu sự thay đổi trong quan niệm về con người trong văn học qua các thời kỳ của một dân tộc có thể giúp cắt nghĩa được những biến chuyển trong quan niệm nhân sinh của dân tộc
đó, phân tích sự thể hiện quan niệm con người không chỉ ở nội dung mà cả đặc trưng nghệ thuật, nâng cao mức độ đánh giá quan niệm con người trong văn học
cả về chiều rộng và chiều sâu Bên cạnh đó, khi đi sâu vào khai thác các khía cạnh trong việc thể hiện quan niệm về con người cho sẽ thấy sự phong phú, tiến
bộ trong tư tưởng, văn hóa của một dân tộc, một thời đại cũng như những hạn chế cố hữu
Quan niệm về con người của mỗi dân tộc qua từng thời kỳ đều thể hiện qua một hình tượng nhân vật văn học cụ thể, tiêu biểu Với văn học Việt Nam, một nền văn học đã trải qua những năm tháng đấu tranh dựng nước và giữ nước, những năm tháng mà mưa bom, bão lửa trải rộng trên mọi vùng miền, hình tượng người lính trở thành một hình tượng tiêu biểu, điển hình, quy tụ những phẩm chất của thời đại và cũng thể hiện được những đặc điểm trong quan niệm của dân tộc về con người, nhất là trong và sau khi chiến tranh vừa kết thúc Bước ra từ chiến
Trang 7tranh, vẫn xuất hiện trong văn học với cây súng trên vai, nhưng sau năm 1975, nhất là từ mốc đổi mới văn học năm 1986, sự thể hiện hình tượng người lính đã
có nhiều thay đổi, chuyển biến Những thay đổi, chuyển biến này cho thấy ở tầm khái quát hơn sự chuyển biến về quan niệm con người, vì đây là hình tượng xuyên suốt cả một thời kỳ chiến đấu và duy trì tới thời kỳ đổi mới Nhìn người lính ở các khía cạnh mới, các hoàn cảnh mới, đặt người lính vào những vai trò mới, đánh giá lại cả những huy hoàng và những mất mát của họ, văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới đã nhìn lại, đánh giá lại và thay đổi quan niệm một chiều
về con người
Trong các thể loại văn học, tiểu thuyết là thể loại có sự linh hoạt và những ưu điểm nổi trội trong việc khắc họa cái nhìn cuộc sống so với các thể loại khác Nếu như truyện ngắn chỉ đem tới cái nhìn về con người trong khoảnh khắc, trong một lát cắt, thì tiểu thuyết đem tới cái nhìn xuyên suốt mọi số phận, mọi cuộc đời, đưa con người vào một thế giới đa chiều rộng lớn, soi chiếu con người ở mọi góc nhìn, để thấy được cả những khoảng tối âm u nhất Tìm hiểu sự thay đổi quan niệm về con người qua các tiểu thuyết tiêu biểu của một thời kỳ sẽ đem tới cái nhìn khái quát hơn các thể loại khác, cũng như có thể đánh giá một cách cụ thể và sâu sắc hơn sự thay đổi ấy ở các khía cạnh khác nhau, các bước thăng trầm cũng như so sánh được sự thay đổi ấy giữa các nhân vật một cách phong phú và đa dạng hơn Tiểu thuyết là bức tranh cuộc sống hiện thực và đầy đặn nhất, đến với tiểu thuyết là đến với cuộc sống được khắc họa theo cả chiều rộng
và chiều sâu
Văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới (lấy mốc năm 1986) được giảng dạy một cách phổ biến trong chương trình Ngữ văn tại các trường Trung học phổ thông, cao đẳng và đại học Sự đổi mới thể hiện qua nhiều khía cạnh, nhiều vấn đề, trong đó sự đổi mới, thay đổi trong quan niệm về con người được quan tâm và
nghiên cứu sâu rộng Do vậy, đề tài Sự thay đổi quan niệm về con người qua
Trang 8hình tượng người lính trong một số tiểu thuyết Việt Nam đầu thời kỳ đổi mới
hy vọng sẽ đóng vai trò là một tài liệu tham khảo nêu lên những kiến giải tổng quát, những phân tích ở mức độ cụ thể về sự thay đổi trong quan niệm con người, giúp ích cho quá trình học tập cũng như nghiên cứu của học sinh, sinh viên
Từ những lý do trên đây, người viết chọn nghiên cứu đề tài Sự thay đổi quan
niệm về con người qua hình tượng người lính trong một số tiểu thuyết Việt Nam đầu thời kỳ đổi mới
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Sau chiến thắng mùa xuân năm 1975, lịch sử Việt Nam đã mở sang một trang hoàn toàn mới Hòa bình lập lại trên mọi miền tổ quốc, đất nước bước vào giai đoạn phục hồi và phát triển Sự thay đổi về kinh tế, xã hội đã dẫn tới sự thay đổi
về tư tưởng, văn hóa, đòi hỏi văn học phải đáp ứng kịp thời và phù hợp Trong hoàn cảnh đó, văn học không còn có thể khoác mãi chiếc áo ca ngợi hào hùng, chất sử thi lãng mạn dần khiến bức tranh văn chương nhàm chán và đơn điệu Độc giả khẩn thiết mong chờ và đón nhận một nền văn học nhìn vào hiện thực, gắn với đời sống và đa chiều, đa mầu hơn, nhà văn phải có ngòi bút thế sự, ngòi bút biết đào sâu, biết khám phá mọi mặt của tâm hồn con người Sự thay đổi của văn học thể hiện rõ rệt nhất ở sự thay đổi trong quan niệm về con người – đặc biệt là qua một hình tượng đã xuyên suốt cả giai đoạn lịch sử đau thương trước
đó – người lính cụ Hồ Hàng loạt các tiểu thuyết ra đời, nhất là sau năm 1986, gây tiếng vang lớn khi nhìn lại cuộc chiến, nhìn lại quá khứ, khi đặt người lính vào hòa bình cũng như soi chiếu những góc khuất trong chiến tranh Sự chuyển mình của văn học trong quan niệm về con người trở thành một đề tài được bàn luận sôi nổi qua các công trình nghiên cứu, các bài viết, các chuyên đề cũng như được giảng dạy và phân tích trong các chương trình phổ thông và đại học
Trang 9Trong “Một vài suy nghĩ về con người trong văn xuôi thời kỳ đổi mới” in ở
Tạp chí văn học số 9/2001, Tôn Phương Lan đã so sánh sự thể hiện con người
trong các tác phẩm văn học thời kỳ đổi mới với văn học giai đoạn trước đó (trước năm 1975) và khẳng định những đặc điểm mới và nổi bật trong sự thể hiện con người Tác giả đánh giá con người đang được thông hiểu và nhìn nhận
từ nhiều phía để được hiện lên như những gì vốn có
Tác giả Nguyễn Văn Long trong nhiều bài viết đã khẳng định sự thay đổi của văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới thể hiện rõ rệt qua sự đổi mới về quan niệm
con người Trong bài “Về cách tiếp cận để đánh giá văn học Việt Nam sau
Cách mạng tháng Tám”, Nguyễn Văn Long đã nhận định những thay đổi to lớn
của đời sống xã hội sau năm 1975, nhất là sau Đại hội Đảng năm 1986 đã dẫn tới
sự thay đổi các thang chuẩn quan trọng khi nhìn nhận các giá trị cuộc sống Con
người thay vì một chiều như trước đây đã được mô tả trong “tất cả tính đa dạng,
đa chiều của nó” Trong một số bài viết khác, ông đã đề cập đến sự đa dạng của
văn học thời kỳ đổi mới về đề tài, thể loại, các phong cách và khuynh hướng thẩm mỹ,… Ông cũng khái quát lên các đặc điểm quan trọng của văn xuôi thời
kỳ đổi mới và khẳng định văn xuôi đã “mở rộng quan niệm về hiện thực đi liền với đổi mới quan niệm nghệ thuật về con người” Ở một tầm khái quát hơn, trong
cuốn sách Văn học Việt Nam hiện đại tập II do Nhà xuất bản Văn học phát
hành, cùng với nhiều tác giả khác, tác giả Nguyễn Văn Long đã tổng hợp những nét diện mạo chung cũng như những đổi mới về cả tư tưởng và nghệ thuật của văn xuôi sau 1975 so với trước Cuốn sách này đóng vai trò là một tài liệu học tập, nghiên cứu của sinh viên về văn học Việt Nam hiện đại
Giáo sư Trần Đình Sử trong một số tham luận, bài viết thì khẳng định văn xuôi Việt Nam sau 1975 có nhiều đổi mới và cách tân để phù hợp với những yêu cầu
đổi mới của thời đại Ông gọi sự đổi mới này là “một sự bùng nổ về ý thức cá tính nhằm lập lại thế cân bằng giữa ý thức cá nhân và ý thức cộng đồng Sự tiến
Trang 10bộ của văn học là một quá trình không ngừng làm giàu mãi lên những phẩm chất mới, không ngừng khơi sâu, mở rộng thêm quan niệm về con người và hiện thực.”
