Các từ thân tộc dùng xưng hô ngôi thứ nhất số ít của các nhân vật trong một số tác phẩm của Phan Tứ .... Các từ ngữ thân tộc dùng xưng hô ngôi thứ nhất số nhiều của các nhân vật trong mộ
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HÀ THỊ KIM OANH
TỪ NGỮ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM
CỦA NHÀ VĂN PHAN TỨ
LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÔN NGỮ, VĂN HỌC VÀ VĂN HÓA VIỆT NAM
THÁI NGUYÊN - 2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM
HÀ THỊ KIM OANH
TỪ NGỮ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM
CỦA NHÀ VĂN PHAN TỨ
Ngành: Ngôn ngữ Việt Nam
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công bố trong bất kỳ công trình nào khác Các thông tin trích dẫn đều được chỉ rõ nguồn gốc Nếu phát hiện có sự gian lận, tôi xin hoàn toàn chịu trách nhiệm về nội dung luận văn của mình
Tác giả luận văn
Hà Thị Kim Oanh
Trang 4Xin chân thành cảm ơn gia đình, các anh chị em, bạn bè lớp Ngôn ngữ Việt Nam K25 đã nhiệt tình giúp đỡ và động viên tác giả trong suốt thời gian
học tập và thực hiện luận văn
Tác giả luận văn
Hà Thị Kim Oanh
Trang 5MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC CÁC BẢNG iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lí do chọn đề tài 1
2 Lịch sử nghiên cứu 2
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 3
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 3
5 Phương pháp nghiên cứu 4
6 Đóng góp của luận văn 4
7 Cấu trúc của luận văn 4
Chương 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
1.1 Một số vấn đề chung về từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt 5
1.1.1 Khái niệm 5
1.1.2 Phân loại 6
1.1.3 Chức năng 9
1.2 Những vấn đề ngữ dụng chủ yếu khi xem xét từ xưng hô 10
1.2.1 Giao tiếp và các nhân tố giao tiếp 10
1.2.2 Các nhân tố chi phối việc xưng hô 16
1.3 Vài nét về Phan Tứ và tác phẩm của ông 17
1.4 Tiểu kết 19
Chương 2 NHỮNG NHÓM TỪ NGỮ DÙNG ĐỂ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA PHAN TỨ 20
2.1 Các phương tiện ngôn ngữ dùng để xưng hô trong một số tác phẩm của Phan Tứ 20
2.1.1 Xưng hô bằng các đại từ nhân xưng 20
2.1.2 Xưng hô bằng các từ chỉ quan hệ thân tộc 32
Trang 62.1.3 Xưng hô bằng tên riêng 40
2.1.4 Xưng hô bằng các từ chỉ chức danh, nghề nghiệp 42
2.1.5 Xưng hô bằng các kết hợp khác 43
2.2 Các từ ngữ xưng hô trong một số tác phẩm của Phan Tứ xét về phương diện cấu tạo 44
2.2.1 Từ xưng hô là từ đơn 44
2.2.2 Từ xưng hô là từ phức 45
2.3 Tiểu kết 46
Chương 3 CÁCH DÙNG TỪ NGỮ XƯNG HÔ TRONG MỘT SỐ TÁC PHẨM CỦA PHAN TỨ 48
3.1 Sử dụng từ ngữ xưng hô thể hiện cảm xúc, thái độ của nhân vật 48
3.1.1 Dùng từ ngữ xưng hô thể hiện cảm xúc 48
3.1.2 Dùng từ ngữ xưng hô thể hiện thái độ 55
3.1.3 Dùng từ ngữ xưng hô thể hiện sự thay đổi tình cảm, thái độ 60
3.2 Nét riêng của Phan Tứ trong cách sử dụng từ ngữ xưng hô 63
3.2.1 Từ ngữ xưng hô mang dấu ấn Nam Trung Bộ 63
3.2.2 Nghệ thuật sử dụng từ ngữ xưng hô 64
3.3 Tiểu kết 71
KẾT LUẬN 73
TÀI LIỆU THAM KHẢO 75
Trang 7tác phẩm của Phan Tứ 24 Bảng 2.4 Các đại từ nhân xưng ngôi thứ hai (số ít) trong một số tác
phẩm của Phan Tứ 26 Bảng 2.5 Các đại từ nhân xưng ngôi thứ hai (số nhiều) trong một số
tác phẩm của Phan Tứ 28 Bảng 2.6 Các đại từ nhân xưng ngôi thứ ba (số ít) trong một số tác
phẩm của Phan Tứ 29 Bảng 2.7 Các đại từ nhân xưng ngôi thứ ba (số nhiều) trong một số
tác phẩm của Phan Tứ 30 Bảng 2.8 Các từ thân tộc dùng xưng hô ngôi thứ nhất (số ít) của các
nhân vật trong một số tác phẩm của Phan Tứ 32 Bảng 2.9 Các từ ngữ thân tộc dùng xưng hô ngôi thứ nhất (số nhiều)
của các nhân vật trong một số tác phẩm của Phan Tứ 35 Bảng 2.10 Các từ thân tộc dùng xưng hô ngôi thứ hai (số ít) của các
nhân vật trong một số tác phẩm của Phan Tứ 36 Bảng 2.11 Các từ thân tộc dùng xưng hô ngôi thứ hai (số nhiều) của
các nhân vật trong một số tác phẩm của Phan Tứ 38 Bảng 2.12 Các từ thân tộc dùng xưng hô ngôi thứ ba (số ít) của các
nhân vật trong một số tác phẩm của Phan Tứ 39
Trang 8Bảng 2.13 Các từ thân tộc dùng xưng hô ngôi thứ ba (số nhiều) của các
nhân vật trong một số tác phẩm của Phan Tứ 40 Bảng 2.14 Các từ xưng hô bằng tên riêng của các nhân vật trong một
số tác phẩm của Phan Tứ 41 Bảng 2.15 Các từ ngữ xưng hô trong một số tác phẩm của Phan Tứ xét
về phương diện cấu tạo 46
sử dụng trong một số tác phẩm của Phan Tứ 63
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
1.1 Xưng hô là yếu tố không thể thiếu trong giao tiếp Nói cách khác,
có giao tiếp là có xưng hô Giao tiếp là nhu cầu tất yếu của con người, việc vận dụng từ ngữ xưng hô trực tiếp ảnh hưởng đến kết quả giao tiếp Các đối tượng giao tiếp nếu biết xưng hô linh hoạt, khéo léo có thể sẽ mang lại hiệu quả giao tiếp cao, và ngược lại Nhóm từ ngữ xưng hô, bởi vậy mà giữ vai trò quan trọng trong hệ thống từ vựng nói riêng và trong hệ thống ngôn ngữ (của bất kì quốc gia nào) nói chung
Kế thừa thành quả nghiên cứu của những người đi trước kết hợp với quan sát thực tế có thể thấy rằng: Từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt phong phú,
ấn tượng hơn so với từ ngữ xưng hô ở nhiều ngôn ngữ khác (như ngôn ngữ Anh, ngôn ngữ Trung ) Thông qua hoạt động của nhóm từ này, một vài đặc trưng về ngôn ngữ và văn hóa giao tiếp của Việt Nam được thể hiện Tìm hiểu những vấn đề liên quan đến từ ngữ xưng hô trong tiếng Việt là một cách để biểu hiện văn hóa dân tộc
Trong các tác phẩm văn chương, từ ngữ xưng hô ngoài việc cho thấy dấu ấn văn hóa vùng miền và phong cách sáng tác của người viết thì còn là phương tiện để người đọc tiếp cận các nhân vật về các mặt tính cách, tình cảm, thái độ Những vai trò này cho thấy từ ngữ xưng hô là yếu tố đáng để khai thác khi nghiên cứu một tác phẩm văn chương
Phan Tứ là tác giả tiêu biểu của mảnh đất Nam Trung Bộ (Quảng Nam) Ngay từ những ngày văn học cách mạng khu vực Nam Trung Bộ còn non nớt, Phan Tứ đã ghi dấu ấn trên văn đàn bằng bút pháp hiện thực sắc sảo
qua những tác phẩm như: Về Làng, Gia đình má Bảy Bằng những trải nghiệm
xương máu của người cầm súng cùng vốn sống thu nhận được từ mảnh đất Quảng Nam, Phan Tứ đã cho ra đời những trang viết mang đầy hơi thở thời đại nhưng vẫn đậm chất hiện thực Ở mỗi tác phẩm, Phan Tứ đều kì công xây
Trang 10dựng bức tranh đa dạng về thế giới nhân vật nói chung và sự phong phú trong tính cách của từng nhân vật nói riêng Qua xưng hô trong lời thoại của nhân vật, người đọc có thể thấy được một phần tính cách nhân vật cũng như tình cảm - thái độ của nhân vật dành cho đối phương hoặc người được nhắc tới trong diễn ngôn
Từ những lí do trên, luận văn lựa chọn “Từ xưng hô trong một số tác
phẩm của nhà văn Phan Tứ” làm đề tài nghiên cứu
2 Lịch sử nghiên cứu
Từ xưng hô trong tiếng Việt là vấn đề đã được đầu tư nghiên cứu Có thể
kể tên một vài tác giả với những công trình nghiên cứu về từ xưng hô như sau:
Nghiên cứu về từ xưng hô từ góc độ ngữ pháp, có thể quan tâm đến những công trình nghiên cứu của các tác giả Trần Trọng Kim, Bùi Kỷ, Phạm Duy Khiêm (1940), Phan Khôi (1955), Nguyễn Kim Thản (1963),
Nghiên cứu về từ xưng hô từ phương diện cấu trúc luận như: Nguyễn Tài Cẩn (1962), Đái Xuân Ninh (1978)
Nghiên cứu theo quan điểm ngữ dụng học, ngôn ngữ học xã hội về từ xưng hô với các tác giả tên tuổi như: Đỗ Hữu Châu (1993), Nguyễn Đức Dân (1989), Hoàng Thị Châu (1995), Nguyễn Văn Tu (1996),
