TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2KHOA NGỮ VĂN ====== TRẦN THỊ YÊN BIỂU TƯỢNG VỀ GIỚI NỮ QUA MÔ HÌNH KHÔNG - THỜI GIAN TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM KHÓA LUẬN TỐT NGHI
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
TRẦN THỊ YÊN
BIỂU TƯỢNG VỀ GIỚI NỮ
QUA MÔ HÌNH KHÔNG - THỜI GIAN
TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM
VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
HÀ NỘI, 2018
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
======
TRẦN THỊ YÊN
BIỂU TƯỢNG VỀ GIỚI NỮ
QUA MÔ HÌNH KHÔNG - THỜI GIAN
TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM
VĂN HỌC TRUNG ĐẠI VIỆT NAM
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Lí luận văn học
Người hướng dẫn khoa học
TS NGUYỄN THỊ VÂN ANH
HÀ NỘI, 2018
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo, TS Nguyễn Thị Vân Anh người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiệnkhóa luận Xin cảm ơn các thầy cô giáo trong khoa Ngữ Văn, đặc biệt là cácthầy, cô trong tổ Lí luận văn học đã giúp đỡ tôi hoàn thành khoá luận này.Mặc dù có nhiều cố gắng song với trình độ và kiến thức còn hạn chế củangười viết, khóa luận chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót Tôi rấtmong nhận được sự góp ý chân thành từ các thầy cô và các bạn sinh viên đểkhóa luận được hoàn thiện hơn
-Hà Nội, tháng 05 năm 2018
Sinh viên Trần Thị Yên
Trang 4Tôi xin cam đoan:
LỜI CAM ĐOAN
Bản khóa luận này là kết quả nghiên cứu của riêng tôi
Kết quả này không trùng với bất cứ công trình nghiên cứu nào
Nếu sai tôi xin chịu hoàn toàn trách nhiệm
Hà Nội, tháng 05 năm 2018
Sinh viên Trần Thị Yên
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề 2
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Dự kiến đóng góp của khóa luận 4
7 Bố cục khóa luận 4
NỘI DUNG 5
CHƯƠNG 1: KHÁI QUÁT VỀ BIỂU TƯỢNG VÀ BIỂU TƯỢNG VĂN HỌC 5
1.1 Khái niệm biểu tượng 5
1.1.1 Nhìn từ góc độ Nhân- Triết học 5
1.1.2 Nhìn từ góc độ Kí hiệu học 6
1.1.3 Nhìn từ góc độ Phân tâm học 6
1.1.4 Nhìn từ góc độ lí thuyết Tu từ học 7
1.1.5 Nhìn từ góc độ văn hóa 7
1.1.6 Nhìn từ góc độ văn học 8
1.2 Biểu tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học 8
1.3 Đặc trưng của biểu tượng 9
1.3.1 Tính đa trị 9
1.3.2 Tính hai mặt 10
Trang 61.3.3 Tính lịch đại 11
1.3.4 Tính tái sinh 11
1.4 Cơ chế xây dựng biểu tượng trong văn học 12
1.5 Vai trò và ý nghĩa của biểu tượng 14
1.5.1 Biểu tượng trong các tác phẩm văn học 14
1.5.2 Biểu tượng về giới nữ trong văn học 16
CHƯƠNG 2: Ý NGHĨA BIỂU TƯỢNG VỀ GIỚI NỮ QUA MỘT SỐ MÔ HÌNH KHÔNG – THỜI GIAN 19
2.1 Không gian gia đình - thời gian trì đọng 19
2.1.1 Không gian bếp núc, vườn tược gắn với vị thế bé mọn của kẻ tòng thuộc 20
2.1.2 Không gian buồng the thấm đẫm nỗi cô đơn chờ đợi mỏi mòn 27
2.2 Không gian xã hội - thời gian lưu lạc 35
2.2.1 Không gian nhà chứa, lầu xanh gắn với kiếp hồng nhan, lưu đày 36
2.2.2 Không gian quán, chợ, sông, cầu… gắn với những phận đời bấp bênh, chìm nổi 41
2.3 Không gian chiến trường - thời gian gấp gáp biểu trưng cho vai nữ tướng và tư tưởng nữ quyền 47
KẾT LUẬN 56 TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7cả ngoài xã hội Họ có mặt trong mọi vị trí của đời sống xã hội Họ là đề tàicho nguồn cảm hứng bất tận của thi ca nhạc họa Chúng ta đã từng được nghenhững câu hát tha thiết và lắng đọng về những người mẹ tần tảo sớm hôm vìcon Chúng ta đã từng được chiêm ngưỡng vẻ đẹp yêu kiều của những cô gáitrong bức tranh của các nhà họa sĩ Và hơn hết, chúng ta càng hiểu rõ về thânphận của những người phụ nữ qua các trang văn.
Trong suối nguồn văn học, từ văn học dân gian đến văn học trung đại
và cả văn học hiện đại, hình ảnh về những người phụ nữ luôn có sức lay độngmạnh mẽ tới người đọc Đặc biệt là những người phụ nữ trong văn học trungđại Họ là nạn nhân của chế độ phong kiến hà khắc, của những quan niệm cổ
hủ và những lễ giáo khắc nghiệt Chính hệ tư tưởng Nho giáo đã đẩy ngườiphụ nữ rơi vào số phận bi kịch
Mặt khác, mỗi nhân vật khi xuất hiện đều gắn liền với một không gian
và thời gian nhất định Đó là môi trường, hoàn cảnh để nhân vật bộc lộ tínhcách Đồng thời thông qua mô hình không - thời gian đó biểu trưng những ýnghĩa nhất định về con người Không gian và thời gian là hai yếu tố luôn tồntại song hành và có mối quan hệ mật thiết với nhau, không thể tách rời Chính
vì vậy tìm hiểu giới nữ qua một số mô hình không - thời gian trong văn họctrung đại sẽ giúp cho người đọc có những cảm nhận cụ thể về hình tượngngười phụ nữ trong văn học trung đại Đó chính là lí do, động lực khiến chúng
tôi lựa chọn đề tài: Biểu tượng về giới nữ qua mô hình không - thời gian
trong một số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam.
Trang 82 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Theo sự khảo sát của chúng tôi, vấn đề giới nữ trong văn học trung đạiViệt Nam đã được các nhà nghiên cứu quan tâm ở những mức độ khác nhau.Tuy nhiên, các tác giả chủ yếu phản ánh hình tượng người phụ nữ trong vănhọc trung đại, mà chưa có nhiều công trình nghiên cứu đề cập tới biểu trưng
về giới nữ qua mô hình không - thời gian trong một số tác phẩm văn họctrung đại cụ thể
Phan Khôi được xem là cây bút mở đầu cho phê bình về giới và nữ
quyền Trong bài viết Theo tục ngữ phong dao xét về sự sanh hoạt của người
phụ nữ nước ta của ông, tác giả nhìn thấy số phận bi kịch của người phụ nữ
trong vai trò tòng thuộc của gia đình nhà chồng; thân phận bi thương củanhững người phụ nữ đem thân làm lẽ Bên cạnh đó Phan Khôi cũng cho thấyđược vai trò của người phụ nữ trong gia đình, phát hiện và trân trọng những
vẻ đẹp của họ
Tác giả Lê Văn Hòe trong công trình Lược luận về phụ nữ Việt Nam đã
có nhiều đóng góp quan trọng trong việc phân tích và khái quát lên những đặcđiểm về người phụ nữ Việt Nam thông qua các tác phẩm văn học dân gian vàvăn học trung đại Đồng thời, tác giả cũng bày tỏ thái độ tôn trọng và đề caovai trò của người phụ nữ Việt Nam
Tiếp đến, bài tham luận với tựa đề Nho giáo và nữ quyền của nhà nghiên
cứu Trần Nho Thìn đã trình bày được vấn đề giới nữ và nữ quyền trong vănhọc trung đại Việt Nam Bài viết còn đặt ra được mối quan hệ giữa Nho giáo
và người phụ nữ, đặc biệt là nữ quyền
Trong cuốn Thi pháp cốt truyện truyện thơ Nôm và truyện Kiều, tác giả
Nguyễn Thị Nhàn có đề cập tới nhân vật người phụ nữ theo và không theotrình tự thời gian Bài viết chỉ ra được số phận của người phụ nữ theo tiến
Trang 9trình không gian và thời gian Đồng thời tác giả cũng phân tích khá rõ hìnhảnh nhân vật nữ và ý nghĩa của không - thời gian ấy trong cuộc đời nhân vật.
