1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Biểu thức ngôn ngữ thề trong một số tác phẩm văn xuôi việt nam thế kỉ XX

145 38 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 145
Dung lượng 2,05 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về hành động ngôn ngữ nóichung, biểu thức ngôn ngữ nói riêng của các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước.Tuy nhiên, có những hành động ngôn

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

DƯƠNG SƠN HÀ

BIỂU THỨC NGÔN NGỮ THỀ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN XUÔI VIỆT NAM THẾ KỈ XX

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HÓA VÀ VĂN HỌC VIỆT NAM

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM

Người hướng dẫn khoa học: PGS.TS ĐÀO THỊ VÂN

THÁI NGUYÊN - 2020

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu khảosát, thống kê, nghiên cứu, kết luận trong luận văn là trung thực và chưa từng công bố

ở bất kì công trình nào khác

Tác giả

Dương Sơn Hà

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến PGS.TS Đào Thị Vân, người đã tậntình hướng dẫn, chỉ bảo và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình nghiên cứu để tôi có thểhoàn thành luận văn tốt nghiệp này

Luận văn này là kết quả của một quá trình học tập và nghiên cứu Vì vậy, tôixin chân thành cảm ơn đến những người thầy, người cô đã giảng dạy các chuyên đềcao học cho lớp Ngôn ngữ K26 (2018 - 2020) tại trường Đại học Sư phạm - Đại họcThái Nguyên

Tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình, bạn bè, người thân đã luôn ủng hộ và độngviên tôi trong suốt quá trình học tập và thực hiện luận văn

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2020

Tác giả

Dương Sơn Hà

Trang 5

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC CÁC BẢNG v

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do chọn đề tài 1

2 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu 2

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu 3

4 Phương pháp nghiên cứu 3

5 Đóng góp của luận văn 4

6 Bố cục của luận văn 4

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN 5

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu 5

1.1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu hành động ngôn ngữ 5

1.1.2 Khái quát tình hình nghiên cứu hành động ngôn ngữ lớp cam kết, nghiên cứu hành động thề và biểu thức ngôn ngữ thề trong tiếng Việt 9

1.2 Cơ sở lí luận 12

1.2.1 Lí thuyết về hành động ngôn ngữ 12

1.2.2 Lí thuyết hội thoại 28

1.2.3 Khái niệm ngôn ngữ, khái niệm văn hóa; mối quan hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa 37

1.2.4 Khái niệm biểu thức ngôn ngữ và biểu thức ngôn ngữ thề 38

1.3 Tiểu kết 39

Chương 2 BIỂU THỨC NGÔN NGỮ THỀ TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM THẾ KỈ XX NHÌN TỪ LÍ THUYẾT HÀNH ĐỘNG NGÔN NGỮ 41

2.1 Nhận xét chung về biểu thức ngôn ngữ thề trong văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX 41

2.1.1 Về số lượt sử dụng 41

2.1.2 Về đặc điểm hình thức 42

Trang 6

2.2 Phân loại và miêu tả biểu thức ngôn ngữ thề trong văn xuôi Việt Nam thế kỉ

XX về phương diện hình thức 42

2.2.1 Các kiểu biểu thức ngôn ngữ thề xét trong mối quan hệ hình thức với biểu thức ngữ vi thề 42

2.2.2 Cấu trúc của biểu thức ngữ vi thề 46

2.2.3 Biểu thức ngữ vi thề trong văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX là biểu thức ngữ vi tường minh hoặc nguyên cấp 60

2.2.4 Biểu thức ngôn ngữ thề trong văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX căn cứ vào nội dung mệnh đề (nội dung S2) 63

2.3 Tiểu kết 69

Chương 3 BIỂU THỨC NGÔN NGỮ THỀ TRONG VĂN XUÔI VIỆT NAM THẾ KỈ XX NHÌN TỪ LÍ THUYẾT HỘI THOẠI VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM .71

3.1 Biểu thức ngôn ngữ thề trong văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX nhìn từ lí thuyết hội thoại 71

3.1.1 Hoàn cảnh sử dụng của các biểu thức ngôn ngữ thề 71

3.1.2 Chủ ngôn (Sp1) của biểu thức ngôn ngữ thề (xét trong mối quan hệ vị thế với tiếp ngôn (Sp2)) 77

3.1.3 Chức năng trong cặp thoại của các biểu thức ngôn ngữ thề 81

3.2 Biểu thức ngôn ngữ thề trong văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX nhìn từ góc độ văn hóa 86

3.2.1 Ý nghĩa văn hóa của các biểu thức ngôn ngữ thề thể hiện qua những yếu tố tâm linh 87

3.2.2 Ý nghĩa văn hóa của các biểu thức ngôn ngữ thề thể hiện qua việc người nói tự nhận về mình những thiệt hại, tổn thất 91

3.3 Tiểu kết 95

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO VÀ NGỮ LIỆU THỐNG KÊ 100

Trang 7

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

BTNN : Biểu thức ngôn ngữĐTNV : Động từ ngữ vi

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 2.1: Bảng tổng kết số lượt dùng biểu thức ngôn ngữ thề trong một số tác

phẩm văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX 41

Bảng 2.2 Bảng tổng kết biểu thức ngôn ngữ thề trùng/không trùng biểu thức ngữ vi 45

Bảng 2.3 Bảng xác định các thành tố cấu tạo biểu thức ngữ vi thề trong một số ví dụ 51

Bảng 2.3 Bảng tổng kết biểu thức ngữ vi thề không đủ thành tố 51

Bảng 2.4: Bảng tổng kết các dạng biểu tức ngữ vi thề khuyết một thành tố (qua phân tích một số ví dụ tiêu biểu) 55

Bảng 2.5 Bảng tổng kết các biểu thức ngữ vi thề khuyết 1 thành tố 56

Bảng 2.6 Bảng tổng kết các kiểu biểu tức ngữ vi thề khuyết từ hai thành tố (qua phân tích một số ví dụ tiêu biểu) 59

Bảng 2.7 Bảng tổng kết các dạng biểu thức ngữ vi thề khuyết hai hoặc ba thành tố 60

Bảng 2.8 Bảng tổng kết biểu thức ngữ vi thề tường minh và biểu thức ngữ vi thề nguyên cấp (Số lượng và tỉ lệ % tính theo số biểu thức ngôn ngữ thề đã thống kê) 63

Bảng 2.8 Bảng tổng kết các kiểu biểu thức ngôn ngữ thề xét theo đích ở lời 64

Bảng 2.9 Bảng tổng kết biểu thức ngôn ngữ thề có đích ở lời ước kết 67

Bảng 2.10 Bảng tổng kết biểu thức ngôn ngữ thề có đích ở lời xác tín 68

Bảng 2.11 Bảng tổng kết biểu thức ngôn ngữ thề có đích ở lời biểu cảm 69

Bảng 2.12 Bảng tổng kết biểu thức ngôn ngữ thề xét theo đích ở lời 69

Bảng 3.1 Bảng tổng kết các BTNN thề được phân loại theo hoàn cảnh sử dụng

77 Bảng 3.2 Bảng tổng kết các kiểu biểu thức ngôn ngữ thề được phân loại theo vị thế của chủ ngôn trong mối quan hệ với tiếp ngôn 80

Bảng 3.3 Bảng tổng kết các kiểu biểu thức ngôn ngữ thề xét theo chức năng trong cặp thoại 86

Trang 9

câu tường thuật (câu kể), câu hỏi (câu nghi vấn), câu cầu khiến và câu cảm thán.

Dưới ánh sáng của ngữ dụng học, nói năng cũng là một hành động, một hànhđộng đặc biệt mà phương tiện là ngôn ngữ Một phát ngôn (câu đã được hành chức)được người nói/ viết nói (viết) ra bao giờ cũng diễn đạt một hay vài hành động nào

đó, chẳng hạn như: kể, hỏi, yêu cầu, khen, chê, cam đoan, bộc lộ thái độ, v.v Biểu thức ngôn ngữ thề cũng nằm trong số những biểu thức ngôn ngữ diễn đạt hành động

nói thường được người nói / viết thực hiện trong giao tiếp

Đến nay đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về hành động ngôn ngữ nóichung, biểu thức ngôn ngữ nói riêng của các nhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước.Tuy nhiên, có những hành động ngôn ngữ thu hút được sự quan tâm của giới nghiên

cứu ngôn ngữ học, thể hiện qua rất nhiều công trình đã công bố, như hành động hỏi, hành động cầu khiến, hành động biểu cảm, song cũng có những hành động ngôn ngữ

hình như ít được quan tâm hơn bởi số lượng bài viết về chúng rất ít, như hành động

xin lỗi, thề

Theo điều tra bước đầu của chúng tôi, công trình nghiên cứu về hành động

ngôn ngữ thề, đặc biệt là biểu thức ngôn ngữ thề trong các ngôn ngữ nói chung, trong

tiếng Việt nói riêng chưa có nhiều Đến nay, ngoài một số bài viết lẻ tẻ in trên Tạp

chí, chúng tôi mới tìm thấy 2 công trình nghiên cứu khá công phu về hành động thề

trong tiếng Việt: một công trình là Luận án Tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Thu Nga

(2013) với nhan đề “Hành vi ngôn ngữ thề (Swear) trong tiếng Việt” và một công

trình là Luận văn Thạc sĩ của tác giả Nguyễn Thị Mai Hương (2013) với nhan đề

“Hành động thề nguyền trong ca dao Việt Nam” Có thể nói, đến nay chưa có công

trình nào nghiên cứu hành động thề cũng như biểu thức ngôn ngữ thề trong văn xuôi

Việt Nam thế kỉ XX một cách bài bản

Văn xuôi Việt Nam là một thể loại quan trọng trong kho tàng văn học nướcnhà Một trong những đặc điểm cơ bản của văn xuôi nói chung, truyện ngắn nói riêng

Trang 10

là tính hội thoại Lời thoại của nhân vật thể hiện nhiều hành động ngôn ngữ khác

nhau, trong đó có hành động thề.