Các luận văn Tiến sĩ, Thạc sĩ cũng đã đem đến một cái nhìn toàn diện hơn về xưng hô với đặc điểm, cấu trúc, chức năng và cả những yếu tố văn hóa
dân tộc như: Cách xưng hô trong tiếng Tày Nùng (Phạm Ngọc Thưởng 1998); Từ xưng hô và cách xưng hô trong các phương ngữ tiếng Việt dưới góc
-nhìn của lý thuyết ngôn ngữ học xã hội (Lê Thanh Kim - 2000); Từ xưng hô trong gia đình đến ngoài xã hội của người Việt (Bùi Thị Minh Yến 2001)
Bên cạnh đó, cũng có một số công trình nghiên cứu về từ xưng hô trong
các tác phẩm văn học như: Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Nguyễn
Quang Sáng (Nguyễn Thị Thảo Ly - 2011); Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Ngô Tất Tố (Đoàn Lăng Em - 2011); Từ xưng hô trong một số tác phẩm của Nam Cao (Trần Ngọc Mi - 2009),
Trang 11Về phía nhà văn Phan Tứ, bởi là cây bút có nhiều đóng góp cho nền văn học cách mạng nước nhà nên giới phê bình khá quan tâm đến những sáng tác của ông, đặc biệt là ba tác phẩm được coi là đỉnh cao trong sự nghiệp sáng tác của Phan Tứ bao gồm: Bên kia biên giới, Gia đình má Bảy, Mẫn và tôi
Có thể kể đến một vài công trình như: Mấy vấn đề trong văn học hiện đại Việt
Nam của tác giả Nguyễn Thị Đức Hạnh; Lối kể chuyện của nhà văn Phan Tứ
(Đặng Tiến - báo Văn Hóa Nghệ An); Tiểu thuyết Mẫn và tôi nhìn từ góc độ
thể loại (Võ Trường Giang - 2012) Tuy nhiên, chưa có công trình nào
nghiên cứu về từ xưng hô trong tác phẩm của Phan Tứ
Những công trình nghiên cứu kể trên là nguồn tài liệu quý cho luận
văn Đồng thời, cũng xin khẳng định rằng: Từ xưng hô trong một số tác phẩm
của Phan Tứ là đề tài mới, chưa từng được nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu từ ngữ xưng hô trong hai tiểu thuyết Bên kia biên giới và Gia đình má Bảy của tác giả Phan Tứ
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu
Khảo sát hệ thống từ ngữ dùng để xưng hô trong hai tiểu thuyết Bên kia biên giới và Gia đình má Bảy, đồng thời so sánh, đối chiếu đối tượng khác trong những chừng mực thích hợp để có thể làm rõ hơn đối tượng đang nghiên cứu
4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
4.1 Mục đích nghiên cứu: Làm rõ đặc điểm cấu tạo và vai trò của từ ngữ
xưng hô trong một số tác phẩm của Phan Tứ
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Hệ thống cơ sở lí luận về từ ngữ xưng hô
- Khảo sát, thống kê, phân loại các từ ngữ dùng để xưng hô trong một
số tác phẩm của Phan Tứ
- Mô tả và phân tích cách dùng các từ ngữ xưng hô trong một số tác
phẩm của Phan Tứ
Trang 125 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện được những nội dung trên, luận văn sử dụng các phương pháp nghiên cứu sau:
- Phương pháp miêu tả: dùng để miêu tả các dạng, các mô hình của các kiểu xưng hô, từ đó phân tích các phương diện của xưng hô từ góc độ ngữ pháp và ngữ dụng
- Phương pháp phân tích diễn ngôn: Được sử dụng trong quá trình phân tích các ngữ liệu (cuộc thoại, đoạn thoại ) có chứa các từ ngữ xưng hô trong mối tương quan với bối cảnh giao tiếp
- Phương pháp phân tích, tổng hợp: Trên cơ sở lí thuyết về xưng hô, lí thuyết giao tiếp, lí thuyết hội thoại luận văn sẽ phân tích và lí giải xưng hô với các ngôi giao tiếp Từ sự miêu tả và phân tích, luận văn cũng sẽ đi đến những kiến giải cụ thể trong từng phương diện nghiên cứu về xưng hô cũng như đưa ra những nhận định, đánh giá một cách toàn diện các vấn đề nghiên cứu
- Các thủ pháp nghiên cứu: Khảo sát, thống kê, phân loại, so sánh
- Phương pháp nghiên cứu liên ngành: Lý giải sắc thái văn hóa trong xưng hô
6 Đóng góp của luận văn
Từ những khảo sát, phân tích, phân loại từ xưng hô, đồng thời tìm hiểu vai trò, chức năng, giá trị của từ xưng hô trong một số tác phẩm của Phan Tứ, luận văn hy vọng sẽ mang lại những đóng góp tích cực cho việc nghiên cứu từ ngữ xưng hô của người Việt và có thể trở thành tài liệu tham khảo cho đối tượng học của các ngành như: ngữ văn, tâm lí học, văn hóa học
7 Cấu trúc của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Những nhóm từ ngữ dùng để xưng hô trong một số tác
phẩm của Phan Tứ
Chương 3: Chức năng của từ ngữ xưng hô trong một số tác phẩm của
Phan Tứ
Trang 13Theo cách hiểu của những người thực hiện luận văn, “xưng” là việc sử dụng một biểu thức ngôn ngữ để tự quy chiếu mình, “hô” là việc sử dụng một biểu thức ngôn ngữ để quy chiếu đối tượng trực tiếp tham gia giao tiếp và cả đối tượng mà hành vi giao tiếp hướng tới
Hiện nay, có nhiều quan niệm khác nhau về “từ xưng hô” trong tiếng Việt Những quan niệm khác nhau này đã được cụ thể qua việc đưa ra những khái niệm và các cách lý giải không giống nhau về từ xưng hô, đồng thời gọi tên từ xưng hô bằng những thuật ngữ khác nhau như: đại từ nhân xưng, đại từ xưng hô, đại danh từ nhân xưng, từ xưng gọi [4]
Tác giả Đỗ Hữu Châu cho rằng: “Xưng hô là một hành vi chiếu vật, ở
đây là quy chiếu các đối ngôn trong ngữ cảnh, nó sẽ gắn diễn ngôn với người nói, người tiếp thoại Xưng hô thể hiện quan niệm vai giao tiếp.”[4]
Tác giả Nguyễn Minh Chiến đã quan niệm: “Đó là những từ được rút ra trong hệ thống ngôn ngữ dùng để xưng hô (biểu thị các phạm trù xưng hô nhất định) giao tiếp xã hội”
Các tác giả Lên Biên, Nguyễn Minh Thuyết cho rằng, đại từ nhân xưng (xưng hô) được chia làm hai nhóm:
a Đại từ nhân xưng (xưng hô) đích thực: tôi, tao, tớ, hắn, họ
b Đại từ nhân xưng lâm thời: nguyên là những danh từ chỉ người trong
quan hệ thân thuộc được lâm thời dùng làm đại từ nhân xưng (xưng hô): ông,
bà, bố, mẹ, anh, em, con, cháu, cô, dì, chú, bác, cậu
Trang 14Từ cách quan niệm trên, các tác giả đưa ra khái niệm rằng: “Đại từ nhân xưng (xưng hô) là những từ ngữ dùng để trỏ hay thay thế cho một chủ thể giao tiếp với mục đích xưng hô [33]
Tác giả Trương Thị Diễm [7] trong công trình nghiên cứu của mình đã đưa ra quan điểm rằng: “một khi chúng ta xem đại từ là những từ không có nghĩa biểu vật thì cũng khó chấp nhận đưa tất cả các từ dùng để trỏ hay thay thế cho một chủ thể trong giao tiếp với mục đích xưng hô vào loại đại từ Bởi vì, ngoài những từ mà các tác giả gọi là đại từ nhân xưng đích thực vốn không có nghĩa biểu vật thì còn rất nhiều từ mang chức năng xưng hô nhưng nghĩa biểu vật của
nó vẫn nhận ra rất rõ Thí dụ, các từ như anh, chị, cô, bác, kỹ sư, bác sĩ, vv ”
Xoay quanh khái niệm về từ nhân xưng, tác giả Lê Thanh Kim [17] cũng đã đưa ra quan điểm rằng: “Từ xưng hô bao gồm những từ dùng để xưng (tự xưng) hoặc để hô (gọi) một người nào đó khi người đó ở một ngôi giao tiếp nhất định Luận văn cho rằng quan điểm này đã làm rõ được hai vấn đề
mà những quan niệm đi trước thường nhầm lẫn hoặc mập mờ trong cách hiểu,
đó là: 1 Từ xưng hô bao gồm đại từ nhân xưng/đại từ xưng hô, 2 “Xưng hô”
và “xưng gọi” không hoàn toàn giống nhau
(đây, đấy, ấy, đằng này ), thậm chí trống vắng từ xưng hô ; cụ thể là:
- Trước hết, phải kể đến “biểu thức ngôn ngữ ngữ pháp hóa các ngôi để
xưng hô trong các ngôn ngữ là các đại từ nhân xưng”.Các đại từ nhân xưng
trong tiếng Việt là tôi, tao, tớ, tui, qua, mày, mi, mình; choa, chúng tao, chúng
ta, chúng tôi, chúng mình, chúng tớ, bầy (bi), chúng mày; bay, hắn, nó, y, thị,
Trang 15- Thứ hai là các từ chỉ quan hệ thân tộc Từ chỉ quan hệ thân tộc trong
tiếng Việt là những từ chỉ người trong gia đình, họ tộc có quan hệ huyết thống, nội ngoại gần xa với nhau Các từ chỉ quan hệ thân tộc trong tiếng Việt
