Đồng thời, tôi cũng xin gửilời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới các thầy cô khoa Ngữ văn trườngĐại học sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Ngôn Ngữ cùngvới bạn bè và
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
DƯƠNG MỸ LINH
TỪ VAY MƯỢN TIẾNG ANH TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT
NAM ĐƯƠNG ĐẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
HÀ NỘI, 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN
DƯƠNG MỸ LINH
TỪ VAY MƯỢN TIẾNG ANH TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM VĂN HỌC VIỆT
NAM ĐƯƠNG ĐẠI
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên ngành: Ngôn ngữ học
Người hướng dẫn khoa học:
PGS TS ĐỖ THỊ THU HƯƠNG
HÀ NỘI, 2019
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin cảm ơn PGS.TS Đỗ Thị Thu Hương- một người cô
vô cùng đáng kính, đã tận tình giúp đỡ tôi định hướng đề tài, hướng dẫn tôithực hiện khoá luận và hoàn thành khoá luận này Đồng thời, tôi cũng xin gửilời cảm ơn chân thành và sâu sắc nhất tới các thầy cô khoa Ngữ văn trườngĐại học sư phạm Hà Nội 2, đặc biệt là các thầy cô trong tổ Ngôn Ngữ cùngvới bạn bè và người thân đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi để có thể hoàn thành
khoá luận với đề tài “Từ vay mượn tiếng Anh trong một số tác phẩm văn
học Việt Nam đương đại”
Để hoàn thành khoá luận này, chúng tôi cũng đã cố gắng tìm hiểu vànghiên cứu Tuy nhiên, khoá luận cũng không tránh khỏi những thiếu xót Vìvậy, tôi rất mong nhận được sự quan tâm, góp ý của các thầy cô và bạn bè đểkhoá luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 16 tháng 4 năm 2019
Sinh viên
Dương Mỹ Linh
Trang 4LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự
hướng dẫn của PGS.TS Đỗ Thị Thu Hương Các nội dung nghiên cứu trong
khoá luận là xác thực Những kết luận khoa học trong khoá luận chưa từngđược ai công bố trong bất kì công trình nào khác Nếu sai, tôi xin hoàn toànchịu trách nhiệm
Hà Nội, ngày 16 tháng 4 năm 2019
Sinh viên
Dương Mỹ Linh
Trang 5MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Mục đích nghiên cứu 3
4 Nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
6 Phương pháp nghiên cứu 4
7 Bố cục khóa luận 4
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ THUYẾT 5
1.1 Lí thuyết về từ vay mượn 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Nguyên nhân vay mượn từ vựng 7
1.1.3 Các cách vay mượn từ vựng 8
1.2 Từ vay mượn trong tiếng Việt 9
1.2.1 Khái niệm 9
1.2.2 Các nguồn vay mượn 9
1.2.3 Vai trò của từ vay mượn trong hệ thống từ vựng tiếng Việt 13
TIỂU KẾT 15
CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM, CÁCH THỨC VAY MƯỢN TỪ TIẾNG ANH TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 16
2.1 Sự xuất hiện của từ tiếng Anh trong tiếng Việt 16
2.1.1 Nguyên nhân xuất hiện 16
2.1.2 Kết quả thống kê phân loại 17
2.1.2.1 Từ vay mượn tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại xét theo đặc điểm cấu tạo và đặc điểm ý nghĩa 17
2.1.2.2 Từ vay mượn tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại xét theo cách thức vay mượn 18
2.2 Đặc điểm từ vay mượn tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại 18
2.2.1 Đặc điểm cấu tạo từ vay mượn tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại 18
Trang 62.2.2 Đặc điểm ý nghĩa từ vay mượn tiếng Anh trong văn học Việt Nam
đương đại 28
2.3 Cách thức vay mượn từ tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại 30
2.3.1 Vay mượn tiếng Anh nguyên dạng của nguyên ngữ 32
2.3.2 Vay mượn tiếng Anh bằng cách phiên âm chuyển tự 35
2.3.3 Vay mượn tiếng Anh bằng cách viết tắt 37
2.4 Những vấn đề đặt ra với việc giữ gìn sự trong sáng của tiếng Việt 38
TIỂU KẾT 41
KẾT LUẬN 42 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 71 Lí do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Trang 8Tiếng Việt của chúng ta đã có nguồn gốc từ rất xa xưa, trải qua một quátrình phát triển lâu dài đến nay vẫn tràn đầy sức sống Sức sống đó đã biểuhiện cho một tinh thần dân tộc vô cùng mạnh mẽ và sáng tạo của dân tộc ViệtNam trong các cuộc đấu tranh xây dựng đất nước và bảo vệ tổ quốc Sự pháttriển của dân tộc, của đất nước luôn song hành với sự phát triển của một nềnquốc ngữ, quốc văn và quốc học, Việt Nam cũng không ngoại lệ.