Trang 11

Chọn đề tài “Biểu thức ngôn ngữ thề trong một số tác phẩm văn xuôi Việt

Nam thế kỉ XX” để nghiên cứu, thiết nghĩ đây là một việc làm cần thiết Nghiên cứu

vấn đề này, người viết hi vọng sẽ giúp người đọc hiểu thêm về hành động ngôn ngữ,

trong đó có hành động thề cả về mặt lí luận lẫn thực tiễn sử dụng Ngoài ra, kết quả

nghiên cứu của luận văn sẽ giúp người đọc thấy được biểu thức ngôn ngữ thề không

chỉ được dùng đúng đích ở lời thề (biểu thức thề dùng để thực hiện hành động thề) mà còn được dùng để thực hiện nhiều hành động khác như khẳng định, bác bỏ, biểu cảm,

v.v Đặc biệt, biểu thức ngôn ngữ thề không chỉ được sử dụng trong giao tiếp đờithường mà còn được sử dụng cả trong văn chương, trong đó có văn xuôi Việt Nam thế

kỉ XX

2 Mục đích nghiên cứu, nhiệm vụ nghiên cứu

2.1 Mục đích nghiên cứu

Như đã nói ở mục Lí do chọn đề tài, nghiên cứu biểu thức ngôn ngữ thề trong

văn xuôi thế kỉ XX, người viết nhằm ba mục đích:

Thứ nhất, góp phần củng cố lí thuyết về hành động ngôn ngữ, trong đó có hành

động thề;

Thứ hai, giúp người đọc thấy được biểu thức ngôn ngữ thề được sử dụng trong

văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX như thế nào;

Thứ ba, làm tài liệu tham khảo cho những ai muốn nghiên cứu hành động ngôn ngữ trong đó có hành động thề trong giao tiếp nói chung, trong văn xuôi nói riêng.

2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt mục đích nói trên, luận văn đặt ra một số nhiệm vụ cụ thể sau đây:

- Tổng quan sơ lược tình hình nghiên cứu về hành động ngôn ngữ, đặc biệt chú

trọng tìm hiểu tình hình nghiên cứu về biểu thức ngôn ngữ thề và hành động thề trong

giao tiếp và trong văn chương

- Nghiên cứu và lựa chọn những vấn đề lí thuyết liên quan làm căn cứ lí luận

Trang 12

- Lựa chọn một số tác phẩm văn xuôi tiêu biểu làm ngữ liệu khảo sát; thống kê

biểu thức ngôn ngữ thề được sử dụng trong các tác phẩm văn xuôi đã chọn làm ngữ

3 Đối tượng nghiên cứu, phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là biểu thức ngôn ngữ thề trong một số tác phẩm văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX.

b) Phạm vi nội dung nghiên cứu

Nghiên cứu biểu thức ngôn ngữ thề trong văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX, luận

văn này tập trung nghiên cứu 2 vấn đề lớn:

- Thứ nhất, biểu thức ngôn ngữ thề trong văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX nhìn từ

lí thuyết hành động ngôn ngữ;

- Thứ hai, biểu thức ngôn ngữ thề trong văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX nhìn từ lí

thuyết hội thoại và văn hóa Việt Nam

4 Phương pháp nghiên cứu

Thực hiện đề tài này, luận văn đã sử dụng một số phương pháp và thủ phápnghiên cứu chủ yếu sau đây:

- Phương pháp thống kê, phân loại: Các phương pháp nghiên cứu này được dùng để thống kê và phân loại biểu thức ngôn ngữ thề được dùng trong các tác phẩm

được chọn làm nguồn ngữ liệu

Trang 13

- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Cặp phương pháp nghiên cứu này được dùng để phân tích biểu thức ngôn ngữ thề về các phương diện cần nghiên cứu đã

nói ở trên Theo đó, tổng hợp những kết quả nghiên cứu được và đưa ra những kếtluận cụ thể về biểu thức ngôn ngữ này đã sử dụng trong văn xuôi Việt Nam thế kỉ

Như đã nói ở mục Lịch sử vấn đề, có thể nói lần đầu tiên biểu thức ngôn ngữ

thề trong tiếng Việt nói chung, trong văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX được nghiên cứutheo hướng dựa vào lí thuyết hành động ngôn ngữ và lí thuyết hội thoại Bởi vậy,luận văn giúp người đọc có một cái nhìn mới về một hành động ngôn ngữ (hànhđộng thề) mà từ trước đến nay hầu hết các nhà nghiên cứu đi trước đã xếp vào nhómhành động cam kết Luận văn chỉ rõ, biểu thức ngôn ngữ thề không chỉ là phương

tiện diễn đạt một hành động ngôn ngữ nhóm cam kết - hành động thề mà còn được dùng để diễn đạt những hành động ngôn ngữ nhóm xác tín (nhóm trình bày) hay nhóm bộc lộ (biểu cảm),

5.2 Về mặt thực tiễn

Luận văn có giá trị thực tiễn đối với việc nghiên cứu, học tập và sử dụng biểuthức ngôn ngữ thề trong giao tiếp đời thường và trong văn chương Kết quả nghiêncứu của luận văn có thể là một gợi ý cho việc biên soạn giáo trình dạy tiếng Việt chongười nước ngoài theo hướng dạy hành động ngôn ngữ

6 Bố cục của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Thư mục tài liệu tham khảo và nguồn ngữ liệu thống kê, luận văn gồm ba chương:

Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lí luận

Chương 2: Biểu thức ngôn ngữ thề trong văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX nhìn từ

phương diện lí thuyết hành động ngôn ngữ

Chương 3: Biểu thức ngôn ngữ thề trong văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX nhìn từ

lí thuyết hội thoại và văn hóa Việt Nam

Trang 14

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÍ LUẬN

1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu

1.1.1 Khái quát tình hình nghiên cứu hành động ngôn ngữ

Trong lịch sử ngữ dụng học, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu về hànhđộng ngôn ngữ của các tác giả trong và ngoài nước

1.1.1.1 Tình hình nghiên cứu hành động ngôn ngữ của các tác giả nước ngoài

Về nghiên cứu hành động ngôn ngữ (có tác giả gọi là hành vi ngôn ngữ hay hành động ngôn từ) của các tác giả nước ngoài, đầu tiên phải kể đến công trình nghiên

cứu của hai nhà ngôn ngữ học là J L Austin và J Searle

J L Austin là người có công đầu trong việc xây dựng lí thuyết hành độngngôn ngữ Lí thuyết này được thể hiện trong 12 chuyên đề giảng dạy ở trường Đại họcHavard mà học trò của ông đã tập hợp lại in thành sách với nha đề “How to dothings with

words” (Hành động như thế nào bằng lời nói)

J L Austin đã chỉ ra rằng, khi thực hiện một phát ngôn nào đó người ta đãthực hiện đồng thời ba hành vi: hành vi tạo lời, hành vi mượn lời và hành vi ở lời(hành vi tại lời) Ông tập trung nghiên cứu các hành vi tại lời và phân chúng thành 5lớp lớn, đó là:

5 lớp cơ bản, là:

- Lớp hành vi tái hiện;

- Lớp hành vi điều khiển;

- Lớp hành vi cam kết;

Trang 15

- Lớp hành vi biểu cảm;

- Lớp hành vi tuyên bố.