Gần đây trong luận án tiến sĩ của tác giả Nguyễn Thị Vân Anh: Diễn ngôn
về giới nữ trong văn học hiện thực xã hội chủ nghĩa Việt Nam, tác giả đã giải
quyết được vấn đề ý nghĩa biểu trưng của người phụ nữ trong văn học hiệnthực xã hội chủ nghĩa dựa trên lí thuyết diễn ngôn Trong đó, tác giả luận án
có sự so sánh đối chiếu với các mô hình không - thời gian trong văn học trungđại
Nhìn chung, các bài nghiên cứu ở trên quan tâm nhiều về hình tượng, sốphận của người phụ nữ trong văn học Tuy nhiên chưa có một đề tài nào đềcập đến ý nghĩa biểu trưng về người phụ nữ trong tác phẩm văn học trung đại
Vì thế, kế thừa từ những gợi ý của các nhà nghiên cứu đi trước, đề tài chúng
tôi sẽ đi sâu tìm hiểu: Biểu trưng về giới nữ qua mô hình không - thời gian
trong một số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam.
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài Biểu tượng về giới nữ qua mô hình không - thời gian
trong một số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam, tác giả khóa luận mong
muốn làm rõ ý nghĩa biểu tượng về người phụ nữ qua một số mô hình không thời gian tiêu biểu
-3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Kế thừa những vấn đề chung về lí thuyết biểu tượng
- Làm rõ ý nghĩa biểu tượng về giới nữ qua mô hình không - thời giantrong một số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là Biểu tượng về giới nữ qua mô
hình không - thời gian trong một số tác phẩm văn học trung đại Việt Nam.
Trang 104.2 Phạm vi nghiên cứu
Triển khai đề tài khóa luận, tác giả tập trung khảo sát và tìm hiểu nhân
vật người phụ nữ trong tác phẩm văn xuôi tự sự Truyền kì mạn lục của Nguyễn Dữ và một số truyện thơ Nôm tiêu biểu như: Chinh phụ ngâm, Cung
oán ngâm, Truyện Kiều, Mã Phụng - Xuân Hương, Lưu nữ tướng, Thoại Khanh - Châu Tuấn
5 Phương pháp nghiên cứu
Trong khóa luận này, chúng tôi sử dụng kết hợp các phương pháp:
- Phương pháp hệ thống
- Phương pháp so sánh
- Phương pháp phân tích tổng hợp
6 Dự kiến đóng góp của khóa luận
Với đề tài này, khóa luận làm rõ hơn về ý nghĩa biểu trưng về ngườiphụ nữ qua các mô hình không - thời gian Đồng thời giúp người đọc có thêm
tư liệu tham khảo bổ ích trong việc dạy và học trong nhà trường
7 Bố cục khóa luận
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung khóaluận được triển khai thành hai chương như sau:
Chương 1: Khái quát về biểu tượng và biểu tượng văn học
Chương 2: Ý nghĩa biểu tượng về giới nữ qua một số mô hình không thời gian
Trang 11-NỘI DUNG CHƯƠNG 1 KHÁI QUÁT VỀ BIỂU TƯỢNG VÀ BIỂU TƯỢNG VĂN HỌC 1.1 Khái niệm biểu tượng
Ngay từ thời cổ Hy Lạp, thuật ngữ “biểu tượng” đã xuất hiện trong sáchlôgic học của Aristot Tuy nhiên, về sau thuật ngữ này xuất hiện ngày càngnhiều trong các lĩnh vực nghiên cứu, được dùng với các nét nghĩa khôngthống nhất Vì vậy, vấn đề xác định khái niệm biểu tượng cần có một cái nhìntổng thể bao gồm trên cả lĩnh vực văn học nghệ thuật cũng như nhìn từ cácgóc độ của các ngành nghiên cứu khoa học khác như Nhân - Triết học, kí hiệuhọc, phân tâm học, tu từ học…
1.1.1 Nhìn từ góc độ Nhân - Triết học
Theo lí thuyết của Cassirer thì khái niệm biểu tượng là gốc rễ và là vấn
đề cơ bản của triết học về con người, quy bản chất con người vào một biểuhiện này hay khác của nó Biểu tượng được hình thành từ trong tư duy củacon người xuất phát từ hiện thực khách quan của cuộc sống Theo Từ điểntriết học: “Biểu tượng là hình ảnh trực quan – cảm tính, khái quát về các sựvật hiện tượng của hiện thực, được giữ lại và tái tạo lại trong ý thức và không
có sự tác động trực tiếp của bản thân các sự vật và các hiện tượng đến giácquan”[5, tr.98]
Như vây, nhìn từ góc độ Nhân – Triết học, biểu tượng là khái niệm chỉmột giai đoạn, một hình thức của nhận thức cao hơn cảm giác và thuộc về giaiđoạn tiền ý thức Nó có nguồn gốc từ cuộc sống và được dựng lại trong tư duycủa con người, cho ta hình ảnh của sự vật còn giữ lại trong đầu óc sau khi tácđộng của sự vật vào giác quan ta đã chấm dứt Với cách hiểu như vậy thì biểutượng mang tính chủ quan của cá nhân mỗi người Thế giới biểu tượng cóphong phú hay không phụ thuộc vào sự đa dạng trong tâm hồn con người
Trang 12có mối quan hệ gắn bó với nhau, tuy nhiên không thể đồng nhất chúng.
Iu Lotman cho rằng, ở biểu tượng có hai hệ thống kí hiệu, nghĩa là mộtbiểu tượng vừa là cái được biểu đạt của hệ thống kí hiệu này, đồng thời vừa làcái biểu đạt của hệ thống kí hiệu khác Từ kí hiệu thành biểu tượng là một quátrình ngữ nghĩa hóa các yếu tố hình thức nhờ quan hệ tương tự của kí hiệuthuộc cấp độ này với kí hiệu thuộc cấp độ khác Mặt khác, ông cũng gạt bỏcách giải thích biểu tượng như sự thể hiện một chức năng cao cả, phi kí hiệu
mà biểu tượng đóng vai trò như cầu nối giữa thế giới lí tình với thế giới huyền
bí, nội dung của nó như cái gì đó phi lí xuyên qua cái biểu đạt
1.1.3 Nhìn từ góc độ Phân tâm học
Biểu tượng là vấn đề trung tâm của lí thuyết phân tâm học, thậm chí, cóthể nói đó là ngôn ngữ chính của phân tâm học Theo Freud, biểu tượng làngôn ngữ của cái vô thức bị chèn ép, là thứ ngôn ngữ đã bị dịch chuyển Tức
là những gì đã xảy ra ở quá khứ có thể được tái hiện trong các giấc mơ dướidạng các biểu tượng, những hình ảnh thay thế hình ảnh thực tế
Như vậy, biểu tượng trong phân tâm học là sự thay thế của cái biểu đạt
Trang 13này bằng cái biểu đạt khác mà ở đó cái được biểu đạt bị ẩn đi mà con ngườiphải “dịch” nó ra từ cái biểu đạt Đó chính là chìa khóa thăm dò tiềm thức củacon người, khám phá sự sáng tạo văn học, văn hóa của nhân loại.