Ngôn ngữ dân tộc không bất biến mà nó luôn có sự vận động, biến đổi
và phát triển qua nhiều gia đoạn lịch sử Trong một giai đoạn cụ thể nào đó,bao giờ cũng xảy ra hiện tượng giữ lại những từ cũ, cấu tạo những từ mới, vaymượn những từ tiếng nước ngoài để có thể bộc lộ, miêu tả các sự vật, sự việcmột cách dễ dàng nhất
Vay mượn từ vựng là một hiện tượng phổ biến của mọi ngôn ngữ, tiếngViệt không tách khỏi qui luật chung này Các từ vay mượn là nguồn bổ sungquan trọng cho vốn từ tiếng Việt cả về số lượng lẫn chất lượng Có thể thấy,hiện tượng vay mượn từ vựng là một con đường làm phong phú, giàu có thêmcho vốn từ vựng tiếng Việt Lịch sử vay mượn từ vựng của Tiếng Việt trảiqua một thời gian rất lâu dài Tiếng Việt vay mượn rất nhiều đơn vị từ vựng,trong đó phần nhiều vay mượn từ vựng tiếng Hán, tiếng Pháp và tiếng Anh
Văn học đương đại là văn học của thời đại hiện nay đang diễn ra Vănhọc đương đại là một cách gọi để chỉ về một sự vận động, mà sự vận động đóđang tạo nên một hệ hình tư duy mới, có nhiệm vụ thay thế cho hệ hình tưduy cũ đã diễn ra trước đó Ở Việt Nam, việc tìm hiểu các tác phẩm văn họcViệt Nam đương đại ngày càng được quan tâm, tìm hiểu, nghiên cứu và ứngdụng vào đời sống văn học, từ hoạt động của nhà nghiên cứu đến sáng tạo củangười nghệ sĩ
Qua việc khảo sát các tác phẩm văn học Việt Nam đương đại, chúng tôinhận thấy các từ vay mượn tiếng Anh xuất hiện khá nhiều Sự xuất hiện củachúng phản ánh rõ những biến đổi của đời sống xã hội, tâm lí con người, đặcbiệt là ngôn ngữ Chính vì vậy, để hiểu rõ hơn về sự hình thành, phát triểnvốn từ vay mượn của tiếng Việt trong một số tác phẩm văn học Việt Nam
Trang 9đương đại, chúng tôi đã lựa chọn đề tài Từ vay mượn tiếng Anh trong một số
tác phẩm văn học Việt Nam đương đại Trên cơ sở nghiên cứu và tìm hiểu,
chúng tôi mong muốn tạo dựng một cái nhìn toàn cảnh về việc vay mượn và
sử dụng từ vay mượn tiếng Anh trong văn học Việt Nam hiện nay
2 Lịch sử nghiên cứu
Từ trước đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về vay mượn từvựng trong thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng
Trong cuốn Tiếp xúc ngôn ngữ ở Đông Nam Á (của Phan Ngọc và
Phạm Đức Dương) [7], tác giả Phan Ngọc đã trình bày vấn đề tiếp xúc củangôn ngữ và những cơ sở lí luận của tiếp xúc ngôn ngữ cùng với việc ảnhhưởng của ngữ pháp châu Âu lên ngữ pháp tiếng Việt Phan Ngọc viết:
“Trong quá trình tiếp xúc giữa hai ngôn ngữ tất yếu xảy ra sự vay mượn Tuy
nhiên, hiện tượng vay mượn xảy ra khác nhau tùy theo yêu cầu khách quan của sự giao tiếp và yêu cầu của cấu trúc ngôn ngữ Về yêu cầu khách quan của sự giao tiếp thể hiện rõ nhất ở sự vay mượn từ.” [7, tr.113]
Một trong những công trình nghiên cứu khá đầy đủ và toàn diện từ vay
mượng trong tiếng Việt hiện nay phải kể đến là cuốn Từ ngoại lai trong tiếng
Việt của Nguyễn Văn Khang Trong cuốn sách này, Nguyễn Văn Khang đã
giới thuyết một cách đầy đủ, toàn diện, hệ thống các vấn đề lí thuyết về vay
mượn từ vựng Ông khẳng định “Vay mượn từ vựng là một trong những
phương thức quan trọng để bổ sung vốn từ vựng của một ngôn ngữ” [15] Tác
giả đã trình bày một cách cụ thể các phương thức vay mượn từ vựng, từ cácbình diện vay mượn của từ đến các cách vay mượn từ vựng Từ chương haiđến chương bảy của cuốn sách, tác giả đã đi vào trình bày các vấn đề cụ thể
về các lớp từ vay mượn, tuy nhiên, tác giả vẫn tập trung nghiên cứu về vaymượn tiếng Hán là chủ yếu, chỉ có hai chương nghiên cứu về vay mượn từtiếng Pháp và từ tiếng Anh
Góp phần vào thành tựu nghiên cứu về vay mượn từ vựng trong tiếngViệt, còn có một số công trình như: Trần Nhật Chính (2002) [3], NguyễnThiện Giáp (2000) [8] Tuy nhiên, trong những bài nghiên cứu này, các tácgiả chưa nghiên cứu sâu về sự vay mượn từ tiếng Anh trong tiếng Việt
Trang 10Hay trong một số bài báo nghiên cứu khoa học của Nguyễn Ngọc Trâm(1995) [22], Nguyễn Văn Khang (2008) [13],Vũ Bá Hùng (2000) [12] được introng tạp chí Ngôn ngữ cũng có nghiên cứu về vay mượn từ tiếng Anh trongtiếng Việt nhưng chưa nghiên cứu cụ thể hiện tượng vay mượn trong văn học.
Điểm qua các công trình nghiên cứu kể trên, có thể khẳng định, hầu hếtcác công trình này mới chỉ tập trung cung cấp những vấn đề lí thuyết về từvay mượn nói chung, chưa có công trình nào nghiên cứu một cách cụ thể, chitiết hiện tượng vay mượn tiếng Anh trong các tác phẩm văn học Việt Namđương đại Kế thừa thành tựu nghiên cứu của các tác giả đi trước, chúng tôilựa chọn đề tài tìm hiểu từ tiếng Anh trong một số tác phẩm văn học ViệtNam đương đại, với hi vọng góp phần làm sáng tỏ bức tranh từ vay mượntiếng Anh trong tiếng Việt ở giai đoạn hiện nay
4 Nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Nghiên cứu lí thuyết về từ vay mượn nói chung, từ vay mượn trongtiếng Việt nói riêng
4.2 Thống kê và phân loại từ vay mượn tiếng Anh trong các tác phẩmvăn học Việt Nam đương đại
4.3 Đặc điểm, cách thức vay mượn từ tiếng Anh trong văn học ViệtNam đương đại
5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
5.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là các từ tiếng Anh xuất hiện trongmột số tác phẩm văn học Việt Nam đương đại
5.2 Phạm vi nghiên cứu
Ngữ liệu khảo sát được thống kê từ 76 tác phẩm văn học Việt Nam
Trang 11đượng đại trong năm tập truyện: Họ đã thấy bầu trời rộng lớn, NXB Trẻ,
2014 Tắm heo và tắm tiên, NXB Văn học 2016 Mình từng là điều đặc
biệt của nhau, NXB Văn học, 2017 Nhật ký nhân viên văn phòng, NXB Trẻ,
2012 Thị Thành Ký, NXB Thế giới, 2015
6 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện khóa luận, chúng tôi sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Chương 1: Cơ sở lí thuyết
- Chương 2: Đặc điểm, cách thức vay mượn từ tiếng Anh trong văn họcViệt Nam đương đại
Trang 12CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ THUYẾT 1.1 Lí thuyết về từ vay mượn
1.1.1 Khái niệm
- Thuật ngữ vay mượn
Vay, mượn, vay mượn vốn là từ ngữ sử dụng trong đời sống hàng ngày
được chuyển dùng làm thuật ngữ ngôn ngữ học
Vay: nhận tiền hay vật của người khác để sử dụng với điều kiện sẽ trả
lại bằng cái cùng loại ít nhất có số lượng hoặc giá trị tương đương
Mượn: lấy của người khác để dùng trong một thời gian rồi sẽ trả lại, với
sự đồng ý của người đó
Vay mượn dẫn theo Nguyễn Văn Khang, có hai trường hợp diễn ra
trong việc vay mượn từ của một ngôn ngữ
Thứ nhất là vay mượn do không có, thiếu với nội dung “thiếu thì phải
vay mượn” Thiếu cái gì thì vay mượn cái đó, trong vốn từ vựng của mộtngôn ngữ nếu thiếu các đơn vị từ vựng thì về lí thuyết (hay nguyên tắc) có thểvay mượn từ vựng của ngôn ngữ đang có Chẳng hạn, tiếng Việt vay mượn từ
ngữ chỉ các bộ phận xe của tiếng Pháp (dưới dạng phỏng âm): guidon: ghi
đông, envelope: lốp, chambre à air: săm, frein/freiner: phanh…
Thứ hai, có sẵn rồi nhưng vẫn vay mượn Bên cạnh việc vay mượn do
thiếu, còn có kiểu vay mượn các đơn vị từ vựng nước ngoài mà bản thân hệthống từ vựng của ngôn ngữ đó đã có từ biểu thị Ví dụ, tiếng Việt du nhậpnhững từ gốc Hán khi đã có sẵn các từ có nghĩa tương đương trong tiếng Việt:
chết/hi sinh/ từ trần; nhớ/ tưởng/ tưởng niệm; buồn/ sầu/ sầu não,…
Xung quanh việc sử dụng thuật ngữ “từ vay mượn” còn tồn tại các tên
gọi khác nhau Chẳng hạn trong tiếng Anh có một số thuật ngữ chỉ từ vaymượn:
(1) Loan chỉ đơn vị từ vựng đến từ ngôn ngữ khác, được ngôn ngữ đi vay sử dụng Tiếng Việt tương đương: từ mượn, từ ngoại lai.