có thể chia thành hai nhóm: các từ thân tộc đơn (kị, cụ, ông, bà, bác, chú, cậu,
cô, dì, mợ, thím, cha, mẹ, bố, tía, ba, má, u, bầm, anh, chị, em, con, cháu, chồng,
vợ, dâu, rể ) và các từ thân tộc phức (kị ông, kị bà, kị nội, kị ngoại, cụ ông,
cụ bà, cụ nội, cụ ngoại, ông nội, ông ngoại, bà nội, bà ngoại, bác trai, bác giá, anh trai, chị gái, cháu trai, cháu gái )
- Thứ ba là dùng tên riêng Tên riêng - tên chính (không kể tên gọi
theo tên của chồng - với phụ nữ có chồng và tên gọi theo tên con - với phụ nữ
đã có con) có thể dùng một mình để tự xưng, đối xưng và tha xưng Khi được dùng để tự xưng và đối xưng, các tên chính thường được dùng ở dạng một âm tiết Việc dùng tên chính hai âm tiết cũng có thể, nhưng không phổ biến
- Thứ 4 là dùng từ chức danh, nghề nghiệp “Nghề nghiệp là tính
chuyên nghiệp trong sản xuất, điều hành, quản lí xã hội, trong tôn giáo mà một người được đảm nhiệm Chức danh bao gồm chức và hàm Chức hay chức vụ là trách nhiệm và quyền lực được giao trong việc điều hành một tổ chức kinh tế, hành chính, xã hội, quân đội, tôn giáo Hàm là danh nghĩa được phong tặng hay công nhận theo tài năng, đức độ, sự cống hiến”
- Cuối cùng là các bán đại từ, đây là các từ xưng hô không phải từ thân
tộc, cũng không phải là các đại từ thực sự Có ba nhóm bán đại từ: 1 Các từ
như ngài, ngươi, trẫm, khanh, thiếp, chàng, nàng ; 2 Những tổ hợp từ Hán Việt như ngu đệ, hiền huynh ; 3 Các từ chỉ xuất không gian hoặc những tổ hợp từ có chỉ xuất không gian ở sau để tự xưng như đây, thằng này (con này),
đấy, đằng ấy
Trong cuốn Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản [16], tác giả
Nguyễn Văn Khang đã hệ thống xưng hô thành 6 cách, tương đương với 12 kiểu như sau:
Trang 16A Xưng hô bằng họ và tên, gồm:
(1) Xưng hô bằng tên
(2) Xưng hô bằng họ
(3) Xưng hô bằng tên đệm + tên
(4) Xưng hô bằng họ + tên
(5) Xưng hô bằng họ + tên đệm + tên
B Xưng hô bằng tất cả các từ dùng để xưng hô, gồm:
(6) Các đại từ nhân xưng
(7) Các từ thân tộc dùng làm từ xưng hô
(8) Các từ khác được dùng làm từ xưng hô
C Xưng hô bằng chức danh, gồm:
(9) Gọi bằng một trong các chức danh
(10) Gọi bằng nhiều hoặc tất cả các chức danh
D Xưng gọi bằng tên của người thân thuộc (chồng, vợ, con)
(11) Gọi bằng tên của người thân thuộc như tên của chồng, vợ, con
từ dùng để xưng hô rất phong phú và đa dạng, bao gồm hai nhóm lớn:
a Đại từ nhân xưng chuyên dùng: tôi, tao, tớ, mày, bay, mi, ngài, mình,
nó, hắn, vị, gã, thị, nàng, chàng, thiếp
b Từ xưng hô lâm thời bao gồm:
- Các danh từ chỉ quan hệ thân tộc: ông, bà, cha, mẹ, anh, chị, cô, dì,
chú, bác, cậu, mợ, con, cháu
- Các danh từ chỉ chức danh, nghề nghiệp: giáo sư, bác sĩ, chủ tịch,
giám đốc, kĩ sư
Trang 17- Các danh từ chỉ quan hệ xã hội: bạn, đồng chí, đồng hương
- Các từ chỉ nơi chốn: đằng ấy, đây, đấy, đó,ấy
- Họ tên riêng của người: Lâm, Vân, Thành, Hải, Nguyễn Văn A, Hoàng
Thị B
- Thậm chí là các động từ, tính từ chuyển hóa như: cưng, bé, nhỏ, út, bồi
Luận văn cho rằng cách phân loại của tác giả Nguyễn Văn Khang là khoa học, phù hợp hơn cả Luận văn sẽ áp dụng cách phân loại này vào việc phân loại từ ngữ xưng hô trong một số tác phẩm của Phan Tứ
tượng trong một hoàn cảnh giao tiếp cụ thể “Định vị được hiểu là sự xác định
và sự đồng nhất người, quá trình, sự kiện mà người ta nói đến và quy chúng với một ngữ cảnh không gian nào đó được tạo nên và được duy trì bởi hành động phát ngôn và bởi sự tham gia của một người nói duy nhất và ít ra là đối với một người nghe” [35]
Từ sự cắt nghĩa về chức năng định vị (chức năng chiếu vật) của từ xưng
hô như trên, có thể hiểu là từ xưng hô chỉ bộc lộ chức năng định vị (chiếu vật) trong sự hành chức của từ xưng hô Nhưng trong quá trình hành chức, một phát ngôn nói chung và sự hành chức của từ xưng hô nói riêng bị chi phối bởi nhiều yếu tố khác nhau như ngữ cảnh giao tiếp (quy thức hay phi quy thức), vị thế của
Trang 18đối tượng giao tiếp (cao hơn hay thấp hơn người phát ngôn) vv Bởi vậy, nhân vật tham thoại phải hiểu được tính chất của ngữ cảnh giao tiếp và xác định được
vị thế của bản thân mình để lựa chọn từ xưng hô sao cho phù hợp
1.1.3.2 Chức năng liên nhân
“Sự tương tác là một hoạt động làm tổn hại hay duy trì những mối quan
hệ giữa mình với người trong sự giao tiếp mặt đối mặt Quan hệ giữa các nhân vật hội thoại là quan hệ liên cá nhân” [50]
Theo C K Orecchioni, nói tới quan hệ liên cá nhân trước hết là nói tới quan hệ ngang và dọc giữa các nhân vật Trục quan hệ ngang biểu thị quan hệ gần gũi hay xa cách giữa những nhân vật giao tiếp với nhau Ở trục này, quan
hệ giữa các nhân vật giao tiếp về bản chất là đối xứng Tuy nhiên cũng không hiếm những trường hợp bất đối xứng như: người này muốn gần, người kia muốn giữ nguyên hoặc cách xa Trái ngược với quan hệ ngang, nguyên tắc của quan hệ dọc về bản chất là bất đối xứng
Thực tế giao tiếp cho thấy, ngoài những đại từ nhân xưng đích thực, người Việt còn sử dụng vô số từ khác trong xưng hô nhằm đạt được những mục đích
giao tiếp khác nhau Có thể nói rằng, xưng và hô trong tiếng Việt là một nghệ
thuật giao tiếp chứ không chỉ là xưng hô thuần túy như một số ngôn ngữ khác
1.2 Những vấn đề ngữ dụng chủ yếu khi xem xét từ xưng hô
1.2.1 Giao tiếp và các nhân tố giao tiếp
1.2.1.1 Giao tiếp
Về khái niệm giao tiếp, các tác giả của cuốn Từ điển tiếng Việt cho rằng: giao tiếp là trao đổi, tiếp xúc với nhau Sự tiếp xúc và trao đổi có thể ở nhiều phương diện, nhiều lĩnh vực trong đời sống con người Con người trong quá trình giao tiếp ấy có thể thực hiện bằng nhiều cách thức khác nhau, nhưng phương tiện phổ biến và quan trọng nhất của con người là giao tiếp bằng ngôn ngữ Ngôn ngữ chính là phương tiện giao tiếp phổ biến và quan trọng nhất của con người [35]
Trang 19Cũng cho rằng ngôn ngữ là công cụ giao tiếp quan trọng nhất, tác giả Nguyễn Văn Khang nêu quan điểm: “Giao tiếp là một hoạt động xã hội của con người Hình thức giao tiếp cơ bản nhất của con người là giao tiếp bằng ngôn ngữ Giao tiếp bằng ngôn ngữ là hình thức giao tiếp sử dụng ngôn ngữ làm công cụ chủ yếu để truyền cho nhau những thông tin về tự nhiên và xã hội
nhằm những mục đích khác nhau.” Ngoài ra, tác giả đã cho thấy sự cần thiết
của hành động xưng hô trong giao tiếp, rằng trong bất kì một cuộc giao tiếp nào cũng không thể thiếu được xưng và hô “Ngay cả khi trong trường hợp vắng mặt (zero) cũng có thể coi là một sự có mặt không hiện hữu mang tải một
ý nghĩa nhất định” [16] Theo cách biện giải của tác giả, giao tiếp và xưng hô là hai yếu tố không thể tách rời Vì vậy, sẽ là không triệt để nếu nghiên cứu từ xưng hô mà không dựa trên cơ sở lý luận của lý thuyết giao tiếp
Về chức năng của giao tiếp, Đỗ Hữu Châu và Diệp Quang Ban [4] cho rằng giao tiếp có những chức năng sau:
- Chức năng thông tin: Khi giao tiếp, nhân vật giao tiếp thu nhận được những hiểu biết, những tri thức mới về thế giới khách quan
- Chức năng tạo lập quan hệ: Qua giao tiếp quan hệ liên cá nhân thay đổi Có thể qua giao tiếp những quan hệ thân hữu giữa người với người được xây dựng, bồi đắp hoặc mất đi
- Chức năng biểu hiện: Giao tiếp giúp con người bày tỏ được suy nghĩ, tình cảm, cá tính, nhân cách, thái độ, quan điểm vv đối với những vấn đề được nói tới, đối với mọi người