Trang 16

Ngoài 2 tác giả nói trên, một số nhà ngôn ngữ học người nước ngoài có tên tuổikhác như D.Wunderlich, F.Recanati, K Bach, R.M Hanish, A.Wierzbicka, đã tiếptục tìm hiểu hành động ngôn ngữ và đưa ra quan điểm của mình Mặc dù các côngtrình nghiên cứu của các tác giả này có cụ thể hơn, có những điểm mới hơn trongcách nhìn so với công trình của Austin và Searle về các tiêu chí phân loại, song có thểnói chúng đều có sự kế thừa những tiền đề lí thuyết mà hai công trình của hai ông nóitrên đã đặt ra Chẳng hạn, A.Wierzbicka với công trình nghiên cứu mang tên “Englishspeech act verbs - asemantic dictionary” đã phân loại hành động ngôn từ dựa trên cơ

sở 270 động từ nói năng (speech act verbs) Theo đó, bà đã qui hành động ngôn từ

thành 37 nhóm, tiêu biểu là: ra lệnh (oder), cầu xin (ask1), hỏi (ask2), mời gọi (call), cấm (forbid), cho phép (permit), trách mắng (reprimand), tranh cãi (argue),

Cái mới của A.Wierzbicka là trong quá trình miêu tả hành động ngôn từ, bà đãchỉ ra việc phân loại cần phải dựa và những tiêu chí của điều kiện thuận ngôn như:cương vị của người nói và người nghe; người nói dùng chiến lược nào (lí trí hay tìnhcảm) để hành động; người nghe có quyền từ chối việc thực hiện hành động được nêutrong nội dung mệnh đề hay không; khi công việc hoàn tất, người hưởng lợi là ngườinói hay người nghe

Tuy nhiên, cách phân loại hành động ngôn từ của tác giả này còn một hạn chế

cơ bản là nếu chỉ dựa vào động từ nói năng để phân loại hành động ngôn từ thì cónhiều trường hợp không xác định và không giải thích được, đó là có những hành động

ngôn ngữ không bao giờ cần đến động từ nói năng, như hành động chửi, hành động khen hay hành động dọa, v.v Những hành động ngôn ngữ này không bao giờ được

tường minh bằng động từ ngôn hành (động từ ngữ vi) tương ứng Điều đó cũng cónghĩa là nếu theo quan điểm của Wierzbicka thì những hành động ngôn ngữ này sẽkhông được thừa nhận

1.1.1.2 Tình hình nghiên cứu hành động ngôn ngữ của các tác giả trong nước

Ở Việt Nam, trong vài thập kỉ cuối của thế kỉ XX, vấn đề hành động ngôn ngữ

đã thu hút được khá nhiều sự quan tâm của các nhà ngôn ngữ học Nói đến những tácgiả trong nước đã dành nhiều tâm huyết cho việc tìm hiểu hành động ngôn từ khôngthể không nhắc đến một số tác giả tiêu biểu, như: Đỗ Hữu Châu với công trình mang

tên Đại cương

Trang 17

ngôn ngữ học (tập 2), Nxb GD, 2001, Nguyễn Đức Dân với công trình Ngữ dụng học

liên quan như các khái niệm: biểu thức ngữ vi, phát ngôn ngữ vi, động từ ngữ vi, phát ngôn ngữ vi tường minh và phát ngôn ngữ vi nguyên cấp, hành vi ngôn ngữ trực tiếp, hành vi ngôn ngữ gián tiếp, v.v

Tương tự, trong công trình của mình, tác giả Nguyễn Đức Dân ngoài việc giớithiệu những khái niệm cơ bản về ngữ dụng học và những quan điểm của J L Austin

và J.Searle, tác giả này còn phân biệt động từ ngữ vi và động từ trần thuật, sự khácbiệt giữa câu ngữ vi và câu trần thuật

Tác giả Nguyễn Thiện Giáp cũng như hai tác giả dẫn trên, đã khái quát đượcmột số khái niệm cơ bản về ngữ dụng học trong công trình của mình Điểm khác biệt

là ông đã chú trọng vận dụng những lí luận đó vào việc phân tích, miêu tả một số hiệntượng của tiếng Việt dưới ánh sáng của lí thuyết dụng học Vì vậy, công trình của tácgiả có phần dễ hiểu và có tính ứng dụng cao

Ngoài những công trình nghiên cứu hành động ngôn ngữ khái quát của các nhàViệt ngữ học dẫn trên, còn một số công trình đã đi sâu nghiên cứu một hoặc một sốhành động ngôn ngữ nào đó Chúng tôi xin được liệt kê một số công trình tiêu biểu (vìkhuôn khổ của luận văn không cho phép, xin phép không liệt kê bài liên quan in trênTạp chí vì có quá nhiều và cũng xin không nhận xét nội dung của các công trình sẽdẫn dưới đây Luận văn cũng chỉ nhắc đến khi cần thiết):

1 Nguyễn Đức Hoạt (1995), Dấu chỉ phép lịch sự trong câu cầu khiến tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ, Melbourne, Australia;

2 Đào Thanh Lan (2010), Ngữ pháp và ngữ nghĩa của lời cầu khiến tiếng Việt,

Trang 18

3 Nguyễn Thị Lương (1996), Tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi với việc biểu thị các hành động ngôn từ trong tiếng Việt, Luận án TS ngôn ngữ học, Nxb

(trên tư liệu tiếng Nga và tiếng Việt), Luận án TS Ngữ văn, ĐHSP Vinh

9 Siriwong Hongsawan (2009), Nghiên cứu hành động bác bỏ trong tiếng Thái và tiếng Việt, Luận án TS Ngữ văn, Nxb ĐHQG HN.

Ngoài những sách chuyên khảo và luận án tiến sĩ của các tác giả vừa dẫn, cònmột số luận văn thạc sĩ cũng đã nghiên cứu hành động ngôn ngữ, như:

1 Lê Thị Thu Hoa (1996), Cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm động từ nói năng nhóm

khen, tặng, chê, Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội

2 Đinh Thị Hà (1996), Cấu trúc ngữ nghĩa của động từ nói năng nhóm bàn, tranh luận, cãi, Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội

3 Nguyễn Thị Thái Hòa (1997), Cấu trúc ngữ nghĩa của động từ nói năng nhóm

khuyên, ra lệnh, nhờ, Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội

4 Nguyễn Thị Ngân (1996), Cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm động từ nói năng nhóm thông tin, Luận văn Thạc sĩ, ĐHSP Hà Nội

Các công trình nghiên cứu dẫn trên tuy chưa phải là tất cả nhưng cũng đủgiúp ta một lần nữa khẳng định rằng, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu của cácnhà ngôn ngữ học trong và ngoài nước nghiên cứu về ngữ dụng học nói chung,nghiên cứu về hành động ngôn ngữ nói riêng Mỗi công trình đều có những đónggóp nhất định về mặt lí luận và thực tiễn nghiên cứu hành động ngôn ngữ Đối với

Trang 19

chúng tôi, những công trình nghiên cứu này là nguồn tài liệu tham khảo phong phú

và thực sự hữu ích để chúng tôi lựa chọn làm căn cứ lí luận cho đề tài

Trang 20

1.1.2 Khái quát tình hình nghiên cứu hành động ngôn ngữ lớp cam kết, nghiên cứu

hành động thề và biểu thức ngôn ngữ thề trong tiếng Việt

1.1.2.1 Tình hình nghiên cứu hành động ngôn ngữ lớp cam kết

Theo tìm hiểu bước đầu của chúng tôi, đến nay đã có một số công trình trực

tiếp hay gián tiếp bàn về các hành động ngôn ngữ thuộc lớp cam kết nói chung, xin

dẫn một số công trình làm minh chứng (liệt kê theo năm công bố):

(1) Vũ Thị Tố Nga (2006), Hành vi cam kết và các động từ biểu thị hành vi

văn xuôi Việt nam giai đoạn 1930 - 1945, Luận văn Thạc sĩ, ĐHTN

Cũng như phần lớn các công trình đã dẫn ở mục 1.1.1, các công trình vừa dẫn

chủ yếu tập trung nghiên cứu các hành động lớp cam kết về tiêu chí phân loại, hình

thức thể hiện, các dấu hiệu ngôn hành hay hiệu lực ở lời, vai trò, tác dụng, v.v tronggiao tiếp nói chung và trong văn xuôi nói riêng

1.1.2.2 Tình hình nghiên cứu hành động thề (hành vi ngôn ngữ thề) và biểu thức ngôn ngữ thề trong tiếng Việt

a) Tình hình nghiên cứu hành động thề

Như đã nói, ngoài một số bài in trên Tạp chí, chúng tôi mới tìm được hai công

trình nói về hành động thề thể hiện sự công phu nghiên cứu của tác giả, đó là Luận án

Tiến sĩ của Nguyễn Thị Thu Nga và luận Văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Thu Hương

(1) Luận án Tiến sĩ với tên “Hành vi ngôn ngữ thề (swear) trong tiếng Việt”,bảo vệ năm 2013 tại Viện Hàn Lâm KHXH Việt Nam - Học viện KHXH của tác giảNguyễn Thị Thu Nga

Cũng như các tác giả: Đỗ Hữu Châu (2001), Nguyễn Đức Dân (1998), Nguyễn

Trang 21

Thiện Giáp (2000), trong công trình nghiên cứu này, Nguyễn Thị Thu Nga đã khẳng

Trang 22

định, hành vi ngôn ngữ (hành động ngôn ngữ) là một vấn đề cơ bản và trọng tâm của

Ngữ dụng học Thề là một hành động ngôn ngữ được người Việt sử dụng khá phổ biến

trong giao tiếp và mang đậm nét văn hóa của người Việt Luận án không chỉ có nhữngđóng góp về mặt lí luận như đã nói mà còn có những đóng góp về mặt thực tiễn Kếtquả nghiên cứu của luận án cho phép đưa ra những chỉ dẫn cho việc sử dụng hành

động thề trong giao tiếp một cách hiệu quả Luận án cũng gợi ý một số giải pháp cho

việc biên soạn giáo trình dạy tiếng Việt cho người nước ngoài theo hướng dạy hành

động ngôn ngữ Việc nghiên cứu hành động thề gắn với các yếu tố văn hóa xã hội có

thể được mở rộng để nghiên cứu các hành động ngôn ngữ khác

(2) Luận văn thạc sĩ với tên “Hành động thề nguyền trong ca dao Việt Nam”

của tác giả Nguyễn Thị Mai Hương, bảo vệ năm 2013 tại ĐHSP HN cũng tập trung

nghiên cứu về cấu tạo hình thức, hiệu lực ở lời của hành động thề trong ca dao Việt

Nam Mặc dù chưa có những cái mới rõ nét song luận văn bước đầu đã gợi ý chongười đọc một hướng nghiên cứu hành động ngôn ngữ: nghiên cứu hành động ngôn

ngữ nói chung, hành động thề nói riêng trong văn chương.