Giáo sư Phan Cự Đệ trong các công trình có tính chất nghiên cứu tổng hợp như
Tiểu thuyết Việt Nam hiện đại hay các bài viết trên các báo như “Tiểu thuyết Việt Nam những năm đầu thời kỳ đổi mới” đã đưa tới cái nhìn khái quát, đánh
giá sự thay đổi trong cách thể hiện nhân vật của tiểu thuyết sau 1986 trên cả bình diện nội dung và nghệ thuật Đặc biệt, tác giả đi sâu vào phân tích các tiểu thuyết
tiêu biểu như Nỗi buồn chiến tranh, Ăn mày dĩ vãng, Thời xa vắng,… để cho
thấy sự cách tân mới mẻ được thể hiện cụ thể trong các tiểu thuyết này
Trong tham luận “Phác họa con người thời đại và nhân vật trong văn xuôi Việt
Nam hiện đại” tại Hội thảo khoa học Con người Việt Nam hôm nay và trách nhiệm của văn học nghệ thuật, do Liên hiệp các Hội Văn học nghệ thuật Việt
Nam tổ chức tại Hà Nội, ngày 20.8.2014, PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện đã phác họa hình ảnh con người thời đại qua các nhân vật văn xuôi Việt Nam thế kỷ XX Nếu nửa đầu thế kỷ XX, nhân vật người nhà quê, người bình dân thành thị và người trí thức nghèo thể hiện cái nhìn về hiện thực, khơi lại các cuộc tranh luận
“văn học vị nghệ thuật” hay “văn học vị nhân sinh” thì nhân vật giai đoạn
1945-1975 đem tới cái nhìn sử thi lãng mạn, hào hùng về hai cuộc chiến tranh của dân tộc Bên cạnh đó, PGS.TS Nguyễn Ngọc Thiện ở nửa cuối tham luận cũng tập trung vào khái quát đặc điểm thể hiện hình ảnh con người qua các nhân vật công, nông, binh, trí thức mới và doanh nhân trong văn xuôi thời kỳ đổi mới Phần này cho thấy những đánh giá về khuynh hướng đi sâu tìm tòi, thể hiện hình ảnh con người chân thực và gần với đời sống
Trong hội thảo 50 năm Văn học Việt Nam sau cách mạng Tháng Tám do khoa
Ngữ Văn - Đại học Sư phạm, khoa Ngữ Văn - Đại học Tổng hợp cùng với trường viết văn Nguyễn Du và tạp chí Văn nghệ Quân đội phối hợp tổ chức tại
Trang 11Hà Nội ngày 3-6-1995 đã có 44 báo cáo, tham luận của các nhà văn, nhà phê bình, nhà nghiên cứu văn học có tên tuổi như: Chu Lai, Xuân Thiều, Đinh Xuân Dũng, Lã Nguyên, Nguyễn Văn Long, Vương Trí Nhàn… Các tham luận này trình bày nhiều vấn đề về văn học Việt Nam thời kỳ đổi mới, khá nhiều tham luận tập trung nghiên cứu các tiểu thuyết chiến tranh hay các tiểu thuyết viết về
người lính như tham luận “Mấy suy nghĩ về mảng văn học chiến tranh cách
mạng” của tác giả Xuân Thiều Phần lớn các tham luận đều có chung nhận định
về sự thay đổi trong việc thể hiện hình tượng cũng như khắc họa số phận người chiến sĩ, qua đó thể hiện được sự thay đổi trong các thang chuẩn đánh giá con người Chất sử thi, lãng mạn đã bị xóa nhòa, nhường chỗ cho cái nhìn thế sự đa chiều, đa màu sắc và giàu nhân sinh Người lính vừa là một hình tượng khái quát vừa mang những đặc điểm cá nhân riêng biệt
Tác giả Nguyễn Thị Kim Tiến trong bài viết “Con người trong tiểu thuyết thời
hậu chiến viết về chiến tranh” đã nhận định: “Việc đổi mới quan niệm về con
người là yếu tố căn bản quyết định xu hướng dân chủ hóa của văn học, giúp cho văn học vừa linh hoạt biến hóa hơn về hình thức lại vừa chân thực hơn trong nội dung khái quát đời sống.” [50, tr 18] Trong bài viết này, tác giả đã khảo sát một
số tiểu thuyết tiêu biểu của thời kỳ đổi mới để làm rõ hai khía cạnh khắc họa con người: con người dưới góc độ bi kịch cá nhân và con người dưới góc độ bản năng tự nhiên Tác giả cũng kết luận rằng tất cả những thay đổi trong việc khắc họa nhân vật của tiểu thuyết sau đổi mới, cụ thể là tiểu thuyết chiến tranh bắt nguồn từ sự thay đổi trong quan niệm cuộc sống và con người
Tác giả Bùi Việt Thắng trong bài viết “Mấy suy nghĩ xung quanh vấn đề xây
dựng nhân vật người chiến sĩ trong tiểu thuyết viết về chiến tranh 1985)” đăng trên Tạp chí Văn nghệ quân đội đã nhận xét: “Trong xây dựng
(1945-nhân vật người chiến sĩ, tiểu thuyết sau 1975 đã có hướng đi sâu vào miêu tả quá trình tâm lý nhằm cá thể hóa nhân vật” [38, tr.121-122] Đây là một bài viết
Trang 12khái quát về những đặc điểm của việc thể hiện hình tượng người chiến sĩ sau năm 1975 trong tiểu thuyết, đặc biệt tập trung vào tiểu thuyết thời kỳ đổi mới Bài viết cho thấy người chiến sĩ sau năm 1975 đã được cá thể hóa, mang những nét cá nhân riêng biệt cả về tính cách và số phận chứ không chỉ nằm trong vòng nhân dân, cộng đồng và chỉ gánh trên vai nhiệm vụ lịch sử nữa Trong bài viết
“Văn xuôi gần đây và quan niệm về con người” in trên Tạp chí văn học số 6
(1991), tác giả Bùi Việt Thắng đánh giá những thay đổi trong quan niệm con người cũng như nêu lên các đặc điểm cơ bản trong quan niệm về con người của
văn học sau đổi mới Đặc biệt, trong bài viết này, tác giả phân tích Nỗi buồn
chiến tranh trong vai trò một tiểu thuyết tiêu biểu thể hiện rõ rệt quan niệm con
người dám nhìn lại, dám vượt lên và tranh đấu với quá khứ với hình tượng nhân vật Kiên Ngoài ra còn các bài báo của Đinh Thị Huyền, Nguyễn Tiến Đức đăng
trên website báo Văn nghệ quân đội và Viện văn học như “Chân dung tinh
thần người lính qua một số tiểu thuyết hậu chiến”, “Nhân vật của tiểu thuyết hậu chiến” (Đinh Thị Huyền), “Cái nhìn mới về người lính và sự thay đổi quan niệm về đề tài của tiểu thuyết Việt Nam sau 1975” (Nguyễn Tiến Đức)…
Vũ Tuấn Anh trong “Đổi mới văn học vì sự phát triển” in trên Tạp chí văn học
đã khẳng định: “Đổi mới văn học khởi đầu từ 1986 là sự tự ý thức của văn học trên một chặng đường mới của lịch sử, cố gắng khám phá cái thế giới bí ẩn, khuất lấp đầy bất trắc và bất thường bên trong mỗi con người, bên trong bản thể con người.” [1, tr.14]
Ngoài ra, còn khá nhiều các bài viết riêng lẻ in trong sách, đăng trên báo bàn về
sự cách tân, thay đổi của tiểu thuyết viết về chiến tranh sau 1975, trong đó có đề
cập tới hình ảnh người lính nói riêng và con người nói chung như bài viết “Tiểu
thuyết về chiến tranh viết sau năm 1975” đăng trên Tạp chí Văn học số 5/1980,
“Một cách nhìn về đổi mới tiểu thuyết chiến tranh” đăng trên website của Viện Văn học (PGS TS Tôn Phương Lan); “Tiểu thuyết về đề tài chiến tranh sau
Trang 13năm 1975 và những thành tựu nghệ thuật bị bỏ lỡ” (TS Nguyễn Phượng), “Ý thức cách tân trong tiểu thuyết Việt Nam sau 1975” (PGS TS Nguyễn Bích
Thu) in trong Văn học Việt Nam sau 1975 – Những vấn đề nghiên cứu và
giảng dạy
Vấn đề quan niệm con người trong văn xuôi thời kỳ đổi mới là một đề tài khá quen thuộc của các luận văn, luận án văn học qua các đề tài khái quát như đề tài chiến tranh, đề tài số phận con người, hay rộng hơn là quan niệm về con người
Trong luận án Con người trong tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới, Nguyễn
Thị Kim Tiến đã khái quát những cách tân, đổi mới của tiểu thuyết Việt Nam
thời kỳ đổi mới trong việc thể hiện con người Cụ thể hơn, ở chương 2: Hình
tượng con người trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới, tác giả đã phân chia sự thể
hiện ấy qua các hình tượng như con người dưới góc nhìn bản chất xã hội, con người dưới góc nhìn loại hình văn học,… Tác giả đã soi chiếu nhân vật người lính trong nhiều chiều không gian, nhiều hoàn cảnh, cả thế giới tâm linh để thấy
sự phức tạp, phong phú cũng như sự méo mó, bi kịch của tính cách và số phận
Trong luận án Tiểu thuyết về chiến tranh trong văn học Việt Nam sau 1975 –
Những khuynh hướng và sự đổi mới nghệ thuật, tác giả Nguyễn Thị Thanh đã
xác định những khuynh hướng chính của tiểu thuyết có đề tài chiến tranh sau năm 1975 Với luận án này, Nguyễn Thị Thanh đã đi sâu vào tìm hiểu cách biểu hiện về chiến tranh của tiểu thuyết sau năm 1975, so sánh tương quan với tiểu thuyết trước 1975 để thấy sự khác biệt và đổi mới về cả quan niệm và nghệ
thuật Tác giả Nguyễn Thị Thanh nhận định tiểu thuyết thời kỳ đổi mới “hướng tới miêu tả những con người tích cực tham gia vào các cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc Thuật ngữ nhân vật anh hùng lưỡng diện mà chúng tôi sử dụng ở đây có tính chất phân biệt với kiểu anh hùng nhất phiến từng xuất hiện trong tiểu thuyết về chiến tranh trước 1975 Đây là kiểu nhân vật anh hùng trong chiến
Trang 14đấu, trong tư cách công dân song có đời sống nội tâm không đơn giản hoặc còn
ít nhiều khiếm khuyết trong tư cách con người đời thường.” [43, tr.63]
Trong các luận văn thạc sĩ gần đây, đề tài thay đổi quan niệm con người trong văn học đổi mới ít nhiều được nhắc đến ở tầm khái quát hoặc chuyên sâu trong
một chương, ví dụ như luận văn Quan niệm nghệ thuật về con người trong tiểu