1.1.4 Nhìn từ góc độ lí thuyết Tu từ học
Theo lí thuyết Tu từ học, chức năng của ngôn ngữ và hiệu lực của nótrong tu từ học chính là nền tảng để nghiên cứu biểu tượng Hiệu lực của nócùng với những xu hướng khái quát hóa, sự cân đối trong cấu trúc, trong cáchình ảnh biểu tượng đã giúp cho ngôn ngữ có sức thuyết phục hơn Như vậy,
sự khái quát hóa, mô hình hóa cùng những cấu trúc cân đối chính là tính biểutrưng của ngôn ngữ tạo nên các biểu tượng
1.1.5 Nhìn từ góc độ văn hóa
Các tác giả cuốn Từ điển biểu tượng văn hóa thế giới cho rằng: “Mọi nền
văn hóa đều có thể xem như một tập hợp các hệ thống biểu tượng trong đóxếp hàng đầu là ngôn ngữ, quy tắc hôn nhân, các quan hệ kinh tế, nghệ thuật,khoa học, tôn giáo…” Như vậy, một nền văn hóa được tạo nên từ nhiều biểutượng khác nhau tạo thành một hệ thống, mà đầu tiên là các biểu tượng thuộc
về ngôn ngữ Ngoài ngôn ngữ, các phương diện văn hóa khác cũng mangtrong mình cả một hệ thống các biểu tượng Điều đó tạo nên sự đa dạng củacác biểu tượng về văn hóa
Tuy nhiên, mỗi nền văn hóa khác nhau lại có hệ thống biểu tượng khácnhau, các biểu tượng này mang tính tương đối ổn định và lâu dài Mặt khác,một “mẫu gốc” có thể sản sinh ra nhiều biểu tượng khác nhau mà chúng tathường thấy trên nhiều lĩnh vực văn hóa như nghệ thuật, phong tục tập quán,sinh hoạt của mỗi đất nước Như vậy, các biểu tượng sẽ tạo nên bản sắc vănhóa của mỗi dân tộc, mang đậm dấu ấn, hơi thở của dân tộc đó
Trang 141.1.6 Nhìn từ góc độ văn học
Văn học có chức năng phản ánh hiện thực cuộc sống con người thôngqua các hình ảnh biểu tượng Tuy nhiên các biểu tượng cũng hiện lên đầy tínhước lệ
Theo nghĩa hẹp, biểu tượng là một phương thức chuyển nghĩa của lời nóihoặc một loại hình tượng nghệ thuật đặc biệt có khả năng truyền cảm lớn, vừakhái quát được bản chất của một hiện tượng nào đấy, vừa thể hiện một quanniệm, một tư tưởng hay một triết lí sâu xa về con người và cuộc đời
Theo nghĩa rộng, biểu tượng là đặc trưng phản ánh cuộc sống bằng hìnhtượng của văn học nghệ thuật
Như vậy, biểu tượng trong văn học chính là sự mã hóa các kí hiệu ngôn
từ của tác giả nhằm thể hiện những tư tưởng tình cảm của mình về con người
và cuộc sống Đồng thời biểu tượng cũng mang trong mình tính đa nghĩa,khơi gợi sự sáng tạo nơi người đọc, thể hiện sự gắn kết giữa cuộc đời – nhàvăn – tác phẩm và cuộc đời
1.2 Biểu tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học.
Ngôn ngữ nghệ thuật là một hệ thống kí hiệu đảm bảo sự tồn tại và pháttriển của hiện thực nghệ thuật Hình tượng nghệ thuật không chỉ mang ý nghĩa
mà còn có tính thẩm mĩ cao với khả năng tác động vào tư tưởng, tình cảm củacon người Biểu tượng cũng là một hình tượng nghệ thuật, nhưng là một loạiđặc biệt Hình tượng là sự “chụp ảnh”, tái tạo cuộc sống mang dấu ấn cá nhâncòn biểu tượng là sự ngưng đọng của hiện thực mang dấu ấn cộng đồng
Biểu tượng nghệ thuật trong tác phẩm văn học làm cho nó có chiều sâu,khơi gợi được nhiều tầng nghĩa và giúp gắn kết các bình diện khác nhau củavăn bản Tuy nhiên, không phải tác phẩm văn học nào cũng có biểu tượngnghệ thuật Khác với các loại hình nghệ thuật khác, văn học lấy chất liệu làngôn từ để sáng tạo Vì vậy biểu tượng trong văn học là một trường hợp đặc
Trang 15biệt, nó được tạo nên bởi ngôn ngữ con người và mang tính tượng trưng cao,hàm súc và đa nghĩa.
Mặt khác cần phân biệt biểu tượng với các hình tượng đa nghĩa khácnhư ẩn dụ, hoán dụ hay phúng dụ cũng như không phải hình tượng nào cũng
là biểu tượng Biểu tượng có thể xuất hiện ở nhiều loại hình nghệ thuật khácnhau, còn ẩn dụ, hoán dụ và phúng dụ thì chỉ có ở nghệ thuật ngôn từ Biểutượng phải là có tính đa nghĩa và mang tính cổ xưa làm cho tác phẩm có sựliên kết gắn bó chặt chẽ với văn hóa cộng đồng dân tộc, mà “văn hóa là tổngthể của những biểu tượng được cộng đồng chấp nhận” (C Levi-Strauss)
Như vậy, biểu tượng là sự thống nhất giữa yếu tố cá nhân và cộngđồng, giữa quá khứ và hiện tại, là thành phần cấu trúc quan trọng nhất của tácphẩm, hàm chứa chiều sâu nội dung của tác phẩm Vì thế nghiên cứu tácphẩm văn học cần phải đặt trọng tâm vào nghiên cứu hệ thống các biểu tượng
để khai thác thế giới tác phẩm một cách toàn vẹn và đầy đủ, làm cho tâm hồnchúng ta thêm phong phú và đa dạng
1.3 Đặc trưng của biểu tượng
Phân tích khái niệm biểu tượng, có thể thấy, biểu tượng luôn tồn tại một
số đặc trưng cụ thể sau:
1.3.1 Tính đa trị
Nếu như các kí hiệu thông thường chỉ mang tính đơn trị thì biểu tượnglại mang tính đa trị, nhiều nghĩa Mối quan hệ giữa hai mặt của biểu tượng,giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt luôn có sự đa dạng, chuyển động, không
hề có sự rút gọn hay ổn định Nếu ba màu của tín hiệu đèn giao thông chỉ cómột cách hiểu, màu vàng là biểu tượng của giảm tốc độ, màu xanh là biểutượng của sự được đi còn màu đỏ là biểu tượng của sự dừng lại thì màu vàngtrong văn học là biểu tượng cho nỗi buồn trong tác phẩm của Huy Cận,…
Trang 16Như vậy, các kí hiệu thông thường thì tỉ lệ giữa chúng là 1:1, tức là mộtcái biểu đạt chỉ thể hiện một ý nghĩa, hành động, còn biểu tượng trong vănhọc thì tỉ lệ là 1: n, nghĩa là một biểu tượng có nhiều cách hiểu khác nhau, tùythuộc vào sự nhận thức, tiếp nhận của người đọc.