Có thể nói, trên phương diện nghiên cứu có tính hệ thống về mặt lí thuyết, cảhai công trình nghiên cứu vừa dẫn đã tập trung vào các vấn đề lớn, như: khái niệmhành động ngôn ngữ, phân loại hành động ngôn ngữ, điều kiện sử dụng hành độngngôn ngữ, biểu thức ngữ vi và động từ ngữ vi

Kết quả nghiên cứu của các công trình nghiên cứu vừa dẫn đã góp phần minhchứng cho lí thuyết của Ngữ dụng học về hành động ngôn ngữ, lí thuyết về mối quan

hệ giữa ngôn ngữ và văn hóa; làm rõ bản chất của hành động thề từ góc độ cấu trúc,

chức năng và sử dụng Đặc biệt, luận án của tác giả Nguyễn Thị Thu Nga đã lí giải

cách sử dụng hành động thề của người Việt dưới góc nhìn văn hóa và xã hội như đã

nói

Ngoài hai công trình nghiên cứu khá kĩ về hành động thề vừa dẫn, tác giả Nhật Minh cũng có bài viết với nhan đề “Cảm nhận về đoạn thơ thề nguyền của Nguyễn Du” đăng trên báo điện tử (không nói rõ ngày tháng) Trong bài viết này, tác giả cũng

khẳng định “Thề nguyền là hành động hứa hẹn về tình cảm đôi lứa, nó có ý nghĩa vôcùng thiêng liêng bởi nó thể hiện được tình yêu, những cảm xúc tột độ của tình yêu”

Trang 23

Như vậy, qua cách nói vừa dẫn có thể thấy hành động thề nguyền đã được tác giảđánh giá

Trang 24

là một hành động ngôn ngữ có hiệu lực cao trong việc thể hiện cảm xúc của người nói(ở bài viết này là nhân vật trong Truyện Kiều) Trong những ngữ cảnh nhất định,hành động thề nguyền đã phá vỡ được mọi định kiến của xã hội để chạm tới tìnhyêu, một thứ tình yêu vượt trên những định kiến xã hội.

Tóm lại, hành động thề nói chung, hành động thề trong văn chương nói riêng đến nay chưa được nghiên cứu nhiều Việc nghiên cứu bản chất của hành động thề, cấu trúc và phương tiện thể hiện, các tác nhân quyết định hiệu quả của hành động thề, nét đặc trưng văn hóa của người Việt biểu lộ qua hành động thề và những nét riêng của việc sử dụng hành động thề trong giao tiếp và trong văn chương là một việc làm

cần thiết

Ngoài việc tiếp thu những quan điểm về hành động thề của các tác giả đã dẫn,

luận văn này sẽ làm rõ thêm đặc điểm cấu trúc, ngữ nghĩa, ngữ dụng của hành độngngôn ngữ này trong văn xuôi Việt nam thế kỉ XX với mục đích như đã nói ở mục 2.1(phần Mở đầu)

b) Tình hình nghiên cứu biểu thức ngôn ngữ thề

- Tình hình nghiên cứu biểu thức ngôn ngữ (biểu thức ngữ vi): Để tiện cho việctrình bày, từ đây chúng tôi tạm đồng nhất hai khái niệm biểu thức ngôn ngữ và biểuthức ngữ vi Về khái niệm biểu thức ngữ vi, chúng tôi sẽ trình bày kĩ ở mục 1.2.1.5.b

Cần phải nói ngay rằng, không có một biểu thức ngữ vi trừu tượng Bất cứ mộtbiểu thức ngữ vi nào cũng phải gắn với một hành động ngôn ngữ cụ thể, như biểu

thức ngữ vi hỏi, biểu thức ngữ vi hứa, biểu thức ngữ vi đề nghị, yêu cầu hay biểu thức ngữ vi khuyên, v.v Đến nay chúng tôi mới tìm được một công trình dành riêng cho việc nghiên cứu biểu thức ngôn ngữ, đó là luận án tiến sĩ mang tên “Biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Việt” của tác giả Trần Thị Oanh, bảo vệ năm 2015 tại Trường

Đại học Sư phạm Hà Nội

Ngoài việc khái quát những vấn đề lí thuyết liên quan, luận án đã tập trungnghiên cứu hai vấn đề lớn, là: (i) Mục đích và các hành động ngôn ngữ cụ thể củanhững phát ngôn chứa biểu thức ngôn ngữ so sánh trong tiếng Việt, và (ii) Đặc trưngvăn hóa của người Việt được thể hiện và lưu giữ trong các biểu thức ngôn ngữ sosánh

Trang 25

Có thể nói, luận văn này đã có những đóng góp nhất định cả mặt lí luận lẫnthực tiễn.

Trang 26

Về mặt lí luận, như chính tác giả đã khẳng định: “ lần đầu tiên biểu thứcngôn ngữ so sánh trong tiếng Việt được nghiên cứu theo hướng tìm đến các hành độngngôn ngữ cụ thể Luận án đã xác lập được một hệ thống các khuôn hình chứa cácyếu tố nội dung mỗi lúc một khác ” [39; tr.8].

Về mặt thực tiễn, luận án có giá trị thực tiễn đối với việc nghiên cứu, học tập và

sử dụng biểu thức ngôn ngữ so sánh trong giao tiếp đời thường và trong thơ ca Tuynhiên, luận án của tác giả Trần Thị Oanh mới chỉ dừng lại ở việc nghiên cứu biểu thứcngôn ngữ so sánh trong tiếng Việt nói chung chứ chưa tìm hiểu các biểu thức ngônngữ này được sử dụng như thế nào trong văn chương nói chung, trong văn xuôi nóiriêng

- Tình hình nghiên cứu biểu thức ngữ vi thề: Theo điều tra của chúng tôi,

ngoài hai công trình nghiên cứu khá kĩ lưỡng về hành động thề đã nói ở mục 1.1.2.2.a, đến nay chưa thấy có một công trình nghiên cứu nào dành riêng cho việc tìm hiểu biểu thức ngôn ngữ thề nói chung, biểu thức ngôn ngữ thề trong văn xuôi

Việt Nam nói riêng Bởi lẽ đó, một lần nữa có thể khẳng định, nghiên cứu biểu thức

ngôn ngữ (ngữ vi) thề trong Văn xuôi Việt Nam thế kỉ XX là một việc cần thiết.

1.2 Cơ sở lí luận

1.2.1 Lí thuyết về hành động ngôn ngữ

1.2.1.1 Khái niệm hành động ngôn ngữ

Nói năng cũng là một hành động Đó là một loại hành động đặc biệt mà phươngtiện là ngôn ngữ

Theo Từ điển thuật ngữ ngôn ngữ học, hành động ngôn ngữ (tài liệu này gọi là

hành vi ngôn ngữ) là “Một đoạn lời có mục đích nhất định thực hiện trong những

những điều kiện nhất định, được tách biệt bằng các phương tiện trên ngữ liệu và hoànchỉnh thống nhất về mặt cấu âm - âm học mà người nói người nghe đều có liên hệ vớimột ý nghĩa như nhau, trong hoàn cảnh giao tiếp nào đó Hành vi ngôn ngữ được thựchiện khi một người nói (người viết) nói (viết) ra một phát ngôn cho người nghe (ngườiđọc) trong một ngữ cảnh nhất định [56, tr.176]

Theo Đỗ Hữu Châu, “Hành động ngôn ngữ là hành động thực hiện khi tạo ramột phát ngôn (diễn ngôn) trong một cuộc giao tiếp” [4; tr.88]

Trang 27

Tác giả Đỗ Hữu Châu còn nhấn mạnh thêm: “Một hành động ngôn ngữ đượcthực hiện khi một người nói/ viết nói (viết) ra một phát ngôn U cho người nghe/ đọctrong ngữ cảnh C.” [4; tr.88].

Cũng như các hành động vật lí khác, hành động ngôn ngữ cũng đòi hỏi phải có

điều kiện, thao tác, cách thức thao tác và đặc biệt là có đích.