thuyết chiến tranh sau 1975 (2003) của Nguyễn Thị Ngọc Diệp, Hình tượng người lính sau chiến tranh qua các tiểu thuyết của Chu Lai, Lê Lựu, Bảo Ninh của Nguyễn Ngọc Hưng (2010)…
Bên cạnh đó, có không ít các bài nghiên cứu, các luận văn, luận án đi sâu vào tìm hiểu vấn đề thay đổi quan niệm con người qua hình tượng người lính trong phạm vi một tác phẩm, một tác giả hoặc một chùm tác giả trong văn học thời kỳ
đổi mới Ví dụ như Nhân vật người lính trong tiểu thuyết Khuất Quang Thụy
(2008) của Đinh Thanh Hương, … Đặc biệt, nhiều luận văn đi sâu vào các tác
giả cụ thể như Bảo Ninh, Chu Lai, Nguyễn Trí Huân như luận văn Đặc điểm tiểu
thuyết Nguyễn Trí Huân của Phan Thị Trang (2010), Thế giới nghệ thuật tiểu thuyết Nguyễn Trí Huân của Đặng Thị Hà (2014)…
Như vậy, nhìn chung lịch sử nghiên cứu đề tài sự thay đổi quan niệm con người trong văn học đổi mới có thể tóm gọn như sau:
- Về nội dung khảo sát: Giới nghiên cứu đã tập trung vào các khía cạnh khác nhau của vấn đề thay đổi quan niệm con người, cả ở nội dung và nghệ thuật Tuy cách phân chia có khác nhau, nhưng phần lớn tác giả đều nhận định: văn học thời kỳ đổi mới đã nhìn con người bằng cái nhìn đời tư, thế sự; con người được soi chiếu đa chiều, đa diện, được khám phá trong nhiều hoàn cảnh, được nhìn sâu vào tâm hồn để thấy những khiếm khuyết, những góc khuất bên cạnh những huy hoàng của lịch sử
Trang 15- Về phạm vi khảo sát: Cho tới nay, hầu như các nghiên cứu đều tập trung khảo sát sự thay đổi quan niệm con người trên diện rộng, bao quát các hệ thống nhân vật được biểu hiện trong văn học đổi mới chứ chưa tập trung vào một đối tượng nhân vật cụ thể như nhân vật người lính Về phạm vi tác phẩm, nhiều bài nghiên cứu, nhiều luận văn, luận án đã thành công trong việc hệ thống các tiểu thuyết nổi bật nói riêng hoặc các tác phẩm nổi bật của nền văn xuôi Việt Nam thời kỳ đổi mới nói chung để đem tới cái nhìn khái quát và đầy đủ
Lựa chọn đề tài Sự thay đổi quan niệm về con người qua hình tượng người
lính trong một số tiểu thuyết Việt Nam đầu thời kỳ đổi mới, người viết hy vọng
tiếp nối và kế thừa những nghiên cứu của các tác giả đi trước về đề tài này Trên
cơ sở đó, người viết mong muốn luận văn sẽ là một tài liệu có nội dung chi tiết hơn, tập trung vào sự thay đổi quan niệm con người thể hiện chủ yếu qua hình tượng người lính – một tượng đài lịch sử dân tộc
3 Mục đích, đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Mục đích
Mỗi thời đại đã đi qua đều để lại nhiều dư âm, đối với dân tộc Việt Nam, chiến tranh là một dư âm không thể phai nhòa Văn học thời chiến đã xây dựng nên những tượng đài anh hùng, những con người đã hy sinh hạnh phúc cá nhân cho hòa bình của tổ quốc Thời chiến cần những con người sống trọn mình cho tổ quốc nên văn học thời chiến cũng cần những hình tượng đầy chất sử thi, vì thế quan niệm về con người cũng đầy chất sử thi
Hòa bình tới, sau chiến tranh, quan niệm về con người được nhìn lại, thời đại yêu cầu một cái nhìn sâu sắc hơn, hiện thực hơn, nhiều chiều hơn, chứ không đơn nhất, chung chung như trước Hình tượng người lính trong văn học, nhất là trong tiểu thuyết thời kỳ đầu đổi mới không còn là những anh hùng “hoàn hảo” nữa
Trang 16Tìm hiểu về sự thay đổi quan niệm con người qua một hình tượng đã xuyên suốt dọc chiều dài lịch sử đất nước, là tượng đài cho cả một thế hệ là tìm hiểu về sự thay đổi của quan niệm về cuộc đời, để nhìn lại cả một thời đại, giúp người đọc, nhất là lớp hậu sinh có cái nhìn tổng quát hơn, đi sâu hơn và thấu hiểu hơn Chiến tranh, lịch sử không còn chỉ được tái hiện qua những kiến thức khô khan
mà thực tế, gần gũi và đa chiều
Tìm hiểu sự thay đổi quan niệm về con người, luận văn cũng bên cạnh đó tìm hiểu sự thay đổi về nghệ thuật tiểu thuyết, đi sâu hơn trong quan niệm về chức năng và vai trò của văn học, giúp người đọc nhận ra văn học không chỉ đơn thuần là phục vụ thời đại, mà còn phải luôn đổi mới, luôn là nơi lưu giữ những giá trị nhân văn sâu sắc
Tìm hiểu quan niệm về con người thay đổi như thế nào trong giới hạn tiểu thuyết thời kỳ đầu đổi mới là tiền đề cho những nghiên cứu, tìm tòi về sự thay đổi quan niệm con người xuyên suốt chiều dài lịch sử văn học Hy vọng luận văn sẽ là một tư liệu có giá trị hỗ trợ cho những nghiên cứu về văn hóa và lịch sử dân tộc trong dòng chảy lịch sử nhân loại
3.2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung khảo sát các tiểu thuyết đầu thời kỳ đổi mới, tức là các tiểu thuyết được xuất bản ngay sau mốc năm 1986 Các tiểu thuyết này đánh dấu bước ngoặt của sự đổi mới văn chương cả về tư tưởng và nghệ thuật Trong đó,
để giới hạn và nghiên cứu sự thay đổi quan niệm con người một cách chi tiết và
cụ thể hơn, luận văn chú tâm phân tích chùm 3 tiểu thuyết:
+ Nỗi buồn chiến tranh – Bảo Ninh
+ Ăn mày dĩ vãng – Chu Lai
+ Chim én bay – Nguyễn Trí Huân
Trang 17Trong chùm 3 tiểu thuyết này, người viết tập trung vào phân tích sự thể hiện hình tượng người lính qua các nhân vật:
+ Nỗi buồn chiến tranh: Kiên
+ Ăn mày dĩ vãng: Hai Hùng và Ba Sương
+ Chim én bay: Quy
Trên sự tương quan so sánh và phân tích các nhân vật người lính khác cùng xuất hiện trong ba tiểu thuyết này, luận văn sẽ đi sâu khám phá những đặc điểm nổi bật làm nên sự thay đổi trong quan niệm về con người
Ngoài ra, luận văn cũng có sự tham khảo và lấy dẫn chứng ở một số tiểu thuyết viết sau năm 1975 của Nguyễn Minh Châu, Dương Hướng, Ma Văn Kháng, Khuất Quang Thụy,… Bên cạnh đó là so sánh để thấy sự thay đổi trong quan niệm về con người thể hiện qua hình tượng người lính với một số tiểu thuyết tiêu
biểu trong thời kỳ văn học chiến tranh như Xung kích (Nguyễn Đình Thi), Sống
mãi với thủ đô (Nguyễn Huy Tưởng), Hòn Đất (Anh Đức), Dấu chân người lính (Nguyễn Minh Châu), Vùng trời (Hữu Mai)…
4 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp hệ thống – cấu trúc: trong luận văn, người viết sẽ hệ thống các tiểu thuyết theo từng thời kỳ, sử dụng các thao tác phân tích, tổng hợp, sắp xếp
- Phương pháp loại hình: Phương pháp loại hình để nhận diện các khía cạnh, đặc điểm hình tượng người lính trong tiểu thuyết thời kỳ đầu đổi mới và phân tích những biểu hiện nghệ thuật khi khắc họa hình tượng người lính
- Phương pháp so sánh: Đây là phương pháp quan trọng trong quá trình thực hiện đề tài này Người viết đặt hình tượng người lính trong tiểu thuyết thời kỳ đổi mới trong mối tương quan với tiểu thuyết giai đoạn trước đó để thấy
Trang 18những thay đổi, những cách tân mới mẻ cũng như những điểm tương đồng tiếp nối, kế thừa của văn học dân tộc
- Phương pháp liên ngành: Trong luận văn, người viết vận dụng kết hợp kiến thức của nhiều ngành như lý luận văn học, phân tâm học, lịch sử,…
5 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận, luận văn được triển khai thành ba chương
- Chương 1: Sự vận động của văn học Việt Nam thời đổi mới và hành trình
sáng tạo của các nhà văn viết về người lính
- Chương 2: Những đặc trưng cơ bản của sự thay đổi quan niệm về con người
qua hình tượng người lính trong tiểu thuyết đầu thời kỳ đổi mới
- Chương 3: Nghệ thuật thể hiện hình tượng người lính trong tiểu thuyết thời
kỳ đầu đổi mới
Trang 19Chương 1
SỰ VẬN ĐỘNG CỦA VĂN HỌC VIỆT NAM THỜI ĐỔI MỚI
VÀ HÀNH TRÌNH SÁNG TẠO CỦA CÁC NHÀ VĂN
thứ IV của Đảng Cộng sản Việt Nam (1976) đã chỉ ra đường lối: “Có chủ nghĩa
xã hội, Tổ quốc ta mới có kinh tế hiện đại do đó bảo đảm cho đất nước ta vĩnh viễn độc lập tự do và ngày càng phát triển phồn vinh.” Đây chính là thời cơ để
đất nước vươn mình đứng dậy sau chiến tranh, bước lên con đường phát triển vững mạnh và lâu dài Tuy nhiên, những di chứng của hai cuộc chiến tranh khốc liệt vẫn còn để lại những hậu quả nặng nề, gây ra rất nhiều khó khăn chưa thể khắc phục trong mọi mặt của kinh tế - xã hội cũng như những tổn thương, mất mát về tinh thần Chữa lành được những vết thương này là một nhiệm vụ lâu dài
và gian khổ Bên cạnh đó, các chủ trương, chính sách mới của Đảng và nhà nước vẫn còn đang bước đầu xây dựng và hình thành nên không tránh khỏi việc sa vào lối mòn quan liêu, nóng vội, nặng kiến thức, thiếu thực tế Đất nước ta lại chịu cấm vận của các nước thù địch, bị đóng cửa không thể giao lưu kinh tế, văn hóa,
xã hội với thế giới Cuộc chiến tranh lớn đã kết thúc nhưng ở biên giới, những cuộc xung đột vẫn xảy ra tiêu hao sức người, sức của Tất cả những lý do trên khiến cho tình hình kinh tế - xã hội trong những năm đầu sau chiến tranh rơi vào khủng hoảng nặng nề và không có nhiều khởi sắc
