NHẬN DẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC ĐIỀU KIỆN VÀ QUÁ TRÌNH ĐỊA CHẤT ĐỐI VỚI SỨC KHOẺ CỘNG ĐỒNG NGUYỄN XUÂN KHIỂN1, NGUYỄN ANH TUẤN2 1 Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Thanh Xuân, Hà Nội 2
Trang 1NGHIÊN CỨU KHOA HỌC
CỦA CÁC ĐIỀU KIỆN VÀ QUÁ TRÌNH
ĐỊA CHẤT ĐỐI VỚI SỨC KHOẺ
CỘNG ĐỒNG”
Trang 2
NHẬN DẠNG ẢNH HƯỞNG CỦA CÁC ĐIỀU KIỆN VÀ QUÁ TRÌNH ĐỊA
CHẤT ĐỐI VỚI SỨC KHOẺ CỘNG ĐỒNG
NGUYỄN XUÂN KHIỂN1, NGUYỄN ANH TUẤN2
1
Viện Khoa học Địa chất và Khoáng sản, Thanh Xuân, Hà Nội
2
Cục Địa chất và Khoáng sản Việt Nam, 6 Phạm Ngũ Lão, Hà Nội
Tóm tắt: Các quá trình địa chất, như hoạt động núi lửa, magma - kiến tạo,
nhiệt dịch, biến chất, phong hóa, trầm tích, vận chuyển vật chất bằng những phương thức khác nhau, v.v là những nguyên nhân vô cùng quan trọng tạo nên sự thiếu hụt hay dư thừa một hay một số nguyên tố nào đó, tác động trực tiếp tới chất lượng môi trường sinh thái, ảnh hưởng tiêu cực tới sự sống của loài người và sinh vật Đáng chú ý là: 1) Quá trình phun nổ vật chất từ lòng đất khi núi lửa hoạt động đưa vào khí quyển một lượng khí
và bụi khổng lồ có thể góp phần làm biến đổi khí hậu của Trái đất và làm ô nhiễm môi trường sinh thái Đồng thời, ngoài tác động nghiêm trọng của khí-bụi núi lửa, khối lượng dung nham và dòng xỉ vụn to lớn tràn phủ lên mặt đất với tốc độ cao, trên diện rộng xung quanh miệng núi lửa, nếu không được dự báo và có giải pháp phòng ngừa kịp thời sẽ đe dọa cuộc sống dân cư và phá hủy cơ sở vật chất một cách khôn lường; 2) Quá trình phong hóa, đặc biệt là phong hóa hóa học, có thể phá vỡ cấu trúc của đá và quặng, dẫn đến sự phân bố lại các nguyên tố ở phần trên của thạch quyển Đặc biệt, khi quá trình này diễn ra trên các mỏ sulfur, mỏ quặng urani, v.v
có thể tạo ra nguy cơ làm suy giảm chất lượng môi trường sinh thái một cách nghiêm trọng; 3) Quá trình trầm tích các sản phẩm phong hóa của các thành tạo địa chất cổ, thực chất là một quá trình tích tụ và phân ly hóa học, trong đó diễn ra sự phá vỡ các tổ hợp nguyên tố của các đá để lập lại
Trang 3các tổ hợp nguyên tố khác trong một điều kiện môi trường địa chất mới Quá trình này dẫn tới sự tập trung cao nhiều nguyên tố, trong đó có nhiều thành phần độc hại lan tỏa vào môi trường trong quá trình vận chuyển vật liệu trầm tích hay tích đọng thành các thực thể trầm tích giàu chúng, tiềm
ẩn nguy cơ gây ô nhiễm cho môi sinh
I MỞ ĐẦU
Để duy trì sự sống, cơ thể con người cần một lượng nhất định các nguyên tố như: C,
H, O, N, Ca, K, Na, Mg, P, S, Fe, Mn, Co, Cu, Zn, Mo, I, F, Se, Si, v.v Tuy nhiên, nếu hàm lượng các nguyên tố này quá nhiều, chúng sẽ gây hại cho cơ thể Cũng có nhiều nguyên tố như As, Hg, Pb, Be, Te, Ba, Nb, Bi, Ti, Li, Ag, Au, Tl, Ce, Th, U, Ra rất độc hại cho cơ thể Thí dụ: môi trường sống có chứa các nguyên tố phóng xạ với hàm lượng cao có thể gây ung thư, cơ thể thiếu I thường mắc bệnh bướu cổ, đần độn; thừa F gây nhiễm độc fluor (fluorosis) với các biểu hiện sứt răng, giòn xương
Nhiều nguyên tố nêu trên gây ô nhiễm môi trường sống có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với các thực thể địa chất cũng như môi trường địa chất và các quá trình địa chất
