Những kết quả nghiên cứu của khoa học dinh dưỡng đã chỉ ra trong thức ăn có chứa các thành phần dinh dưỡng cần thiết đối với cơ thể, đó là các chất protein, lipid, các vitamin, các chất
Trang 1TR ƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH NG Đ I H C S PH M TP H CHÍ MINH ẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH ỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH Ư ẠI HỌC SƯ PHẠM TP HỒ CHÍ MINH Ồ CHÍ MINH
KHOA SINH HỌC
DINH DƯỠNG VÀ CÁC
BỆNH LIÊN QUAN
Giảng viên: Nguyễn Ngọc Phương
Sinh viên: Huỳnh Thị Tú Quyên
Trang 2I VAI TRÒ CỦA DINH DƯỠNG ĐỐI VỚI SỨC KHỎE CỘNG ĐỒNG.
Chất dinh dưỡng là những chất hay hợp chất hóa học có vai trò duy trì và phát triển sựsống, hoạt động của cơ thể thông qua quá trình trao đổi chất và thường được cung cấpqua đường ăn uống Đối với con người, chất dinh dưỡng được cung cấp chính qua cácbữa ăn mỗi ngày
Những kết quả nghiên cứu của khoa học dinh dưỡng đã chỉ ra trong thức ăn có chứa các thành phần dinh dưỡng cần thiết đối với cơ thể, đó là các chất protein, lipid, các vitamin, các chất khoáng và nước
Thực phẩm ăn vào có ảnh hưởng rất lớn tới sức khỏe trong suốt các giai đoạn khác nhau của đời người Ăn uống không đúng với tình trạng sinh học thì cơ thể sẽ có hậu quả xấu mà đôi khi chỉ với một vài thay đổi nhỏ về dinh dưỡng cũng cải thiện sức khỏe rất nhiều
Mỗi người cần có một thói quen ăn uống lành mạnh Nhiều người ý thức được việc đónhưng ít người thực hiện được Vì thế, càng tìm hiểu nhiều về lợi hại của dinh dưỡng thì ta càng biết cách ăn uống sao cho thích hợp và có lợi cho sức khỏe
Thói quen ăn uống cũng thay đổi tùy chủng tộc, văn hóa, khả năng cung cầu, điều kiện tâm lý, nếp sống cá nhân, sự hấp dẫn của món ăn, cách thức mời chào, quảng cáocủa giới sản xuất
Hầu hết các quốc gia đều đưa ra những tiêu chuẩn về dinh dưỡng cho người dân, quy định mức dinh dưỡng tối thiểu để cơ thể tăng trưởng mạnh và phát triển trí óc tốt đồngthời tránh được bệnh tật cũng như kéo dài tuổi thọ Ngoài ra, còn có các chương trình quốc gia hướng dẫn để người dân biết cách áp dụng những tiêu chuẩn ấy trong việc ănuống hàng ngày
Một chế độ dinh dưỡng nhiều về lượng và phẩm cũng chưa đủ để có một sức khỏe tốt nếu không có sự cân đối hợp lý các thành phần dinh dưỡng Trong cơ thể, các cơ quanluôn luôn hoạt động một cách nhịp nhàng tương ứng, để sử dụng các chất dinh dưỡng khác nhau cho các nhu cầu về năng lượng, kiến tạo cũng như tu bổ các tế bào sau khi
Trang 3đường tăng lên Bệnh béo phì chiếm 20 - 40% số dân trưởng thành ở nhiều nước phát triển là nguy cơ quan trọng của nhiều bệnh khác.
Như vậy cả thiếu ăn lẫn thừa ăn (thừa về số lượng và thiếu về chất lượng) đều có thể gây bệnh Một chế độ ăn cân đối, hợp lý là cần thiết cho con người sống lâu và khỏe mạnh
II MỐI LIÊN QUAN GIỮA DINH DƯỠNG VÀ BỆNH TẬT.
Từ xưa đến nay, con người luôn biết rằng giữa dinh dưỡng và sức khỏe luôn có mối liên quan chặt chẽ với nhau Có dinh dưỡng thì các tế bào trong cơ thể mới có thể sống và hoạt động bình thường và lúc đó cơ thể mới khỏe mạnh
Chế độ dinh dưỡng tốt, hợp lí: thành phần dinh dưỡng gồm các chất protid, glucid, các vitamin, khoáng chất và nước Các chất này không thừa cũng không thiếu
Một chế độ dinh dưỡng không hợp lí sẽ dẫn đến tình trạng hoạt động không bình thường của các tế bào, các ơ quan trong cơ thể Gây nên những rối loạn chức năng và làm cho cơ thể đó không khỏe mạnh
Mối quan hệ giữa dinh dưỡng và bệnh tật được thể hiện ở Hình 1.