Chẳng hạn, muốn có một hành động ngôn ngữ, tối thiểu người nói phải có một

bộ máy phát âm bình thường, phải có nhu cầu muốn nói, phải có vốn ngôn ngữ haynói ra nhằm mục đích gì đó

1.2.1.2 Các loại hành động ngôn ngữ

J L Austin (dẫn theo 2; tr.88) cho rằng, có ba loại hành động ngôn ngữ lớn, đó

là: hành động tạo lời, hành động mượn lời và hành động ở lời.

Hành động tạo lời (hành động tạo ngôn) là hành động sử dụng các yếu tố ngôn

ngữ như ngữ âm, từ, các kiểu kết hợp từ thành câu để tạo nên một phát ngôn về hìnhthức và nội dung

Đỗ Hữu Châu cho rằng đây chính là hành động vận động các cơ quan phát âm(khi nói) hoặc cử động tay (khi viết) trên cơ sở vận dụng các từ và kết hợp các từ theonhững quan hệ cú pháp thích hợp để tạo thành phát ngôn, rồi tổ chức các phát ngônthành diễn ngôn

Hành động mượn lời (hành động dụng ngôn)là hành động mượn các phương

tiện ngôn ngữ để gây ra một hiệu quả ngoài ngôn ngữ nào đó ở người nghe, ngườinhận hay ở chính người nói [4; tr.88]

Ví dụ, khi nghe giáo viên thông báo “chiều nay chúng ta học bù cho ngày thứ

ba tuần trước đã nghỉ học”, học sinh có người cảm thấy buồn vì kế hoạch đi chơi bịhủy, có người dửng dưng vì đi học cũng không ảnh hưởng gì tới thời gian biểu đãlàm,

cũng có người cảm thấy vui vì đi học sẽ được biết thêm kiến thức, v.v Những cảm

xúc như buồn, dửng dưng hay vui là những kết quả của hành động mượn lời.

Hiệu quả của hành động mượn lời là hiệu quả ngoài ngôn ngữ, rất phân tán,khó nắm bắt bởi chúng không có tính qui ước; nó phụ thuộc người nghe và ngữ cảnhnên nghiên cứu hành động mượn lời là một công việc rất khó khăn, khó tìm ra cơ chế

Trang 28

Hành động ở lời (hành động ngôn trung) là hành động mà người nói thực hiện

ngay khi nói năng Hiệu quả của chúng là những hiệu quả thuộc ngôn ngữ Nói khác

đi, hành động ở lời là hành động gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng ở người

nghe, người đọc (tức người nhận) Ví dụ, hành động hỏi của người nói sẽ tạo ra hành động ngôn ngữ tương ứng ở người nghe là trả lời; hành động đề nghị (ai làm một cái

gì đó) sẽ gây ra một phản ứng ngôn ngữ tương ứng ở người nghe (người được yêu

cầu) là trả lời đồng ý hay không đồng ý làm một việc gì đó theo yêu cầu của người

nói

Hành động ở lời là đối tượng nghiên cứu của Ngữ dụng học Theo O Ducrot(dẫn theo 4, tr 90), khác với các hành động tạo lời hay mượn lời, hành động ở lời làmthay đổi tư cách pháp nhân của người đối thoại Chúng đặt cả người nói lẫn ngườinghe vào những nghĩa vụ và quyền lợi mới so với trước khi thực hiện hành động ở lời

đó Chẳng hạn, hành động hứa có đích ở lời là tự ràng buộc mình vào hành động sẽ

được thực hiện trong tương lai; còn về phía người nghe, họ cũng có quyền lợi chờ

được hưởng kết quả của lời hứa đó.

Hành động ở lời có ý định, qui ước và thể chế Tuy những qui ước và thể chếcủa chúng không hiển ngôn nhưng vẫn được mọi người trong cộng đồng hiểu và tuânthủ một cách không tự giác

1.2.1.3 Phân loại hành động ở lời

Có thể nói, chưa ai có thể thống kê được một cách chính xác có bao nhiêu hànhđộng ở lời Việc phân loại hành động ở lời là công việc khá phức tạp và đến nay vẫnchưa có sự thống nhất giữa các nhà nghiên cứu Có nhiều tiêu chí để phân loại hànhđộng ở lời thành các nhóm (xem cách phân loại của các tác giả: Wierzbicka, Austin,Searle, D.Wunderlich, F.Recanati, K Bach được Đỗ Hữu Châu [4] trình bày từ trang

122 đến trang 138) Chúng tôi sử dụng cách phân loại của J R Searle để làm căn cứ líluận cho đề tài Dưới đây là tinh thần cơ bản về phân loại hành động ở lời mà tác giảnày đã đưa ra

a) Các tiêu chí phân loại hành động ở lời của J.R Searle

Như đã nói ở mục 1.1.1, Searle [dẫn theo 4] đã đưa ra 12 số đo có giá trị xác

định hành động ở lời (Searle gọi là hành động ngôn trung, theo đó là cách gọi một số

khái niệm liên quan đến khái niệm này), đó là:

Trang 29

(1) Đích ngôn trung (point of illocution);

(2) Hướng khớp ghép giữa lời và hiện thực (direction of fit between the wordsuttered and the world they relate to);

(3) Trạng thái tâm lí được biểu hiện (expressed psychological states);

(4) Sức mạnh (hay là lực) mà đích ngôn trung thể hiện (the strengh with whichthe illocutionary point is presented);

(5) Tính quan yếu về cương vị trong quan hệ giữa người nói và người nghe(relevance of the relative status of S and H);

(6) Hướng của hành động ngôn trung (orientation - hướng của hành động tại lời); (7) Chức năng liên kết diễn ngôn (discourse - related functions);

(8) Những khác biệt trong nội dung mệnh đề (propositional content);

(9) Sự khác biệt giữa những hành động luôn luôn phải là hành động phát ngônvới những hành động có thể được thực hiện bằng lời hoặc không bằng lời;

(10) Thể chế xã hội hoặc hành động nói (social institutions);

(11) Sự khác biệt giữa các hành động mà trong đó một số động từ nói năngtương ứng được dùng theo lối ngôn hành, với các hành động trong đó không có cáchdùng động từ theo lối ngôn hành;

(12) Phong cách thực hiện hành động nói

Trong 12 tiêu chí trên, Searle đã chọn ba tiêu làm cơ sở chính cho sự phân loại

hành động ở lời, đó là: đích ngôn trung, hướng khớp ghép giữa lời và hiện thực, trạng thái tâm lí được biểu hiện.

Chi tiết hơn về 12 tiêu chí phân loại hành động ở lời mà Searle đã đưa ra, xinxem [4]

Dựa theo 12 tiêu chí, đặc biệt là ba tiêu chí đầu, J.R Searle đã xếp các hànhđộng ở lời vào 5 nhóm (lớp) dưới đây:

(i) Nhóm hành động biểu hiện (xác tín, repressentatives);

(ii) Nhóm hành động điều khiển (directives);

(iii) Nhóm hành động ước kết (commissiver);

(iv) Nhóm hành động bộc lộ (expressives);

(v) Nhóm hành động tuyên bố (declartions).

Trang 30

Các hành động ở lời thuộc 5 nhóm này đều có chung những đặc điểm trên cơ

sở 12 tiêu chí phân loại Tuy nhiên, cũng cần chỉ ra rằng, sự phân loại này khônghoàn toàn tuyệt đối bởi có những hành động ở lời vừa mang những đặc điểm củanhóm này nhưng lại vừa mang những đặc điểm của nhóm khác; tức chúng có thểđồng thời được xếp vào 2 hay ba nhóm, tùy đặc điểm nào là đặc điểm nổi trội Chẳnghạn, căn cứ vào

đích ở lời có thể xếp biểu thức ngôn ngữ thề vào nhóm biểu hiện (xác tín) và cũng có khi xếp vào nhóm cam kết hay nhóm tuyên bố bởi tùy thuộc vào đích ở lời của

chúng Nếu đích ở lời là nhằm xác tín, khẳng định một điều gì đó hay nội dung

mệnh đề là một sự việc đã xảy ra thì biểu thức ngôn ngữ thề có thể để vào nhóm hành động biểu hiện như ví dụ dưới đây:

Ví dụ (1):

- A: Tớ không tin cậu dám nói với Minh chuyện tớ kể cho cậu hôm qua

- B: Sao cậu không tin tớ? Tớ thề với cậu là tớ đã nói chuyện đó với Minh rồi Biểu thức ngôn ngữ thề của B trong ví dụ vừa dẫn có thể xếp vào nhóm biểu hiện (xác tín) vì hành động “nói chuyện đó với Minh” của B là hành động xảy ra

trong quá khứ, hướng khớp ghép là lời ghép vào hiện thực (hiện thực - việc “nói

chuyện đó với Minh” - là cái xảy ra trước, lời thề là cái xảy ra sau) B thề là nhằmđể khẳng định ở mức độ cao hành động B “đã nói chuyện đó với Minh”.

Biểu thức ngôn ngữ thề trong ví dụ (2) dưới đây lại có thể xếp vào nhóm cam kết bởi người nói SP1 thề để cam kết thực hiện điều nói trong nội dung mệnh đề và là

hành động trong tương lai mà người nói sẽ thực hiện Khác với ví dụ (1), hướng khớp

ghép ở ví dụ (2) là hiện thực ghép với lời (tức hành động nói chuyện đó là cái xảy ra

sau lời thề, ghép với lời thề)

Ví dụ (2): A: Cậu nói với Minh hộ tớ chuyện này được không?