Trang 20Nhận thấy tình hình cấp bách của đất nước, một lần nữa, Đảng và Nhà nước đã kịp thời thực hiện đường lối đổi mới để đưa đất nước thoát khỏi vũng lầy suy sụp Đại hội toàn quốc lần thứ VI của Đảng Cộng sản Việt Nam (1986) đã đề ra những chủ trương đổi mới toàn diện, đồng bộ từ kinh tế, chính trị đến tư tưởng,
xã hội Kinh tế đã có những bước khởi sắc đáng kể và bắt đầu đi lên Đời sống người dân được cải thiện về mọi mặt Chủ trương đổi mới cũng mở cửa để giao lưu và hội nhập quốc tế, tạo điều kiện phát triển cũng như kế thừa những nét đẹp trong các lĩnh vực khác nhau của nhân loại Năm 1986 được coi là cột mốc đánh dấu bước ngoặt của đất nước, chính thức vươn lên từ một nước nông nghiệp lạc hậu chịu nhiều tàn phá của mưa bom, bão đạn Hoàn cảnh lịch sử cũng những thay đổi đáng kể trong đời sống kinh tế, hội nhập đã thúc đẩy và tạo điều kiện cho những chuyển biển về văn hóa – tư tưởng thời kỳ này
1.1.2 Những chuyển biến về xã hội, văn hóa - tư tưởng
Trong hai cuộc chiến, điều quan trọng nhất là độc lập tự do của tổ quốc Những
năm tháng đó, cả đất nước “có chung tâm hồn, có chung khuôn mặt” (Chế Lan
Viên), cả đất nước hướng về lá cờ đỏ sao vàng phấp phới Người ta quên đi những lo toan vụn vặt, những mơ ước cá nhân, những chuyện riêng tư để lo chuyện của tập thể, của cộng đồng Trong những năm tháng ấy, lòng yêu nước được phát huy cao độ, con người được đánh giá ở tinh thần hy sinh vì lợi ích của đất nước, người ta được ca ngợi khi sẵn sang gạt đi hạnh phúc của bản thân để cống hiến đời mình cho hạnh phúc chung của tổ quốc Nhà văn Nguyên Ngọc
nhận xét: “Trong chiến tranh, mọi quan hệ xã hội và con người dồn lại và thu hẹp vào một quan hệ duy nhất: sống – chết Người ta phải sống phi thường, phi thường có thể là cao cả, nhưng phi thường cũng đồng thời là triệt tiêu đi bao nhiêu quan hệ bình thường mà vô cùng phong phú và phức tạp của con người, đẩy tất cả các quan hệ ấy về phía sau (…) Ngọn lửa chiến tranh thiêu cháy cả những nhỏ nhen, nhiêu khê của cuộc sống thường ngày… Hoà bình thì khác hẳn
Trang 21Hoà bình tức là trở lại đối mặt với cái bình thường hằng ngày, cái bình thường
mà muôn thủa, tất cả những nhiêu khê của cuộc sống bị che lấp trong chiến tranh bây giờ thức dậy, vây quanh con người từng giờ ở khắp mọi nơi.” Hòa
bình đã trở lại, con người bước ra từ cuộc chiến phải đối mặt với cuộc sống phức tạp và đời thường, các giá trị, các chuẩn mực truyền thống lung lay, chấp chới bên cạnh các giá trị, các chuẩn mực của đời sống cá nhân thời bình Từ đây, hạnh phúc cá nhân, các nhu cầu của cá nhân về vật chất và tinh thần được đề cao, người ta tự hỏi về vị trí của cái tôi, người ta nghĩ lại về quá khứ, người ta nghi vấn và phát hiện ra những mặt đa chiều, phức tạp của cuộc sống mà một thời đã phải buộc chôn giấu
Kinh tế thị trường đã tác động mạnh mẽ đến toàn bộ xã hội, đồng tiền lên ngôi
và chiếm một vị trí quan trọng trong cuộc sống Đồng tiền đổi trắng thay đen, quyết định số phận con người, xã hội đảo điên vì sự đen – bạc Tâm lý sòng phẳng, ăn thua, tranh giành len lỏi và đẩy lùi các giá trị đạo đức, khiến xã hội phân hóa một cách rõ rệt Cùng với nền kinh tế, nhu cầu thỏa mãn về vật chất của xã hội tăng cao Thay vì cuộc sống với sự đáp ứng vật chất ăn mặc tối thiểu như trong chiến tranh, xã hội phát triển các tiện nghi ngày càng phong phú nhằm thỏa mãn con người
Việc mở cửa hội nhập và giao lưu với thế giới đã tạo điều kiện thuận lợi cho việc
mở rộng và phát triển không chỉ kinh tế mà cả văn hóa – xã hội Trước đây, văn hóa – xã hội nước ta bị bó hẹp trong sự lạc hậu, bảo thủ, trình độ tri thức giới hạn Đến thời kỳ đổi mới, các tư tưởng mới mẻ về triết học, mỹ học,… du nhập
đã làm thay đổi nhận thức của cả xã hội Con người nhìn cuộc sống một cách phong phú, đa chiều và sâu sắc hơn, con người đánh giá bản thân và đánh giá cộng đồng trong nhiều hệ quy chiếu, con người được tiếp xúc với nhiều nguồn tri thức, thông tin đa tuyến nên thoát khỏi sự ràng buộc, một chiều về tư tưởng
Trang 22Nói tóm lại, những tiền đề về kinh tế, tư tưởng, xã hội – văn hóa sau chiến tranh, nhất là sau năm 1986 là những tiền đề tạo nên sự đổi mới toàn diện và sâu sắc trên mọi mặt của đời sống đất nước Đây cũng là những tiền đề quan trọng và là điều kiện cần thiết thúc đẩy nhu cầu đổi mới về văn học sau năm 1975
1.1.3 Nhu cầu đổi mới của văn học
Những chuyển biến về tư tưởng, xã hội – văn hóa tất yếu dẫn đến nhu cầu đổi mới của văn học Việt Nam sau 1975 Nền văn học sau 1975 được gọi là nền văn học hậu chiến – nền văn học bước ra từ chiến tranh Nếu như trong chiến tranh, văn học mang vai trò lịch sử, văn học cần phản ánh những chiến thắng và những người anh hùng, văn học cần nêu cao tinh thần, cổ vũ chiến đấu và hướng đến chiến thắng thì sau năm 1975, khi lịch sử đã thay đổi, văn học không thể mang
“chiếc áo thời chiến” nữa Những thay đổi về tư tưởng, xã hội – văn hóa đòi hỏi một nền văn học phù hợp và năng động hợn
Xã hội khẩn thiết yêu cầu một nền văn học có thể tái hiện bức tranh cuộc sống sau chiến tranh, có thể bám sát hiện thực thay vì đi theo một lối mòn cũ Các hệ giá trị, chuẩn mực thẩm mỹ thay đổi cũng yêu cầu văn học phải có sự cách tân phù hợp và kịp thời nếu không sẽ rơi vào vũng bùn lạc hậu, cũ kỹ Sự giao lưu, hội nhập với thế giới cũng đem tới cho văn học những luồng gió tư tưởng mới Các nhà văn tự soi chiếu vào các nền văn học thế giới, soi chiếu vào thế giới đa chiều để nhận ra sự cấp thiết cần thay đổi Văn học sẽ không thể phát triển và bước tiếp nếu từ chối và đáp ứng chậm trễ nhu cầu đổi mới đang được đặt ra
1.2 Sự vận động của văn học thời kỳ đổi mới và sự thay đổi quan niệm
về con người
Văn học Việt Nam đã trải qua những dấu mốc thay đổi quan trọng trong quá trình phát triển, kể từ nền văn học trung đại Có thể nhận thấy rõ rệt rằng, để đáp ứng nhu cầu và yêu cầu bức thiết của lịch sử, văn học luôn chuyển mình cả về tư
Trang 23tưởng và nghệ thuật cho phù hợp Văn học đã có những cách tân, đã hòa mình vào dòng chảy của văn học thế giới, đã có những thành tựu chói lọi trong giai đoạn 1930-1945 Từ 1945-1975, văn học là người thư ký cổ vũ cho chiến thắng lịch sử dân tộc, văn học mang đậm tính ngợi ca hào hùng, văn học mang vai trò của ngọn cờ dựng nước và giữ nước Sau đại thắng mùa xuân năm 1975, văn học bước vào giai đoạn chơi vơi, tìm hướng đi mới, tìm tòi những khía cạnh mới để chuẩn bị cho cái lắc mình dữ dội vào điểm mốc năm 1986 Có thể nói, năm 1986 đánh dấu bước ngoặt trọng đại lớn trong lịch sử văn học
1.2.1 Văn học trước 1975
Đầu thế kỷ XX, trong hoàn cảnh lịch sử đặc biệt: cuộc xâm lược của thực dân Pháp khởi đầu cho những năm tháng đau thương của dân tộc, văn học bước vào giai đoạn chuyển mình từ văn học trung đại sang văn học của cái tôi Không còn
là “văn dĩ tải đạo”, không còn mang vai trò giáo huấn và răn dạy sửa mình, văn học thoát khỏi những ràng buộc để chuẩn bị cho sự xuất hiện một thời đại: Văn học hiện thực phê phán, văn học lãng mạn với Thơ mới và Tự lực văn đoàn Văn học hiện thực phê phán đã lột tả được cuộc sống bần cùng, bế tắc, thiếu thốn về vật chất và suy đồi về tinh thần của các tầng lớp nhân dân, mang theo trọng trách lên án xã hội đương thời Còn văn học lãng mạn là tiếng nói của ý thức cá nhân trong vai trò một chủ thể sáng tạo độc đáo, đề cao tự do và việc phát huy bản ngã
Giai đoạn 1945 – 1975, nền văn học nằm giữa hai cuộc chiến lớn của dân tộc, vận mệnh dân tộc được đặt lên vai mỗi con người Cuộc sống cá nhân, những lo toan của đời sống riêng tư trở nên nhỏ bé trước độc lập, tự do của tổ quốc Văn học giai đoạn này có nhiệm vụ ngợi ca chủ nghĩa yêu nước, ngợi ca những người anh hùng dân tộc, truyền cho người đọc niềm tin vào tương lai, vào chiến thắng, vào chủ nghĩa xã hội Văn học đề cao cái chung, cái tập thể, cái cộng đồng,
Trang 24mang nhiệm vụ quy tụ con người vì một lý tưởng duy nhất và vĩ đại nhất: độc lập, tự do
Văn học giai đoạn 1945 – 1975 đã vẽ nên những bức tranh về một cuộc chiến hào hùng và sôi nổi Một cuộc chiến mà khắp nơi từ tiền tuyến tới hậu phương, người người thi đua sản xuất, thi đua lập công Đối với mỗi người, đường ra trận