Trang 4Hình 1: Mối quan hệ giữa dinh dưỡng và bệnh tật
III CÁC BỆNH LIÊN QUAN ĐẾN DINH DƯỠNG.
1 Suy dinh dưỡng protein – năng lượng.
1.1 Định nghĩa.
Suy dinh dưỡng protein – năng lượng (PEM -Protein-Energy Malnutrition) là loại thiếu dinh dưỡng quan trọng khó có bệnh nào có thể so sánh được về mặt ý nghĩa cộng đồng
Đây không chỉ là tình trạng thiếu hụt pro- tein và năng lượng mà thường thiếu kết hợp nhiều chất dinh dưỡng khác, đặc biệt là các vi chất dinh dưỡng Bệnh phổ biến ở trẻ nhỏ, nhưng cũng có thể thấy ở trẻ lớn hơn như tuổi vị thành niên và ở cả người lớn, nhất là ở phụ nữ tuổi sinh đẻ
Trang 51.2 Phân loại theo lâm sàng.
Gồm các thể thiếu dinh dưỡng:
- Suy dinh dưỡng thể teo đét (Marasmus) hay gặp trên lâm sàng Đó là thể thiếu
ở nhóm 1-3 tuổi
- Suy dinh dưỡng thể phù (Kawashioror): ít gặp hơn so với thể Marasmus
Thường gặp ở trẻ trên 1 tuổi, nhiều nhất là giai đoạn 1-3 tuổi Hiếm khi gặp ở người lớn, có thể gặp khi xảy ra nạn đói nặng nề, nhất là đối với phụ nữ
Thường kèm theo tình trạng nhiễm khuẩn từ vừa đến nặng Tình trạng thiếu các
vi chất dinh dưỡng như thiếu vitamin A, thiếu máu od thiếu sắt nặng
Thang phân loại của Tổ chức y tế Thế giới:
1.3 Nguyên nhân suy dinh dưỡng protein – năng lượng.
Mô hình nguyên nhân suy dinh dưỡng của UNICEF
Trang 61.3.1 Nguyên nhân trực tiếp.
- Thiếu ăn về số lượng hoặc chất lượng và mắc các bệnh nhiễm khuẩn Trẻ em trước tuổi học đường là đối tượng bị suy dinh dưỡng cao nhất bởi vì cơ thể ở giai đoạn phát triển nhanh, nhu cầu dinh dưỡng cao và do không được ăn đầy đủcác chất dinh dưỡng
- Nuôi con bằng sữa mẹ không đúng và cho ăn bổ sung không hợp lý (không cho trẻ bú sớm sau sinh, không cho trẻ bú sữa mẹ hoàn toàn trong 6 tháng đầu, cho trẻ ăn bổ sung quá sớm hoặc quá muộn, thức ăn bổ sung không đủ các chất dinhdưỡng, )
- Nhiễm khuẩn dẫn đến suy dinh dưỡng do rối loạn tiêu hoá, và ngược lại suy dinh dưỡng dễ dẫn tới nhiễm khuẩn do đề kháng giảm
trong thời kì bào thai thì nguy cơ suy dinh dưỡng sớm là rất cao
1.3.2 Nguyên nhân sâu xa của suy dinh dưỡng.
Do sự bất cập trong dịch vụ chăm sóc bà mẹ, trẻ em, các vấn đề về nước sạch,
vệ sinh môi trường và tình trạng nhà ở không đảm bào, mất vệ sinh
1.3.3 Nguyên nhân gốc rễ của suy dinh dưỡng.
Trang 7Tình trạng nghèo đói, lạc hậu về các mặt phát triển nói chung bao gồm sự mất bình đẳng về kinh tế.
1.3.4 Các bệnh thường đi kém với suy dinh dưỡng.
Thiếu vitamin A rất hay đi kèm với suy dinh dưỡng Bên cạnh đó, tình trạng thiếu các vi chất dinh dưỡng khác như thiếu axit folic, kẽm, iron,… với các mức độ thay đổi theo từng vùng, từng địa phương khác nhau cũng thường xuyên đi kèm với suy dinh dưỡng
1.4 Các biện pháp phòng chống suy dinh dưỡng protein – năng lượng.
1.4.1 Thực hiện chăm sóc dinh dưỡng và sức khỏe cho bà mẹ có thai, nuôi con bú.
- Quản lí tốt thai nghén và chăm sóc bà mẹ sau đẻ
Thực hiện tư vấn, giáo dục dinh dưỡng cho bà mẹ mang thai
- Cho bà mẹ uống sắt/ axit folic đầy đủ để phòng chống thiếu máu, uống vitamin A liều cao ngay sau đẻ