B: Tớ thề với cậu là nhất định tớ sẽ nói với Minh chuyện đó.

Hành động nói (với Minh chuyện này) là hành động sẽ xảy ra trong tương lai

mà người nói (tớ) phải thực hiện Tức SP1 (B) thề để cam kết với SP2 (người nghe

A) ở mức độ cao rằng sẽ làm một việc gì đó mà người nói (SP1) nhờ Trong trường

hợp này, hành động thề của B có thể xếp vào nhóm hành động cam kết.

Trang 31

Biểu thức thề của nhân vật ông cậu trong ví dụ (3) dưới đây lại có thể xếp vào nhóm hành động tuyên bố:

Ví dụ 3: Thôi tôi xin quan ông quan bà đừng nói khéo, đồ đểu! Tao thề từ nay tao không họ hàng gì với vợ chồng nhà mày nữa!

[61, tr.70] Nhân vật ông cậu thề nhưng nhằm đích tuyên bố “từ nay không họ hàng gì” với

vợ chồng cháu bất hiếu, những con người vì tiền mà bất chấp đến tình nghĩa máu mủruột rà

Vì giới hạn dung lượng của luận văn, ở đây chúng tôi chỉ sơ lược đặc điểm cơ

bản của ba nhóm hành động ở lời là nhóm hành động biểu hiện, nhóm hành động cam kết (ước kết - theo cách gọi của J R Searle) và nhóm hành động tuyên bố Đây là ba nhóm hành động liên quan đến biểu thức ngôn ngữ thề được bàn tới trong luận văn.

Về đặc điểm của các nhóm còn lại, chi tiết xin xem [4, từ tr.120 - tr.138]

b) Đặc điểm của các hành động ở lời thuộc nhóm biểu hiện, nhóm cam kết và nhóm tuyên bố

- Đặc điểm của các hành động ở lời thuộc nhóm biểu hiện

J.R Searle dùng kí hiệu là ⊢ Nhóm này bao gồm các hành động như khẳng định, tường thuật, miêu tả, giải thích, bình luận, minh họa,

+ Đích ở lời của nhóm hành động nói này là nêu trách nhiệm của người nói(SP1) đối với điều thông báo về một sự việc;

+ Hướng khớp ghép là từ khớp với thế giới hiện thực, kí hiệu là (↓)

+ Trạng thái tâm lí được biểu hiện là lòng tin (niềm tin, kí hiệu là B, chữ viết tắt của belief) vào nội dung mệnh đề (kí hiệu là p).

Công thức chung của các hành động ở lời nhóm biểu hiện là:

↓ L

(p).

- Đặc điểm của các hành động ở lời thuộc nhóm cam kết (ước kết)

J.R Searle dùng kí hiệu là “C” Nhóm này bao gồm các hành động như thề, hứa,

cam đoan, tặng, biếu,

Trang 32

+ Đích ở lời của nhóm hành động cam kết là đặt người nói vào trách nhiệm

phải thực hiện một hành động A nào đó trong tương lai;

+ Hướng khớp ghép là hiện thực ghép với từ, kí hiệu là (↑)

+ Trạng thái tâm lí được biểu hiện là I (ý định, chữ viết tắt của từ

intention) Công thức chung của các hành động ở lời nhóm cam kết là:

C ↑ I (S thực hiện A)

- Đặc điểm của các hành động ở lời thuộc nhóm tuyên bố

J.R Searle đã dùng kí hiệu D để chỉ các hành động ở lời thuộc nhóm này Theotác giả, các hành động ở lời thuộc nhóm này có những đặc điểm cơ bản sau:

+ Đích ở lời của hành động nhóm tuyên bố là gây ra một sự thay đổi trongthế giới khi hành động được thực hiện, tức “gây ra một sự thay đổi bởi lời tuyênbố” [9, tr.34]

+ Hướng khớp ghép: Cả thế giới - từ lẫn từ - thế giới.

+ Trạng thái tâm lí được biểu hiện: Không có đặc trưng khái quát nhưng có cácyếu tố thể chế làm cho lời nói có giá trị Nói cách khác, điều kiện chân thành vắngmặt

Công thức chung của lớp tuyên bố là:

Luận văn này sẽ vận dụng những tiêu chí phân loại hành động nói của Searlelàm căn cứ để phân loại và miêu tả các lớp lớn hành động nói được thực hiện qua biểu

thức ngôn ngữ thề mà chúng tôi đã thống kê từ một số tác phẩm văn xuôi tiêu biểu

của thế kỉ XX

Như đã nói ở trên, hành động thề theo chúng tôi không chỉ thuộc nhóm hành động ước kết (cam kết) như Searle đã xếp mà nó còn thuộc nhóm hành động biểu hiện

và nhóm hành động tuyên bố bởi hành động thề mang đầy đủ những đặc trưng của

những hành động thuộc ba nhóm này như đã phân tích các ví dụ (1), (2) và (3) Theo

đó, biểu thức ngôn ngữ thề cũng mang những đặc điểm đủ để đáp ứng những điều kiệndiễn đạt những hành động ở lời thuộc ba nhóm vừa nói

1.2.1.4 Điều kiện thực hiện các hành động ở lời

a) Dẫn nhập

Cũng như các hành động khác của con người, hành động ở lời cũng cần nhữngđiều kiện nhất định Chẳng hạn, muốn có một hành động ngôn ngữ (trong đó có hành

Trang 33

động ở lời), tối thiểu người nói phải đảm bảo điều kiện về sinh lí là có một bộ máyphát âm bình thường, phải có điều kiện về tri thức ngôn ngữ, tức phải có vốn ngôn ngữnhất định (điều kiện tri thức hành vi), phải có nhu cầu muốn nói (điều kiện tâm lí),

Theo Đỗ Hữu Châu [4, tr 111], điều kiện sử dụng các hành động ở lời là nhữngđiều kiện mà một hành động ở lời phải đáp ứng để nó có thể diễn ra thích hợp với ngữ

cảnh của sự phát ngôn ra nó Mỗi hành vi ở lời như hứa, hỏi, đề nghị, chào, xin lỗi,

đều có những điều kiện riêng Những điều kiện mà nếu không có chúng thì hành động

ở lời không thực hiện được hoặc không có hiệu quả J L Austin gọi những điều kiện

để thực hiện hành động ở lời là điều kiện may mắn, còn J R Searle gọi chúng là điềukiện thỏa mãn Mỗi điều kiện là một điều kiện cần, còn tất cả hệ là điều kiện đủ đốivới mỗi hành động ở lời

b) Các điều kiện cơ bản của hành động ở lời

Searle cho rằng, mặc dù mỗi hành động ở lời cụ thể có những điều kiện riêngnhưng khái quát có bốn loại điều kiện sử dụng hành động ở lời, đó là điều kiện nộidung mệnh đề, điều kiện chuẩn bị, điều kiện tâm lí (còn gọi là điều kiện chân thành)

và điều kiện căn bản

- Điều kiện nội dung mệnh đề: Theo Đỗ Hữu Châu [4, tr.117], điều kiện nội

dung mệnh đề chỉ ra bản chất nội dung của mỗi hành động ở lời Nội dung mệnh đề

có thể là mệnh đề đơn giản và cũng có thể là một hàm mệnh đề Những hành động ở

lời thuộc nhóm xác tín thường là nội dung mệnh đề đơn giản, còn những câu hỏi

khép kín lại có nội dung là một hàm mệnh đề, tức những câu hỏi có hai khả năng trả

lời là có hoặc không.

- Điều kiện chuẩn bị: Điều kiện chuẩn bị liên quan đến những hiểu biết của

người phát ngôn về năng lực, lợi ích, ý định của người nghe và về các quan hệ giữa

người nói, người nghe Chẳng hạn, khi ra lệnh, người nói phải tin rằng người nhận

lệnh có khả năng thực hiện hành động nói trong “lệnh”, còn nếu biết người nhận lệnhkhông có khả năng thực hiện hành động trong lệnh thì người nói cũng không ra lệnh.Không ai lại ra lệnh cho một cháu bé 5 tháng tuổi ra đóng cửa Tóm lại, điều kiệnchuẩn bị liên quan đến những hiểu biết của người thực hiện hành động nói cũng nhưtri thức nền của người nghe

Trang 34

- Điều kiện tâm lí: Điều kiện tâm lí có người [4] gọi là điều kiện chân thành.