Như vậy, tính đa trị của biểu tượng văn học là một đặc trưng đầu tiên
dễ nhận thấy khi ta cảm thụ tác phẩm văn chương Tính đa trị của biểu tượngthể hiện sự nhận thức cũng như cách thức sáng tạo, tài năng của nhà văn trongviệc phản ánh cuộc sống và con người
1.3.2 Tính hai mặt
Trên thực tế, bất kì một vấn đề nào đó cũng đều mang tính hai mặt của
nó Không nằm ngoài quy luật ấy, biểu tượng cũng mang trong mình tính tấtyếu giữa hai mặt, đó là cái biểu trưng và cái được biểu trưng, hay còn gọi là
hình thức và nội dung Giữa hai mặt của biểu tượng luôn “mang tính có lí do,
tính tất yếu” Khi lựa chọn biểu tượng trong tác phẩm văn học, mỗi nhà văn
đều cân nhắc rất kỹ lưỡng, sao cho giữa cái biểu đạt và cái được biểu đạt có
mối quan hệ chặt chẽ với nhau về mặt bản chất Chẳng hạn, “trăng” là biểu
tượng gắn liền với thiên nhiên, là hình ảnh lãng mạn, là nhân chứng cho tình
yêu đôi lứa thề nguyền… Với cuộc sống hằng ngày của con người, trăng chỉ mang chức năng chiếu sáng Nhưng với nghệ thuật, trăng là thi hứng cho thi nhân ở mọi thời đại, với mỗi người trăng lại mang một vẻ đẹp riêng Trăng trong thơ Nguyễn Du gợi tình, gợi cảnh Trăng trong thơ Xuân Diệu lại mang cảm giác nhẹ nhàng, bâng khuâng, xao động Còn trăng trong thơ Hàn Mặc
Tử lại là thế giới đầy bí ẩn, dị thường…
Tóm lại, biểu tượng luôn mang tính hai mặt giữa cái biểu đạt và cáiđược biểu đạt và giữa chúng có mối quan hệ mật thiết, gắn bó với nhau nhằmthể hiện ý đồ tư tưởng nghệ thuật của nhà văn Mặt khác, đó cũng là điểm chủyếu để phân biệt biểu tượng với các tín hiệu quy ước thuần túy thông thường
Trang 171.3.3 Tính lịch đại
thái ở những giai đoạn phát triển khác nhau của cùng một ngôn ngữ” Biểutượng văn học là sản phẩm của nghệ thuật ngôn từ nên cũng mang trong mìnhtính lịch đại, có sự biến hóa, thay đổi theo thời gian Trở lại với biểu tượng
“trăng” trong thi ca, trăng trong thơ xưa của Nguyễn Du vừa gợi tình, gợi
cảnh, vừa là nhân chứng tình yêu cho đôi lứa thề nguyền, là nhân vật dẫn lốicho tình yêu của nàng Kiều với chàng Kim Nhưng trăng trong thơ hiện đại,thơ cách mạng lại mang một ý nghĩa khác Đó không chỉ là vẻ đẹp của tạohóa, thơ mộng và lãng mạn mà đâu đó, trăng còn là nỗi nhớ, nỗi băn hoănkhắc khoải, nỗi đau đớn của nhân vật trữ tình khi tâm sự dưới ánh trăng
Như vậy, biểu tượng trong văn học không chỉ xuất hiện trong một thờiđiểm nhất định, mang một ý nghĩa nhất định, mà nó còn băng qua thời gian vàkhông gian đến với những sáng tác khác ở thời hậu thế và mang một ý nghĩaphát triển hơn như là sự sản sinh của các biểu tượng văn học
mĩ, sản sinh ra các hình tượng nghệ thuật”[3 tr.17] Văn học là nghệ thuậtngôn từ nên cũng không nằm ngoài quy luật ấy Vì vậy, khám phá các biểutượng văn học, ngoài việc tìm hiểu nghĩa từ mẫu gốc của nó, người đọc cầnxem xét tới những cái cụ thể như ngôn từ sử dụng, các biện pháp nghệ thuật,hình ảnh…để tìm ra các tầng ý nghĩa mà biểu tượng ngôn từ thể hiện, góp
Trang 18phần mang lại sự trong sáng, thăng hoa, hứng thú trong tiếp cận tác phẩm vănhọc của người đọc.
1.4 Cơ chế xây dựng biểu tượng trong văn học
Văn học là sự mô phỏng hiện thực khách quan, tuyệt nhiên không phải
là sự bê nguyên hiện thực cuộc sống vào trong tác phẩm Thế giới nghệ thuậttrong tác phẩm văn học là thế giới đã được chuyển hóa, giống thật nhưngkhông phải thật Để tạo nên một thế giới nghệ thuật như vậy, bắt buộc nhàvăn phải sử dụng hệ thống các hình ảnh biểu tượng để mã hóa cảm xúc tưtưởng của mình nhằm truyền tải ý đồ nghệ thuật đến người đọc Tuy nhiên,không phải cứ lấy một biểu tượng nào trong đời sống đưa vào tác phẩm là lậptức trở thành biểu tượng nghệ thuật Biểu tượng là những hình ảnh sự vật cụthể cảm tính bao hàm trong đó nhiều ý nghĩa gây được ấn tượng mạnh đối vớingười tiếp nhận Nó được coi là những kí hiệu thẩm mĩ đa nghĩa bao gồm cáibiểu đạt và cái được biểu đạt, là hình ảnh ẩn dụ cho những cảm xúc của nhàvăn Biểu tượng nghệ thuật trong tác phẩm phải là những hình ảnh có đườngnét, có màu sắc, có hình khối, phải là những hình ảnh cụ thể mà qua đó ngườiđọc có thể cảm nhận được Nếu thiếu đi những yếu tố đó, các hình ảnh khôngđược gọi là biểu tượng Biểu tượng trở thành phương tiện diễn đạt cô đọnghàm súc, có sức khơi mở rất lớn trong sự tiếp nhận của bạn đọc Ngoài việclựa chọn các hình ảnh biểu tượng có ý nghĩa trong tác phẩm, nhà văn cần chú
ý tới sự tổ chức sắp xếp các biểu tượng đó thành một chỉnh thể lôgic nhằm tạo
ấn tượng và thể hiện ý nghĩa văn bản một cách sâu sắc Nam Cao từng viết
trong Đời thừa: “…Văn chương chỉ dung nạp những người biết đào sâu và
tìm tòi, khơi những nguồn chưa ai khơi và sáng tạo những gì chưa có”[tr 341].Nói như vậy để thấy rằng, nhà văn phải sáng tạo các biểu tượng nghệ thuật
mà qua đó người đọc cảm nhận được đằng sau mỗi biểu tượng ấy còn biết baođiều chưa khám phá, còn băn khoăn, day dứt và cần phải khai mở Mặt khác
Trang 19khi khai thác ý nghĩa của các biểu tượng, người đọc cần đặt biểu tượng ấy vớicác biểu tượng khác trong nhiều mối quan hệ để khợi gợi các tầng nghĩa.Ngoài ra, sự xuất hiện trở đi trở lại của các hình ảnh biểu tượng hàm chứanhiều ý nghĩa nhất định.
Biểu tượng là khi một sự vật hiện tượng nào đó tích đọng trong nónhững ý nghĩa sâu sắc và được cộng đồng giai cấp dân tộc nhân loại thừanhận Biểu tượng luôn có xu hướng ổn định về mặt ý nghĩa nhất định Mặtkhác, nó cũng tiềm ẩn khả năng mở ra những ý nghĩa mới trong sự cảm nhậncủa con người Biểu tượng càng trở nên sinh động hơn trong đời sống văn hóacủa con người Như vậy có thể thấy rằng, nghĩa của biểu tượng không chỉđược tạo ra từ mối quan hệ với nhiều yếu tố trong tác phẩm mà còn từ mốiquan hệ với cộng đồng và thời đại, nó phải mang quan niệm về con người vàthế giới trong từng thời kì lịch sử nhất định
Biểu tượng không chỉ đơn thuần là mã hóa những tư tưởng cảm xúc củanhà văn, mang cá tính sáng tạo của người nghệ sĩ mà đó còn là kết tinh củanhững giá trị văn hóa, những suy nghĩ, quan niệm của một dân tộc, mang hơithở của thời đại Những tác phẩm sử dụng nhiều biểu tượng thể hiện sự từchối cách viết trực tiếp giãi bày những tâm tư tình cảm của tác giả
Như đã nói ở phần trước, biểu tượng luôn có xu hướng tái sinh Ở nhữngthời điểm nhất định, trong những tác phẩm cụ thể, biểu tượng mang dấu ấn cánhân của nhà văn, ghi dấu hơi thở của thời đại Nhà văn có thể tái sinh cácbiểu tượng trong những môi trường, hoàn cảnh khác nhau, cấp cho nó nhữngmối quan hệ mới, để có thể mang thêm nhiều lớp nghĩa mới, phong phú hơn,
đa dạng hơn Mỗi thời kì, mỗi khuynh hướng, mỗi nhà văn lại có những cáchkhám phá hình tượng riêng Khám phá thế giới biểu tượng góp phần chiếmlĩnh tác phẩm văn học một cách trọn vẹn nhất
Trang 20Cuộc sống muôn hình vạn trạng, đòi hỏi nhà văn phải sử dụng hệ thốngcác biểu tượng để ẩn dụ cho cảm xúc, tư tưởng của mình Cho nên khi tiếpnhận, đòi hỏi người đọc cần có một trình độ nhất định, phải yêu thích vănchương, phải thực sự toàn tâm toàn ý khi tiếp nhận nó Chỉ có vậy biểu tượngmới thực sự sống động và tồn tại lâu dài Người đọc là kẻ đồng sáng tạo vớinhà văn Tác phẩm văn học chỉ thực sự sống dậy khi ở đó có sự đọc của ngườitiếp nhận Tiếp nhận biểu tượng nghệ thuật không chỉ đơn thuần là xem xét nótrong môi trường tác phẩm, mà cần đặt nó trong môi trường rộng lớn hơn làthời đại, thời điểm mà nó ra đời.