- Cải thiện bữa ăn gia đình và bữa ăn của bà mẹ có thai, cho con bú
1.4.2 Thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ.
Trong những năm gần đây, thì vấn đề được quan tâm nhiều trong dinh dưỡngtrẻ em là vấn đề sữa mẹ Vì:
- Sữa mẹ là thức ăn hoàn chỉnh nhất, thích hợp nhất đối với trẻ Các chất dinhdưỡng có trong sữa mẹ đều được cơ thể trẻ hấp thu và đồng hóa dễ dàng
- Sữa mẹ là dịch thể sinh học tự nhiên chứa nhiều yếu tố quan trọng bảo vệ
cơ thể trẻ mà không một loại thức ăn nào thay thế được
- Nuôi con bằng sữa mẹ là điều kiện để đứa trẻ có nhiều thời gian gần gũi với
mẹ, mẹ gần gũi với con Đây là yếu tố tâm lí quan trọng giúp sự phát triển hàihòa của đứa trẻ
1.4.3 Thực hiện ăn bổ sung hợp lí.
Các bà mẹ nên cho con ăn các thức ăn:
1.4.4 Đảm bảo bổ sung đầy đủ vitamin A cho trẻ em và bà mẹ sau đẻ.
Trẻ em 6-36 tháng tuổi cần được bổ sung vitamin A liều cao 2 lần/năm Các
bà mẹ sau đẻ cần được uống 1 liều vitamin A 200.000 IU trong vòng 1 thángsau khi sinh
1.4.5 Thực hiện nuôi dưỡng tốt khi trẻ bị bệnh.
Trang 8- Các bệnh nhiễm khuẩn nhất là tiêu chảy và viêm đường hô hấp khá phổ biến là nguyên nhân quan trọng dẫn đến suy dinh dưỡng Cần kết hợp với cáchoạt động lồng ghép chăm sóc trẻ ốm cả về y tế và nuôi dưỡng Cần thay đổi những quan niệm không phù hợp như kiêng mỡ, kiêng rau xanh khi trẻ bị tiêuchảy.
- Trẻ cần được giữ sạch sẽ, rửa chân, tắm ru7a33 thường xuyên Cần đảm bảo vệ sinh trong chế biến thức ăn và cho trẻ ăn Định kì tẩy giun cho trẻ theochỉ định của y tế
2 Phòng chống thiếu vitamin A và bệnh khô mắt.
Vào giữa thập kỉ 90 của thế kỉ XX, tổ chức Y tế Thế giới ước tính có khoảng gần 3 triệu trẻ em có biểu hiện lâm sàng khô mắt do thiếu vitamin A và có tới
251 triệu trẻ em bị thiếu vitamin A tiền lâm sàng
Ở Việt Nam những năm 1980, tỉ lệ khô mắt có tổn thương giác mạc ở trẻ em trước tuổi đi học cao hơn ngưỡng tổ chức Y tế Thế giới (WHO) là 7 lần và và ước tính mỗi năm có khoảng 5000-6000 trẻ em bị mù lòa do khô mắt
2.1Định nghĩa.
- Bệnh khô mắt do thiếu vitamin A là một loại bệnh có từ khá lâu
- Khô mắt bao gồm tất cả những tổn thương bệnh lí ở mắt như tổn thươngkết mạc, giác mạc, võng mạc mắt do thiếu vitamin A
2.2 Biểu hiện bệnh
- Quáng gà là biểu hiện sớm nhất của bệnh khô mắt do thiếu vitamin A
Quáng gà là hiện tượng giảm thị lực trong điều kiện thiếu ánh sáng
- Vệt Bitot là những vệt trắng trên màng tiếp hợp, thường có hình tam giác, như bọt xà phòng hay gặp ở kết mặc chỗ sát rìa giác mạc Vệt Bitot chính
là những đám tế bào biểu mô kết mạc bị khô, dày lên, sừng hóa và bong vảy.Đây là triệu chứng đặc hiệu của tổn thương kết mạc do thiếu vitamin A
- Khô giác mạc: giác mạc trở lên mất độ bong sáng, mờ đục như làn sương phủ, có thể sần sùi, giảm cảm giác của giác mạc Thường hay xảy ra ở nửa dưới giác mạc, kèm theo đó là khô kết mạc hoặc có thể là vệt BItot Biểu hiện quan trọng là sợ ánh sáng, cụp mắt, nhìn xuống, ra sáng mắt thường nhắm lại
- Loét nhuyễn giác mạc: là sự mất tổ chức một phần hay tất cả các lớp của giác mạc Trường hợp loét sâu và rộng, giác mặc dễ bị thủng gây thòi mống mắt, teo nhãn cầu
Trang 9- Sẹo giác mạc do khô mắt: là di chứng sau khi bị loét giác mặc ảnh hưởng đến thị lực hoặc gây mù không hồi phục.