đã và đang diễn ra trên Trái đất
Các quá trình địa chất như hoạt động núi lửa, magma - kiến tạo, nhiệt dịch, biến chất, trầm tích, phong hóa, vận chuyển vật chất bằng những phương thức khác nhau, v.v., là những nguyên nhân vô cùng quan trọng tạo nên sự thiếu hụt hay dư thừa một hay một số nguyên tố nào đó, tác động trực tiếp tới chất lượng môi trường sinh thái ở các vùng lãnh thổ khác nhau Từ thực tế đó, A.P Vinogradov (1963) đã đề xuất khái niệm các “Tỉnh
sinh địa hóa” để mô tả thực trạng này Tỉnh sinh địa hóa được hiểu là “những khu vực trên bề mặt Trái đất mà ở đó hàm lượng các nguyên tố hóa học và hợp chất của chúng khác biệt so với các vùng lân cận” Theo đó, ông chia ra hai kiểu tỉnh sinh địa hóa: kiểu
thiếu hụt các nguyên tố, và kiểu dư thừa các nguyên tố
Trang 4Sự thiếu hụt hay dư thừa một nguyên tố nào đó trong môi trường các tỉnh sinh địa hóa
có thể gây bệnh địa phương đối với thực vật, động vật và con người, thậm chí có thể làm thay đổi giống loài hoặc dẫn đến tuyệt chủng; thí dụ: đới khô hạn Ninh Thuận - Bình Thuận có thể được xem là một tỉnh sinh địa hóa, ở đó, nhiều vùng đất có sự tích lũy cao
so với phông địa hóa chung các nguyên tố kiềm và kiềm đất, như Na, Ca, K, Mg gây hại cho cây trồng Sự dư thừa F (>2 mg/l) trong nước dưới đất ở đây có khả năng gây ra bệnh nhiễm độc fluor (fluorosis), ảnh hưởng tới sức khỏe cộng đồng
Nhiều thực thể địa chất chứa các nguyên tố có hại hoặc có lợi với hàm lượng cao hơn giá trị trung bình, thí dụ:
- Các đá núi lửa sáng màu, granitoid, đá phiến sét sẫm màu và các đá trầm tích / biến chất chứa phosphat thường tích trữ một hàm lượng U cao hơn giá trị trung bình của vỏ Trái đất đến mức gây độc hại cho cơ thể
- Các nguyên tố hiếm, đặc biệt là các nguyên tố phóng xạ Th, U, Ra thường hay tập trung trong các thể đá pegmatit; thí dụ so với gabbro, hàm lượng Li trong pegmatit granit cao gấp 100 lần, Rb gấp 40 lần So với trị số Clarke vỏ Trái đất, hàm lượng Ta, và đặc biệt là Nb, cao gấp hơn 150 lần Hàm lượng các nguyên tố phóng xạ trong pegmatit Thạch Khoán (Phú Thọ) dao động trong một phạm vi khá rộng: U = 60-4500 ppm, Th = 30-300 ppm, nhưng thường ở mức cao, dẫn tới thành tạo các khoáng vật uraninit, thorianit và các khoáng vật thứ sinh như autunit, torbernit, saleit, v.v [2]
- Asbest là một nhóm khoáng vật silicat gồm chrysotil, crocidolit và amosit có đặc tính
dễ tách thành sợi nhỏ, đàn hồi, chịu nhiệt, không dẫn nhiệt / dẫn điện, nên trước đây đã được sử dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực Nhưng do các sợi nhỏ dạng bụi của loại vật liệu này rất dễ phân tán trong không khí, theo đường hô hấp chúng có thể gây nên ba loại bệnh phổi chủ yếu là: 1 Asbestosis làm giảm khả năng hấp thu oxy của phổi; 2 Mesothelioma, một loại ung thư phổi phát triển dọc theo màng phổi; và 3 Ung thư phổi
Vì lý do đó, từ năm 1996 Cơ quan Bảo vệ Môi trường thế giới (EPA) đã khuyến cáo cấm sử dụng asbest vào mục đích dân sinh