Nhìn chung, khi tiếp nhận biểu tượng nói riêng và tác phẩm nghệ thuậtnói chung, người đọc cần vận dụng toàn bộ khả năng tư duy và tình cảm củamình để đọc hiểu ý nghĩa Nhà văn khi sáng tạo các biểu tượng, bao giờ cũnggửi gắm những thông điệp nhất định và mong muốn đứa con tinh thần củamình sống mãi với thời gian Và muốn làm được điều ấy, nhà văn phải để lạimột dấu ấn nào đó để người đọc phải suy ngẫm, phải rung động, thậm chí cóthể là băn khoăn, day dứt Và không có một dấu ấn nào tiêu biểu và đậm sâuhơn các biểu tượng nghệ thuật
1.5 Vai trò và ý nghĩa của biểu tượng
1.5.1 Biểu tượng trong các tác phẩm văn học
Văn học là sự phản ánh cuộc sống, nhà văn là những con ong chăm chỉhút mật từ vườn hoa cuộc đời để tạo nên những giọt mật tinh túy cho nhângian, ấy là các tác phẩm văn học Tuy nhiên đó không phải là sự sao chép, bênguyên đơn thuần, mà đó là sự phản ánh có chọn lọc, được người nghệ sĩ lựachọn cân nhắc để đưa vào tác phẩm văn học, nhằm mang lại cho người đọcnhững xúc cảm nhất định, những dư âm sâu sắc Một trong những đích đếncủa văn học là sự nhận thức Văn học đến với con người và giúp con ngườiđổi thay nhận thức Vì vậy nhà văn cần sử dụng rất nhiều yếu tố, trong đó có
Trang 21hệ thống các hình ảnh, biểu tượng, nhằm mã hóa tư tưởng, quan điểm của tácgiả về cuộc đời và con người Tìm hiểu biểu tượng nghệ thuật sẽ giúp chongười đọc thấu hiểu văn bản văn học và tâm tư nhà văn, góp phần hiểu rõ hơnbản chất của sự sống Biểu tượng là những hình ảnh sự vật cụ thể của cuộcsống đã được mã hóa, là những tín hiệu thẩm mĩ bao hàm trong đó nhiều ýnghĩa và gây được ấn tượng sâu sắc nơi người đọc Nó bao gồm cái biểu đạt
và cái được biểu đạt, được diễn đạt một cách cô đọng hàm súc, có sức kháiquát cao Cách lựa chọn và sắp xếp các biểu tượng trong tác phẩm thể hiệncách tư duy của nhà văn về cuộc sống Những tác phẩm sử dụng cách viếtthông qua các biểu tượng thật sự khó tiếp nhận, đòi hỏi người đọc phải thực
sự yêu thích văn chương và có trình độ nhất định mới có thể lí giải được sự
mã hóa của các biểu tượng Bởi lẽ, biểu tượng thường hàm ẩn nhiều tầng ýnghĩa, nó vận động và phát triển không ngừng, cái được biểu đạt bao giờ cũngphong phú hơn cái biểu đạt
Có thể nói, biểu tượng là những hình ảnh, sự vật chứa đầy ý nghĩa vàcàng trở nên sinh động hấp dẫn trong đời sống cộng đồng, trong sự tiếp nhậncủa người đọc Mặt khác, biểu tượng mang tính tái sinh về mặt ý nghĩa khôngchỉ trong quá trình sáng tác mà còn cả trong quá trình tiếp nhận Hình thức cóthể vẫn được giữa nguyên, nhưng cái được biểu đạt đã có ít nhiều thay đổi,ngoài việc giữ vững nét nghĩa cũ thì biểu tượng còn hàm ẩn nhiều lớp nghĩamới được bổ sung, góp phần làm nên sự phong phú cho nghĩa của biểu tượng.Tuy nhiên điều này cũng cần phụ thuộc vào trình độ tư duy và tiếp nhận từngười đọc
Thời đại sản sinh ra biểu tượng, cho dù thời đại ấy có lùi sâu vào quákhứ thì biểu tượng đó vẫn còn tồn tại và không bao giờ bị mất đi trong môitrường tác phẩm Nó vẫn hiện diện sống động với những lớp nghĩa trước đó,thậm chí đến hiện tại còn được phát triển thêm nhiều lớp nghĩa bổ sung Tuy
Trang 22nhiên, không thể phủ nhận vai trò của mẫu gốc, của những lớp nghĩa cơ bảnbởi đó là nền tảng, là cơ sở để phát triển cho nghĩa hiện tại Chính nó đã manglại những giá trị độc đáo cho biểu tượng nghệ thuật, đó là giá trị truyền thống,giá trị lịch sử, giá trị của những quan niệm về con người một thời đã qua.Song hành với những quan niệm truyền thống luôn có những cách tânhiện đại Biểu tượng ngoài các nghĩa gốc, luôn có xu hướng phát sinh ra nghĩamới, hoặc những biểu tượng hoàn toàn mới Như vậy thì biểu tượng nghệthuật luôn có sự đan cài giữa cổ điển và hiện đại, giữa quá khứ và hiện tại,tương lai Chính điều đó khiến cho biểu tượng nghệ thuật vừa làm sống dậynhững giá trị truyền thống tốt đẹp đồng thời cũng mang đến những cảm thứcmới mẻ của thời hiện đại.
1.5.2 Biểu tượng về giới nữ trong văn học
Văn học là sự phản ánh con người và cuộc sống Dù bắt đầu từ đâunhưng đích đến cuối cùng của văn chương nhân loại vẫn là con người Conngười có vai trò quan trọng trong cuộc sống, là nhân tố sáng tạo nên các giátrị của nhân loại, trong đó có văn chương nghệ thuật Con người là trung tâmcủa văn học, là người sáng tạo, là đối tượng phản ánh nhưng cũng đồng thời
là đối tượng tiếp nhận Dù trực tiếp hay gián tiếp thì văn học vẫn nhằm đếnmục tiêu là con người Văn học có chức năng mang đến cho người những cảmnhận tinh tế và sâu sắc về thế giới Thạch Lam từng nói: “Đối với tôi vănchương không phải là một cách đem đến cho người đọc sự thoát li hay sựquên; trái lại văn chương là thứ khí giới thanh cao và đắc lực mà chúng ta có
để có thể vừa tố cáo, thay đổi một thế giới giả dối và tàn ác, vừa làm cho lòng
người thêm trong sạch và phong phú hơn” (tiểu luận Theo dòng) Suy cho
cùng, văn học có khả năng cảm hóa con người và giúp chúng ta sống vui hơn.Văn học, dù muốn hay không, mỗi tác phẩm văn học bao giờ nhà văncũng cố gắng xây dựng lấy một hình tượng nhân vật trung tâm Đó có thể là
Trang 23một hiện tượng, một sự vật nào đó, nhưng đa số trong các tác phẩm, nhân vậttrung tâm là nam hoặc nữ Văn chương không chỉ là nơi để bày tỏ chí làmtrai, tâm sự của các đấng mày râu:
“Hoành sóc giang sơn cáp kỉ thuTam quân tì hổ khí thôn ngưuNam nhi vị liễu công danh trái
Tu thính nhân gian thuyết vũ hầu”
(Thuật hoài – Phạm Ngũ Lão)
Mà đó còn là nơi bày tỏ những nỗi niềm, gửi gắm những tâm sự của phái nữ.Văn học ngoài những tác phẩm thể hiện các bậc anh tài thì cũng dành mộtdung lượng lớn cho một nửa còn lại của thế giới Ngay từ văn học dân gian,người phụ nữ đã xuất hiện với vai trò là nhân vật trung tâm trong tác phẩm, từnhững bài ca dao:
“Thân em như tấm lụa đàoPhất phơ giữa chợ, biết vào tay ai?”