- Tổn thương đáy mắt do kho mắt: là tổn thương võng mạc do thiếu vitamin
A Đây là biểu hiện thiếu vitamin A mạn tính
2.3 Nguyên nhân thiếu vitamin A.
2.3.1 Thiếu hụt vitamin A trong khẩu phần ăn.
Chế độ ăn nghèo nàn, nhất là ít thức ăn động vật các các thức ăn chứa nhiều tiền vitamin A (carotene) thường xảy ra trong giai đoạn trẻ ăn bổ sung
Thiếu dầu mỡ làm giảm hấp thu vitamin A Sữa mẹ là nguồn vitamin A quan trọngcủa trẻ nhỏ, trẻ không được bú mẹ rất dễ bị thiếu vitamin A
Trong khẩu phần ăn vitamin A tồn tại ở 2 dạng: retinol và carotenoid, trong đó đáng chú ý là beta-carotene Vitamin A và beta-carotene tan trong dầu nên chất béo trong bữa ăn, nhất là khi có trên 10g có thể làm tăng hấp thu beta-carotene
2.3.2 Nhiễm khuẩn và kí sinh trùng.
Nhiễm khuẩn và kí sinh trùng rất phổ biến ở các nước nghèo Các bệnh nhiễm khuẩn, kí sinh trung sau đây có liên quan nhiều tới thiếu vitamin A:
- Sởi Khi mắc bệnh sởi, nhu cầu vitamin A trong cơ thể tăng cao
- Tiêu chảy gây giảm hấp thu vitamin A ở ruột
- Viêm đường hô hấp
- Nhiễm giun nặng, nhất là giun đĩa Khi bị nhiễm giun đũa, khả năng hấp thu vitamin A bị giảm
2.3.3 Suy dinh dưỡng protein và năng lượng.
ảnh hưởng đến chuyển hóa, vận chuyển và sử dụng vitamin A trong cơ thể Một chế độ ăn nghèo protein thường nghèo vitamin A
2.4 Phòng chống thiếu vitamin A.
2.4.1 Huấn luyện, bổ túc thêm cho cán bộ y tế.
2.4.2 Giáo dục cho nhân dân nhất là các bà mẹ về nguyên nhân hậu
quả, cách phòng bệnh thông qua hướng dẫn nuôi dưỡng trẻ hợp
lí, cải thiện bữa ăn gia đình.
-Chế độ ăn hằng ngày cần cung cấp đủ vitamin A Các bà mẹ nên nuôi con bằngsữa mẹ vì sữa mẹ là nguồn cung cấp vitamin A tốt nhất đối với trẻ nhỏ
-Chế độ ăn của trẻ cần có thức ăn động vật như trứng, cá, thịt và đủ dầu, mỡ để
Trang 10Thực hiện mô hình vườn ao chuồng tại gia đình Các loại rau có hàm lượng carotene cao ở nước ta: rau muống, xà lách, rau ngót, rau diếp, rau dền, hành lá, hẹ lá, rau thơm, các loại củ quả (gấc, cà rốt, đu đủ, xoài, ) Ngoài ra nên bổ sung trứng gà, vịt.
2.4.4 Bổ sung viên nang vitamin A liều cao.
- Bổ sung vitamin A liều cao thực hiện cho các đối tượng có nguy cơ cao được uống vitamin A, khoảng 4-6 tháng/lần
- Hiện nay ở nước ta bổ sung vitamin A liều cao áp dụng cho trẻ 6-36 tháng tuổi 6 tháng/lần và các bà mẹ sau sinh
2.4.5 Giám sát các bệnh nhiễm khuẩn.
Công tác phòng chống bệnh thiếu vitamin A cần nằm trong chương trình phòng chống các bệnh thiếu dinh dưỡng và nhiễm khuẩn và được triển khai lồng ghép chặt chẽ với các hoạt động chăm sóc sức khỏe ban đâu, phòng chống các bệnh nhiễm khuẩn
2.4.6 Tăng cường vitamin A trong một số thực phẩm.
- Tăng cường vitamin A vào đường (Các nước Trung Mỹ)
- Tăng cường vitamin A vào dầu ăn (Philippines, Indonesia, )
- Tăng cường vitamin A trong mỳ ăn liền, thức ăn nhanh (Thái Lan)
Ở nước ta đang thực nghiệm tăng cường vitamin A vào đường
3 Phòng chống thiếu máu do thiếu sắt.
3.1 Định nghĩa.