- Chức năng giải trí: Giao tiếp giúp con người được trao đổi, trò chuyện với nhau, giúp mọi người tiêu khiển, giải tỏa những bức xúc, thư giãn đầu óc vơi nhẹ tâm hồn Giao tiếp bằng lời là một hình thức giải trí mà
ai cũng có thể sử dụng
- Chức năng hành động: Thông qua giao tiếp chúng ta thực hiện hành động và thúc đẩy nhau hành động
Trang 20Như vậy, giao tiếp có vai trò rất quan trọng đối với con người trong đời sống xã hội Giao tiếp là môi trường hành chức của từ xưng hô, giao tiếp đặt
từ xưng hô vào bối cảnh cụ thể gắn với hành loạt các yếu tố liên quan đến con người và xã hội như văn hóa, phong tục, tâm lý vv
1.2.1.2 Các nhân tố giao tiếp
Trái với quan niệm của ngữ pháp truyền thống, cho rằng ngữ pháp của
câu độc lập với ngữ cảnh, Đỗ Hữu Châu cho rằng ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn
ngôn là các nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp, “chi phối cuộc giao tiếp
đó và chi phối diễn ngôn về hình thức cũng như nội dung” Luận văn xin được tóm tắt lại quan điểm này như sau:
Về ngữ cảnh
Ngữ cảnh là nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp nhưng nằm ngoài
dĩn ngôn Các hợp phần của ngữ cảnh bao gồm đối ngôn và hiện thực ngoài
diễn ngôn
a, Đối ngôn
Đối ngôn (là những người tham gia vào cuộc giao tiếp) Giữa những đối ngôn trong một cuộc giao tiếp có những quan hệ Những quan hệ này chi phối cả
nội dung và hình thức Đó là quan hệ tương tác và quan hệ liên cá nhân
Quan hệ tương tác chính là sự tác động lẫn nhau trong quá trình giao tiếp, nên còn gọi là vai tương tác Vai tương tác gồm vai nói và vai nghe, còn gọi là vai phát và vai nhận Trong một cuộc giao tiếp nói, mặt đối mặt, hai bai nói, nghe thường luân chuyển Nói cách khác, quan hệ tương tác là quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp đối với chính sự phát, nhận trong giao tiếp
Quan hệ liên cá nhân là quan hệ so sánh xét trong tương quan xã hội, hiểu biết, tình cảm giữa các nhân vật giao tiếp với nhau Quan hệ này có thể xét theo hai trục, trục tung là trục vị thế xã hội còn gọi là trục quyền uy (power), trục hoành là trục của quan hệ khoảng cách (distance), còn gọi là trục thân cận (solidarity) Trong xã hội, con người khác nhau về địa vị xã hội
có thể do chức quyền, tuổi tác, nghề nghiệp mà có Vị thế xã hội và mức độ thân cận cũng là yếu tố thuộc hình ảnh tinh thần mà những người tham gia giao tiếp xây dựng về nhau
Trang 21b, Hiện thực ngoài diễn ngôn
Hiện thực ngoài diễn ngôn được hiểu là “ tất cả những yếu tố vật chất, xã hội, văn hóa có tính cảm tính và những nội dung tinh thần tương ứng không được nói đến trong diễn ngôn của một cuộc giao tiếp (trừ nhân vật giao tiếp)
Tuy gồm cả những yếu tố vật chất và tinh thần, nhưng hiện thực ngoài diễn ngôn phải được nhân vật giao tiếp ý thức Khi đã trở thành hiểu biết của những người giao tiếp (và của những người sử dụng ngôn ngữ) thì hiện thực
ngoài diễn ngôn hợp thành tiền giả định bách khoa hay tiền giả định giao
tiếp của diễn ngôn
Nhân tố hiện thực ngoài diễn ngôn gồm 4 bộ phận: 1 Hiện thực - đề tài của diễn ngôn Thế giới khả hữu và hệ quy chiếu; 2 Hoàn cảnh giao tiếp; 3 Thoại trường; 4 Ngữ huống giao tiếp
Hiện thực - đề tài của diễn ngôn Thế giới khả hữu và hệ quy chiếu
được tác giả Đỗ Hữu Châu quan niệm rằng: “Khi giao tiếp, các nhân vật giao tiếp dùng diễn ngôn của mình để “nói” về một cái gì đó Cái được nói tới là hiện thực - đề tài của diễn ngôn.”
Thuộc hiện thực - đề tài của diễn ngôn trước hết là những cái tồn tại, diễn tiến trong hiện thực ngoài ngôn ngữ và ngoài diễn ngôn Cũng được xem
là hiện thực ngoài ngôn ngữ, ngoài diễn ngôn những cái thuộc tâm giới của con người như một cảm xúc, một tư tưởng, một ý định, một nguyện vọng.v.v Hiện thực - đề tài của diễn ngôn còn là bản thân ngôn ngữ; hay chính các cuộc giao tiếp, các diễn ngôn đã có hay đang được thực hiện
Hoàn cảnh giao tiếp (trước đây gọi là hoàn cảnh giao tiếp rộng) được
hiểu là: “Loại trừ thế giới khả hữu - hệ quy chiếu, loại trừ hiện thực - đề tài, tất cả những cái còn lại trong hiện thực ngoài ngôn ngữ làm nên hoàn cảnh giao tiếp rộng của cuộc giao tiếp, của diễn ngôn.” Hoàn cảnh giao tiếp rộng bao gồm những hiểu biết về thế giới vật lí, sinh lí, tâm lí, xã hội, văn hóa, tôn giáo, lịch sử các ngành khoa học, nghệ thuật ở thời điểm và ở không gian trong đó đang diễn ra cuộc giao tiếp
Trang 22Thoại trường (settinh, site) trước đây được hiểu là hoàn cảnh giao tiếp
hẹp Một cuộc giao tiếp phải diễn ra trong một không gian cụ thể ở một thời gian cụ thể, Thoại trường được hiểu là cái không - thời gian cụ thể ở đó cuộc giao tiếp diễn ra Không nên hiểu không - thời gian thoại trường là không gian
và thời gian bất kì, thường xuyên biến đổi Không - thời gian thoại trường là không gian có những đặc trưng chung, đòi hỏi người ta phải xử sự, nói năng theo những cách thức mà ít nhiều cũng chung cho nhiều lần xuất hiện Thoại
trường được phân thành thoại trường hằng thể, điển dạng và thoại trường
biến thể, hiện dạng
Ngữ huống giao tiếp được hiểu là “ tác động tổng hợp của các yếu tố
tạo nên ngữ cảnh ở từng thời điểm của cuộc giao tiếp” Thông qua ngữ huống
mà ngữ cảnh chi phối diễn ngôn Ngữ cảnh là một khái niệm động, không phải tĩnh; bất cứ cái gì muốn trở thành ngữ cảnh của cuộc giao tiếp thì chúng phải được nhân vật giao tiếp ý thức, phait thành hiểu biết của nhân vật giao tiếp Do đó, sự thay đổi của các yếu tố tạo nên ngữ cảnh phải được những người đang giao tiếp ý thức thì mới được gọi là ngữ huống
Về ngôn ngữ
Tất cả các cuộc giao tiếp đều phải sử dụng một tín hiệu làm công cụ Trong trường hợp giao tiếp bằng ngôn ngữ thì hệ thống tín hiệu là các ngôn ngữ tự nhiên
Có ba phương diện của ngôn ngữ tự nhiên sẽ chi phối diễn ngôn; bao
gồm 1 Đường kênh thính giác và đường kênh thị giác của ngôn ngữ, 2 Các
biến thể của ngôn ngữ và 3 Loại thể
a Đường kênh thính giác và đường kênh thị giác của ngôn ngữ
Ngôn ngữ tự nhiên là ngôn ngữ có đường kênh cơ bản là đường kênh thính giác Về sau, cùng với sự phát triển của xã hội, ngôn ngữ có đường kênh thị giác Từ đó, diễn ngôn có hai dạng thức: diễn ngôn nói (miệng) và diễn ngôn viết Tuy nhiên, vì đã ra đời và sử dụng hai thể chất cảm tính khác nhau cho nên mỗi thứ ngôn nhữ nói và viết vẫn có tính độc lập tương đối Sự
Trang 23sai biệt giữa chúng ngày một trở nên đáng kể Tuy nhiên không thể tuyệt đối hóa sự sai biệt giữa ngôn ngữ nói và ngôn ngữ viết Những quy tắc chi phối ngôn ngữ nói vẫn là cơ sở để lý giải những cái có trong ngôn ngữ viết mặc dù không thể giải thích được tất cả
b Các biến thể của ngôn ngữ: biến thể chuẩn mực hóa, biến thể phương ngữ địa lí và phương ngữ xã hội, ngữ vực và phong cách chức năng
Khác với tất cả các hệ thống tín hiệu giao tiếp thông thường khác mà tính đồng chất (có nghĩa là không có các biến thể) là chủ đạo, ngôn ngữ là một
hệ thống tín hiệu tồn tại và hành chức trong những biến thể nhất định Ngôn ngữ chuẩn mực (tiếng Việt chuẩn mực) là một biến thể của những biến thể đó Ngôn ngữ chuẩn mực bao gồm những đơn vị từ vựng, kể cả các ngữ cố định, các kết cấu cú pháp, các cách phát âm được toàn thể một cộng đồng ngôn ngữ chấp nhận, cho là đúng, được xem là cơ sở để đánh giá ngôn ngữ của từng cá nhân, của các cộng đồng - các tiểu xã hội - trong lòng xã hội vĩ mô
Phương ngữ địa lý bao gồm cách phát âm, các đơn vị từ vựng và một