Cho đến những câu chuyện cổ tích như Tấm Cám,… nhân vật nữ xuất hiện
khá nhiều Họ là người trực tiếp bày tỏ những tâm sự thầm kín, những trạngthái cảm xúc khác nhau, những lo lắng về tương lai mà qua đó người đọc thấyđược thân phận của những cô gái trong cuộc sống xa xưa, những bất công củacuộc đời mà họ phải gánh chịu
Theo tiến trình lịch sử văn học dân tộc, văn học trung đại cũng đượckhơi nguồn cảm hứng từ văn học dân gian Sự xuất hiện của những người phụ
nữ mang đến cho người đọc những cảm nhận khác nhau về các phận đời Từ
người cung nữ trong Cung oán ngâm đến người chinh phụ trong Chinh phụ
ngâm đến các nhân vật nữ thuộc mọi tầng lớp trong các sáng tác của Hồ Xuân
Hương… đều thể hiện một cách sâu sắc và thấm thía về số phận của nhữngngười phụ nữ trong xã hội phong kiến Họ là người con được sinh ra trong
Trang 24chế độ trọng nam khinh nữ, từ những quan niệm hà khắc đầy rẫy những bấtcông, vì vậy mà họ có nhiều nỗi niềm, họ muốn tâm sự, muốn trải lòng với tất
cả Và có lẽ, văn chương chính là nơi nói hộ những tâm sự từ sâu thẳm trongtrái tim của những người phụ nữ có thân phận hẩm hiu
Đến văn học hiện đại, cũng không nằm ngoài quy luật của văn chương,phái nữ cũng chiếm một vị trí quan trọng trong các tác phẩm Khác với vănchương dân gian hay văn chương trung đại, thơ văn hiện đại thể hiện nhữngngười phụ nữ theo một cách khác Đó là tâm sự trong tình yêu của những côgái đôi mươi trong thơ tình Xuân Diệu hay Nguyễn Bính, đó là những trải
nghiệm về cuộc sống chiến đấu của những cô gái xung phong trong Những
ngôi sao xa xôi hay những tâm sự về công việc, tình yêu và cuộc đời trong
những trang nhật kí của bác sĩ Đặng Thùy Trâm, đó là những trải lòng vềcuộc sống gia đình của người đàn bà hàng chài trong trang văn của NguyễnMinh Châu… Người nghệ sĩ đã đi sâu khai thác thế giới nội tâm nhân vậttrong những ngõ ngách sâu thẳm của tâm hồn con người
Như vậy, dù văn chương ở thời đại nào thì nhân vật nữ cũng chiếm mộtdung lượng lớn và có vai trò quan trọng, góp phần hình thành nên thế giớiphong phú trong tâm hồn đa dạng của giới nữ
Trang 25CHƯƠNG 2:
Ý NGHĨA BIỂU TƯỢNG VỀ GIỚI NỮ QUA MỘT SỐ MÔ HÌNH
KHÔNG - THỜI GIAN
Theo tiến trình lịch sử của nền văn học dân tộc, văn chương trung đạiViệt Nam có một vị trí đặc biệt quan trọng Văn học là sự phản ánh cuộcsống, đất nước và con người Văn chương trung đại cũng không nằm ngoàiquy luật đó Trong suốt hàng nghìn năm phát triển, văn học trung đại đã thểhiện rất thành công đất nước Việt Nam, con người Việt Nam qua những ángvăn bất hủ Con người luôn là nhân vật trung tâm của văn học, dù là khôngtrực tiếp đề cập đến nhưng sâu xa đó vẫn là ẩn dụ về cuộc sống con người.Văn học trung đại ngoài việc thể hiện thành công các bậc anh tài, đấng nam
nhi như Từ Thức trong Từ Thức lấy vợ tiên của Nguyễn Dữ hay Từ Hải, Kim Trọng trong Truyện Kiều của Nguyễn Du… thì bậc giai nhân, những người
phụ nữ tài sắc trong xã hội phong kiến cũng được chú trọng đến và thể hiệnrất sâu đậm vai trò và cuộc đời số phận của họ Đặc biệt, hình tượng của cácnhân vật nữ càng được bộc lộ rõ hơn khi gắn với các mô hình không - thờigian trong tác phẩm văn học Trong phạm vi khóa luận, người viết khảo sátđược một số mô hình không - thời gian sau:
1 Không gian gia đình - thời gian trì đọng
2 Không gian xã hội - thời gian cắt chia, lưu lạc
3 Không gian chiến trận - thời gian vội vã, gấp gáp
Dưới đây, người viết sẽ tập trung phân tích nhằm làm sáng tỏ ý nghĩabiểu tượng về người phụ nữ thông qua các mô hình không - thời gian đó
2.1 Không gian gia đình - thời gian trì đọng
Có thể nói, đây là mô hình không - thời gian nổi bật trong văn học trungđại Việt Nam Đặc biệt ở giai đoạn văn học thế kỉ XVIII đến nửa đầu thế kỉXIX thì vấn đề dân tộc không còn là yêu cầu bức thiết nữa Vấn đề chính lúc
Trang 26này là vận mệnh nhân dân, số phận con người, trong đó có người phụ nữ Cácnhà văn đều dành tình cảm đặc biệt tới những người phụ nữ, nhà văn trântrọng vẻ đẹp thuần khiết, đau xót trước những thân phận bất hạnh của số phậnngười phụ nữ Bởi họ là hình tượng tiêu biểu cho cuộc đời đau thương, trôinổi, lênh đênh, cho những con người trong cuộc đời bế tắc Họ là những conngười có đủ tài năng, có đức hạnh thanh cao nhưng lại bị cuộc đời vùi dập, xôđẩy.