(2) Loan word chỉ các đơn vị từ vựng đến từ ngôn ngữ hay phương ngữ
Trang 13khác, được ngôn ngữ đi vay sử dụng thông qua thủ pháp dịch âm, phỏng dịch.
Tiếng Việt tương đương: từ ngoại lai.
(3) Loan translation / calque chỉ các đơn vị từ vựng đến từ ngôn ngữ
hay phương ngữ khác, được ngôn ngữ đi vay sử dụng thông qua thủ pháp dịch
âm, phỏng dịch Tiếng Việt tương đương: phỏng dịch, dịch, can-ke ngữ nghĩa
(4) Loan blends chỉ các đơn vị từ vựng đến từ ngôn ngữ hay phương
ngữ khác bằng phương thức pha tạp giữa một phần ngữ âm mượn và một phần
ngữ âm của ngôn ngữ đi vay Tiếng Việt tương đương: từ hỗn hợp ngoại lai.
(5) Borrowed/ Borrowing (word) chỉ các đơn vị từ vựng được mượn từ
ngôn ngữ khác, bất kể là đồng hoá hay chưa đồng hoá về hình thức hay nộidung (tức là còn nguyên dạng hay là đã thay đổi ít nhiều) Tiếng Việt tương
đương: từ mượn, từ vay mượn.
(6) Hybrid word chỉ các đơn vị từ vựng phức hợp được cấu tạo từ các
thành phần có nguồn gốc từ ngôn ngữ cho vay và ngôn ngữ đi vay Tiếng Việt
tương đương: từ hỗn chủng, từ hỗn huyết.
(7) Alien word chỉ các đơn vị từ vựng đến từ ngôn ngữ khác nói chung.
Alien có nghĩa là “ngoại quốc”, nên alien word để chỉ “từ nước ngoài” nói
chung Tiếng Việt tương đương: từ ngoại quốc, từ nước ngoài.
(8) Foreign word chỉ các đơn vị từ vựng đến từ ngôn ngữ khác.Tiếng Việt tương đương: từ ngoại quốc, từ nước ngoài.
Cách dùng thông dụng, phổ biến hiện nay là borrowed word, loan
word Tương ứng trong tiếng Việt hiện đang sử dụng ba cách gọi: từ vay mượn, từ mượn, từ ngoại lai [15, tr.29,30]
- Khái niệm từ vay mượn
Theo nghĩa của từ “mượn” trong Từ điển tiếng Việt [18], “mượn” có
năm nét nghĩa
(1) “Mượn” là lấy của người khác để dùng trong một thời gian rồi sẽ
trả lại, với sự đồng ý của người đó
(2) Nhờ làm giúp việc gì
(3) Nhờ làm rồi trả công mướn
(4) Nhờ, dựa vào, dùng làm phương tiện làm việc gì
Trang 14(5) Tiếp nhận cái vốn không phải của mình để dùng.
Theo nghĩa của từ “vay trong Từ điển tiếng Việt, “vay mượn” có hai
nét nghĩa
(1) Vay (nói khái quát) Nhận tiền hay vật của người khác để sử dụngvới điều kiện sẽ trả lại bằng cái cùng loại ít nhất có số lượng hoặc giá trịtương đương
(2) Lấy cái đã có sẵn của người khác dùng làm của mình, thay cho việc
tự mình sáng tạo ra (nói khái quát)
Dựa vào nghĩa của từ mượn và từ vay mượn trong từ điển Tiếng Việt,
có thể hiểu, vay mượn từ vựng trong ngôn ngữ là tiếp nhận cái vốn không cócủa mình để dùng và lấy cái có sẵn của người khác dùng làm cái của mình,thay cho việc tự mình sáng tạo ra
Vậy có thể rút ra kết luận Từ vay mượn là khái niệm để chỉ việc sử
dụng đơn vị từ vựng của ngôn ngữ khác vào ngôn ngữ của mình với nhiềucách thức vay mượn khác nhau như dịch âm, phỏng dịch, nguyên ngữ, dịchnghĩa,… và việc sử dụng đơn vị từ vựng này không làm cho từ vựng của ngônngữ nào mất đi
1.1.2 Nguyên nhân vay mượn từ vựng
Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới việc vay mượn từ vựng trong ngônngữ Do quá trình tiếp xúc lịch sử, kinh tế và giao lưu văn hoá giữa các dântộc Ngôn ngữ của dân tộc có sức mạnh kinh tế, chính trị cao hơn sẽ có ảnhhưởng tới ngôn ngữ của dân tộc có sức mạnh kinh tế, chính trị thấp hơn Ngônngữ của dân tộc có trình độ văn hoá cao sẽ ảnh hưởng tới ngôn ngữ của dântộc có trình độ văn hoá thấp hơn (thông qua các kênh văn hoá, giáo dục, nghệthuật,…) Ngôn ngữ của dân tộc có số lượng người nói đông hơn sẽ có ảnhhưởng đến ngôn ngữ của dân tộc có số lượng người nói ít hơn
Bên cạnh đó, nhân tố chính trị - xã hội cũng tạo nên nguyên nhân vaymượn từ vựng Ngôn ngữ có sức thẩm thấu mạnh thường dễ dàng tiếp thu vàảnh hưởng của ngôn ngữ khác Những ngôn ngữ có quan hệ gần gũi, thânthuộc với nhau về loại hình sẽ chịu ảnh hưởng của nhau và có xu hướng vay
Trang 15mượn nhau Ngôn ngữ không có chữ viết sẽ dễ chịu ảnh hưởng và tiếp thu cácyếu tố của ngôn ngữ có chữ viết.