số những kết cấu cú pháp được sử dụng ở những địa phương nhất định trong một quốc gia
Phương ngữ xã hội là những biến thể chủ yếu bao gồm các đơn vị từ vựng
và một số quán ngữ, một số kiểu kết cấu được sử dụng trong một cộng đồng xã hội theo nghề nghiệp, theo hoạt động khoa học, nghệ thuật, tôn giáo, tín ngưỡng v.v thậm chí trong cộng đồng của những người sinh sống ngoài vòng pháp luật
Ngữ vực
Đỗ Hữu Châu đã bày tỏ sự đồng tình với quan niệm về ngữ vực của
Halliday Theo đó, “Ngữ vực (register - phong cách học, xã hội ngôn ngữ học)
là một biến thể của ngôn ngữ theo các hoàn cảnh xã hội (social situation - tức
“thoại trường” theo thuật ngữ của chúng tôi - Đỗ Hữu Châu) như tư pháp, báo chí, tự nhiên, nghi thức (Đặc biệt, trong ngữ pháp hệ thống (systemic grammar), ngữ vực đối lập với phương ngữ địa lý và phương ngữ xã hội - Đỗ
Trang 24Hữu Châu) Phương ngữ là biến thể quan hệ với người dùng còn ngữ vực là biến thể liên quan tới cách dùng
c Loại thể
Loại thể là những biến thể sử dụng của các diễn ngôn Điều quan trọng là các loại thể tạo nên các câu thúc - constraint đối với việc tạo ra và thuyết giải diễn ngôn Những dấu hiệu trong diễn ngôn sẽ đóng vai trò những cái kích thích tác động vào các nhân vật giao tiếp, khiến cho những người này khởi động các mã ngôn ngữ, tức khởi động biến thể ngôn ngữ, ngữ vực, phong cách và thể loại tương ứng với kích thích tiếp nhận được
Về diễn ngôn
Diễn ngôn là lời của từng người nói ra trong một cuộc giao tiếp Cũng
có những diễn ngôn do hai hay hơn hai nhân vật giao tiếp xây dựng nên (như trong trường hợp một cuộc hội thoại tay ba, hai người liên kết với nhau để chống lại người thứ ba)
Diễn ngôn có hình thức và nội dung, cả hai đều bị chi phối của tác động của ngữ cảnh Hình thức diễn ngôn được tạo thành bởi các yếu tố của ngôn ngữ, các đơn vị từ vựng, các quy tắc kết học các hành vi ngôn ngữ tạo nên diễn ngôn Các yếu tố kèm lời và phi lời cũng được xem là các yếu tố thuộc hình thức của diễn ngôn Về nội dung, diễn ngôn có hai thành tố là nội dung thông tin và nội dung liên cá nhân
Ý định hay mục đích giao tiếp sẽ cụ thể hóa thành đích của diễn ngôn qua các thành tố nội dung của diễn ngôn Nói một cách tổng quát, diễn ngôn
có đích tác động
1.2.2 Các nhân tố chi phối việc xưng hô
Như đã nói: có giao tiếp là có xưng hô, nghĩa là: xưng hô là phần không thể thiếu của giao tiếp và bị chi phối bởi những yếu tố cấu thành giao tiếp
Nói về mối quan hệ giữa vai giao tiếp với vấn đề xưng hô, Lê Thanh Kim [17] cho rằng: Trong một diễn biến giao tiếp, hình thức ngôn ngữ biểu
Trang 25hiện trực tiếp vai giao tiếp của từng cá nhân là các từ xưng hô Từ xưng biểu hiện vai chủ thể giao tiếp, từ hô biểu hiện khách thể hay đối tượng giao tiếp Trong quá trình giao tiếp sẽ có sự luân phiên thay đổi vai trò của các vai giao tiếp Tư cách vai của một cá nhân (từ xưng - hô) được minh định qua vị thế xã hội của từng cá nhân và được xác lập thông qua các quan hệ cá nhân Hay nói cách khác, các quan hệ cá nhân là cơ sở để xác lập tư cách vai và để người tham gia giao tiếp lựa chọn từ xưng hô thích hợp Từ đây có thể thấy, vị thế
xã hội và của những người tham gia giao tiếp ảnh hưởng trực tiếp đến việc lựa chọn và sử dụng từ xưng hô Đồng thời, tác giả cũng cho rằng có ba quan hệ ảnh hưởng đến xưng hô là: 1 Quan hệ tôn ti trong gia tộc, 2 Quan hệ quyền thế hay vị thế trong xã hội, 3 Quan hệ liên kết trong xã hội
Theo Đỗ Hữu Châu [4], việc sử dụng các từ xưng hô khi giao tiếp bị chi phối bởi 5 yếu tố: 1 Vai giao tiếp (vai nói, vai tiếp thoại), 2 Quan hệ liên
cá nhân (quyền uy và thân cận, trong nhóm và ngoài nhóm), 3 Ngữ vực, 4 Thoại trường, 5 Tình cảm, thái độ đánh giá của các vai với nhau và vai trò của các vai với sự vật được thưa xưng
Trong thực tế, yếu tố “vai giao tiếp” được cho rằng có ảnh hưởng nhiều nhất tới cách xưng hô Việc xưng hô sẽ trở nên khó khăn nếu không xác định được vai giao tiếp
1.3 Vài nét về Phan Tứ và tác phẩm của ông
Phan Tứ (1930 - 1995) tên thật là Lê Khâm, ông là một trong những cây bút xuất sắc của thế hệ nhà văn trưởng thành trong kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ Phan Tứ được sinh ra ở Bình Định nhưng suốt thời niên thiếu ông sống ở quê cha là Quế Phong - Quế Sơn - Quảng Nam Vốn là cháu ngoại nhà chí sĩ yêu nước Phan Châu Trinh, được sinh trưởng trong một gia đình giàu truyền thống Cách mạng, Phan Tứ sớm được giác ngộ và có ý thức đấu tranh cho nền độc lập dân tộc
Trang 26Năm 1958, ông theo học khoa Ngữ văn, Đại học Tổng hợp Hà Nội Cũng năm này, ông đã viết cuốn "Bên kia biên giới" với bút danh Lê Khâm Tác phẩm viết về cuộc chiến đấu của quân tình nguyện Việt Nam tại Hạ Lào Năm 1960, ông ra mắt cuốn "Trước giờ nổ súng" với cùng đề tài trên Cả hai tác phẩm được đánh giá cao, và ông trở thành một nhà văn tên tuổi thời bấy giờ khi mới vừa tròn 30 tuổi [51]
Sau khi tốt nghiệp năm 1961, ông được phân công trở lại công tác tại chiến trường Miền Nam, làm phái viên tuyên truyền khu ủy Liên khu V, ủy viên đảng đoàn Văn nghệ khu 5, và viết văn dưới bút danh Phan Tứ Bút danh này gắn liền với các tác phẩm nổi tiếng của ông sau này Do sức khỏe yếu và chịu ảnh hưởng bởi tác động của chất độc hóa học, năm 1966 ông được rút ra Bắc để chữa bệnh, công tác tại Hội Liên hiệp Văn học Nghệ thuật Việt Nam, sau đó giữ chức quyền Tổng biên tập Nhà xuất bản Giải phóng [51]
Nói về những tác phẩm của Phan Tứ, có thể nhận định rằng ông là nhà văn
đã đi đến cùng với đề tài chiến tranh cách mạng bằng chính những trải nghiệm xương máu của mình Xin được tóm tắt sự nghiệp sáng tác của Phan Tứ bằng hệ
thống những tác phẩm đã gây dấu ấn trên văn đàn theo trình tự: Bên kia biên giới (tiểu thuyết, 1958, tái bản 1978), Trước giờ nổ súng (tiểu thuyết, 1960), Trở về Hà
Nội (truyện ngắn, 1960), Trên đất Lào (bút ký, 1961), Về làng (1964), Gia đình
má Bảy (tiểu thuyết, 1968, tái bản 1971, 1972, 1975), Mẫn và tôi (tiểu thuyết,
1972, 1975, 1978, 1987, 1995), Trại ST 18 (tiểu thuyết, 1974), Người cùng quê
(tiểu thuyết 3 tập, 1985, 1995, 1997, chưa hoàn thành)
Bên kia biên giới mặc dù không phải tác phẩm đầu tay nhưng là tiểu thuyết
đầu tiên khiến bạn đọc biết đến tên Lê Khâm Ở Bên kia biên giới, bạn đọc thấy được bản chất Cách mạng của quân đội hai nước Việt Nam - Lào và tinh thần đoàn kết máu thịt của quân dân hai nước trong cuộc kháng chiến chống Pháp
Gia đình má Bảy ra đời sau bốn năm khi Lê Khâm đổi bút danh thành
Phan Tứ Tác phẩm đã phản ánh cuộc chiến kiên cường của đồng bào xã Kỳ Bường Nhân vật trung tâm trong tác phẩm là má Bảy, một người mẹ giàu tình cảm , nói ít làm nhiều, dẫu phải đối mặt với những tra tấn, kìm kẹp dã
Trang 27man của kẻ thù vẫn kiên trung theo con đường Cách mạng Cuộc đời và sự thay đổi trong nhận thức của má Bảy mang tính chất điển hình cho quần chúng cách mạng trước và sau đồng khởi
Còn nhiều những tác phẩm khác của Phan Tứ đáng được đầu tư nghiên cứu một cách bài bản như: Mẫn và tôi, Trước giờ nổ súng Trong phạm vi nghiên cứu, luận văn xin được khảo sát hai tác phẩm Bên kia biên giới và Gia đình má Bảy
1.4 Tiểu kết
1 Xưng hô trước hết là một hành vi giao tiếp xã hội thể hiện lối ứng xử văn hóa của con người trong những cộng đồng nói năng nhất định Hành vi giao tiếp này được hiện thực hóa qua dạng thức ngôn ngữ xưng hô