- Thiếu máu dinh dưỡng là tình trạng bệnh lí xảy ra khi hàm lượng Hemoglobin trong máu xuống thấp hơn bình thường do thiếu một hay nhiều chất dinh dưỡng cần thiết cho quá trình tạo máu, bất kể do nguyên nhân gì (Theo tổ chức Y tế Thế giới)
- Thiếu sắt là tình trạng thiếu hụt dự trữ sắt trong cơ thể, có thể biểu hiện thiếu máu hoặc chưa có biểu hiện thiếu máu
với tình trạng thiếu sắt và thiếu máu Thiếu máu do thiếu sắt có thể kết hợp với thiếu axut folic, thiếu vitamin B12
3.2Dấu hiện nhận biết thiếu máu
- Dấu hiệu thiếu máu: Da xanh, lòng bàn tay nhợt, niêm mạc nhợt
- Dấu hiệu thiếu oxy: Lừ đừ, kém tập trung khi làm việc hoặc học tập, kém vận động, mệt mỏi, nhịp tim nhanh, thở nông, khó thở khi gắng sức
- Dấu hiệu thiếu dinh dưỡng: Biếng ăn, đứng cân hay sụt cân, môi khô, lưỡi láng, mất gai, móng biến dạng: dẹt, có khía, hoặc khum hình thìa, tóc khô dễ rụng, dễ gãy Trẻ dưới 2 tuổi chậm biết ngồi, biết đi, chậm tăng trưởng cân nặng chiều cao,
- Dấu hiệu bệnh nền: Đau thượng vị, tiêu phân đen, rối loạn kinh nguyệt, hoặc có tiền
sử phẫu thuật cắt dạ dày, ruột, bệnh lý gây xuất huyết đường tiêu hóa
Trang 11- Dễ mắc các bệnh nhiễm trùng do sức đề kháng kém.
3.3 Nguyên nhân gây thiếu máu
3.3.1 Thiếu máu do thiếu sắt
- Sắt là một vi chất quan trọng, là thành phần cấu tạo hemoglobin, myoglobin, protein, enzyme, có vai trò vận chuyển oxy trong máu đến với các mô trong cơ thể; kết hợp với các chất dinh dưỡng khác để giải phóng năng lượng cho sự co cơ, quá trình
chuyển hóa như tổng hợp DNA, và các chức năng miễn dịch, tiêu hoá,
- Sắt có trong thực phẩm nguồn động vật như thịt, gan, cá có giá trị sinh học cao và từnguồn thực vật như ngũ cốc, đậu đỗ, rau quả có giá trị sinh học thấp hơn, hấp thu kém hơn Sắt được tăng cường hấp thu bởi vitamin C (có nhiều trong cam, chanh, ổi,kiwi, ớt đà lạt, bông cải xanh, cà chua ) trái lại bị ức chế hấp thu chất sắt bởi phytat, phosphat, canxi (có trong ngũ cốc) và polyphenol (có trong trà và một số loại rau) Sắttrong khẩu phần của người Việt Nam hiện nay chỉ đáp ứng 30-50% nhu cầu
- Nguyên nhân thiếu sắt: do không cung cấp đủ trong khẩu phần trong khi dự trữ sắt không đầy đủ (phụ nữ mang thai có nhu cầu cao hơn bình thường để tăng khối lượng máu cho người mẹ và phát triển thai nhi; trẻ sinh nhẹ cân, sinh non, suy dinh dưỡng bào thai, con của các bà mẹ thiếu máu trong thời kỳ mang thai; trẻ không được nuôi bằng sữa mẹ ăn bổ sung quá sớm; trẻ giai đoạn tăng trưởng nhanh trong những năm đầu đời và tuổi dậy thì, người ăn chay, ăn kiêng, ăn ít thức ăn động vật) hoặc do tình trạng kém hấp thu (người mắc các bệnh về đường tiêu hóa như tiêu chảy kéo dài, viêm loét dạ dày tá tràng, ) hoặc mất máu (mất sắt theo chu kỳ kinh nguyệt ở phụ nữ tuổi sinh đẻ, nhiễm giun sán, )
3.3.2 Thiếu máu do thiếu acid folic
- Acid folic hay folat (vitamin B9) cần thiết cho sự phát triển và phân chia tế bào và sự hình thành tế bào máu