1.1.3 Các cách vay mượn từ vựng
1.1.3.1 Dịch nghĩa (Can-ke ngữ nghĩa)
Dịch nghĩa hay can-ke ngữ nghĩa là vay mượn phần ngữ nghĩa, còn cáchình thức khác như vỏ ngữ âm, chữ viết, hình thái - cấu trúc của ngôn ngữ thìkhông
Ví dụ: Thuế giá trị gia tăng (VAT - value - added tax), thị trường hối
đoái (exchange market), chuột máy tính (mouse), hạn ngạch nhập khẩu (import quotas),…
1.1.3.2 Phiên âm chuyển tự
Phiên âm là hình thức vay mượn từ vựng bằng cách phỏng theo âm đọccủa từ cho vay để ghi từ đó bằng cách đọc, cách viết của ngôn ngữ đi vay.Mỗi một ngôn ngữ đều có một phương thức phiên âm mang tính nguyên tắc.Chuyển tự là phương thức thực hiện giữa các ngôn ngữ không cùng hệ văn tự.Kết hợp phiên âm và chuyển tự là cùng sử dụng hai hình thức cho một từmượn (một bộ phận xử lí bằng phương thức phiên âm, một bộ phận xử lí bằngphương thức chuyển dịch)
Trong tiếng Việt, những năm 60 và 70 của thế kỉ XX, phiên âm đượchiểu là phiên chuyển (sự kết hợp giữa phiên âm và chuyển tự) Ví dụ:
- Phiên âm: a-xít (acide), ca-ra-vát/ ca-vát (cravate), cao bồi (cowboy),
cà phê (café),…
- Phiên chuyển: mi lô (milo) (nghiêng về chữ), va-len-tin (nghiên về
chữ), va len thai (nghiêng về âm đọc- valentine),…
1.1.3.3 Mượn nguyên dạng của nguyên ngữ
Mượn nguyên dạng của nguyên ngữ là vay mượn thể hiện qua hìnhthức chữ viết: sử dụng nguyên cách viết chính tả của đơn vị từ vựng ngôn ngữcho vay Tuy nhiên cách đọc thì cố gắng đọc sao cho sát với cách đọc củanguyên ngữ
Ví dụ, tiếng Việt vay mượn một số từ tiếng Anh dưới dạng nguyên ngữ
như stress, marketing, live show, computer,… thì khi đọc, người viết luôn cố
gắng đọc sao cho sát cách đọc của nguyên ngữ
Trang 161.2 Từ vay mượn trong tiếng Việt
1.2.1 Khái niệm
Từ vay mượn trong tiếng Việt là những từ tiếng Việt vay mượn củangôn ngữ khác nhưng có sự thay đổi về hình thức ngữ âm, ngữ nghĩa để phùhợp với hệ thống ngữ âm, ngữ nghĩa tiếng Việt
1.2.2 Các nguồn vay mượn
1.2.2.1 Vay mượn tiếng Hán
Có rất nhiều các quan niệm khác nhau về từ vay mượn Hán trong tiếngViệt Theo cách định nghĩa về “từ mượn” ở trên thì từ mượn Hán là những từmượn tiếng Hán Dù gọi từ mượn Hán là từ gốc Hán hay từ Việt gốc Hán thìchúng đều là những từ có nguồn gốc từ tiếng Hán, bao gồm cả những từ mang
vỏ vay mượn và cả từ được Việt hoá cao, kể cả từ mượn theo lối can-ke ngữnghĩa Dù nhìn dưới góc độ khác nhau nhưng đây vẫn là từ mượn Hán Cáchgọi này đã bao quát được gần hết những từ ngữ Hán được du nhập vào tiếngViệt dưới các dạng biến thể
Nguyên nhân vay mượn tiếng Hán chủ yếu là để bổ sung từ vựng cònthiếu trong vốn từ vựng tiếng Việt Thời kì đầu tiếng Việt còn thiếu nhiều từtrong lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá - giáo dục, văn học - nghệ thuật,…nên đã vay mượn các từ ngữ gốc Hán chủ yếu những từ ngữ là thuật ngữ khoahọc chuyên môn Ngoài ra, tiếng Việt còn mượn một số từ ngữ tiếng Hán có ýnghĩa cơ bản giống với tiếng Việt nhưng được bổ sung thêm các sắc thái ýnghĩa
Ở nước ta, hiện tượng vay mượn tiếng Hán diễn ra khá sớm từ trước thế
kỉ X và kéo dài đến hết thế kỉ XX Trong quá trình tiếp xúc ngôn ngữ và vaymượn từ nguồn từ vựng của tiếng Hán, tiếng Việt đã chủ động tiếp nhận khánhiều từ gốc Hán Xét về mức độ (bao gồm cả số lượng và chất lượng), trongtiếng Việt, số lượng đơn vị từ vựng mượn tiếng Hán chiếm khá lớn và đượcđồng hoá rất cao Đơn vị từ vựng mượn tiếng Hán xuất hiện ồ ạt vào nước taxuất phát từ lí do bổ sung khái niệm do vào giai đoạn đó, vốn từ cơ bản củatiếng Việt chưa hoàn chỉnh và còn nguyên do từ các nhân tố xã hội, ngôn ngữ
Nhân tố xã hội ảnh hưởng tới việc vay mượn từ vựng tiếng Hán là do
Trang 17vai trò của lịch sử, địa lý, kinh tế, sự giao lưu tiếp biến văn hoá có tác động như một tác nhân thúc đẩy sự tiếp xúc và dẫn đến việc vay mượn từ vựng.