2 “Từ xưng hô bao gồm những từ dùng để xưng (tự xưng) hoặc để hô (gọi) một người nào đó khi người đó ở một ngôi giao tiếp nhất định Từ xưng hô được tập hợp bởi nhiều lớp từ loại khác nhau Luận văn đồng tình với cách phân loại từ xưng hô thành 6 nhóm, tương đương với 12 kiểu của tác giả Nguyễn Văn
Khang trong cuốn Ngôn ngữ học xã hội - Những vấn đề cơ bản [22]
3 Mặc dù tên gọi, khái niệm và cách phân loại từ xưng hô chưa hoàn toàn thống nhất; nhưng từ sự hành chức có thể thấy sự thống nhất về chức năng của
từ xưng hô trong giao tiếp ngôn ngữ Có thể kể đến hai chức năng cơ bản của từ
xưng hô là chức năng chiếu vật và chức năng thể hiện quan hệ liên nhân
4 Giao tiếp là môi trường hành chức của từ xưng hô, giao tiếp đặt từ xưng hô vào bối cảnh cụ thể gắn với hành loạt các yếu tố liên quan đến con người và xã hội như văn hóa, phong tục, tâm lý vv Có ba nhân tố có mặt trong một cuộc giao tiếp, chi phối cuộc giao tiếp đó và chi phối hình thức -
nội dung của diễn ngôn là ngữ cảnh, ngôn ngữ và diễn ngôn
5 Tiếp nhận những tác phẩm của Phan Tứ, có thể thấy rằng ông là nhà
văn đã đi đến cùng với đề tài chiến tranh cách mạng Bên kia biên giới mặc dù
không phải tác phẩm đầu tay nhưng là tiểu thuyết đầu tiên khiến bạn đọc biết
đến tên Lê Khâm Gia đình má Bảy ra đời sau bốn năm khi Lê Khâm đổi bút
danh thành Phan Tứ Đây là hai tác phẩm được khảo sát trong luận văn
Trang 28Chương 2 NHỮNG NHÓM TỪ NGỮ DÙNG ĐỂ XƯNG HÔ TRONG
Bảng 2.1 Hệ thống từ ngữ xưng hô trong một số tác phẩm của Phan Tứ STT Nhóm từ ngữ dùng để xưng hô Tần số xuất hiện Tỉ lệ
khảo sát của luận văn, đại từ ta ngôi thứ nhất số ít không xuất hiện
Bảng 2.2: Các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (số ít) trong một số
tác phẩm của Phan Tứ STT Các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (số ít) Tần số xuất hiện
Trang 29Kết quả khảo sát các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (số ít) trong một số tác phẩm của Phan Tứ được thể hiện ở bảng 2.2
Tôi là đại từ nhân xưng có sắc thái trung tính Thông thường, đại từ tôi
được vai giao tiếp trên sử dụng trong xưng hô với vai dưới hoặc xưng hô giữa những người ngang hàng với nhau Đại từ tôi được cũng được sử dụng ở môi trường giao tiếp quy thức như trong các cuộc họp, các diễn đàn, hội nghị hoặc trong những tình huống giao tiếp mà những người tham gia giao tiếp có nhiều mối quan hệ đan chéo Như vậy, mặc dù không tạo được cảm giác thân quen, gần gũi nhưng đại từ tôi vẫn được xem như một giải pháp tình thế cho việc xưng
hô trong nhiều bối cảnh giao tiếp Đây có thể được xem như sự lý giải cho hiện tượng đại từ tôi được sử dụng nhiều nhất trong một số tác phẩm của Phan Tứ Có thể dẫn ra một vài tình huống giao tiếp sử dụng đại từ nhân xưng tôi như sau:
<1> Anh đợi tôi với! [52, tr.63]
Đại từ tôi ở ví dụ này được Kham sử dụng trong xưng hô với Đeng
Kham và Đeng là người cùng làng, Đeng hơn tuổi Kham và có tình cảm đặc
biệt với Kham Nếu xưng hô theo đúng vai vế xã hội, Kham phải gọi anh - xưng em Tuy nhiên, Kham không muốn đáp lại tình cảm của Đeng Vì vậy, Kham đã sử dụng từ tôi trong xưng hô với Đeng nhằm tạo khoảng cách
<2> Bà con ạ, cho tôi góp đôi câu [52, tr.68]
Đây là phát ngôn của nhân vật Tiến trong khi trao đổi về Cách mạng Việt - Lào với bà con làng Na Bua Cuộc hội thoại này có nhiều nhân vật thuộc nhiều độ
tuổi, nghề nghiệp khác nhau Vì vậy, từ xưng hô tôi được nhân vật sử dụng
<3> - Thố! Mải nói chuyện quên cả anh hem đồng chí Anh mới về tôi
chưa quen, xin lỗi nhé
- Vâng, tôi mới về huyện ta
- Anh nói giọng hơi cứng Hình như người ở Bô Lô Ven phải không?
Ở tình huống này, việc các đương sự đều xưng tôi, gọi anh là một giải
pháp xưng hô an toàn nhằm đảm bảo tính lịch sự mà lại không quá cứng nhắc
Từ nội dung lời thoại và cách xưng hô có thể thấy họ vừa quen biết, chưa biết những thông tin về tuổi tác, quê quán của nhau [52, tr.68]
Trang 30<4> Đồng chí Tiến… anh nhận làm xiều tôi nhé? Anh giúp tôi,… tôi bướng, tôi tự cao, tôi xấu lắm Anh cứu mạng tôi, anh khuyên bảo hàng năm nay, tôi vẫn không nên người tốt… Anh kết xiều với tôi nhé?[tr174]
Người phát ngôn ở ví dụ trên là Xẩy Xét về tuổi tác, Xẩy đáng tuổi cha/chú Tiến Tuy nhiên, trong hoàn cảnh Tiến là ân nhân của mình, Xẩy đã
xưng tôi gọi anh để thể hiện sự trân trọng, nhún nhường
<5> Cảm ơn đồng chí nhé Tôi đỡ lo nhiều rồi [52, tr.146]
Đại từ tôi ở ví dụ này được nhân vật Vi Xiên sử dụng trong xưng hô
với Tiến Tiến và Vi Xiên là những người ngang tuổi nhau và cùng tham gia chiến đấu
<6> Tôi không ưa những phương pháp khủng bố Trừng trị là hạ sách
Phải thu phục, các ông bạn ạ, phải thu phục lòng người [52, tr.188]
Đây là phát ngôn của Đờ Lagiurê tại câu lạc bộ sĩ quan với những
người đồng cấp về phương án cai trị nhân dân Lào Vì vậy, việc hắn xưng tôi, gọi các ông bạn là điều dễ hiểu
Đại từ tao xuất hiện 130 lần, xếp thứ 2 về tần số xuất hiện Thông thường, đại từ tao là kiểu xưng hô thân mật, mang sắc thái suồng sã giữa những
đối ngôn có quan hệ bình đẳng hoặc thân thiết Có thể dẫn ra một vài tình
huống sử dụng đại từ nhân xưng tao trong tác phẩm của Phan Tứ như sau:
<7> Không, tụi tao ở tập trung Sao mày bị không viết thư tao biết?
[29, tr.52]
Đại từ tao ở ví dụ này được nhân vật Tiến sử dụng trong xưng hô với
Điềm Hai nhân vật này ngang tuổi và là đồng đội của nhau
<8> Cái thằng Sao mày nói với tao mày không dại gì lãnh súng?
[52, tr 519]
Đây là câu nói của má Bảy với con trai của mình là Tư Sỏi Trong hoàn cảnh này, má Bảy được tự do lựa chọn cách xưng hô Tuy nhiên, má Bảy đã chọn cách xưng hô tao - mày để tỏ thái độ không bằng lòng về việc Tư Sỏi lãnh súng làm dân vệ cho Mỹ
Trang 31<9> Đây Phổ nè, tao tiếp tế cộng sản đây nè Không cho chén gạo gạo nào, mày cũng hút hết máu má con tao Đã vậy tao ủng hộ Cộng sản tận bờ
sát góc cho mày biết mặt Cách mạng về, mày chết tới đít Phổ ơi, mày chết tới đít rồi [52, tr 570]
Đây là lời thoại của má Bảy khi nghĩ đến Phổ (tay sai của giặc) Má
Bảy xưng tao trong trạng thái tức giận, căm thù đối với Phổ Như vậy, đại từ
tao trong tác phẩm của Phan Tứ không chỉ sắc thái suồng sã giữa những đối
ngôn có quan hệ bình đẳng hoặc thân thiết như thường thấy
Đại từ mình xuất hiện 35 lần Thông thường, đại từ mình ngôi thứ nhất
được người nói sử dụng khi muốn thể hiện mối quan hệ thân mật, hữu nghị
với người nghe Đại từ mình ngôi thứ nhất số ít xuất hiện trong tác phẩm của
Phan Tứ thông qua phát ngôn của một vài nhân vật như sau:
<10> Tôi già rồi anh Xẩy ạ Anh tin lời tôi nói Mình để mất nước thì khổ nhục thân mình, lại còn mang tội đời đời nữa đấy [52, tr.73]
Đây ra phát ngôn của phò Phun khi muốn thuyết phục Xẩy tin tưởng và trung kiên với sự nghiệp Cách mạng Phò Phun đã sử dụng đại từ mình để Xẩy thấy rằng sự nghiệp giữ nước không phải của riêng ai; đồng thời khẳng định phò Phun và Xẩy tuy là hai người nhưng khi thực hiện nhiệm vụ giữ
nước lại là một Vì vậy, đại từ mình đã được lựa chọn sử dụng trong xưng hô
Đại từ tớ xuất hiện 23 lần, xếp thứ 4 về tần số xuất hiện của đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số ít Đại từ tớ thường được dùng để xưng hô giữa những
người đồng trang lứa, mới quen hoặc đã quen từ lâu nhưng mức độ tình cảm chưa thân thiết lắm
<13> Cậu đi với tớ, gặp dân hỏi tình hình Này, nghỉ mười phút!