“mùa này đẹp thế” và đánh giặc trở thành một niềm vui Trong văn học, hình tượng người lính trở thành tượng đài trung tâm và được khắc họa đậm chất sử thi lãng mạn, hào hùng Những chị Sứ (Hòn Đất), Thiêm (Mẫn và tôi), Quỳnh (Vùng trời), Lữ (Dấu chân người lính),… luôn là người anh hùng chiến đấu hết mình vì vận mệnh dân tộc, là con người của cộng đồng, chói sáng cả về nhân cách và năng lực Người lính luôn bất khuất trong mọi hoàn cảnh, mọi hiểm nguy, luôn giữ vững niềm tin vào Đảng như chị Sứ khi bị quân giặc treo trên cây
dừa vẫn bình tĩnh nghĩ: “Bữa nay, có lẽ mình chết Nhưng mình chỉ thấy tiếc chứ không ân hận mắc cỡ gì cả… Tới phút này đối với Đảng, mình vẫn y nguyên, như chị Minh Khai, như chị Võ Thị Sáu,…” [14, tr.145)
Trong các tiểu thuyết của giai đoạn 1945 – 1975, dù nhân vật là một cậu bé, một
cô giao liên, một chiến sĩ,… hay một cụ già thì đều kết tinh những vẻ đẹp của dân tộc: lòng dũng cảm, bất khuất, kiên trung, yêu nước nồng nàn,… Bất cứ ai đánh giặc đều trở thành một tượng đài Văn học giai đoạn 1945 – 1975 không có chỗ cho những mất mát, đau thương, chết chóc,… chiến trận, đánh giặc được hiện lên là những chiến thắng vinh quang, là sự thất bại ê chề của quân giặc Người ta bước vào chiến trận như bước vào hành trình đầy ắp sự sôi nổi, hào hứng, văn học đã vẽ nên một hào khí bừng bừng cho cuộc chiến
Là một người cầm bút trong thời chiến, các nhà văn của giai đoạn này cũng tự ý thức vai trò của mình giống như một người chiến sĩ chiến đấu trên mặt trận tư tưởng Nhà văn phải biết quên đi cuộc chiến đau thương mà cổ vũ, vực dậy cũng
Trang 25như làm sáng lên phẩm chất, tinh thần, ý chí của cả dân tộc Nhà văn cũng cần đóng góp hết sức mình cho cuộc chiến
Tóm lại, giai đoạn văn học 1945 – 1975 là giai đoạn văn học của cả dân tộc, là giai đoạn của những khúc sử thi chiến thắng, những người anh hùng bất khuất Với những thành tựu nổi bật, văn học 1945 – 1975 đã hoàn thành xuất sắc sứ mệnh lịch sử của nó
1.2.2 Văn học từ 4/1975 đến 1985
Bước ra khỏi chiến tranh, hoàn cảnh lịch sử, kinh tế, xã hội thay đổi dẫn đến những chuyển biến trong tư tưởng, văn hóa đòi hỏi văn học phải có sự đổi mới cho phù hợp với yêu cầu thời đại Tuy nhiên, không phải sự đổi mới của văn học
đã xảy ra quyết liệt và sâu sắc ngay từ những năm đầu sau cuộc chiến Giai đoạn văn học sau chiến tranh 1975 có thể chia ra hai chặng đường lớn: Từ 4/1975 đến năm 1985 và từ năm 1986 trở đi được coi là mốc đổi mới văn học Giai đoạn 4/1975 đến 1985 là giai đoạn chuyển tiếp từ nền văn học sử thi lãng mạn sang nền văn học hậu chiến đang còn tìm tòi, loay hoay giữa các thử nghiệm, là khoảng chơi vơi giao thời mà hướng đi của các nhà văn vẫn còn mịt mờ, mơ hồ Đây là giai đoạn tiền đề chuẩn bị các điều kiện manh nha cho điểm mốc năm
1986 – điểm mốc tạo nên những bùng nổ trong văn học Có thể nhận thấy rằng, không phải cho đến tận năm 1986 ta mới có thể thấy văn học có những bước chuyển mình mạnh mẽ mà ngay từ giai đoạn trước đó đã xuất hiện những dấu hiệu đáng chú ý
Ngay từ những năm văn học sử thi lãng mạn vẫn còn đang phát triển mạnh mẽ,
đã xuất hiện những dòng chảy ngoài lề manh nha một góc nhìn khác, một quan niệm khác của người viết về con người, về cuộc đời, về cuộc chiến, tiêu biểu như
tiểu thuyết Phá vây của Phù Thăng (1961) Phù Thăng viết Phá vây trong âm
hưởng ca ngợi và hào hùng nhưng phảng phất cái dự cảm về mất mát, đau
Trang 26thương, về một cuộc chiến còn những màu sắc khác: “Chiến tranh đã gây lên và
sẽ gây lên bao nỗi đau khổ, vất vả, tủi nhục, căm giận khác nữa… Chiến tranh không có gì đáng ca ngợi cả và đời lính chỉ là cuộc đời nhọc nhằn mà thôi Nếu như trong chiến đấu có thu được cái vinh quang chân chính của nó, thì cũng đã trả một cái giá quá đắt Phải sớm kết thúc cuộc đổ máu cùng những thảm họa của nó!” [43, tr 29] Phù Thăng đã nói lên một góc nhìn khác về chiến tranh, về
những góc tối mà giai đoạn văn học 1945 – 1975 không đề cập Tuy nhiên, do quan điểm này còn một chiều và có phần lạc điệu trong cuộc chiến, Phá vây sau
đó đã chịu nhiều chỉ trích, phê phán nặng nề và chìm vào quên lãng
Khoảng thời gian từ 4/1975 đến 1985 có thể được coi là giai đoạn chuyển tiếp ngay sau nền văn học 1945 – 1975 với cảm hứng sử thi lãng mạn, hào hùng Về
cơ bản, thời kỳ này vẫn tiếp nối mạch cảm hứng của thời kỳ trước, tuy nhiên cũng có những đổi mới, tìm tòi riêng
Chiến tranh đã xuất hiện trong văn học ở cự ly gần, chiến tranh được miêu tả từ góc nhìn của những người cầm súng, từ sở chỉ huy, từ chiến hào, chiến tranh được miêu tả bởi những người trực tiếp tham gia vào nó Những tiểu thuyết như
Trong cơn gió lốc của Khuất Quang Thụy, Năm 75 họ đã sống như thế của
Nguyễn Trí Huân, Họ cùng thời với những ai của Thái Bá Lợi,… đã cho thấy
cái nhìn về chiến tranh một cách trực tiếp và cụ thể hơn Trên bước đường tìm tòi một cách nhìn khác về chiến tranh, một số nhà văn đã đi vào diễn tả những khó khăn, vất vả, khổ cực của cuộc chiến Dường như các nhà văn thời kỳ này đã
tự ý thức được cần phải nhìn cuộc chiến theo một cách nhìn khác, tuy nhiên do tính chất giao thời và cũng do tâm lý chưa mạnh dạn nhất định, nên những tìm tòi, đổi mới này chỉ là một nét khác biệt không rõ rệt, còn phần lớn chiến tranh vẫn được khắc họa với màu sắc chủ đạo như giai đoạn 1945 – 1975
Khuynh hướng mới xuất hiện và nổi bật trong giai đoạn này là cảm hứng đời tư thế sự Nhiều cây bút đã đề cập tới những vấn đề của xã hội thời hậu chiến, đề
Trang 27cập tới những mất mát, những hậu quả chiến tranh để lại cho cuộc sống cá nhân Ngay ở giai đoạn đầu sau 1975, Nguyễn Minh Châu đã dự cảm được những thay đổi cần thiết phải có của văn học khi bước ra khỏi chiến tranh
Vào những năm đầu của thập kỷ 80, như đã đề cập ở phần trên, kinh tế - xã hội Việt Nam rơi vào sự khủng hoảng trầm trọng, những khủng hoảng này cũng xảy
ra trong đời sống văn học Các nhà văn bị chững lại, loay hoay không tìm thấy hướng đi cho riêng mình Cảm hứng sử thi lãng mạn, hào hùng không còn phù hợp với thời đại mới, những phản ánh về đời tư, thế sự thời hậu chiến thì chưa
đủ mạnh mẽ, hấp dẫn với người đọc Văn học đứng trước nguy cơ bị công chúng thờ ơ, quay lưng, Nguyên Ngọc gọi giai đoạn này là “khoảng chân không văn học” Tuy nhiên, bên dưới cái bề nổi đó, sự chuyển biến, thay đổi của văn học đang bắt đầu diễn ra âm thầm, những tìm tòi, đổi mới đang bắt đầu sục sôi và
“người mở đường tinh anh và tài hoa nhất” Nguyễn Minh Châu đã nổ phát súng đầu tiên với những truyện ngắn đem tới cái nhìn đa chiều, những nhân vật nặng trĩu ưu tư về cuộc đời, về cuộc chiến, về những năm tháng hòa bình hậu chiến Hàng loạt các tác phẩm ra đời đi theo bước chân Nguyễn Minh Châu như các sáng tác của Ma Văn Kháng, Nguyễn Khải, Dương Hướng,…, thơ của Nguyễn Duy, Ý Nhi,…, trường ca của Thanh Thảo, cả kịch của Lưu Quang Vũ,… Những tác phẩm này đã góp phần đem tới sự dẫn lối, mở ra các khuynh hướng sáng tác mới cho các nhà văn, và cũng là sự mở đầu chuẩn bị cho giai đoạn chuyển mình, bùng nổ của văn học vào năm 1986
1.2.3 Văn học thời kỳ đổi mới
Đại hội lần thứ VI của Đảng (1986) đã xác định con đường đổi mới để vực dậy đất nước khỏi những khủng hoảng vào thời kỳ hậu chiến Chính những chuyển biến của đất nước nói chung cùng những nhu cầu đổi mới cấp thiết đã dẫn tới
Hiến đề cao việc mô tả, phản ánh cái hiện thực đang tồn tại Nhà văn Nguyễn
Trang 28Minh Châu đề nghị nên quan niệm hiện thực đa đạng, rộng lớn hơn trước, phải nới rộng hiện thực phản ánh cho văn nghệ, tránh sự giản lược hóa hiện thực, phản ánh một chiều hiện thực Nghị quyết 05 của Bộ chính trị và cuộc gặp của Tổng Bí thư Nguyễn Văn Linh với đại diện giới văn nghệ sĩ vào cuối năm 1987
đã chính thức mở ra thời kỳ đổi mới của văn học Việt Nam cả về nội dung tư tưởng và nghệ thuật Văn học cần nhìn lại, cần thay đổi những quan niệm đã không còn hợp thời về nhà văn, về vai trò của văn học cũng như về hệ quy chiếu con người và cuộc đời
1.2.3.1 Đổi mới quan niệm về sứ mệnh văn chương và quan niệm về
nhà văn
Trước thời kỳ đổi mới, nhất là trước năm 1975, văn học mang trên vai sứ mệnh lịch sử, sứ mệnh chính trị vĩ đại: văn học là ngọn cờ đầu cổ vũ chiến đấu, ngòi bút là vũ khí đánh quân thù Nắm chắc sứ mệnh này, từ cốt truyện cho đến xây dựng nhân vật, nhà văn đều nhằm mục đích hướng tới thắng lợi, mà như vậy thì cần hạn chế đừng nhắc tới những mất mát, những đau thương, những bi kịch của hiện thực Chiến đấu cho tổ quốc là vinh quang, đường ra trận là con đường lịch