Đây là điều kiện chỉ ra các trạng thái tâm lí của người nói Mỗi hành động ở lời đòihỏi một điều kiện tâm lí (điều kiện chân thành) Chẳng hạn, xác tín, khảo nghiệm đòihỏi người nói phải có niềm tin vào điều mình xác tín; lệnh đòi hỏi lòng mong muốnvào người nghe thực hiện hành động; hứa đòi hỏi ý định thực hiện hành động trongtương lai của người nói, Tóm lại, điều kiện tâm lí có nghĩa là người nói chân thànhmong đợi hiệu quả ở lời của hành động nói mà mình thực hiện

- Điều kiện căn bản: Đây là điều kiện đưa ra trách nhiệm mà người nói hay

người nghe bị giàng buộc khi một hành động ở lời nào đó được thực hiện Chẳng hạn,

một lời xác tín buộc người nói phải chịu trách nhiệm về tính đúng đắn của điều nói ra; yêu cầu, khuyên hay hứa hẹn sẽ buộc người nói hoặc người nghe phải có trách nhiệm thực hiện hành động trong tương lai (Chẳng hạn, yêu cầu, khuyên buộc người nghe phải có trách nhiệm thực hiện hành động nói trong lệnh hay yêu cầu, Ngược lại, hứa

sẽ buộc người nói phải thực hiện hành động nói trong lời hứa).

Trên đây là những điều kiện cần và đủ (Searle gọi là một hệ điều kiện) để thực

hiện một hành động ở lời Mỗi hành động ở lời đòi hỏi phải có một hệ những điềukiện [dẫn theo 4; tr.116] Và đặc biệt, như Đỗ Hữu Châu đã khẳng định [4, tr 116], “ mỗi điều kiện lại được biểu hiện khác nhau tùy theo từng phạm trù, từng loại và từnghành động ở lời”

1.2.1.5 Khái niệm phát ngôn ngữ vi và biểu thức ngữ vi

Nói đến hành động ở lời, không thể không nhắc đến hai khái niệm: phát ngôn ngữ vi,biểu thức ngữ vi

a) Phát ngôn ngữ vi

Theo Đỗ Hữu Châu [4; tr.99], “Phát ngôn ngữ vi là những phát ngôn mà khingười ta nói chúng ra thì đồng thời người ta thực hiện ngay cái việc được biểu thịtrong phát ngôn”

Lượt lời của A và B trong ví dụ (4) dưới đây đều là phát ngôn ngữ vi

Ví dụ (4):

A: Cậu nhớ cho mình vay 10 triệu để mua xe như đã hứa nhé! (1)

B: Tớ hứa nhất định sáng mai (tớ) sẽ mang tiền đến nhà cho cậu (2)

Trang 35

Phát ngôn (1) của A là phát ngôn ngữ vi nhắc nhở (A nhắc nhở để B đừng quên

lời hứa cho A vay tiền để mua xe) Khi A phát âm kết thúc phát ngôn (1) cũng tức là A

đã thực hiện xong cái hành động nhắc nhở (nhắc B nhớ lời hứa cho A vay tiền) Đây

là một phát ngôn ngữ vi - phát ngôn ngữ vi nhắc nhở.

Tương tự như phát ngôn (1) của A, phát ngôn (2) của B trong ví dụ vừa dẫn

cũng là phát ngôn ngữ vi - phát ngôn ngữ vi hứa (B hứa với A là sáng mai sẽ mang

tiền cho A vay) Khi B phát âm kết thúc phát ngôn “Sáng mai cho cậu vay” là B đã

thực hiện xong cái việc được nói trong phát ngôn, đó là việc hứa.

Tóm lại, phát ngôn ngữ vi là sự hiện thực hóa một biểu thức ngữ vi trong mộtngữ cảnh cụ thể Trong thực tế chúng ta có thể gặp hai loại phát ngôn ngữ vi: phátngôn ngữ vi tối giản (chỉ có biểu thức ngữ vi) và phát ngôn ngữ vi có thành phần mởrộng (tức ngoài biểu thức ngữ vi, còn chứa thành phần mở rộng)

Về biểu thức ngữ vi, xin xem mục (b) dưới đây

b) Biểu thức ngữ vi

Phát ngôn ngữ vi có một bộ phận chính thể hiện đặc trưng cho hành vi ở lời, bộ

phận này được gọi là biểu thức ngữ vi Hay nói như Đỗ Hữu Châu [4, tr 91], “Phát

ngôn ngữ vi có một kết cấu lõi đặc trưng cho hành vi ở lời tạo ra nó Kết cấu lõi đóđược gọi là biểu thức ngữ vi”

Bộ phận in nghiêng trong ví dụ (5) dưới đây là một biểu thức ngữ vi

Ví dụ (5): Huyền: Nếu cậu đi chợ, cậu mua giúp mình mớ rau muống

nhé Bích: Ừ, nếu tớ đi chợ thì nhất định tớ sẽ không quên mua rau cho

cậu.

Bộ phận in nghiêng trong ví dụ trên là biểu thức ngữ vi nhờ (1)và hứa (2).

Toàn bộ phát ngôn (1) “Nếu nhé” là phát ngôn ngữ vi nhưng chỉ có phần in

nghiêng là kết cấu lõi thể hiện hành động ở lời nhờ Từ góc nhìn của lí thuyết hội thoại, kết cấu lõi của hành động nhờ cậu mua nhé là hành động ở lời chủ hướng của một tham thoại dẫn nhập; phần còn lại của phát ngôn ngữ vi (Nếu cậu đi chợ)

là phần mở rộng và là hành động rào đón Cũng từ góc nhìn của hội thoại, phần mở

rộng này chỉ là hành động ở lời phụ thuộc trong phát ngôn dẫn nhập

Tương tự, toàn bộ phát ngôn (2) là phát ngôn ngữ vi hứa nhưng chỉ có bộ phận

Trang 36

Như vậy, về mặt hình thức, biểu thức ngữ vi có thể chỉ là một bộ phận của phátngôn ngữ vi như ví dụ (4), song cũng có nhiều trường hợp, biểu thức ngữ vi có hìnhthức trùng với phát ngôn ngữ vi như ví dụ (6) dưới đây:

Ví dụ (6): Tôi hứa với các bạn là sẽ giải quyết sớm việc này.

Phát ngôn “Tôi này” là phát ngôn ngữ vi hứa Toàn bộ phát ngôn này cũng là kết cấu lõi thể hiện hành động hứa nên đồng thời đó cũng chính là biểu thức ngữ vi 1.2.1.6 Những dấu hiệu đánh dấu biểu thức ngữ vi (phương tiện chỉ ra lực ngôn

trung, dấu hiệu ngữ vi)

Những dấu hiệu đánh dấu biểu thức ngữ vi (the Illocutionary Force IndicatingDevice, viết tắt là IFID), có người dịch là “những dấu hiệu ngữ vi”

Động từ nói năng là những động từ gọi tên các hành động ngôn ngữ, như:

hỏi, yêu cầu, xin, nhờ, khuyên, dọa, khen, v.v Trong số những động từ nói năng,

có những động từ đặc biệt, được thực hiện chức năng ngữ vi, tức thực hiện trongchức năng ở lời Nói cách khác, những động từ nói năng được dùng trong phát ngôn

để thể hiện hành động nói đúng như chúng gọi tên, những động từ này là động từngữ vi (performative verbs, có người gọi là động từ ngôn hành) Đỗ Hữu Châu đưa

ra định nghĩa [4, tr.97]: “Động từ ngữ vi là những động từ mà khi phát âm chúng racùng với biểu thức ngữ vi (có khi không cần biểu thức ngữ vi đi kèm) là người nóithực hiện luôn cái hành vi ở lời do chúng biểu thị”

Có thể hình dung động từ ngữ vi qua việc phân tích động từ khuyên và động từ xin lỗi trong ví dụ (7) dưới đây:

Ví dụ (7): a) Tôi khuyên bạn không nên nghỉ học.

b) Xin lỗi!

Trang 37

Động từ khuyên và xin lỗi trong ví dụ (6a), (6b) đều là động từ ngữ vi Bởi động từ khuyên được dùng đúng với đích ở lời khuyên Tương tự, động từ xin lỗi cũng được dùng với đúng với đích ở lời xin lỗi Sự khác biệt về cách dùng của hai động từ vừa dẫn là ở chỗ, trong ví dụ (6a), động từ khuyên được dùng cùng biểu thức ngữ vi, còn trong ví dụ (6b), động từ xin lỗi được dùng đơn độc, “không cần biểu thức ngữ

vi” đi kèm như Đỗ Hữu Châu đã nói trong định nghĩa đã dẫn trên

Điều cần nói ở đây là, không phải động từ nói năng nào cũng có hiệu lực ngữ

vi Một động từ nói năng muốn có tư cách là một động từ ngữ vi phải thỏa mãn 4 điềukiện: (i) Chủ thể của động từ phải là ngôi thứ nhất, (ii) Đối tượng tiếp nhận của động

từ phải là ngôi thứ hai, (iii) Động từ phải được dùng ở thì hiện tại, (iv) Phát ngôn ngữ

vi không có yếu tố tình thái đi kèm (Chi tiết về điều này, xin xem 4, tr.99)

Trong một biểu thức ngữ vi, động từ ngữ vi có thể hiện diện và có thể khônghiện diện Những biểu thức ngữ vi mà hành động ở lời được tường minh bằng động từngữ vi thì biểu thức ngữ vi đó được gọi là biểu thức ngữ vi tường minh Ngược lại,những biểu thức ngữ vi không có động từ ngữ vi tương ứng để tường minh hành động