Trang 5- Trong thành phần của đất, ngoài các nguyên tố vi dinh dưỡng có lợi cho cây trồng như B, Fe, Mn, Cu, Zn, Mo, Co, Cl, v.v còn có nhiều nguyên tố độc hại, đặc biệt là các kim loại nặng gây hại đối với cây trồng và qua đó ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người, như As, Hg, Sb, Pb, Cd, Bi, Se, v.v
Hàm lượng As trong đất dao động trong khoảng từ 5 đến 40 ppm, trung bình 6 ppm
As tồn tại dưới dạng (AsO4)3- trong môi trường oxy hóa, hoặc bị hấp phụ bởi các khoáng vật sét, keo Fe/Mn và vật chất hữu cơ Nhưng trong loại đất có môi trường khử thì As linh động hơn vì arsenur (As3+) hòa tan gấp 5-10 lần so với arsenat (As5+), trong đó, arsenur là dạng độc hại mạnh hơn cả
Hàm lượng trung bình của Pb trong đất là 19 ppm (dao động từ 2 đến 300 ppm) Là một nguyên tố kém linh động, Pb2+ có thể tham gia vào thành phần của nhiều hợp chất khác nhau, như PbCO3, Pb(OH)2, Pb3(PO4)2v.v hoặc bị hấp phụ trong keo sét, oxit Fe/Mn và hợp chất hữu cơ Pb có độc tính cao, nó hạn chế hoạt động của các vi sinh vật trong đất
Selen (Se) với nồng độ cao trong đất có độc tính mạnh, gây hại cho cây trồng và động
vật Trong đất gley chứa nhiều chất hữu cơ Se thường tồn tại dưới dạng hợp chất hữu cơ; trong đất kiềm, dưới dạng selenat, còn trong đất có tính axit và đất thoát nước tốt thì Se tồn tại dưới dạng selenur Độ linh động của Se trong đất tùy thuộc vào độ pH và Eh cũng như sự có mặt của các nguyên tố Fe và Mn
Nguồn gốc các nguyên tố kim loại nặng trong đất: - Do các đá mẹ bị phong hóa giải phóng ra; - Tác động nhân sinh, do sử dụng nhiều loại phân bón hóa học, cũng như các loại thuốc bảo vệ thực vật hoặc từ các nguồn nước thải công nghiệp và nước thải đô thị, v.v
Quá trình tập trung hay phân tán các nguyên tố có lợi hoặc có hại cho môi sinh xảy ra
vô cùng phức tạp, nhiều khi có sự đan xen giữa các quá trình tự nhiên và các quá trình sinh học, trong số đó, nhiều quá trình địa chất như hoạt động núi lửa, magma - kiến tạo, phong hóa, bào mòn, vận chuyển vật liệu, trầm tích, tai biến địa chất, v.v đóng vai trò
Trang 6đặc biệt quan trọng, chi phối chất lượng của môi trường sinh thái, thậm chí đe dọa đến sinh mạng của con người và thiệt hại khôn lường về vật chất của một cộng đồng Dưới đây, chúng tôi sẽ phân tích vai trò chi phối chất lượng môi trường sinh thái của một số quá trình địa chất
II QUÁ TRÌNH HOẠT ĐỘNG NÚI LỬA
Hoạt động núi lửa có thể tác động xấu đến môi trường với những hậu quả sau:
1 Góp phần làm biến đổi khí hậu
Đã từ lâu, người ta cho rằng hoạt động núi lửa là một trong những nguyên nhân gây nên sự thay đổi khí hậu của Trái đất và ngày nay điều đó vẫn được vận dụng để giải thích một số hiện tượng biến đổi khí hậu địa phương hoặc toàn cầu Quá trình phun trào của núi lửa đã đưa vào khí quyển một lượng khí và bụi khổng lồ, tồn tại ở đó hàng tháng, thậm chí hàng năm và lan tỏa trên diện rộng, có khả năng làm thay đổi quy luật tuần hoàn chung của không khí trong khí quyển Các vật liệu núi lửa lơ lửng này có khả năng một mặt hấp thụ một phần bức xạ của mặt trời, mặt khác tạo điều kiện cho nó phản xạ lại không trung, làm cho nhiệt độ không khí bị thuyên giảm