sử vì thế nên hình tượng đẹp nhất, hoàn hảo nhất là hình tượng người lính
Đến thời kỳ đổi mới, khi chiến thắng đã đạt được, khi đất nước hòa bình, cần phải nhìn lại sứ mệnh một thời của văn học Các nhà văn thời kỳ này bắt đầu nhận thức một cách đa dạng và phong phú hơn về chức năng cũng như sứ mệnh của văn chương Văn học không còn chỉ đề cao nhiệm vụ phục vụ chính trị mà
còn “là thứ vũ khí lợi hại chống lại bất công, cái ác, cái tồi, ngợi ca cái đẹp, tôn thờ cái đẹp cao cả bằng ngòi bút và tấm lòng” [3, tr 248] Bản thân Nguyễn Huy Thiệp thì lại cho rằng “Văn chương giúp cho con người nhận thức về mình, nhận chân sự hiểm nguy trong đường đời” [47, tr 73]
Trong đời sống văn học xuất hiện những quan niệm đa dạng về văn chương Từ đây, văn học mở rộng ra nhiều khuynh hướng, các nhà văn có thể tùy ý viết văn
Trang 29theo quan niệm của chính mình Sự đổi mới nhận thức về sứ mệnh của văn chương cũng đi kèm với sự đổi mới nhận thức về người cầm bút Nếu trước năm
1975, người cầm bút cũng được coi như một người chiến sĩ, ngòi bút được coi như cây súng trên mặt trận tư tưởng thì sau 1975, nhất là thời kỳ đổi mới, các nhà văn quan niệm về nghề nghiệp của mình một cách đa dạng và phong phú hơn Nếu Thu Bồn quan niệm nhà văn là người chiến sĩ trên mặt trận tư tưởng, cần phải đấu tranh để xóa bỏ những thói hư tật xấu của con người thì Nguyễn Huy Thiệp lại coi cái nghiệp của nhà văn giống như tấm gương để con người soi
lại chính mình, nhìn lại chính mình: ““Nhà văn là gì? Chẳng là gì cả Nó chỉ là một linh hồn nhỏ đầy lỗi lầm và luôn tìm cách sám hối vượt khỏi những lỗi lầm
ấy Nó là con vật nhạy cảm hết sức đáng thương với các thói xấu của cả bầy đoàn Nó viết không phải vì nó, nó viết để cả bầy đoàn rút ra từ đấy một lợi ích công cộng, một lợi ích văn hóa” [47, tr.56]
Nhìn lại sứ mệnh của chính mình, ý thức một cách cá nhân và độc lập về ngòi bút của mình, các nhà văn được tự do cởi trói trong sáng tác Giờ đây, với quan
niệm tiến bộ và đổi mới, Nghị quyết 05 đã chính thức khẳng định: “Tự do sáng tác là điều kiện sống còn để tạo nên giá trị đích thực trong văn hóa, văn nghệ,
để phát triển tài năng” [6, tr.17] Nếu trước 1975, với đôi dòng hoài nghi và tự
vấn về chiến tranh, Phá vây của Phù Thăng đã bị thu hồi và rơi vào quên lãng thì
giờ đây, văn học đòi hỏi một sự đổi mới và chuyển mình mang tính đột phá Nguyễn Minh Châu đã mở đường cho sự đổi mới ấy với lời kêu gọi các nhà văn
trên cả nước “Hãy đọc lời ai điếu cho một giai đoạn văn nghệ minh họa”, hãy
nhìn vào sự thật, nhìn vào hiện thực, không trốn tránh, khôgng tô hồng, không khiến văn chương trở thành một lớp vỏ rỗng toàn hô hào và cổ vũ Lời kêu gọi này đã được giới văn nghệ sĩ cả nước hưởng ứng nhiệt liệt, là phát súng làm rung chuyển bầu trời văn học nước ta Từ đây, các nhà văn hiểu được tầm quan trọng của mình, tự xác định một hướng đi riêng, một hướng đi sáng tạo và đổi mới, không còn mang chung “gương mặt”
Trang 301.2.3.2 Đổi mới quan niệm về hiện thực và con người
Cùng với sự đổi mới trong quan niệm về sứ mệnh của văn chương và nhà văn, bước đổi mới lớn lao và quan trọng nhất của văn học từ năm 1986 trở đi là đổi mới quan niệm về hiện thực và con người Sự đổi mới này đã manh nha từ ngay những năm mới hòa bình và xuất hiện trong các tiểu thuyết đầu thập kỷ 80, tuy nhiên vẫn còn chưa mạnh dạn và rõ rệt Đến năm 1986, sau các cuộc bàn luận, gặp mặt, sau lời kêu gọi của Nguyễn Minh Châu, quá trình đổi mới diễn ra sục sôi và nhanh chóng Văn học xuất hiện nhiều khuynh hướng mới, trong đó khuynh hướng đã xuất hiện từ giai đoạn trước 1986 và trở nên quyết liệt từ sau
1986 là khuynh hướng nhận thức lại hiện thực Với khuynh hướng này, các tác phẩm viết về chiến tranh cũng như viết về những năm tháng sau chiến tranh đạt
được nhiều thành tựu nổi bật và bứt phá Tiểu thuyết Thời xa vắng của Lê Lựu
đã khơi dòng cho khuynh hướng này và gây ra nhiều cuộc tranh cãi vào giai đoạn đầu đổi mới Cái nhìn khác biệt, nhiều chiều về cuộc chiến dân tộc trở thành đề tài tâm đắc của nhiều nhà văn Chiến tranh không chỉ còn chiến thắng
và niềm vui mà còn được khắc họa với những bi kịch, mất mát, đau thương Con người bước ra khỏi chiến tranh không chỉ có đoàn tụ và hạnh phúc mà còn mang trên mình những nỗi đau, những di họa không thể phai nhòa
Bên cạnh sự đổi mới trong việc khắc họa hiện thực là sự đổi mới tất yếu trong quan niệm về con người Như đã nói tới, trong văn học giai đoạn trước 1975, con người mang trên vai sứ mệnh lịch sử của dân tộc nên cần được khắc họa trong cái nhìn của cộng đồng, của đất nước, trong vị thế mang những nét đẹp chung của cả một dân tộc Nhưng sau chiến tranh, nhất là bắt đầu từ năm 1986, khi hiện thực của cuộc chiến cần được nhìn lại không chỉ còn toàn niềm vui và hào hứng như trước, các nhà văn cũng đi sâu vào khai thác con người ở những sắc thái đa chiều, đa cảm xúc Con người xuất hiện trong văn học với vị thế của một cá thể phức tạp, đa diện Không còn bị bó hẹp ở cái nhìn giai cấp, dân tộc, con người còn được soi chiếu ở cái nhìn tự nhiên, cái nhìn nhân bản, cái nhìn tâm linh,…
Trang 31Cùng với đề tài vẫn chiếm vị trí quan trọng trong giai đoạn này là viết về chiến tranh, viết về những năm tháng sau cuộc chiến, sự thay đổi trong quan niệm và cách khắc họa con người thể hiện rõ rệt trong sự thay đổi cách khắc họa một hình tượng tiêu biểu và xuyên suốt nhiều thời kỳ: hình tượng người lính Hình tượng con người đậm chất sử thi lãng mạn, hào hùng trước 1975 nhường chỗ cho hình tượng những con người cầm súng cụ thể không toàn diện, nhiều khiếm khuyết
Người anh hùng bước ra khỏi chiến tranh xuất hiện trong văn học giai đoạn này cũng chịu những mất mát, đau thương, những di chứng đôi khi là nặng nề hơn bất cứ ai từ cuộc chiến Những người anh hùng ấy cũng chịu sự ràng buộc của những khát khao và vị kỉ cá nhân, bên cạnh sự đấu tranh không ngừng nghỉ cho
tự do dân tộc như một thời từng được ca ngợi trong văn học, người lính của văn học thời kỳ đổi mới nhiều bất trắc, nhiều hoài nghi và nhiều góc khuất phức tạp hơn Đời sống của người lính hiện lên không chỉ có niềm vui mà còn đầy chết chóc Những cây bút bước ra từ cuộc chiến đã tạo nên một giai đoạn văn học đổi mới đầy sôi nổi và mãnh liệt
1.3 Sáng tác của một số nhà văn tiêu biểu giai đoạn đổi mới trong đề
tài chiến tranh và đời sống người lính
Trong thời kỳ đổi mới, viết về đề tài chiến tranh có sự xuất hiện hàng loạt của các nhà văn từng một thời cầm súng Viết về chiến tranh như một nhân chứng lịch sử, những tác phẩm của họ đã đem tới một chiến tranh đa chiều, đa dạng, phức tạp, bí ẩn, nhiều đau thương và mất mát hơn bất cứ một cuộc chiến nào từng xuất hiện trong văn chương trước đó Những Chu Lai, Thái Bá Lợi, Xuân Đức, Nguyễn Trí Huân, Khuất Quang Thụy, Bảo Ninh, Trung Trung Đỉnh,… đã đem đến một chiến tranh dựa trên những trải nghiệm của chính cá nhân và thế hệ mình Họ viết về những góc khuất của chiến tranh, họ dựng lên những nhân vật anh hùng “không hoàn hảo”, những anh hùng mà cuộc đời của họ là minh chứng
Trang 32rõ ràng nhất cho một cuộc chiến đầy bi kịch Hàng loạt những tác phẩm gây
tiếng vang trong dư luận như Thời xa vắng (Lê Lựu), Chim én bay (Nguyễn Trí Huân), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh), Ăn mày dĩ vãng (Chu Lai),… Trong
giới hạn luận văn này, người viết chỉ đề cập cụ thể tới 3 tác giả Nguyễn Trí Huân, Bảo Ninh, Chu Lai trong mối tương quan với 3 tiểu thuyết nổi bật viết về
đề tài chiến tranh và người lính: Chim én bay, Nỗi buồn chiến tranh, Ăn mày dĩ
vãng
1.3.1 Con người và sự nghiệp
Nguyễn Trí Huân, Bảo Ninh, Chu Lai là những nhà văn khoác áo lính, những người trực tiếp cầm súng đã bước ra khỏi chiến tranh để cầm bút Tiểu thuyết của ba nhà văn này đã tái hiện những thực tế chiến trận ngay ở chiến hào bằng chính kinh nghiệm bản thân
Chu Lai, tên khai sinh là Chu Văn Lai, sinh ngày 5 tháng 2 năm 1946 tại xã Hưng Đạo, huyện Phù Tiên nay là huyện Tiên Lữ, tỉnh Hưng Yên Ông hiện đang sinh sống và làm việc tại Hà Nội Ông là đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam, hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ năm 1980
Trong chiến tranh, Chu Lai công tác ở trong đoàn kịch nói Tổng cục Chính trị rồi trở thành chiến sĩ đặc công hoạt động tại vùng Sài Gòn Sau 1973, ông về làm trợ lý tuyên huấn Quân khu 7 Đến cuối năm 1974 ông tham dự trại sáng tác văn học Tổng cục Chính trị và sau đó học tại Trường Viết văn Nguyễn Du khóa