[52, tr.45]
Đây là lời đại đội phó Sơn Linh nói với Trung đội phó Tiến khi hai người đang đi trong rừng Mặc dù Tiến ít tuổi hơn nhưng Sơn Linh vẫn dùng cậu - tớ trong xưng hô với mục đích cố kéo gần khoảng cách, tạo sự thân mật Lúc này, Tiến và Sơn Linh mới quen
<14> Thôi được, tớ đi soi cá một thể, kiếm tí tươi [52, tr.131]
Trang 32Đây là phát ngôn của Tiến nói với đồng đội của mình là Bân và
Huy Tiến xưng tớ với Huy và Bân không phải bởi ba người mới quen hay
sự thân thiết chưa đủ Thực tế, ba người rất gắn bó với nhau, nhưng do Tiến đã mười mấy năm làm công tác dân vận, đặc thù công việc đã chi phối cách xưng hô - cư xử của Tiến khiến những phát ngôn - hành động của Tiến luôn chừng mực, quy thức
b, Ngôi thứ nhất số nhiều
Trong thực tiễn giao tiếp, đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất số nhiều thường được sử dụng gồm chúng tôi, chúng tao, chúng ta, chúng tớ, chúng
mình, tụi mình, tụi tao, bọn tao Trong phạm vi khảo sát, chỉ có chúng tôi,
chúng mình, chúng ta, tụi mình, bọn tao được sử dụng Tần số xuất hiện của
những từ này như sau:
Bảng 2.3 Các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (số nhiều)
trong một số tác phẩm của Phan Tứ STT Các đại từ nhân xưng ngôi thứ nhất (số nhiều) Tần số xuất hiện
Đây là lời Tiến nói với Xẩy Khi dùng đại từ chúng tôi, Tiến đã cho
mình tư cách đại diện phát ngôn cho tất cả bộ đội Việt đang chiến đấu tại Lào
<17> Chúng tôi tha thiết kêu gọi bà con làng ta, ai có chồng con theo
phiến loạn Itxala hãy nhắn gọi về [52, tr.142]
Trang 33Đây là phát ngôn trung đội phó lính Pháp khi đứng trước bà con Na
Bua Hắn đã sử dụng đại từ chúng tôi để vừa nêu lên ý kiến của mình, vừa
ngụ ý thay mặt bộ đội, du kích và nhân dân Xây Thả Von khuyên nhủ dân làng Na Bua không theo phiến loạn
Đại từ chúng mình xuất hiện 8 lần, đứng thứ hai trong số các đại từ
nhân xưng ngôi thứ nhất số nhiều, xét về tần số xuất hiện
<19> Chiều nay B.8 họp để bình nghị cho đi phép, nhưng Mạc bận
không dự Bắt tay Tiến, anh ngần ngừ nói: “cậu về chúng mình lúng túng
nhiều đấy” [52, tr.123]
Phát ngôn trên của Tiến trong giao tiếp với Mạc Trong hoàn cảnh Tiến
có cơ hội về nghỉ phép và muốn chuyển công tác; Mạc muốn giữ Tiến ở lại nhưng ngần ngại và không muốn để lộ cảm xúc cá nhân, Mạc đã sử dụng đại
từ chúng mình
Hay <20> Thôi ngủ đi chú em Thì ra mày xỏ tai búi tóc, tao mất tay đi
cơ sở, là bởi chúng mình khéo nịnh cấp trên cả đấy![ 52, tr.54]
Bên cạnh đó, từ xưng hô ngôi thứ nhất số nhiều như: chúng ta, tụi mình,
bọn tao cũng được các nhân vật trong tác phẩm của Phan Tứ cũng sử dụng:
<21> Tôi đề nghị chúng ta nắm lại trọng tâm ngày hôm nay: “ Trong
hoàn cảnh thằng Rạng đào ngũ…” [52, tr.95]
Đây là phát ngôn của Mạc, khi Mạc thay lời của Linh ra lệnh rút quân
và giao lại nhiệm vụ cho từng người Mạc sử dụng đại từ chúng ta thay cho
các đồng chí nhằm góp phần làm dịu bầu không khí căng thẳng đang diễn ra
<22> Trên khu đoán chắc phải đúng Pháp định càn rất mạnh, rất lâu,
nó định diệt hết chúng ta đấy [52, tr.27]
Đây là phát ngôn của Tiến với anh em tổ trinh sát Tiến thay từ người
cách mạng bằng đại từ chúng ta nhằm phân biệt rạch ròi giữa 2 cực: chúng ta (những người yêu hòa bình) với chúng nó (quân xâm lược)
Trang 34<23> Tụi mình lãnh cái làng khó nhai nhứt hạng [52, tr.129]
Đây là phát ngôn cửa Thiết khi trò chuyện với Huy và Bân
Hay <24> Tai nó to, nó nghe rõ hơn tụi mình [52, tr.514]
Tụi mình chỉ quân Cách mạng cùng sống trong rừng Tụi mình là cách
xưng hô trong sinh hoạt hàng ngày của người miền Trung thể hiện sự gần gũi, thân quen
<25> Tội nghiệp, con nít mới lớn lên đã phải chịu cực Bọn tao quen
rồi không nói chi, tuổi tụi bây đang sức ăn ngủ, chơi bời,…[52, tr.534]
Đây là phát ngôn của Thiết với đàn em, đồng thời là cấp dưới của mình
2.1.1.2 Ngôi thứ hai
a, Ngôi thứ hai số ít
Đại từ nhân xưng ngôi thứ hai số ít thường được sử dụng gồm: mày, bay, mi, cậu Trong phạm vi khảo sát của luận văn, các đại từ này được sử dụng với tần số như sau:
Bảng 2.4 Các đại từ nhân xưng ngôi thứ hai (số ít) trong
một số tác phẩm của Phan Tứ STT Các đại từ nhân xưng ngôi thứ hai (số ít) Tần số xuất hiện
Đại từ mày được sử dụng nhiều nhất (203 lần) trong xưng hô của các
nhân vật ở một số tác phẩm của Phan Tứ Ví dụ:
<26> Đánh trưa hôm qua, mày biết không? [52, tr.116]
Đây là phát ngôn của Xẩy khi trò chuyện với Kham về chiến công của
bộ đội Việt và du kích Na Bua Từ cách Xẩy không tự xưng và gọi Kham là
mày có thể thấy Xẩy ở vai trên trong quan hệ xã hội với Kham Bởi vậy, Xẩy
không cần giữ lễ
Trang 35<27> Cái thằng…Sao mày nói với tao mày không dại gì lãnh súng?
[52, tr.519]
Câu trên là phát ngôn của má Bảy khi đối thoại với con trai - Tư Sỏi Trong cuộc sống, mày - tao được sử dụng nhiều trong xưng hô giữa bố mẹ với con cái
Từ cậu được sử dụng 32 lần, xếp thứ 2 về tần số xuất hiện của đại từ
nhân xưng ngôi thứ hai số ít Ví dụ:
<28> Cậu đi với tớ, gặp dân hỏi tình hình Này, nghỉ mười phút!