Cách đây hơn 200 năm, Benjamin Franklin đã giải thích thời tiết lạnh bất thường trong mùa đông năm 1783-1784 là do một lượng vật chất khổng lồ tung vào không khí từ núi lửa Icelandia, làm cho ánh nắng mặt trời phản chiếu lại không trung Giống như vậy, nguyên nhân tạo ra các thời kỳ có thời tiết mát mẻ năm 1815 được giải thích gắn liền với thời gian hoạt động của núi lửa Tambora ở Indonesia, theo đó, khoảng 175 km3 tro bụi núi lửa được đưa vào không khí và nhờ vào hoạt động tuần hoàn của không khí trong khí quyển mà ảnh hưởng của nó lan trên diện rất rộng, thậm chí lên tận Bắc cực
Những năm gần đây, nhờ có công nghệ phân tích ảnh vệ tinh và các thiết bị viễn thám, các nhà khoa học đã theo dõi chặt chẽ tác động của các đám mây khí và tro đối với không khí do các núi lửa St Helens ở bang Washington (Mỹ) năm 1980, El Chichon (Mehico) năm 1982 và M Pinatubo (Philippines) năm 1991 đưa vào không trung trong quá trình hoạt động phun trào của chúng Sau hai năm theo dõi và nghiên cứu liên tục sự phun trào
Trang 7của núi lửa El Chichon, người ta thấy tác động của nó đã làm giảm nhiệt độ không khí từ 0,3 đến 0,5oC so với nhiệt độ trung bình toàn cầu Núi lửa này đã đồng thời phun vào không khí một lượng lớn các khí giàu sulfur (gấp 40 lần so với núi lửa St Helens) Các khí này sau đó đã hợp với hơi nước nên những đám mây dày đặc các tụ nhỏ axit
H2SO4 tồn tại hàng năm trời trong tầng bình lưu Các đám mây này có khả năng vừa hấp thụ bức xạ mặt trời, vừa tạo điều kiện cho nó phản xạ lại không trung, dẫn tới sự thuyên giảm một phần nhiệt độ trên bề mặt Trái đất
2 Làm thay đổi chất lượng của môi trường sinh thái
Các dung thể magma chứa từ 1 đến 5% trọng lượng khí hòa tan, chủ yếu là hơi nước, thậm chí nhiều nhà khoa học cho rằng đó chính là nguồn nguyên thủy của nước đại dương Do vậy, khi núi lửa hoạt động, đồng thời với những mảnh vụn đá, bom dung nham và tro bụi, một lượng khí khổng lồ cũng đã được đưa vào không trung, làm thay đổi thành phần của không khí trong khu vực Kết quả phân tích thành phần các mẫu khí thu thập trong quá trình phun trào núi lửa ở Hawai cho thấy khoảng 70% là hơi nước, 15%
CO2, 5% N, 5% S và một lượng nhất định Cl, H, Ar Trong điều kiện nhiệt độ cao và áp suất thấp ở gần bề mặt Trái đất, các loại khí này tăng khối lượng của chúng gấp hàng trăm lần khối lượng ban đầu
tới môi trường sinh thái, một lượng dung nham khổng lồ, hoặc các dòng xỉ vụn phủ lên mặt đất trên diện rộng xung quanh miệng núi lửa với tốc độ cao; nếu không được dự báo
và có giải pháp phòng ngừa kịp thời sẽ đe dọa cuộc sống dân cư và phá hủy cơ sở vật chất một cách khôn lường Thí dụ:
- Năm 1902, núi lửa Mt Pelee (vùng đảo Caribe, châu Mỹ) hoạt động đã phun ra một lượng dung nham lớn phá hủy gần như hoàn toàn cảng St Pierre, giết chết 28.000 người trong phút chốc
- Tháng 6/1944, dòng xỉ vụn từ núi lửa Paricutin (phía tây Mexico City) dày 10 m đã phủ gần như toàn bộ làng San Juan Parangaricutiro một cách nhanh chóng
Trang 8III QUÁ TRÌNH PHONG HÓA