2.1.1 Không gian bếp núc, vườn tược gắn với vị thế bé mọn của kẻ tòng thuộc
Người phụ nữ từ xa xưa gắn liền với vai trò của một người chăm lo chogia đình Vì vậy, không gian nổi bật để các nhân vật xuất hiện là không giancủa gia đình, không gian của căn bếp, của những khu vườn Ở đó, người phụ
nữ thực hiện vai trò “nội tướng” Cuộc sống của họ là những chuỗi ngày quẩn
quanh, tù túng, đơn điệu, làm những công việc trong gia đình, chăm sóc cha
mẹ già, chồng và con thơ Người phụ nữ trong không gian ấy là hiện thân củanhững thân phận nhỏ bé, bị phụ thuộc bởi những quan niệm, lễ giáo hà khắc.Trong văn học dân gian và văn học viết ở nước ta, những người phụ nữ
đã nêu cao những giá trị tốt đẹp về đạo đức, phẩm chất Nhưng sống trong xãhội phong kiến đầy rẫy những bất công ngang trái, họ phải chịu nhiều đau khổ
và bất hạnh Người ta thường nói “hồng nhan đa truân” – câu ấy có lẽ là lờinhận xét rút ra từ hiện thực của cuộc đời Và phần nào đúng với thực tế vìtrong hầu hết các tác phẩm, những người phụ nữ bất hạnh lại thường là nhữngngười phụ nữ đẹp Đó là những con người có vẻ đẹp hiền dịu, nết na Đó là vẻ
đẹp của nàng Liễu, nàng Đào trong Cuộc kì ngộ ở Trại Tây, của Nhị Khanh trong Người nghĩa phụ ở Khoái Châu, của nàng Vũ Nương trong Chuyện
người con gái ở Nam Xương… và cuộc đời của họ gắn với gia đình, với công
việc chăm chồng chăm con Thế nhưng, số phận cũng không hề bình yên
Trang 27Chắc hẳn người đọc chẳng thể quên hình ảnh một Vũ Nương thuần hậu, nết
na trong Chuyện người con gái Nam Xương của Nguyễn Dữ Đó là một câu
chuyện về số phận oan nghiệt của một phụ nữ có nhan sắc, có đức hạnh dướichế độ phong kiến, chỉ vì một lời nói ngây thơ của đứa con bé bỏng mà bịnghi ngờ, bị sỉ nhục và bị đẩy đến bước đường cùng, phải tự kết liễu cuộc đờimình để chứng minh cho tấm lòng trong sạch, thủy chung trước sau như mộtcủa nàng với chồng và gia đình Nguyễn Dữ đã thật tài tình khi xây dựng hìnhảnh Vũ Nương, nhà văn đã đặt nhân vật của mình vào những tình cảnh, nhữngkhoảng không gian khác nhau để làm nổi bật lên tính cách, phẩm chất củangười phụ nữ thương chồng, thương con, hiếu thảo với mẹ chồng đồng thờicũng hết mực thủy chung, một lòng với chồng
Người phụ nữ ấy tên thật là Vũ Thị Thiết, quê ở Nam Xương, thùy mịnết na, thêm có tư dung tốt đẹp Đến tuổi lập gia đình, nàng kết hôn với chàngTrương Sinh, con nhà hào phú nhưng tính tình hay ghen tuông, với vợ luônphòng ngừa thái quá Trong cuộc sống vợ chồng, nàng luôn giữ gìn khuônphép, không để vợ chồng phải to tiếng, bất hòa Thế nhưng hạnh phúc ngắnchẳng tày gang, triều đình có biến, Trương Sinh phải lên đường ra chiến trận,
để lại người vợ trẻ với mẹ già nơi quê nhà Lúc ra đi, thật là một cảnh tượnglàm cho mọi người phải xúc động, Vũ Nương hết lời căn dặn tiễn chồng.Nàng chẳng mong chàng có công danh áo gấm về làng, chẳng mong vinh hoaphú quý mà chỉ xin hai chữ bình yên, nàng còn cảm thông với những nỗi vất
vả, gian lao nơi chiến trận mà chồng sẽ phải trải qua Điều đó cho thấy nàng
là người trọng hạnh phúc gia đình, yêu chồng hơn bất cứ vật chất xa hoa nào.Người khác thì mong chồng có được vinh hiển trở về, còn nàng thì không Có
lẽ với nàng, mọi giàu sang vật chất đều không bằng sự bình yên của chồngngày trở về, vinh hoa phú quý có thể chỉ nhất thời còn hạnh phúc gia đình thìmãi mãi Vì thế ước mong của nàng chỉ là mái ấm gia đình, là hạnh phúc lứa
Trang 28đôi Vũ Nương yêu chồng, thương chồng, hết mực vì chồng, đó là tình yêucủa một người vợ dành cho chồng của mình, là thứ tình cảm hết mực chânthành và cao đẹp Yêu chồng, hi sinh tất cả vì chồng là một phẩm chất tốt đẹpvốn có của người phụ nữ Việt Nam có ở mọi thời đại Không chỉ đến văn họctrung đại mới xuất hiện, mà đó là phẩm chất đã có dòng chảy xuyên suốt quanhiều giai đoạn Văn học dân gian từng nói:
“ Trên đồng cạn, dưới đồng sâuChồng cày, vợ cấy, con trâu đi bừa.”
Tình cảm vợ chồng là sự gắn kết hòa thuận Hạnh phúc chỉ đơn giản là cùngnhau sống và làm việc, cuộc sống dù nghèo khó nhưng ấm áp vô cùng Đếnvăn học trung đại là tình yêu của nàng Vũ Nương với chồng, băng qua nhiềuthế kỉ đến văn học hiện đại là tình yêu của người đàn bà hàng chài với ngườichồng vũ phu, mặc dầu chịu nhiều đắng cay, đau đớn, nhưng vẫn một mựcnghĩ cho chồng sống vì con… Tình yêu, tình vợ chồng là thứ tình cảm muônthuở của nhân loại, và cần thiết trong cuộc sống Nó giúp con người sống yêuđời hơn và sống có trách nhiệm hơn
Trở lại với nàng Vũ Nương, ngày chồng đi, nàng thương xót vô cùng,hết lời căn dặn Những tháng ngày xa chồng, nàng ở nhà chăm mẹ già, hiếuthảo với bà, rồi một sinh linh bé nhỏ đang hình hài và ngày một lớn dần, nàng
có con Sinh con, chăm con, và phụng dưỡng mẹ già, đó không phải là côngviệc dễ dàng của một người vợ khi không có chồng ở bên Thế nhưng, bằngtình yêu với chồng, tình yêu với đứa con bé bỏng mà tội nghiệp và với bổnphận của nàng dâu, nàng đã làm tròn trách nhiệm của mình, chăm nom nhàcửa, chăm con và chăm mẹ già Những ngày xa chồng, mỗi khi thấy “bướmlượn đầy vườn”, “mây che kín núi” nỗi nhớ chồng lại dày lên và dài theo nămtháng, không chia sẻ được cùng ai Mẹ già đã mất, con còn nhỏ dại, vậy còncòn nỗi buồn nào hơn khi xa chồng Nhớ chồng và thương chồng, lo lắng cho
Trang 29chồng nơi biên ải cứ giày vò tâm hồn người vợ trẻ Ngóng trông từng ngày,mòn mỏi chờ đợi ngày chồng trở về Và quả thực nỗi nhớ chồng da diết khiếncho thời gian càng trở nên đằng đẵng và khắc khoải, xa xôi Đợi chờ rồi cũng
có ngày đoàn viên, vì thế mà ngày chồng về, nàng vui mừng khôn xiết, khôngsao tả nổi, có chồng bên cạnh, được sẻ chia và con được hưởng tình yêuthương từ cha sau bao ngày vắng bóng Thế nhưng, những gì nàng mong đợiđều không thành, vì tin lời ngây thơ của con trẻ, Trương Sinh nghi ngờ vợthất tiết và buông lời mắng nhiếc thậm tệ mặc cho nàng có giải thích, giãi bàyhết lời, chàng vẫn không tin Không còn cách nào khác, để chứng minh chotấm lòng chung thủy của mình, nàng đã tìm tới cái chết Nàng tin rằng chỉ cócái chết mới có thể giải oan cho nàng Tấm lòng trong sạch của nàng đã đượctrời cao chứng giám và thủy cung cảm động, nàng không chết mà được sốngdưới long cung Và đúng như vậy, theo thời gian, chàng Trương đã hiểu vàhối hận về hành động của mình Thế nhưng âm dương cách biệt, chàng chỉ cóthể gặp lại vợ mình trong giây lát, nỗi oan của người vợ hiền cũng được giảitỏa