- Folat có nhiều trong các loại rau lá màu xanh thẫm, trái cây họ cam, súp lơ, bông cải xanh và thức giàu đạm như thịt, gan, trứng cá, đậu hạt, Folat rất dễ bị thất thoát trong quá trình nấu nướng 50-90%, thậm chí không còn khi nấu ở nhiệt độ cao nhiều nước hay thời gian quá lâu
- Nguyên nhân thiếu hụt folat là do không cung cấp đủ trong khẩu phần ăn hoặc do tìnhtrạng kém hấp thu nhất là khi các bệnh về đường tiêu hóa hoặc do nhu cầu tăng ở sinh
đẻ non, sốt rét, thiếu máu, tan máu và ảnh hưởng của một số thuốc như thuốc chống
co giật, chống động kinh, chống ung thư, các thuốc làm giảm độ acid trong dạ dày gâytăng nhu cầu và sử dụng folat
Trang 12- Biểu hiện của thiếu folat: ngoài các dấu hiệu thiếu máu, trẻ thường chán ăn, nôn,
tiêu chảy, viêm miệng lưỡi, run chân tay, tăng trương lực cơ, hồi hộp, thở gấp và ngắn Thiếu folat sớm ở phụ nữ mang thai trong những tháng đầu của thai kỳ có thể gây khuyết tật ống thần kinh cho thai nhi (nứt cột sống, vô sọ, thoát vị não)
3.3.3 Thiếu máu do thiếu vitamin B12
- Vitamin B12 tham gia vào quá trình tổng hợp DNA, sự phát triển và phân chia tế bào
và quá trình myelin hóa sợi thần kinh
- Vitamin B12 chỉ có trong thức ăn nguồn động vật, dễ bị hao hụt đến hơn 50% khi chế biến nấu chín
- Nguyên nhân thiếu vitamin B12 chủ yếu là do bị các bệnh về đường tiêu hóa (tiêu chảy, phẫu thuật dạ dày - ruột) gây kém hấp thu và chế độ ăn thiếu thực phẩm nguồn gốc động vật kéo dài, ăn chay trường
- Biểu hiện của thiếu vitamin B12: ngoài các dấu hiệu thiếu máu, có thể kèm một số triệu chứng thần kinh: rối loạn cảm giác, đi lảo đảo
3.4 Phòng ngừa thiếu máu dinh dưỡng.
- Cải thiện chế độ ăn, đa dạng hóa bữa ăn: lựa chọn các thực phẩm giàu sắt nguồn động vật như thịt các loại, gan, trứng, ; và nguồn thực vật như một số loại rau xanh, đậu
đỗ, nấm, kết hợp thực phẩm giàu vitamin C, giàu acid folic như các loại rau có lá màu xanh thẫm, đậu quả, đậu hạt, Không uống sữa, trà cùng bữa ăn Thực hiện nuôi con bằng sữa mẹ và ăn bổ sung hợp lí là biện pháp tốt nhất phony chống thiếu máu ở trẻ nhỏ
- Bổ sung viên sắt acid folic: Thự hiện đối với phụ nữ có thai Đối với phụ nữ không cóthai, thì bổ sung sắt ở độ tuổi 15-35 Ngoài ra cũng có thể áp dụng đối với trẻ em dưới
2 tuổi
- Cải thiện tình trạng vệ sinh môi trường, thực hành vệ sinh cá nhân
- Phòng ngừa các bệnh giun sán cho trẻ em Trẻ em cần được tẩy giun định kỳ 6 tháng một lần
- Điều trị các bệnh nhiễm khuẩn và nhiễm ký sinh trùng, các bệnh lý tiêu hóa để tăng cường khả năng tiêu hóa hấp thu dưỡng chất
- Bổ sung sắt cho các nhóm đối tượng nguy cơ cao:
Phụ nữ mang thai: Bổ sung viên sắt và acid folic là biện pháp phòng ngừa thiếumáu hữu hiệu nhất cần thực hiện ngay khi có thai và đều đặn trong suốt thời gian mang thai cho tới sau khi sinh một tháng
Phụ nữ tuổi sinh đẻ: Cần uống viên sắt theo phác đồ dự phòng với liều 1
viên/tuần trong thời gian 16 tuần
Trang 13 Trẻ sinh non, trẻ sinh đa thai, trẻ sơ sinh nhẹ cân và trẻ thiếu sữa mẹ: lựa chọn sản phẩm dinh dưỡng có bổ sung chất sắt, theo dõi đánh giá tình trạng thiếu máu.