Nhiệt độ và thành phần các khí O2, H2O, CO2 của khí quyển, nước, axit hữu cơ và các hoạt động địa động lực là những tác nhân phong hoá vô cùng quan trọng đối với các đá
và quặng trong thạch quyển Đặc biệt, phong hoá hoá học có thể phá vỡ cấu trúc của các
đá và quặng, dẫn đến sự phân bố lại các nguyên tố ở phần trên của thạch quyển Trong các tác nhân phong hóa thì thủy phân là một quá trình có thể phá hủy hoàn toàn khoáng vật này, tạo điều kiện cho sự hình thành khoáng vật khác bền vững hơn trong điều kiện trên mặt dưới tác dụng của nước Quá trình này thường xảy ra theo hai giai đoạn:
- Giai đoạn sialit kiềm: trong đó, các alumosilicat bắt đầu bị phân hủy làm cho các
cation bị lôi cuốn đi, nguyên tố kim loại kiềm và kiềm đất hòa tan dưới dạng dung dịch thật làm cho môi trường có phản ứng kiềm Khi đó sẽ hình thành các khoáng vật sét trung gian như montmorilonit (đối với đá magma mafic, siêu mafic) và hydromica (nếu là đá magma thành phần axit)
- Giai đoạn sialit axit: trong đó, các cation tiếp tục bị lôi cuốn đi, một phần SiO2 bị hòa tan tạo cho môi trường có phản ứng axit, các khoáng vật sét trung gian bị phân hủy thành nhóm kaolinit
Trong quá trình oxy hóa, vật chất hữu cơ có màu xám đen và đen biến thành màu xám nhạt, đồng thời giải phóng CO2 vào không khí
Đối với những loài thực vật sống bám trên đá thì sự sống được duy trì bằng sự hấp thụ một số nguyên tố trong đá như K, Ca, SiO2, Mg, Na, P, S, Al, Fe, v.v., đồng thời nhả ra axit tác dụng vào đá Quá trình phân hủy các thành phần của đá do tác động của sinh vật xảy ra ở những mức độ khác nhau, bắt đầu là vi khuẩn và tảo, sau đó là vi thực vật như khuê tảo, nấm, thực vật ưa đá (rêu đá), cuối cùng là các loài thực vật cao đẳng
1 Quá trình biểu sinh các mỏ sulfur
Các mỏ sulfur hầu hết là sản phẩm của quá trình nhiệt dịch, được thành tạo trong điều kiện dưới sâu ở nhiệt độ dao động trong khoảng từ 600-500oC đến 50-100oC Khi được nâng lên, bị bóc mòn, lộ ra trên mặt đất hoặc ở gần mặt đất, nơi có điều kiện áp suất -
Trang 9nhiệt độ thấp, có mặt O2 tự do và CO2, các khoáng vật sulfur trở nên không vững bền, bị biến đổi hóa học để chuyển thành các hợp chất vững bền hơn như oxit, carbonat, sulfat, v.v So với các khoáng vật tạo đá, các khoáng vật sulfur trong đới biểu sinh bị biến đổi mạnh mẽ hơn, các nguyên tố tạo quặng được giải phóng nhiều hơn Các sulfur rất dễ bị biến đổi vì S2- trong hợp chất này dễ dàng bị oxy hóa thành S6+ ở dạng SO42- theo phản ứng: S2- + 4H2O ↔ SO42- + 8H+ + 8e
-Phản ứng oxy hóa các sulfur là loại phản ứng phát nhiệt Trong trường hợp mỏ sulfur tiếp xúc trực tiếp với oxy khí quyển, phản ứng oxy hóa xảy ra mạnh mẽ, nhiệt độ có thể lên tới 300oC, gây nguy cơ cháy nổ cao; thí dụ: tại mỏ than Nà Dương (Lạng Sơn), do pyrit có hàm lượng đáng kể trong thành phần của than bị oxy hóa nên khi khai thác lộ thiên thường xảy ra các đám cháy tự phát tại khai trường, thậm chí ngay trong quá trình vận chuyển than
Tác nhân chủ yếu chi phối quá trình biểu sinh các sulfur là O2, CO2 và H2O Do ảnh hưởng của khí quyển, thành phần các khí hòa tan trong nước mưa thông thường là (%):