Như vậy, người đọc có thể thấy rằng, Vũ Nương - người phụ nữ của giađình, công dung ngôn hạnh đều hiểu rõ Cuộc sống của nàng mặc dù chỉ là giađình, nhà cửa, nhưng qua đó ta thấy được những phẩm hạnh đáng quý: mộtngười vợ yêu chồng, thương chồng, một người mẹ thương con và một ngườicon hiếu thảo với cha mẹ Dù cuộc sống còn nhiều cực nhọc, oan trái, nhưngnàng vẫn tha thứ và hết lòng vì gia đình
Trên thực tế, bất kì nhân vật nào cũng đều được gắn với những khoảngkhông gian và thời gian nhất định Con người cũng không nằm ngoài quy luậtcủa tạo hóa, quy luật của vũ trụ và quy luật của thời gian Thông qua nhữngkhoảng không gian nhất định mà nhân vật được hiện lên một cách rõ nét, vàthể hiện được chủ ý, tư tưởng của nhà văn, nhà thơ Hình ảnh của người phụ
Trang 30nữ gắn với gia đình, chăm chồng chăm con là mẫu người tiêu biểu trong văntrung đại, bởi lẽ dưới chế độ Nho giáo hà khắc, người phụ nữ chỉ giữ vai tròtrong gia đình, là người vợ, người mẹ và sống theo quan niệm “tại gia tòngphụ, xuất giá tòng phu, phu tử tòng tử” Người phụ nữ bị cột chặt với những
lễ giáo phong kiến hà khắc và vì vậy mà cuộc sống của họ chỉ quẩn quanh vớigia đình, với nhà cửa, với chồng và với con Với không gian như vậy thì có lẽthời gian chẳng thể nào mà chảy trôi nhanh được, nó cứ từ từ, ngày này quangày khác, lặng lẽ và mòn mỏi qua đi
Nếu như các loại hình nghệ thuật khác chiếm lĩnh hiện thực bằng cácchiều không gian, thời gian khác nhau, thì văn học chủ yếu tái hiện khônggian, thời gian trong quá trình diễn ra sự sống Sự vận động của thời giantrong văn học phản ánh sự vận động của cuộc sống Không gian chính là môitrường tồn tại của con người, dù là không gian lớn hay nhỏ thì đó vẫn là nơi
để nhà văn triển khai các sự kiện, biến cố, là chỗ cho nhân vật hoạt động vàthể hiện con người cá nhân Không gian đó không phải ngẫu nhiên như trongđời sống mà do người nghệ sĩ lựa chọn để thể hiện ý đồ, tư tưởng chủ đề củanhà văn Xuất hiện trong không gian nào, nhân vật sẽ ứng với một cách sốngnhất định đó Với các nhân vật nữ trong văn học trung đại, khi họ chọn chomình cuộc sống gia đình, ẩn mình đằng sau cánh cửa thì với họ, không gian
và thời gian cuộc sống chỉ quẩn quanh, và êm đềm, mòn mỏi qua ngày Họkhông quan tâm đến thế giới bên ngoài ra sao, diễn biến như thế nào Với họgia đình là tất cả, những người phụ nữ ấy tôn thờ chồng và gia đình của mình,
họ sẽ làm tất cả vì những người thân yêu của mình và sẽ không bao giờ làmđiều gì tổn hại tới những người ấy Suy cho cùng họ là những người yêuthương gia đình, chỉ có yêu, họ mới hành động vì gia đình của mình Cuộcsống là nơi tình yêu thương bắt đầu và chảy đến trong suối nguồn cuộc đờicủa con người Làm sao sống mà không có tình yêu được, tình yêu sẽ giúp
Trang 31cho những người phụ nữ thêm mạnh mẽ, thêm dịu dàng và đằm thắm, duyên
dáng Chúng ta hãy nói đến nàng Nhị Khanh trong truyện Người nghĩa phụ ở
Khoái Châu Trong tập truyện Truyền kì mạn lục, nàng Nhị Khanh có phần
giống với nàng Vũ Nương trong truyện Chuyện người con gái Nam Xương ở
trước đó Nhị Khanh vốn là con nhà gia giáo nề nếp được nên duyên vớiTrọng Qùy con nhà quan Hai người yêu thương nhau hết mực, và vui hưởngcuộc sống hạnh phúc Tuy nhiên, không bao lâu sau, Trọng Qùy theo cha vàoNghệ An nhậm chức Hai người phải xa nhau biền biệt suốt sáu năm liềnkhông chút tin tức Cha mẹ Nhị Khanh mất, nàng phải đưa về Khoái Châuchôn cất rồi đến nương tựa ở nhà bà cô họ Lưu Lưu thị tham tiền, gả nàngcho tướng quân họ Bạch Nhị Khanh vô cùng lo sợ, nàng nhờ nô bộc đi tìm vàđưa được Trọng Qùy trở về Trở lại với Nhị Khanh, Trọng Qùy vẫn nết cũkhông chừa, thường đánh bạc và giao du với tên buôn Đỗ Tam Bị thua tất cảtiền bạc, Đỗ Tam đòi Trọng Qùy đánh cược bằng Nhị Khanh và cuối cùngphải giao nàng cho hắn Qúa uất ức, Nhị Khanh tự tử, bấy giờ Trọng Qùy mớitỉnh ngộ mà hối lỗi ân hận Nhị Khanh chết nhưng được Thượng đế thươngnên cho làm thần Trọng Qùy được gặp lại Nhị Khanh một lần, Nhị Khanhkhuyên chồng nuôi dạy hai con nên người bền chí giúp Lê Lợi Qủa nhiên haicon nàng về sau thành đạt
Như vậy, ta có thể thấy cả cuộc đời của nàng Nhị Khanh hi sinh chochồng và gia đình, làm tròn trách nhiệm và bổn phận với chồng, con và cả cha
mẹ, gia đình Từ nhỏ, Nhị Khanh đã hiền thục dịu dàng, được cha mẹ dạy dỗchu đáo Đến khi lập gia đình, nàng cũng hết mực yêu thương chồng và giađình chồng Đến khi chồng phải đi xa, mặc dù không muốn nhưng nàng cũnghết lời khuyên răn, nhắn nhủ chồng Qua đó, ta có thể thấy Nhị Khanh làngười biết trọng việc nước Quyết không vì tình riêng mà để chồng lơ là việcnước Nàng gạt tình yêu cá nhân, hạnh phúc gia đình sang một bên, nhường
Trang 32chỗ cho bổn phận và trách nhiệm với quốc gia, dân tộc Một người phụ nữ vớithân phận nhỏ bé, nhưng có suy nghĩ thấu đáo và chu toàn.
Yêu chồng, thương chồng, Nhị Khanh còn là người con hiếu thảo.Chồng đi, nàng ở nhà phụng dưỡng mẹ cha Cha mẹ mất, nàng thương sót vôcùng và đưa họ về mai táng ở Khoái Châu, rồi sống chung với Lưu thị Cuộcđời nàng cũng chịu nhiều gian truân từ đây Sống với bà cô hiểm ác, NhịKhanh chịu nhiều tủi cực và bị ép gả cho tên họ Bạch May chăng, nàng làngười thông minh, cho người đi tìm Trọng Qùy về và vợ chồng sum họp.Nhưng với bản tính ham chơi, cờ bạc, hắn vẫn “ngựa quen đường cũ” ăn chơi
vô độ đến nỗi thua tất thảy tiền bạc, mặc dù vợ đã hết lời can ngăn Đỉnh điểm
là hắn đã đánh cược chính người vợ chung chăn gối, đầu ấp tay kề hằng ngàycho tên Đỗ Tam, và để mất vợ Nhị Khanh lòng buồn nặng trĩu, nhưng cũngkhông thể làm khác ý chồng Một người vợ hết mực vì chồng, hi sinh tất cả vìchồng Không màng đến hạnh phúc cá nhân chỉ để khuyên chồng đi theo chữhiếu Cho người đi tìm chồng về sum họp, nhưng cuối cùng, điều nàng nhậnđược chỉ là sự trao đổi chính mình trong canh bạc của người chồng nàng hằngyêu thương cho một tên lái buôn Một người phụ nữ sống vì gia đình nhữngtưởng sẽ êm đềm, hạnh phúc Nhưng cuộc đời của nàng Nhị Khanh lại khổcực trong chính không gian căn nhà của mình Những năm tháng xa chồng,nàng mòn mỏi chờ đợi, ngóng trông ngày chàng trở về sum họp Thời gianngày một dài thêm, một năm, hai năm, ba năm…đến tận sáu năm sau ngườichồng mới trở về Sáu năm, khoảng thời gian không hề ngắn trong tình yêu vợchồng, sáu năm với bao nhiêu sự thay đổi Nhưng chỉ có tình yêu của vợ dànhcho chồng là không thay đổi, một lòng son sắt Vậy mà, Trọng Qùy lại khônghiểu và thản nhiên đánh cược người vợ hết mực chung thủy với mình trên vánbài vô hồn Người phụ nữ ấy thật đáng thương, bị chính người chồng củamình phản bội Không còn lí do để sống và hơn hết nàng cũng không muốn