1 Sau khi tốt nghiệp, ông làm biên tập và bắt đầu sáng tác cho Tạp chí Văn nghệ Quân đội Nhà văn Chu Lai còn viết một số kịch bản sân khấu, kịch bản phim và tham gia đóng phim
Quãng đời hơn mười năm là lính đặc công, trực tiếp tham gia mặt trận khói lửa
và khắc nghiệt nhất trong chiến tranh đã giúp Chu Lai viết về chiến tranh, viết về người lính bằng những trang văn sống động, đầy ám ảnh Ông có một gia tài sáng tác đồ sộ bao gồm những tiểu thuyết, truyện ngắn gây tiếng vang lớn như:
Nắng đồng bằng (1978), Đêm tháng hai (1979), Sông xa (1986), Gió không
Trang 33thổi từ biển (1984), Vòng tròn bội bạc (1987), Bãi bờ hoang lạnh (1990), Ăn mày dĩ vãng (1991), Phố nhà binh (1992), Ba lần và một lần (1999), Cuộc đời dài lắm (2001), Khúc bi tráng cuối cùng (2004), Chỉ còn một lần (2006),… và
nhiều tác phẩm kịch bản sân khấu và kịch bản phim khác Ông được trao tặng giải thưởng Giải thưởng Hội đồng Văn học chiến tranh Cách mạng và lực lượng
vũ trang (Hội Nhà văn) cho tiểu thuyết Ăn mày dĩ vãng (1993); Giải thưởng Văn
học Bộ quốc phòng 1994; Giải thưởng tiểu thuyết Nhà xuất bản Hà Nội với tiểu
thuyết Phố 1993 và Giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật 2007
Nhà văn Bảo Ninh tên thật là Hoàng Ấu Phương Bảo, sinh tại huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An Ông là con trai của Giáo sư Hoàng Tuệ (1922 - 1999), nguyên Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học Ông vào bộ đội năm 1969 Thời chiến tranh, ông chiến đấu ở mặt trận B-3 Tây Nguyên, tại tiểu đoàn 5, trung đoàn 24, sư đoàn 10 và giải ngũ từ năm 1975 Từ 1976-1981 Bảo Ninh học đại học ở Hà Nội, sau đó làm việc ở Viện Khoa học Việt Nam Từ 1984-1986 học khoá 2 Trường viết văn Nguyễn Du và làm việc tại báo Văn nghệ Trẻ Ông là hội viên Hội Nhà văn Việt Nam từ 1997
Bảo Ninh viết về chiến tranh, viết về người lính như một cách để tri ân, để trả nợ với đời Chiến tranh trong những sáng tác của Bảo Ninh mang một nỗi buồn
thẳm sâu, mênh mang và đau đáu đến vô tận Năm 1987, truyện ngắn Trại bảy
chú lùn được xuất bản Bảo Ninh gây tiếng vang lớn trên diễn đàn văn học với
tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh năm 1987, đến năm 1990 được Nhà xuất bản Hội nhà văn ấn hành với cái tên Thân phận tình yêu, năm 1991, tác phẩm được
tái bản với tên gọi Nỗi buồn chiến tranh Đây là tác phẩm được nhận giải thưởng của Hội nhà văn Bảo Ninh còn viết khá nhiều truyện ngắn có đề tài chiến tranh
như Ba lẻ một, Bên lề cuộc tấn công, Lá thư từ Quý Sửu, Bí ẩn của làn nước,
Ngôi sao vô danh, Rửa tay gác kiếm, Mây trắng còn bay, Khắc dấu mạn thuyền, Thời tiết của ký ức, Hữu khuynh, Hà Nội lúc không giờ, La- mác- xâye,… Trong số đó, Khắc dấu mạn thuyền đã được dựng thành phim
Trang 34Trong số ba tác giả, Nguyễn Trí Huân là nhà văn có số lượng tác phẩm sáng tác
và phát hành ít hơn cả Nguyễn Trí Huân sinh ngày 20 tháng 9 năm 1947 Quê quán Hạ Mỗ, Đan Phượng, Hà Tây Ông về công tác tại tạp chí Văn nghệ Quân đội từ năm 1978 và được bổ nhiệm làm Tổng Biên tập tạp chí từ năm 1993 Ông được biệt phái sang báo Văn nghệ làm Tổng biên tập từ năm 2006 cho tới nay Nguyễn Trí Huân là một trong số ít các nhà văn được chuẩn bị kỹ càng cả về sức khỏe, kiến thức nghề nghiệp, kiến thức chiến đấu để vào chiến trường Ông khoác áo lính từ năm 1970, vào khu V, trực tiếp tham gia chiến đấu cùng Sư đoàn Ba, một sư đoàn anh hùng, nổi tiếng của Quân Khu V Hoài Châu là địa bàn thân thuộc của Sư đoàn và cũng là địa bàn thân thuộc của nhà văn Nguyễn Trí Huân, đây cũng là vùng đất là cảm hứng cho những sáng tác nổi bật của Nguyễn Trí Huân Nguyễn Trí Huân gây tiếng vang sau năm 1975 với tiểu
thuyết Năm 1975 họ đã sống như thế (1979) – một tác phẩm mang khuynh hướng sử thi đã dự báo được “những cuộc chiến tranh sắp xảy ra trong tương
lai” và “hiện tượng tiêu cực đang lan rộng ở miền Bắc” [18, tr 3] Năm 1987,
tiểu thuyết Chim én bay ra đời, tạo nên một làn sóng dư luận sôi nổi, tập trung
sự chú ý của giới nghiên cứu và phê bình Đa số các ý kiến đều cho rằng Chim
én bay đã đặt ra được cách nhìn nhận mới về cuộc chiến tranh vừa qua, đó là
“những năm tháng chiến tranh xưa với tất cả sự khốc liệt của nó (…), lại vừa như được đứng trước những vấn đề thời sự của cuộc sống hiện nay như: vấn đề đổi mới cách nghĩ, cách sống, vấn đề nhân đạo cũng như việc giải tỏa hận thù, ngăn chặn nọc độc của một cuộc chiến tranh mới…” [53, tr 3] Nhà văn Nguyễn
Trí Huân được trao tặng giải thưởng Văn học Bộ quốc phòng 1985 – 1989 và
giải thưởng Hội nhà văn Việt Nam năm 1990 cho tác phẩm Chim én bay Đồng
thời, ông cũng đoạt giải thưởng Nhà nước về văn học nghệ thuật năm 2007 Bên cạnh đó, ông còn sáng tác nhiều tác phẩm có giá trị thuộc các thể loại truyện
ngắn, kí sự như Mặt cát (1977), Cao nguyên xa xôi (1964),…
Trang 351.3.2 Giới thiệu sơ lược nội dung tác phẩm
Chim én bay, Nỗi buồn chiến tranh, Ăn mày dĩ vãng đều là ba tiểu thuyết viết
về chiến tranh và hình tượng nhân vật được khắc họa chủ yếu là hình tượng người lính Hình tượng người lính trong cả ba tác phẩm này cũng có nhiều nét tương đồng: Đó đều là những người lính đã trải qua bao năm tháng tàn khốc của chiến tranh, chịu những di chứng nặng nề của chiến tranh và bản thân họ bị ám ảnh về chiến tranh cả khi hòa bình đã trở lại Mỗi con người một số phận, mỗi cuộc đời một bi thương, hình tượng người lính trong ba tiểu thuyết đã cho thấy quan niệm của các nhà văn nói riêng và của văn học thời kỳ đổi mới nói chung
về con người có sự thay đổi rõ rệt so với giai đoạn văn học thời chiến
Chim én bay (Nguyễn Trí Huân) kể về cuộc đời và số phận bất hạnh của Quy –
cánh chim bé nhỏ của đội “Chim Én” Câu chuyện xảy ra vào năm 1969 – những năm khó khăn, ác liệt của chiến tranh miền Nam Quy là một cô bé phải chứng kiến cái chết của những người thân trong gia đình bởi bàn tay tàn ác của quân giặc – đại diện là tên giám Tuân Quy đã tham gia vào đội du kích “Chim Én” gồm những em nhỏ nằm vùng tại chính quê hương để trả thù giám Tuân Được dạy sử dụng vũ khí nhưng khi lần đầu tiên đối diện với giám Tuân, Quy đã không nổ súng vì thấy hắn đang bế trên tay đứa con nhỏ Sau đó, Quy bị bắt và
bị cưỡng bức một cách dã man bởi hai tên dân vệ Rồi lần lượt các thành viên trong đội “Chim Én” hy sinh, chỉ còn lại Quy và anh Cường – mối tình đầu của chị Cuối cùng, Quy cũng bắn chết được giám Tuân, kết thúc mối thù nhưng cũng bắt đầu những năm tháng bị cầm tù và bị tra tấn trong nhà lao Quy Nhơn, nhà lao Côn Đảo Sự tàn phá của chiến tranh đã khiến Quy vĩnh viễn mất đi quyền làm mẹ Hòa bình tới, Quy yêu Cường nhưng hai người không thể đến được với nhau, chỉ còn chị sống cô độc trong căn phòng tập thể ở cơ quan Quy luôn canh cánh trong lòng suy nghĩ đi tìm lại gia đình của những kẻ ác mà chị đã giết trong chiến tranh để xem họ sống ra sao Quy đã tìm tới nhà giám Tuân, đã đấu tranh với tổ chức để đòi quyền được đối xử công bằng cho vợ con giám
Trang 36Tuân Trong thời gian này, Quy cũng gặp một người chiến sĩ mà chị thấy thương
vì hoàn cảnh, chị đã viết thư cho anh để bày tỏ nỗi niềm và hy vọng được chia sẻ cuộc đời với anh Kết thúc truyện, vợ giám Tuân chết, Quy đã xin cho đứa con út của hắn được đi học và cũng nhận được lá thư trả lời báo hiệu hạnh phúc đã tới với chị Nhưng nghiệt ngã thay, lúc này chị được biết là mình sắp chết do hậu quả của sự tra tấn dã man trong chiến tranh Quy qua đời khi chưa gặp được người chị thương
Nỗi buồn chiến tranh kể về Kiên, một chiến sĩ thuộc đội trinh sát, sau này tham
gia vào đội thu nhặt hài cốt tử sĩ của Sư đoàn trong mười năm chiến tranh Kiên xuất thân trong một gia đình trí thức tiểu tư sản, cha Kiên là một họa sĩ lạc thời, những bức tranh của ông xa lạ với thẩm mỹ của đám đông Trước khi mất, ông
đã hỏa táng những bức tranh của mình Kiên có một tình yêu say đắm và trong trẻo với cô bạn học cùng – Phương – một cô gái đẹp kỳ lạ và nổi bật về tài năng nghệ thuật Chiến tranh tới, Kiên xung phong đi chiến đấu, Phương theo Kiên lên chuyến tàu đuổi theo đơn vị và bị cưỡng đoạt Từ đây bắt đầu những năm tháng tàn khốc, bi thương và đẫm máu Sau khi hòa bình lập lại, Kiên và Phương đến với nhau nhưng rồi lại chia xa mãi mãi Kiên luôn bị ám ảnh và sống trong những hồi ức về chiến tranh Trong những hồi ức bất tận ấy hiện lên bao kỉ niệm
về đồng đội, về những cái chết bi thảm, về những địa danh mà nhắc đến tên thôi