ở lời thì đó là biểu thức ngữ vi nguyên cấp Hãy so sánh phát ngôn (a) và (b) trong ví

vi nguyên cấp Cả hai biểu thức ngữ vi này đều có hình thức trùng phát ngôn ngữ vi

Cần phải nói thêm rằng, có những hành động ở lời có thể được thực hiện bằngmột biểu thức ngữ vi tường minh hay bằng một biểu thức ngữ vi nguyên cấp, như

hành động ở lời hỏi, khuyên, yêu cầu, hứa, v.v Song lại có những hành động ở lời hoặc chỉ được thực hiện bằng biểu thức ngữ vi nguyên cấp như hành động dọa, khen,

rủ, khoe, chửi, v.v hoặc chỉ được thực hiện bằng biểu thức ngữ vi tường minh như hành động xin lỗi, tuyên án, cam đoan, đánh cuộc,v.v

Động từ ngữ vi là một trong những phương tiện đánh dấu biểu thức ngữ vi,giúp ta xác định được hành động ở lời nào đã được thực hiện Có thể nói, đây là dấu

Trang 38

hiệu quan trọng nhất đánh dấu một phát ngôn ngữ vi có hành động ở lời nào Nói cáchkhác, động

Trang 39

từ ngữ vi là dấu hiệu chỉ rõ hành động ở lời nào đã được thực hiện trong phát ngôn.Chẳng hạn, khi nghe một người nào đó nói ra phát ngôn: “Tôi nhờ bạn mang giúp

quyển sách này cho Minh”, ta biết ngay đây là hành động nhờ vì có động từ nhờ tường minh Hay phát ngôn của Sp1 “Tớ hứa với cậu sẽ cho cậu vay 10 triệu” kết thúc thì hành động ở lời hứa cũng đã thực hiện xong Người nói ra phát ngôn này phải

có trách nhiệm thực hiện lời hứa (cho bạn vay 10 triệu) nếu không muốn mình là người thất hứa; còn người nghe có quyền chờ đợi người nói thực hiện lời hứa.

b) Những từ ngữ đặc thù

Có những từ ngữ chuyên dụng để đánh dấu một hành động ở lời Chẳng hạn,

hành động ở lời hỏi có những từ ngữ chuyên dụng như ai, cái gì, bao giờ, mấy, à, chưa,

chăng, Hành động ở lời khuyên thường có những từ ngữ đặc thù để đánh dấu, như: hãy, đừng, chớ, nên, không nên, v.v Hành động ở lời biểu cảm thường được dùng những từ ngữ như: trời ơi, chết chửa, ôi,

Ví dụ (9): - Cậu làm xong bài tập chưa? (Hành động hỏi).

- Chị hãy hạn chế đến chỗ đông người vào thời điểm đang bùng phát dịch covid -19 này nhé! (Hành động khuyên).

- Ôi, cháu tôi đã đến rồi! (Hành động biểu cảm).

Nhờ những từ ngữ chuyên dụng chưa, hãy, ôi mà ta biết được những hành động ở lời tương ứng được thực hiện trong các phát ngôn đã dẫn là hành động hỏi, khuyên và biểu cảm.

c) Kiểu cấu trúc ngữ pháp

Kết cấu là những kiểu câu (hiểu theo ngữ pháp truyền thống) Có những hànhđộng ở lời chuyên thể hiện bằng những kiểu cấu trúc ngữ pháp đặc trưng Chỉ cầnnhìn vào cấu trúc đặc trưng đó là người ta đã biết hành động ở lời nào được thực hiện

Ví dụ, hành động hỏi thường có cấu trúc như: có chưa/không? Có phải (hay) không? P chứ? Hành động biểu cảm thường sử dụng những kiểu cấu trúc như P ơi là P! P quá!P cực kì! Hành động cầu khiến thường có cấu trúc như: P nào! P thôi! Làm ơn hãy P, Hành động cấm thường dùng kiểu cấu trúc không được (thực hiện)

P, cấm P,v.v

Trang 40

Ví dụ (10): - Có phải ngày mai chúng ta thi môn Văn học Việt Nam không? (Hành động hỏi).

Ngày đăng: 07/10/2020, 08:36

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
19. Trịnh Thanh Hà (2001), Cặp thoại điều khiển trong sự kiện lời nói điều khiển, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cặp thoại điều khiển trong sự kiện lời nói điều khiển
Tác giả: Trịnh Thanh Hà
Năm: 2001
20. Dương Tuyết Hạnh (2007), Hành vi nhờ và sự kiện lời nói nhờ trong giao tiếp bằng tiếng Việt, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi nhờ và sự kiện lời nói nhờ trong giao tiếpbằng tiếng Việt
Tác giả: Dương Tuyết Hạnh
Năm: 2007
21. Nguyễn Thu Hạnh (2005), Hành vi ngôn ngữ trách và sự kiện lời nói trách, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi ngôn ngữ trách và sự kiện lời nói trách
Tác giả: Nguyễn Thu Hạnh
Năm: 2005
22. Nguyễn Văn Hiệp (2008), Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp, Nxb Giáo dục ViệtNam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cơ sở ngữ nghĩa phân tích cú pháp
Tác giả: Nguyễn Văn Hiệp
Nhà XB: Nxb Giáo dục ViệtNam
Năm: 2008
23. Lê Thị Thu Hoa (1996), Cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm động từ nói năng nhóm khen, tâng, chê, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc ngữ nghĩa của nhóm động từ nói năng nhómkhen, tâng, chê
Tác giả: Lê Thị Thu Hoa
Năm: 1996
24. Nguyễn Thị Thái Hòa (1997), Cấu trúc ngữ nghĩa của động từ nói năng nhóm khuyên, ra lệnh, nhờ, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc ngữ nghĩa của động từ nói năng nhómkhuyên, ra lệnh, nhờ
Tác giả: Nguyễn Thị Thái Hòa
Năm: 1997
25. Đỗ Việt Hùng (2011), “Định hướng giáo dục ngôn ngữ (từ góc độ văn hóa hành vi ngôn từ)”, Tạp chí Dạy và học ngày nay, (1) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Định hướng giáo dục ngôn ngữ (từ góc độ văn hóa hànhvi ngôn từ)”, "Tạp chí Dạy và học ngày nay
Tác giả: Đỗ Việt Hùng
Năm: 2011
26. Đỗ Việt Hùng (2011), Giáo trình ngữ dụng học, Nxb Giáo dục Việt Nam, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ngữ dụng học
Tác giả: Đỗ Việt Hùng
Nhà XB: Nxb Giáo dục Việt Nam
Năm: 2011
27. Vũ Thị Thanh Hương (2006), (đồng dịch giả), Ngôn ngữ, văn hóa và xã hội:Một cách tiếp cận liên ngành, Nxb Thế Giới, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ, văn hóa và xã hội:"Một cách tiếp cận liên ngành
Tác giả: Vũ Thị Thanh Hương
Nhà XB: Nxb Thế Giới
Năm: 2006
28. Nguyễn Văn Khang (1999), Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản, Nxb Khoa học Xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản
Tác giả: Nguyễn Văn Khang
Nhà XB: NxbKhoa học Xã hội
Năm: 1999
29. Nguyễn Thị Hoài Linh (2003), Hành vi ngôn ngữ mách và sự kiện lời nói mách, Luận văn Thạc sĩ, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hành vi ngôn ngữ mách và sự kiện lời nói mách
Tác giả: Nguyễn Thị Hoài Linh
Năm: 2003
30. Nguyễn Thị Lương (1996), Tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi với việc biểu thị các hành vi ngôn ngữ, Luận án Tiến sĩ Ngữ văn, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tiểu từ tình thái dứt câu dùng để hỏi với việc biểu thịcác hành vi ngôn ngữ
Tác giả: Nguyễn Thị Lương
Năm: 1996
31. Nguyễn Thị Lương (2006), Câu tiếng Việt, Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Câu tiếng Việt
Tác giả: Nguyễn Thị Lương
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2006
32. Lyons, J (2001), “Các hành động ngôn từ và lực ngôn trung”, Tạp chí ngôn ngữ, (15), (Nguyễn Văn Hiệp dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hành động ngôn từ và lực ngôn trung”, "Tạp chí ngôn ngữ
Tác giả: Lyons, J
Năm: 2001
33. Lyons, J (2002), “Các hành động ngôn từ và lực ngôn trung” (tiếp theo), Tạp chí ngôn ngữ, (1), (Nguyễn Văn Hiệp dịch) Sách, tạp chí
Tiêu đề: Các hành động ngôn từ và lực ngôn trung” (tiếp theo), "Tạp chíngôn ngữ
Tác giả: Lyons, J
Năm: 2002
34. Phạm Thanh Mai (2019), Tìm hiểu hành động cam kết trong một số tác phẩm văn xuôiViệt Nam giai đoạn 1930 - 1945, Luận văn Thạc sĩ, Đại học Thái Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tìm hiểu hành động cam kết trong một số tác phẩm văn xuôi"Việt Nam giai đoạn 1930 - 1945
Tác giả: Phạm Thanh Mai
Năm: 2019

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w