Về địa lý, Việt Nam và Trung Quốc có đường biên giới trải dài, tiếpgiáp nhau tới hàng nghìn cây số Chính vì vậy, đây là điều kiện thuận lợi đểtiếp xúc ngôn ngữ đặc biệt qua con đường khẩu ngữ
Về chính trị và quân sự, Việt Nam và Trung Quốc từ xưa đến nay vẫnluôn có một mối quan hệ với nhau Thời kì Bắc thuộc là quan hệ giữ kẻ xâmlược và dân tộc bị xâm lược Thời kì độc lập của nước Đại Việt là mối quan
hệ bình đẳng Thời kì xã hội chủ nghĩa là mối quan hệ hợp tác,… Vì vậy, các
từ mượn Hán đã xuất hiện trong tiếng Việt xuyên suốt chiều dài lịch sử trongmối quan hệ giữa hai đất nước Việt - Trung
Về kinh tế, hai nước đặt quan hệ hợp tác giao lưu kinh tế với nhau từchính ngạch đến tiểu ngạch Vì vậy, trong số các từ vay mượn tiếng Hán,những từ về kinh tế thương mại chiếm một số lượng khá lớn
Về văn hoá - xã hội, Trung Hoa là cái nôi của văn minh của vùng Đông
Á Vì vậy, Việt Nam cũng chịu ảnh hưởng rõ nét của nền văn hoá Trung Hoaqua tiếng Hán Vì thế, các từ vay mượn tiếng Hán về văn hoá chiếm một vị tríquan trọng trong lớp từ văn hoá của tiếng Việt
Ngoài các nhân tố trên, còn có rất nhiều những nhân tố khác cũng cóảnh hưởng tới việc tiếng Việt vay mượn từ ngữ tiếng Hán Các nhân tố xã hộinày không tồn tại độc lập riêng lẻ, mà có sự đan xen hoà quyện lẫn nhau Ởmỗi giai đoạn lịch sử thì sẽ có một nhân tố chiếm ưu thế, vậy nên việc vaymượn từ vựng gốc Hán cần được nhìn nhận tổng thể của cả quá trình lịch sử
Với tư cách là biến thể, các từ vay mượn tiếng Hán hoạt động trongtiếng Việt ở tất cả các cấp độ của hệ thống từ vựng tiếng Việt, tham gia vàocác phong cách chức năng giao tiếp tiếng Việt Việc du nhập, đồng hoá vàthực thế sử dụng này, các từ vay mượn gốc Hán đã hoà nhập và trở thành mộtyếu tố của hệ thống từ vựng tiếng Việt và thành các tầng, các lớp Có nhiềutầng dễ dàng để bóc tách, thông hiểu Nhưng có những tầng cần sự trợ giúpcủa thao tác ngôn ngữ học lịch sử thì mới có thể chỉ ra được Tuy nhiên vẫncòn nhiều tầng, nhiều lớp cho đến nay vẫn chưa thể khám phá bản chất căn
Trang 18nguyên gốc rễ vấn đề Tất cả những điều trên đây làm cho khái niệm từ mượntiếng Hán nói chung mới chỉ được xác định về mặt lí thuyết và do vậy, bứctranh của từ vay mượn tiếng Hán trở nên vô cùng phong phú, đa dạng trongtiếng Việt.
1.2.2.2 Vay mượn gốc Ấn - Âu
Vay mượn từ Ấn - Âu là nói về việc sử dụng các đơn vị từ vựng ngônngữ có nguồn gốc từ các nước thuộc châu Âu, Tây Trung và Nam Á Sốlượng từ vay mượn gốc Ấn - Âu trong tiếng Việt chủ yếu đến từ các đơn vịtừng vựng mượn từ tiếng Pháp, tiếng Anh, tiếng Nga Sự tiếp xúc của tiếngViệt với các ngôn ngữ Ấn - Âu diễn ra khá muộn so với tiếng Hán Lúc này,tiếng Việt đã vay mượn một cách có hệ thống những từ ngữ tiếng Hán cầnthiết để bổ sung cho vốn từ vựng của mình, do đó, các từ ngữ Ấn - Âu chỉđược vay mượn một cách lẻ tẻ, rời rạc và chủ yếu là trong các lĩnh vực khoahọc - kĩ thuật và các thuật ngữ
Nguyên nhân dẫn tới việc vay mượn từ vựng có nguồn gốc Ấn - Âu là
do vai trò của địa lý, giao dịch thương mại, chiến tranh cùng hoàng loạt cácnhân tố chính trị, văn hoá xã hội có tác động như một tác nhân thúc đẩy sựtiếp xúc và dẫn đến việc vay mượn từ vựng này
Mục đích của việc tiếng Việt vay mượn từ ngữ Ấn - Âu trước hết là để
bổ sung những từ còn thiếu trong vốn từ vựng tiếng Việt Tuy nhiên, trongmột số trường hợp, các từ ngữ Ấn - Âu được mượn vào tiếng Việt còn nhằmmục đích bổ sung một lớp từ có nghĩa chính xác hơn từ thuần Việt hoặc Hán
Việt đã có trước đó (ví dụ: xúp lơ, mù tạt), nhất là trong lĩnh vực sử dụng từ
thuật ngữ Trong một số trường hợp đặc biệt, nguyên nhân vay mượn từ ngữ
Ấn - Âu ở tiếng Việt chỉ mang tính thời thượng, trào lưu (ví dụ: nhạc dance,
like, status,…).
Thời kì đầu tiên, tiếng Việt không vay mượn từ ngữ Ấn - Âu một cáchtrực tiếp mà tiếp nhận nó bằng cách gián tiếp qua tiếng Hán Do đó, các âm Ấn
- Âu đều có dáng dấp của âm Hán Việt Ví dụ: Mĩ, Nhật, Tân Gia Ba, Ba Lan,
Phần Lan, câu lạc bộ (club), y sĩ phi lí thuần (insporation),… Về sau, cách vay
mượn này đã được giảm bớt, thay thế bằng cách vay mượn trực tiếp hoặcthông qua
Trang 19tiếng Pháp Tuy nhiên, trong thời gian trở lại đây, xu hướng vay mượn trực tiếp diễn ra phổ biến hơn.