[52, tr.45]
Đây là lời Trung đội phó Tiến nói với đại đội phó Sơn Linh Tiến và
Sơn Linh ngang tuổi Lúc này, hai người mới quen nên việc xưng hô cậu - tớ
là hoàn toàn hợp lí
Hay <29> Cậu đưa mình tới chị Năm Tân, rồi nhà bà gì gần sông
Nhớn…à bà Son, bà Bảy Son [52, tr.551]
Đây là phát ngôn của anh Chín khi trò chuyện với Dõng Anh Chín là
cấp trên của Dõng, tuy nhiên anh chọn cách xưng mình gọi cậu để tạo không
khí vui vẻ, gần gũi
Một số đại từ nhân xưng ngôi thứ hai số ít khác cũng được sử dụng
như: bay, mi Tuy nhiên, cách gọi này chỉ được sử dụng trong sinh hoạt hằng
ngày của nhân dân Trung Bộ Cách dùng phương ngữ Trung Bộ cũng là nét đặc trưng nổi bật trong xưng hô ở một số tác phẩm của Phan Tứ Ví dụ:
<30> Cho bay chết đủ cha con, bay khỏi thắc mắc! [52, tr.665]
Đây là lời thoại của Út Sâm khi tự tay đánh bật lửa đốt ảnh thằng Diệm
và lột tấm tranh quảng cáo viện trợ Mỹ Đại từ bay thường được dùng trong
xưng hô với người ngang hàng hoặc hàng dưới Từ cách xưng hô này có thể thấy được thái độ coi thường của Út Sâm dành cho Mỹ, Diệm
<31> Đừng viết dông dài Bay cứ viết là Mặt trận biểu gì má con mình
làm nấy, vậy đủ rồi [52, tr.719]
Trang 36Đây là phát ngôn của má Bảy trong trò chuyện với Sâm Má Bảy là vai xưng hô trên, bởi vậy không cần giữ lễ và có quyền thể hiện sự suồng sã trong giao tiếp với Sâm
<32> Mi viết thơ về nhà thằng An, kể lại cái hôm đánh ở Na Bua nghe
[52, tr.97]
Đây là phát ngôn của anh Thiết nói với Huy khi vừa đánh xong trận ở
Na Bua Thông thường ngôi thứ hai số ít mi là dùng để gọi người ngang hàng
hoặc hàng dưới, tỏ ra thái độ thân mật hoặc coi thường, khinh bỉ Ở phát ngôn trên Thiết và Huy là anh em cùng vào sinh ra tử, Thiết hơn Huy vài tuổi Như vậy, cách xưng hô trên cho thấy mối quan hệ thân thiết giữa Thiết và Huy
Hay <33> Mi qua nổi không rứa? [52, tr.50]
Đây là câu hỏi của Tiến hỏi Mộc trong hoàn cảnh Mộc có thể sẽ không qua được khúc sông sâu
b, Ngôi thứ hai số nhiều
Đại từ nhân xưng ngôi thứ hai số nhiều thường được sử dụng trong giao tiếp hàng ngày gồm: chúng mày, lũ chúng mày, bọn chúng mày, bon bay,
chúng bay, Tuy nhiên, trong phạm vi khảo sát, chỉ có các đại từ tụi bay,
chúng mày được sử dụng
Bảng 2.5 Các đại từ nhân xưng ngôi thứ hai (số nhiều) trong
một số tác phẩm của Phan Tứ STT Các đại từ nhân xưng ngôi thứ hai (số nhiều) Tần số xuất hiện
Ví dụ:
<34> Tụi bay đưa nó cây M.1, cây mới nhứt…Ra đây bắn tao coi.[52, tr.611]
Đây là phát ngôn của Ba Phổ khi thách thức Tư Sỏi Đại từ xưng hô ngôi thứ hai số nhiều tụi bay dùng khi ra lệnh hoặc nói với những người cấp dưới Ở phát ngôn trên Tư Phổ gọi tụi bay với tư cách người xưng hô ngôi trên để sai khiến, ra lệnh
Trang 37Cũng sử dụng tụi bay trong xưng hô nhưng thái độ của má Bảy dành
cho Sâm, Mại, Bê lại đầy âu yếm:
<35> Tụi bay còn thức, tao ngủ sao được Nghỉ uống nước đã Chao,
lạnh dữ ác! [52, tr.634]
<40> Còn chúng mày nữa, đồ toi cơm! Liệu hồn, cứ giở trò quái ác với
đồng bào, tao cho máy bay đến ném bom giết sạch! [52, tr.143]
Phát ngôn trên <40> của tên trung úy Pháp khi đe dọa bọn tay sai người
Việt Từ cách gọi chúng mày cùng nội dung phát ngôn cho thấy sựu thiếu trân
trọng, coi thường cấp dưới của tên quan Pháp
2.1.1.3 Ngôi thứ ba
a Ngôi thứ ba số ít
Các đại từ nhân xưng ngôi thứ ba số ít gồm: nó, hắn, y, thị được sử
dụng khá nhiều trong thực tiễn giao tiếp Tuy nhiên, trong phạm vi khảo sát,
các đại từ y, thị không được sử dụng Những đại từ được sử dụng như nó, hắn
xuất hiện với tần số như sau:
Bảng 2.6 Các đại từ nhân xưng ngôi thứ ba (số ít)
trong một số tác phẩm của Phan Tứ Các đại từ nhân xưng ngôi thứ hai (số ít) Tần số xuất hiện
Đại từ nhân xưng ngôi thứ ba nó, hắn thường được sử dụng trong xưng
hô giữa những người bạn, hoặc người trên gọi người dưới, hoặc là cách gọi người thứ ba của các đối ngôn trong một cuộc giao tiếp với thái độ coi thường Ví dụ:
<36> Chưa gì hơn Phò bảo anh Linh sửa lỗi tiến bộ rồi Hắn vẫn nhất quyết: Đánh Pháp chung với người Việt thì được, nhưng gặp Linh hắn bắn
chết ngay.[52, tr.76]
Trang 38Đây là phát ngôn của Phò Phun với Tiến về thái độ của Xẩy dành cho
Linh Đại từ hắn được phò Phun sử dụng để chỉ Xẩy - một người bạn chiến
đấu và là cấp dưới của phò Phun
<37> Hắn còn nhỏ dại, để lớn lên tôi kèm cho [52, tr.86]
Đây là phát ngôn của Thiết nói với Tiến về Huy Thiết chọn đại từ hắn
để chỉ Huy, là cách gọi không cầu kì với một người em, đồng thời là cấp dưới
<38> Tránh ra! Nó cắt cổ cha tôi hôm kia! [52, tr.43]
Đây là phát ngôn của trung đội trưởng Vi Xiên đối với Mông Phai -
một tên quan sai cho Pháp Vi Xiên sử dụng đại từ nó trong hoàn cảnh này là
một cách bộc lộ sự coi thường
<39> - Không ưng thì thôi, đừng làm vậy nó thù [52, tr.534]
- Sợ gì thằng công tử bột, để con viết thơ chửi nó một trận líp ba ga Đây là đối thoại của má Bảy và Út Sâm Nhân vật nó được nhắc đến
trong hội thoại trên là Rân, một tay công tử bột ăn chơi có tiếng trong vùng
b, Ngôi thứ ba số nhiều
Đại từ nhân xưng ngôi thứ ba số nhiều thường được sử dụng trong ngôn ngữ toàn dân là: chúng nó, họ, chúng, bọn họ Tuy nhiên, bởi chịu ảnh hưởng của cách xưng hô vùng Nam Trung Bộ nên trong một số tác phẩm của Phan
Tứ có sử dụng tụi nó trong xưng hô giữa các nhân vật
Bảng 2.7 Các đại từ nhân xưng ngôi thứ ba (số nhiều) trong
một số tác phẩm của Phan Tứ STT Các đại từ nhân xưng ngôi thứ hai (số ít) Tần số xuất hiện
Trang 39Cũng giống như đại từ nhân xưng ngôi thứ 3 số ít, đại từ nhân xưng ngôi thứ ba số nhiều thường được sử dụng trong xưng hô giữa những người bạn, hoặc người trên gọi người dưới, hoặc là cách gọi người thứ ba của các đối ngôn trong một cuộc giao tiếp với thái độ coi thường Ví dụ:
<40> Chúng nó định bắt tớ đi cơ sở, bắt học tiếng học chữ Tớ bảo:
“Thằng này đánh giặc đến hói đầu rồi, đừng hòng nhét cái thứ chữ kho, khỏ,
co, no ấy vào” Thế là chúng nó đẩy tớ về khu bộ Chó thật! [52, tr.45]
Đây là phát ngôn của Linh khi trò chuyện với Tiến Chúng nó ở đây là
chỉ những người lãnh đạo cấp cao Từ cách gọi trên của Sơn Linh có thể thấy
sự coi thường của Sơn Linh với đối tượng thứ ba được nhắc tới
<41> Họ đi luôn hả chú? [52, tr.57]
Đây là câu hỏi của Kham dành cho chú Xẩy Đại từ xưng hô họ ở phát
ngôn trên là chỉ ba anh em không cha không mẹ sống trên cõi trần trên đỉnh núi Ba Lô Ven ( anh cả tên là Khạ)
<42> Họ ngang ngược vậy, con phải chửi rát mặt họ mới chừa Đánh thì đánh, tù thì tù, bất quá họ bắn chém là cùng Con thí mạng đó [52, tr.562]
Đây là phát ngôn của Sâm khi trò chuyện với má Bảy Họ ở đây chỉ bọn cướp nước và bọn bán nước Họ trong cách xưng hô của Sâm mang sắc
thái miệt thị, khinh thường
<43> Dạ có anh Hai đây tụi nó đâu dám… dạ, thiệt bậy chớ… dạ, em
ra lệnh tụi nó hổng nghe, tụi nó nói em không phải trung sĩ hã sĩ gì mà đòi xài
xể người ta [52, tr.604]
Đây là phát ngôn của tên tiểu đội trưởng nói với Huỳnh Tụi nó ở đây là
chỉ những người cấp thấp hơn tên tiểu đội trưởng Cách xưng hô này của tên tiểu đội trưởng nhằm hạ bệ cấp dưới, tâng bốc cấp trên
<44> Trò giành chính quyền Vui ghê lắm Con đi bắt ác ôn Kỳ Lâm,
tụi nó lạy con như vái giỗ cha [52, tr.641]
Trang 40Đây là phát ngôn của Út Sâm Tụi nó mà Út Sâm nói tới ở đây là bọn
cướp nước, bán nước đang thất thế Từ cách xưng hô có thể phần nào thấy được sự coi thường của Út Sâm dành cho những đối tượng này
<45> Bọn vũ trang vẫn canh gác, lùng rừng chung quang Na Bua Rơi vào ổ phục kích một lần, chúng bắn suýt vỡ sọ [52, tr.55]
Phát ngôn trên nói về nhân vật Tiến - người liều lĩnh viết ba lá thư trong
nửa tháng và bị địch truy kích Đại từ xưng hô chúng được dùng để chỉ bọn vũ
trang tay sai vẫn đang ngày đêm đang lùng sục những người làm Cách mạng
2.1.2 Xưng hô bằng các từ chỉ quan hệ thân tộc
Sự phân chia thân tộc - không thân tộc trong dân tộc học về quan hệ của con người trong xã hội cũng kéo theo sự lưỡng phân trong các từ xưng hô
và cách xưng hô của người Việt [12] Trong phạm vi xưng hô ngoài xã hội, người Việt sử dụng tất cả các lớp từ loại xưng hô, kể cả danh từ thân tộc
Xưng hô bằng từ chỉ quan hệ thân tộc của các nhân vật trong một số tác phẩm của Phan Tứ được dùng ở mọi hoàn cảnh giao tiếp (trong gia đình và ngoài xã hội), biểu hiện cụ thể qua xưng hô của các ngôi giao tiếp như sau:
2.1.2.1 Ngôi thứ nhất
a Ngôi thứ nhất số ít
Bảng 2.8 Các từ thân tộc dùng xưng hô ngôi thứ nhất (số ít)
của các nhân vật trong một số tác phẩm của Phan Tứ
STT Các từ thân tộc dùng trong xưng hô ngôi thứ nhất
(số ít)
Tần số xuất hiện