4 Bệnh bướu cổ.
4.1 Thế nào là bệnh bướu cổ?
Bệnh bướu cổ là tình trạng sưng lên của tuyến giáp mà nguyên nhân không phải do ung thư, viêm nhiễm và cũng không có dấu hiệu tăng hoạt động hoặc giảm hoạt động của tuyến giáp
4.2 Biểu hiện bệnh bướu cổ.
Bướu cổ khi kích thước còn nhỏ có thể không có dấu hiệu Khi bướu cổ phát triển, bạn có thểthấy một cục u trên cổ Bướu cổ lớn có thể chèn ép vào đường hô hấp hoặc tĩnh mạch, gây ra:
4.3 Nguyên nhân dẫn đến bệnh bướu cổ.
- Nguyên nhân dẫn đến bệnh bướu cổ chủ yếu do thiếu hụt iod trong cơ thể gây ra Khi tuyến giáp không nhận được đầy đủ lượng iod thì nó sẽ giảm sản sinh hoocmôn cho nên để bù đắp cho việc sản xuất hoocmôn, tuyến giáp phải tăng thêm kích thước làm cho tuyến giáp phình to ra và như thế là tạo thành bướu cổ
Trang 14- Rối loạn bẩm sinh, rối loạn này có tính chất gia đình.
- Do dùng kéo dài một số loại thuốc như: muối lithi dùng trong chuyên khoa tâm thần, thuốc kháng giáp tổng hợp, thuốc có chứa iod như thuốc cản quang, thuốc trị hen, thuốc trị thấp khớp, thuốc chống loạn nhịp hoặc do ăn thức ăn có tác dụng ức chế tổnghợp hoócmôn tuyến giáp như các loại rau họ cải, măng, khoai mì…
cho con bú cũng dễ bị bướu cổ
- Chế độ dinh dưỡng giàu nhiệt lượng, giàu vitamin, đủ hydratcacbon và protein
- Tránh các loại thức ăn có tính kích thích, các loại rượu để không làm tăng thêm sự hưng phấn thần kinh của bệnh nhân
- Tránh buồn phiền giận dữ, giữ cho tình cảm được ổn định, lạc quan để không có phản ứng kích thích xấu, cho việc khôi phục sức khỏe
- Nếu chỉ là bướu cổ đơn thuần, kiêng ăn các loại rau như cải xanh, củ cải, vì ăn những thứ rau này sẽ sinh ra muối sunfoxianat có thể mau chóng chuyển thành axit
sunfoxyanic là chất làm to tuyến giáp trạng
Trang 15- Không nên ăn nhiều các loại quả có chứa sắc tố thực vật như cam, quít, táo, lê, nho, vìtrong những hoa quả này có chứa chất flavon, sẽ bị vi khuẩn đường ruột phân giải thành axit diglycerobenzoic và axit ferulic đều là những chất làm ức chế chức năng tuyến giáp trạng rất mạnh, làm cho bệnh bướu cổ nặng thêm.
-5.2 Biệu hiện của bệnh sâu răng
Đau răng; Răng nhạy cảm; Đau nhẹ hoặc buốt cả răng khi ăn hoặc uống đồ ngọt, nónghay lạnh; Lỗ sâu có thể thấy được hoặc những cái hố lõm trong răng; Bề mặt của răng(cả trong lẫn ngoài) ngả màu nâu, đen hoặc trắng; Đau khi cắn
5.3 Nguyên nhân gây sâu răng
- Vi khuẩn trong miệng và lượng đường cao trong thức ăn là 2 yếu tố chính gây sâu
Thức ăn chứa càng nhiều đường thì mảng bám càng dính Theo thời gian, sâu răng hình thành khi mà vi khuẩn trong mảng bám và cao răng chuyển hóa đường thành axit Các axit trong mảng bám loại bỏ các khoáng chất có trong lớp men cứng phủ bênngoài răng Sự xói mòn dần dần này tạo ra lỗ nhỏ li ti hoặc khoảng trống trong men răng.Ngoài ra, còn do thiếu hụt flour của răng
- Có nhiều yếu tố làm tăng nguy cơ mắc bệnh sâu răng, chẳng hạn như:
Trang 16- Chăm sóc răng không tốt Bạn không đánh răng, xỉa răng hoặc làm sạch răng mỗi ngày để loại bỏ mảng bám;
- Một số carbohydrate, bao gồm nước trái cây, soda, tráng miệng, kẹo cứng, và bánh quy có thể gây sâu răng;
- Thực phẩm và đồ uống có tính axit làm tăng nguy cơ sâu răng, bao gồm: chanh, nước ngọt, đồ uống thể thao và nước trái cây;
- Trào ngược dạ dày, điều này làm cho axit dạ dày tiếp xúc với răng, có thể gây sâu răng;
- Thiếu florua Florua là một khoáng chất tự nhiên giúp ngăn ngừa sâu răng và thậm chí
có thể đảo ngược những giai đoạn sớm nhất của tổn thương răng;
- Ít nước bọt trong miệng Nước bọt giúp làm sạch mẫu thức ăn trong răng và làm giảm
vi khuẩn gây sâu răng
5.4 Chế độ dinh dưỡng
- -Hạn chế các thực phẩm gây hại cho răng như: kẹo, nước có gas, nước đá, rượu, thuốclá,
- Tăng cường các thực phẩm có lợi cho răng như: trái cây, rau củ, sữa,…
5.5 Biện pháp phòng ngừa bệnh sâu răng
- Đánh răng ít nhất 2 lần một ngày với kem đánh răng có chứa florua;
- Sử dụng chỉ nha khoa để làm sạch kẽ răng ít nhất một lần một ngày;
- Súc miệng với nước hoặc nước súc miệng sau bữa ăn;