Ngoài việc tiếp nhận hình thức và ý nghĩa của các từ ngữ Ấn - Âu,tiếng Việt còn mô phỏng cấu trúc của một số từ ngữ Ấn - Âu, tạo nên những
từ ngữ và cách nói có cấu trúc nghĩa giống như trong tiếng Ấn - Âu ở tiếng
Việt Ví dụ: chiến tranh lạnh, giết thời gian (tiếng Pháp); đĩa cứng, đĩa mềm (tiếng Anh); nhà văn hoá (tiếng Nga),…
Hiện tượng vay mượn từ gốc Ấn - Âu là một hiện tượng vay mượn có ýthức và đầy sáng tạo Ban đầu là giữ nguyên dạng trong cách viết, về sau làtừng bước Việt hoá theo các qui luật hoạt động của từ tiếng Việt Nét độc đáo
là cho đến nay, rất nhiều từ được sử dụng quen thuộc trong cuộc sống hàngngày nhưng không dễ dàng để nhận ra nguồn gốc từ mượn của chúng Sự cómặt của các từ vay mượn gốc Ấn - Âu đã làm cho hệ thống từ vựng tiếng Việttrở nên phong phú, đa dạng đồng thời cũng làm tăng thêm chất lượng củatiếng Việt với nhiều các khái niệm mới, từ ngữ mới được cập nhật liên tụchàng ngày
Với 80 năm đô hộ, thực dân Pháp đã để lại dấu ấn đậm đà của tiếngPháp đối với tiếng Việt, trong đó có lớp từ vay mượn tiếng Pháp Tiếng Pháp
đã trải qua một quá trình đồng hoá phức tạp do có sự khác nhau về loại hìnhhọc giữa hai hệ hình ngôn ngữ Sự xuất hiện của bộ máy cai trị song ngữ vớitiếng Pháp được sử dụng làm ngôn ngữ chính đã tạo nên sự lai tạp ngôn ngữ,đan xen tiếng Pháp và tiếng Việt, bắt nguồn cho sự vay mượn tiếng Pháptrong tiếng Việt Các nguyên nhân do về bối cảnh xã hội cũng là một trongnhững lí do hình thành các con đường du nhập tiếng Pháp vào tiếng Việt vàtạo ra các biến thể của từ mượn tiếng Pháp vào trong tiếng Việt
Sự xuất hiện của tiếng Anh tại Việt Nam thông qua sự có mặt của người
Mĩ giai đoạn binh lính Mĩ tham chiến giúp Pháp và tiếp xúc song ngữ Anh Việt chính thức bắt đầu rộng rãi từ giai đoạn 1954 - 1975 vào thời kì Mĩ -Ngụy Tuy nhiên, số lượng từ tiếng Anh được Việt hoá hay vay mượn khôngnhiều Phải đến khi Việt Nam đi vào công cuộc đổi mới toàn tiện từ kinh tếđến văn hoá, mở cửa hội nhập giao lưu quốc tế với xu thế toàn cầu hoá kéotheo sự xuất
Trang 20-hiện của tiếng Anh vào Việt Nam đã khiến cho từ vay mượn tiếng Anh gia tăng một cách đáng kể cả về số lượng lẫn chất lượng.
Có thể thấy rằng, vay mượn từ vựng là xu thế tất yếu, tích cực, tiếtkiệm của một xã hội tiến bộ, đáp ứng được nhu cầu tư duy và giao tiếp củacon người trong xã hội ngày nay Vay mượn không phải là bắt chước, khôngphải là sành điệu Vay mượn là nhu cầu cần thiết nhưng cũng không được làmmất đi bản sắc riêng của dân tộc Hiện tượng vay mượn theo cách gọi đã trởthành một thói quen, không xoá nhoà bản sắc dân tộc, vì thế không nên dùngquá nhiều từ nước ngoài trong một văn bản Trong những trường hợp cầnthiết cần phải đặt từ ngữ trong hệ thống, viết và nói sao cho rõ ràng, mạch lạc,
dễ hiểu
1.2.3 Vai trò của từ vay mượn trong hệ thống từ vựng tiếng Việt
Việc vay mượn từ nước ngoài trong hệ thống từ vựng tiếng Việt đã gópphần giúp biểu đạt các sự vật hiện tượng mới mà tiếng Việt không có từ đểbiểu đạt
Ví dụ như tiếng Việt không có từ để biểu đạt sự vật hiện tượng như:
pi-lê, ghi-đông, ICOM, kilogram, amateur,… Chính vì vậy, tiếng Việt đã vay
mượn từ tiếng Pháp và tiếng Anh để có thể diễn tả đúng sự vật, sự việc muốn
đề cập tới
Vay mượn từ vựng trong hệ thống từ tiếng Việt còn góp phần tăng giátrị phong cách của từ ngữ tiếng Việt và làm phong phú, sinh động thêm hệthống từ vựng tiếng Việt
Nếu như các từ Hán Việt xuất hiện trong tiếng Việt khi hệ thống từvựng tiếng Việt đã tương đối ổn định cơ bản về vốn từ, thì sự xuất hiện củachúng góp phần tăng thêm các giá trị phong cách mà từ tiếng Việt chưa cóđược Tuy nhiên, điều này làm xuất hiện các cặp từ đồng nghĩa trong tiếngViệt nhưng lại có những sắc thái ý nghĩa khác nhau Ví dụ, một số từ thuần
Việt gây cảm giác thô tục, ghê sợ, đau đơn như: chảy máu, chết, nôn,… thì từ Hán - Việt lại tạo được cảm giác lịch sự, trung hoà như: xuất huyết, từ trần,
thổ,… Điều này đã gióp phần gia tăng vốn từ đồng nghĩa trong hệ thống từ
vựng tiếng Việt, đồng thời góp phần biểu đạt chính xác thế giới tư tưởng củacon người
Trang 21Tiếng Việt vay mượn từ ngữ Ấn - Âu là để biểu đạt các sự vật, hiệntượng mới thuộc các lĩnh vực khoa học - kĩ thuật Tuy nhiên, trong một sốtrường hợp nhất định, các từ ngữ Ấn - Âu còn được mượn vào tiếng Việt nhằmmục đích bổ sung lớp từ vựng có ý nghĩa chuẩn xác hơn từ thuần Việt hoặc từ
Hán - Việt (ví du: mù tạt, xúp lơ), nhất là trong lĩnh vực thuật ngữ Ví dụ:
internet, xăng (essence), xì căng đan (scandal), Xô Viết (Soviet), Tuốc-nơ-vít (tuounevis), ban công (balcon), cờ lê (clé).