N2 = 60; O2 = 30; CO2 Trong quá trình di chuyển từ mặt đất qua lớp thổ nhưỡng xuống sâu hơn, nước mưa ngày càng trở nên giàu CO2 do hòa tan lượng CO2 sinh ra từ các chất hữu cơ bị phân hủy, nên ngoài O2 và nước ra, CO2 cũng đóng một vai trò đặc biệt quan trọng trong quá trình phong hóa
Kết quả nghiên cứu cho thấy, trong điều kiện biểu sinh, các sulfur nhanh chóng bị oxy hóa thành sulfat, các kim loại được giải phóng sẽ phân tán vào môi trường nước di chuyển ra khỏi phạm vi mỏ, hay chuyển đổi thành những hợp chất thứ sinh vững bền, như sulfat, carbonat, silicat, v.v hoặc theo nước dưới đất vận chuyển xuống dưới sâu hơn
và gây phản ứng với các khoáng vật nguyên sinh để tạo nên sulfur thứ sinh Sự khuếch tán một số kim loại nặng độc hại vào môi trường đất, nước chắc chắn có nguy cơ gây nguy hiểm đối với sức khỏe con người
Khoáng vật sulfur chứa sắt rất phổ biến và có thể gặp trong nhiều loại đá khác nhau, như magma, trầm tích, biến chất, than đá, v.v Trong các mạch quặng nhiệt dịch, pyrit được thành tạo từ nhiệt độ cao đến nhiệt độ thấp Khi khoáng vật này bị phong hóa thì
Trang 10sản phẩm cuối cùng là oxit Fe, một hợp chất rất khó hòa tan và tích đọng lại trong đới oxy hóa các mỏ sulfur dưới dạng một thành tạo địa chất màu nâu gụ đặc trưng, thường gọi là “mũ sắt”, từ phản ứng: 4FeS2 + 15O2 + 14H2O → 4Fe(OH)3 + 8H2SO4
Vì Fe(OH)3 là một bazơ không tan nên chuyển dần thành limonit (Fe2O3.3H2O), là thành phần cơ bản của “mũ sắt”
Các khoáng vật sulfur chứa sắt khác, như pyrrotin, marcasit cũng bị oxy hóa tương tự pyrit Axit H2SO4 và sulfat Fe3+ được giải phóng ra trong quá trình oxy hóa các sulfur chứa sắt có thể tác dụng lên các khoáng vật sulfur khác, đồng thời đẩy nhanh quá trình phân hủy chúng
Trong nhiều trường hợp, các mạch nhiệt dịch có chứa nhiều loại khoáng vật sulfur Cu, như chalcopyrit (CuFeS2), chalcozin (Cu2S), covellin (CuS), bornit (Cu5FeS4) cubanit (Cu2Fe4S6) và các khoáng vật thành phần phức tạp khác, như galenit (PbS), grinockit (CdS), alabandit (MnS), cinnabar (HgS), realgar (AsS), v.v Các khoáng vật sulfur Cu thường cộng sinh với pyrit, vì vậy, khi pyrit bị oxy hoá, giải phóng H+, làm tăng độ axit của môi trường và làm thay đổi độ linh động của Cu2+ Ion Cu2+ có thể từ vỏ phong hoá
di chuyển vào nước dưới đất, làm thay đổi chất lượng của nước Đối với các mỏ quặng sulfur, S là một nguyên tố quyết định quá trình tạo khoáng sulfur trong điều kiện nội sinh, nhưng S cũng chính là nguyên tố thúc đẩy sự phân huỷ các khoáng vật sulfur trong điều kiện ngoại sinh Bên cạnh đó, nước vừa là tác nhân phong hoá, vừa là phương tiện vận chuyển các tác nhân khác và các hợp phần được giải phóng ra do quá trình oxy hoá các
mỏ sulfur tạo nên
Theo cơ chế chuyển hoá nêu trên của các khoáng vật sulfur, kết quả của quá trình biểu sinh các mỏ sulfur đã làm gia tăng đáng kể hàm lượng của nhiều kim loại nặng như Cu,
Pb, Zn, Fe, Cd, Ag, As, v.v trong các nguồn nước chảy qua các mỏ này và đương nhiên, chất lượng của nguồn nước chắc chắn có nguy cơ bị ô nhiễm, ảnh hưởng trực tiếp tới đời sống của giới sinh vật, trong đó có con người
2 Oxy hoá mỏ quặng urani