đã cảm thấy mùi tử sĩ Tất cả hợp lại thành một nỗi buồn mênh mang dày vò anh không dứt Kiên trở thành một nhà văn viết lại những ký ức của chiến tranh một cách lộn xộn, hỗn loạn và “điên rồ” Một ngày, anh rời đi để lại tập bản thảo cho người đàn bà câm sống cùng khu nhà (chính xác là anh để lại tập bản thảo và người đàn bà câm đã cất giữ, bảo tồn nó) Nhà nghiên cứu Đỗ Đức Hiểu đã nhận
xét về Nỗi buồn chiến tranh là: “quyển tiểu thuyết hay về tình yêu, quyển tiểu
thuyết tình yêuxót thương nhất; có thể Phương là nhân vật phụ nữ đẹp nhất trong tiểu thuyết hiện đại Việt Nam…” [20, tr 265]
Trang 37Ăn mày dĩ vãng của Chu Lai mang hơi hướng của một cuốn tiểu thuyết trinh
thám Câu chuyện bắt đầu khi Hai Hùng – một đội trưởng trinh sát lẫy lừng trong chiến tranh chống Mỹ - giờ đây đã 49 tuổi, nghèo khổ, thất nghiệp và cô độc vào Nam để tìm việc làm và cũng là tìm một nơi trú ngụ Ở đây, Hai Hùng đột ngột gặp lại Ba Sương – người yêu cũ của anh trong chiến tranh Ba Sương, theo ký
ức của Hai Hùng, đã bị quân giặc sát hại trong một lần cùng anh đột ấp, chính tay anh đã cướp xác cô và đem chôn ở bìa rừng Nhưng Ba Sương của hiện tại lại là Tư Lan – Giám đốc sở Nông Lâm giàu có, quyền lực với một tên trợ thủ tàn nhẫn bên cạnh Điều trớ trêu là Ba Sương phủ nhận quá khứ, từ chối tiếp xúc với Hai Hùng Vậy là bắt đầu hành trình của Hai Hùng tìm về những vùng đất
cũ, những người đồng đội cũ để khám phá bí mật của sự thật Trong hành trình
ấy, ký ức một thời hào hùng chiến trận lần lượt hiện ra Thế nhưng lần mò mãi
mà Hai Hùng vẫn không biết được chân tướng mọi việc, cho tới khi anh gặp lại Tường – một đại úy ngụy từng được anh tha chết trong chiến tranh Thì ra Tường đã cứu thoát Ba Sương trong cuộc vây bắt đó bằng cách đánh tráo cô với xác của Hai Hợi (chị họ Ba Sương) Tường đưa Ba Sương đi chạy chữa, từ đây, với mặc cảm thân phận, Ba Sương đã thay đổi tên họ, làm giả quá khứ và trở thành Tư Lan Và chính đêm hôm đó, Ba Sương đã tìm tới nhà Tường và kể lại hết mọi chuyện xảy ra sau khi hòa bình, chuyện này Hai Hùng vô tình được chứng kiến Tên thám báo đã uy hiếp Ba Sương xuất hiện, lấy cô làm vật chắn để thoát thân Vết thương cũ tái phát cùng cú sốc lớn đã giết chết Ba Sương Tên thám báo chạy thoát, Hai Hùng sau khi chôn cất Ba Sương đã quyết định ở lại cùng những người đồng đội để tìm kẻ giết người
Trang 38Chương 2 NHỮNG ĐẶC TRƯNG CƠ BẢN CỦA SỰ THAY ĐỔI QUAN NIỆM
VỀ CON NGƯỜI QUA HÌNH TƯỢNG NGƯỜI LÍNH TRONG TIỂU THUYẾT ĐẦU THỜI KỲ ĐỔI MỚI
2.1 Quan niệm về con người và hình tượng người lính trong tiểu
thuyết
2.1.1 Quan niệm về con người và hình tượng người lính
Vấn đề con người luôn giữ vị trí trung tâm trong mọi ngành nghề khoa học, đặc biệt là trong văn học Con người là chủ thể sáng tạo văn học, là đối tượng hướng tới của văn học và cũng là mục đích của văn học Văn học không thể tồn tại nếu không có và không phục vụ cho các nhu cầu của con người Dù cho một tác phẩm văn học không lấy đề tài là con người, không có nhân vật là con người, đôi khi trong tác phẩm chỉ viết về thiên nhiên, về những vấn đề ngoài con người thì cuối cùng, điều tác giả muốn diễn đạt cũng là những hiểu biết, những suy nghĩ, quan điểm về con người, về nhân sinh, về cuộc sống, về sự tồn tại của con người
“Quan niệm là điều cốt lõi của sáng tạo nghệ thuật”, quan niệm cung cấp những
tiền đề nhất định để trên cơ sở đó, chủ thể sáng tạo nhào nặn, vun đắp, miêu tả, xây dựng nên hình tượng nghệ thuật Trong văn học, có thể hiểu “quan niệm” như một cách định nghĩa, một cách giải mã, thể hiện quan điểm của tác giả về một vấn đề nào đó Nói như vậy có nghĩa “quan niệm về con người” thể hiện cách nhìn, cách đánh giá, cách lý giải về con người của nhà văn Qua quan niệm
về con người của một nhà văn, ta có thể trả lời được những câu hỏi như: “Thế nào là con người?”, “Tính cách con người được biểu hiện như thế nào?”, “Bản chất con người ở đâu?”, “Đâu là con người và đâu không phải là con người?”,… Đó cũng là câu trả lời cho những câu hỏi của thời đại, của xã hội,
của một dân tộc
Trang 39“Quan niệm về con người” chịu ảnh hưởng của các tác động lịch sử, xã hội, môi trường và của chính bản thân nhà văn Vì lẽ đó, quan niệm về con người không hoàn toàn thống nhất giữa các nhà văn, và đặc biệt là không thể thống nhất và giữ nguyên khi lịch sử thời đại thay đổi Những biến cố lớn, những chuyển đổi lớn về tư tưởng của một xã hội sẽ đánh đổ những quan niệm được cho là lỗi thời,
cũ kỹ, nhường chỗ cho những quan niệm mới mẻ hơn, nhân văn và sâu sắc hơn Một nền văn học chỉ thật sự được thay đổi và cách tân khi “quan niệm về con người” của nền văn học đó thay đổi, còn mọi thay đổi, cách tân khác chỉ là tiền
đề làm phong phú thêm về số lượng mà thôi Chính vì lẽ đó, sự thay đổi “quan niệm về con người” sẽ dẫn tới sự thay đổi về các mặt tư tưởng cũng như nghệ thuật của văn học “Quan niệm về con người” trong văn học khác với “quan niệm về con người” trong lịch sử, tâm linh, mỹ học, tôn giáo,… “Quan niệm về con người” trong văn học là tổng thể các quan điểm khác nhau của các luồng tư tưởng, các luồng văn hóa, là tổng thể của các ngành nghề có mối liên quan tới con người trong giai đoạn lịch sử, trong hoàn cảnh xã hội mà nền văn học đó tồn tại Nói đơn giản hơn, đó là “cách nhìn, cách nghĩ, cách đánh giá” về con người
của thời đại đó K Marx đã nhận xét “con người là thực thể tự nhiên có tính người”, là “thực thể sinh học - xã hội”, “trong tính hiện thực của nó, bản chất con người là tổng hòa các quan hệ xã hội” Chính vì vậy, con người khi được soi
chiếu trong văn học phải là một nhân cách hoàn chỉnh, toàn vẹn, được soi chiếu
từ nhiều góc nhìn, nhiều mối quan hệ, phải phản ánh những vấn đề của xã hội, của dân tộc, của thời đại Sự thay đổi “quan niệm về con người” của một thời đại cho thấy sự khác biệt trong tư tưởng, văn hóa của thời đại đó so với trước, khẳng định những nét tiến bộ, nhân văn trong góc nhìn nhân sinh quan Mỗi thời đại, thời kỳ đều có sự bổ sung, lược bớt, thay thế các nét tiêu biểu trong quan niệm
về con người của thời đại đi trước
Trong thực tế sáng tác văn học, “quan niệm về con người” của văn học thường được thể hiện qua hình tượng, nhân vật cụ thể Đó là hình tượng con người tiêu
Trang 40biểu của thời đại, đóng vai trò quan trọng trong tiến trình phát triển của thời đại, mang những giá trị của thời đại Việc thể hiện hình tượng nhân vật tiểu biểu đó
sẽ cho thấy “quan niệm về con người” của văn học và sự thay đổi trong việc thể hiện nhân vật đó cũng cho thấy những thay đổi trong “quan niệm về con người” của thời đại Trong văn học Việt Nam, hình tượng người lính được coi là hình tượng trung tâm của nền văn học 1945 – 1976, tỏa sáng rực rỡ nhất vào giai đoạn kháng chiến chống Mĩ và vẫn tiếp tục là mạch cảm hứng không vơi cạn sau
1975 Hình tượng người lính được xây dựng như một tượng đài hoàn hảo và vĩnh cửu, mang trên vai sứ mệnh lịch sử đã cho thấy quan niệm về con người anh hùng, đề cao con người của cộng đồng, của đời sống chung Từ năm 1986, với nhu cầu đổi mới văn học, với sự “cởi trói”, các nhà văn đã xây dựng một hình tượng người lính khác biệt Đó là những con người cầm súng có số phận cá nhân, có những bi kịch riêng tư, đó là những con người không chỉ sống với cộng đồng mà còn sống với chính bản thân mình, đó là những con người bên cạnh hào quang của lịch sử là những góc khuất, những điểm tối, những khiếm khuyết trong tâm hồn Họ cũng có sai sót, có lầm lạc, họ cũng có những khát vọng được yêu, những khát vọng bình thường phải giấu đi trong thời chiến Hình tượng người lính đã được soi chiếu trong nhiều chiều không gian, nhiều mối quan hệ để thấy được sự phức tạp, bí ẩn, khúc mắc, mâu thuẫn, sự thay đổi trong việc thể hiện hình tượng tiêu biểu ấy đã cho thấy những thay đổi trong quan niệm con người của văn học thời kỳ đổi mới
Trong giới hạn luận văn, người viết khảo sát sự thay đổi quan niệm về con người trong tiểu thuyết giai đoạn đầu đổi mới Có thể xác định đầu đổi mới là giai đoạn bắt đầu từ năm 1986 đến những năm đầu 90 (1991, 1992) Đây là giai đoạn xuất hiện các tiểu thuyết có sự đổi mới mang tính chất tiền đề, vừa tiêu biểu, mới mẻ, vừa còn đang ở thời kỳ tìm tòi, khảo sát
Sự đổi mới và sáng tạo của nhà văn trong “quan niệm về con người” cho thấy sự đổi mới và sáng tạo là quy luật tất yếu của văn học và là cội nguồn phát triển của