Trang 22TIỂU KẾT
Vay mượn từ vựng là xu thế tất yếu của mọi ngôn ngữ trên thế giới,trong đó có tiếng Việt Vay mượn từ vựng là hệ quả của sự ảnh hưởng, tiếpxúc giữa các ngôn ngữ với nhau do các điều kiện khách quan và điều kiện chủquan tạo thành Có rất nhiều nguyên nhân dẫn tới việc vay mượn từ vựngtrong ngôn ngữ như qua quá trình tiếp xúc lịch sử, giao lưu văn hoá, giao lưukinh tế giữa các quốc gia, dân tộc Vay mượn từ vựng xảy ra theo các phươngthức: dịch nghĩa, phiên âm, chuyển tự và mượn nguyên dạng của nguyên ngữ
Tiếng Việt chủ yếu vay mượn tiếng Hán và ngôn ngữ Ấn - Âu Quátrình vay mượn diễn ra từ lâu đời, bằng nhiều phương thức và con đường khácnhau Việc vay mượn các từ nước ngoài đã giúp biểu đạt các sự vật hiệntượng mới mà tiếng Việt không có từ để biểu đạt, làm tăng giá trị phong cách,tăng sự phong phú, sinh động của hệ thống từ vựng tiếng Việt
Trang 23CHƯƠNG 2 ĐẶC ĐIỂM, CÁCH THỨC VAY MƯỢN TỪ TIẾNG ANH
TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI
2.1 Sự xuất hiện của từ tiếng Anh trong tiếng Việt
2.1.1 Nguyên nhân xuất hiện
Tiếp theo từ mượn tiếng Hán, tiếng Pháp là sự xuất hiện của các từmượn tiếng Anh trong tiếng Việt Trong thời kì thực dân Pháp đô hộ ViệtNam, tiếng Anh đã xuất hiện trên đất Việt thông qua sự có mặt của người Mĩ,đặc biệt là giai đoạn cuối cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp khi binh lính
Mĩ tham chiến giúp Pháp Một số tỉnh Nam Bộ thời đó đã xuất hiện nhiều ấnphẩm sách báo, phim ảnh, hàng hoá bằng tiếng Anh Nhiều thông ngôn tiếngPháp chuyển sang học tiếng Anh để làm việc cho Mĩ, hay như việc tiếng Anhđược đưa vào giảng dạy trong trường học đã cho thấy vai trò của tiếng Anhtại Việt Nam đã được bắt đầu Tiếp xúc song ngữ Anh - Việt chính thức bắtđầu rộng rãi từ giai đoạn năm 1954 - 1975 Đây là thời kì Mĩ - Nguỵ Tuynhiên, số lượng từ tiếng Anh được Việt hoá lại không nhiều
Nhìn vào thực tế ở Việt Nam, có thể thấy, sự bùng nổ tiếng Anh bắtđầu từ năm 1986 - thời kì đổi mới đất nước Việt Nam tiến hành thôngthương, đổi mới, mở cửa, hội nhập với thế giới nên tiếng Anh trở thành cầunối quan trọng bậc nhất để nước ta vươn ra thế giới Sự đòi hỏi bức thiết này
đã thúc đẩy sự mở rộng và nâng cao vị thế của tiếng Anh ở Việt Nam Việcbùng nổ nhu cầu sử dụng tiếng Anh tại Việt Nam cũng như xuất hiện các từvay mượn tiếng Anh trong tiếng Việt có thể bởi các nguyên nhân sau: Nhucầu sử dụng tiếng Anh thực sự do đòi hỏi của hội nhập đã tác động đến từngthành viên trong xã hội, đặc biệt là những người cần quan hệ hợp tác với nướcngoài, sử dụng tiếng Anh là công cụ giao tiếp Các thiết bị sản phẩm xuất hiện
ở Việt Nam được ghi chú cách dùng bằng tiếng Anh Các giao dịch với nướcngoài được sử dụng chủ yếu bằng tiếng Anh Các cơ quan, doanh nghiệp tạiViệt Nam đều yêu cầu phải biết sử dụng thành thạo ngoại ngữ (cơ bản làngoại ngữ tiếng Anh) Các ấn phẩm bằng tiếng Anh xuất hiện ngày càng
Trang 24nhiều Các chương trình truyền hình cũng thường xuyên sử dụng từ tiếngAnh, cách diễn đạt theo kiểu tiếng Anh Công nghệ thông tin đặc biệt là mạnginternet đã bổ sung vốn từ tiếng Anh một cách tự nhiên cho mọi người Tronggiáo dục, tiếng Anh được coi là một môn học chính tại các trường từ cấp tiểuhọc đến trung học phổ thông.
Những lí do trên đã hình thành trạng thái song ngữ Anh - Việt đối vớinhững người thành thạo tiếng Anh và trở thành cách giao tiếp trộn mã (trộnyếu tố từ tiếng Anh trong cách nói tiếng Việt) ở những người không biết tiếngAnh Việc sử dụng tiếng Anh và vay mượn từ tiếng Anh đã trở thành điều phổbiến trên thế giới, không riêng gì Việt Nam Điều này đã khiến cho trạng tháison ngữ Anh - Việt được mở rộng và vì thế nó tác động lớn tới tiếng Việt Sựbùng nổ công nghệ thông tin đã tạo cơ hội cho việc tiếng Anh trở thành công
cụ hữu ích tác động đến giao tiếp mọi quốc gia trên thế giới, trong đó có tiếngViệt của Việt Nam Sự giao lưu giữa những người thuộc các quốc gia, dân tộc
có nền văn hoá khác nhau trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng ởmọi lĩnh vực một cách gián tiếp hay trực tiếp bằng tiếng Anh đã tác động đếnngôn ngữ tiếng Việt
Những lí do trên đã khiến cho ngôn ngữ trên thế giới có một vùng từvựng chung là tiếng Anh Việc vay mượn từ tiếng Anh của tiếng Việt cũngkhông nằm ngoài vòng xoáy này
2.1.2 Kết quả thống kê phân loại
Chúng tôi đã tiến hành thống kê 76 tác phẩm văn học Việt Nam đươngđại Tổng số từ tiếng Anh chúng tôi thu thập được là 858 từ Dưới đây là bảngtổng hợp kết quả phân loại
2.1.2.1 Từ vay mượn tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại xét theo đặc điểm cấu tạo và đặc điểm ý nghĩa
Trang 252.1.2.2 Từ vay mượn tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại xét theo cách thức vay mượn
2.2 Đặc điểm từ vay mượn tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại
2.2.1 Đặc điểm cấu tạo từ vay mượn tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại
(a) Từ đơn
Theo Mai Ngọc Chừ, “Từ đơn là những từ được tạo ra theo phương
thức từ hoá hình vị, do đó trong cấu tạo của từ đơn chỉ có một hình vị.”