- Thực hiện chế độ dinh dưỡng tốt cho răng miệng
- Khám nha sĩ thường xuyên để làm sạch răng và kiểm tra răng miệng
6 Loãng xương
6.1 Bệnh loãng xương là gì?
Trang 17Bệnh loãng xương, hay còn gọi là bệnh giòn xương hoặc xốp xương, xương bị loãng
sẽ yếu và giòn hơn rất nhiều so với xương bình thường.Xương liên tục mỏng dần và mật độ chất trong xương ngày càng thưa dần, điều này khiến xương dễ tổn thương và
dễ bị gãy dù chỉ bị chấn thương nhẹ
6.2 Biểu hiện bệnh
Bệnh loãng xương không có triệu chứng rõ ràng từ sớm, nhưng theo thời gian, một
cảm giác đau ở vùng lưng và thắt lưng và dễ dàng nhận thấy lưng còng, dáng đứng khom xuống và dần dần sụt cân Trong vài trường hợp khác, dấu hiệu đầu tiên là gãy xương (xương sườn, cổ tay hoặc xương đùi) Xương sống có thể bị gãy (trở nên dẹp hơn hoặc bị nén) Gãy xương hông có thể gây khuyết tật nặng Mọi người có thể không biết họ mắc bệnh cho đến khi xương trở nên yếu đi, dễ gãy khi gặp những sang
6.3 Nguyên nhân gây loãng xương
Trang 18- Nguyên nhân chính gây loãng xương là tuổi tác Khi bước sang tuổi trung niên, đặc biệt là giai đoạn sau mãn kinh ở phụ nữ, các nội tiết tố giảm, quá trình tạo xương không hoạt động tốt như trước, đồng thời quá trình hủy xương tăng lên làm cho xương mất đi và trở nên xốp hơn.
- Canxi là thành phần giúp cho xương vững chắc Lúc con người còn trẻ, cơ thể sử dụng canxi để tạo ra xương mới Nhưng khi lớn tuổi, thường lượng canxi trong máu không đủ, canxi sẽ bị lấy từ xương ra để chuyển đến phục vụ cho hoạt động ở các cơ quan trọng khác của cơ thể, từ đó làm cho xương suy yếu
- Ngoài ra, quá trình hủy xương ngày càng tăng còn phụ thuộc vào các nguyên nhân và yếu tố như sau:
- Chế độ ăn uống quá ít canxi, ít đạm, ít hoạt động thể lực, ít hoạt động ngoài trời, nghiện rượu, bia, thuốc lá, cà phê
- Sử dụng thuốc corticosteroid (ví dụ như dexa) hàng ngày trong thời gian hơn 3 tháng
- Nằm bất động trên giường quá lâu
- Bị các bệnh lý về khớp như viêm khớp dạng thấp, thoái hóa khớp
- Bị bệnh thận mạn tính dẫn tới tăng đào thải canxi, bệnh đường tiêu hóa mạn tính gây giảm hấp thu canxi và vitamin D
- Cường tuyến cận giáp, thiểu năng sinh dục
- Người quá nhẹ cân, lúc nhỏ bị còi xương, suy dinh dưỡng
6.4 Chế độ dinh dưỡng
- Người bị loãng xương cần có một chế độ ăn phù hợp, bổ sung đầu đủ các các cần cho
sự phát triển của xương:
- Cung cấp canxi
o Sữa, sữa chua, pho mát và các sản phẩm từ sữa khác có hàm lượng canxi cao
và chứa nhiều chất dinh dưỡng quan trọng giúp tốt hơn cho sự khỏe mạnh của xương, chẳng hạn như phốt pho và protein
o Nếu bạn không dung nạp lactose hoặc tránh dùng sữa vì các lý do khác, có rất nhiều lựa chọn thay thế như nước cam có bổ sung canxi, các loại sữa có nguồn gốc thực vật (như đậu nành và sữa hạnh nhân) và ngũ cốc Các loại rau lá xanh như cải xoăn, bông cải xanh và rau bina Hải sản như cá hồi đóng hộp, hàu, cá
rô đại dương, nghêu, cua xanh và tôm