[4;tr.186] Ví dụ: hot, see, life,… trong tiếng Anh, đi, làm, với,… trong tiếng
Việt Dựa vào định nghĩa này, chúng tôi đã tiến hành khảo sát các từ tiếng Anhxuất hiện trong tác phẩm văn học Việt Nam đương đại và thu được 554 từ đơntrên tổng số 76 truyện ngắn Trung bình xuất hiện 7,3 từ trong một tác phẩm
Trang 26n Tỉl
1 0,
1 0,
Trang 27n Tỉl
1 0,
1 0,
Trang 28n Tỉl
8 0,
1 0,
Trang 29n Tỉl
1 0,
151,
Trang 30n Tỉl
1 0,
Kết quả khảo sát cho thấy, có một số từ đơn xuất hiện với một tần số
cao như từ tour (8 lần), taxi (15 lần), bar (10 lần), stress (7 lần), villa (4 lần),
tivi (7 lần), web (5 lần), radio (13 lần), karaoke (3 lần),… Đây là những từ chỉ
sự vật, hiện tượng gần gũi, quen thuộc đối với người Việt Nam, nhất là giới
Trang 31trẻ Đặc biệt, chiếm số lượng nhiều nhất là những từ đơn chỉ địa danh (85/554 từ) Phần lớn, những từ này xuất hiện thấp (1 lần).
(b) Từ ghép
Theo Mai Ngọc Chừ, “Từ ghép là những từ được tạo ra theo phương
thức ghép căn tố với căn tố.” [4;tr.186] Ví dụ: inkpot, headlines, cowboy,…
trong tiếng Anh, anh em, hoa hồng, giáo viên,… trong tiếng Việt Dựa vào định
nghĩa này, chúng tôi đã thu thập được 223 từ ghép tiếng Anh xuất hiện trongtác phẩm văn học Việt Nam đương đại Dưới đây là bảng thống kê cụ thể:T
Tỉl
1 0,1
1 0,11
1 0,1
D
el 4 0,4 E - 1 0,1
Trang 32e
1 0,11
1 0,11
Trang 331 0,11
1 0,11
Trang 34tr Kết quả khảo sát trên cho thấy, có nhiều từ ghép xuất hiện với tần số1 0,1 T a 1 0,1
cao như Facebook (16 lần), PR (6 lần), delete (4 lần), E-mail (8 lần), Internet (8 lần), online (4 lần), laptop (5 lần),… Đây đều là những từ chỉ sự vật, hiện
tượng gần gũi với giới trẻ hiện nay
(c) Từ phái sinh
Theo “Nhập môn ngôn ngữ học” của Mai Ngọc Chừ, “Từ phái sinh là
từ phức được tạo ra theo phương thức ghép căn tố với phụ tố.” [4;tr.186] Dựa
vào định nghĩa trên, chúng tôi đã khảo sát từ phái sinh tiếng Anh trong văn họcViệt Nam đương đại và thu thập được 34 từ Bảng kết quả này phản ánh mộtthực tế là số lượng các từ phái sinh tiếng Anh trong văn học Việt Nam đươngđại rất ít Tần số xuất hiện của kiểu từ này không nhiều (thường xuất hiện 1
lần), cá biệt có từ xuất hiện với tần số dày đặc, điển hình là từ shopping (9 lần), marketing (4 lần), teenager (2 lần), blogger (2 lần), Euros (2 lần) Điều
này phản ánh rất rõ một thực tế của xã hội Việt Nam hiện nay đó là nhu cầumua sắm của người Việt ngày càng tăng cao
Tỉ
Trang 35Tỉ
Trang 38từ chỉ tên riêng chiếm số lượng ít nhất (9,55%).
Sở dĩ, các từ chỉ sự vật, hiện tượng xuất hiện trong các tác phẩm vănhọc Việt Nam đương đại chiếm ưu thế bởi Việt Nam trong những năm gầnđây đã mở cửa, hội nhập với toàn cầu Cùng với xu thế toàn cầu hoá diễn ra và
sự trợ giúp của cách mạng công nghệ thông tin, tiếng Anh ngày một đi sâu vàođời sống sinh hoạt của con người Việt Nam Chính vì có sự ảnh hưởng trongcuộc sống, mà văn học là tấm gương phản chiếu thế giới đời sống, vì vậy vănhọc Việt nam cũng chịu tác động và số lượng các từ vay mượn đặc điểm ýnghĩa chỉ các sự vật, hiện tượng đời sống hàng ngày chiếm số lượng lớn
2.3 Cách thức vay mượn từ tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại
Theo Nguyễn Văn Khang, có 3 cách vay mượn từ vựng đó là dịchnghĩa, phiên âm chuyển tự, mượn nguyên dạng của nguyên ngữ Sau khi khảosát từ tiếng Anh trong văn học Việt Nam đương đại, chúng tôi nhận thấy có
ba cách vay mượn tiếng Anh Thứ nhất, vay mượn nguyên dạng của nguyên
ngữ: teen, nobel, click, facebook, internet, Helsinki, catwalk,… Thứ hai, vay
mượn bằng cách phiên âm, chuyển tự: cao bồi, com-lê, tuýp, tông,… Thứ ba,
vay mượn bằng cách viết tắt: UNESCO, GMAT, ra-đa, KFC, PR, HIV,…
Chúng tôi nhận thấy, vay mượn từ tiếng Anh bằng cách vay mượn nguyêndạng của nguyên ngữ là cách vay mượn phổ biến nhất trong tiếng Việt hiệnnay với 796 từ (92,78%), tiếp đó là vay mượn bằng cách phiên âm chuyển tựvới 21 từ (2,45%) Đặc biệt, trong kết quả khảo sát, chúng tôi còn phát hiện
có hiện tượng viết tắt từ tiếng Anh trong tiếng Việt hiện nay đang rất phổ biến
Trang 39với 41 từ khảo sát được ( 4,77%).
Dưới đây là bảng tổng hợp cách thức vay mượn tiếng Anh trong một số tác phẩm văn học Việt Nam đương đại:
Trang 40- KFC “Rồi lại tình cờ một ngày, tôi phát hiện ra
những thương hiệu KFC, Lotteria… xuất hiện trên khắp các góc ngã tư lớn ở Hà Nội và Sài Gòn.” (Dili, 2015, tr 17).
- CEO “Ông Liew Mun Leong không chủ là cựu
Chủ tịch- CEO của Tập đoàn CapitLand mà đồng thời cũng là Chủ tịch tập đoàn sân bay quốc tế Changi (Singapore).” (Dương Thuỳ, 2016, tr 22).
2.3.1 Vay mượn tiếng Anh nguyên dạng của nguyên ngữ