1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện hương sơn hà tĩnh

83 1,3K 3
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện Hương Sơn, Hà Tĩnh
Trường học Trường Đại Học Nông Nghiệp Hà Nội
Chuyên ngành Kinh tế nông nghiệp
Thể loại Luận văn
Thành phố Hà Tĩnh
Định dạng
Số trang 83
Dung lượng 0,94 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Điều này đãđược khẳng định rõ trong Nghị Quyết 06 của Bộ chính trị 10/11/1998: “Nhà nước ta có những chính sách khuyến khích phát triển hình thức trang traị gia đình như cácloại hình sản

Trang 1

MỞ ĐẦU

1.1 Lý do chọn đề tài

Kinh tế trang trại là mô hình kinh tế đã được hình thành và phát triển từ thế

kỷ XVII ở trên thế giới còn ở nước ta thì loại hình này đã có từ thời phong kiến

và thời kỳ Pháp thuộc, hiện đang từng bước được phát triển rộng khắp Hiện nay,

nó đã và đang đóng vai trò rất quan trọng trong phát triển sản xuất nông nghiệp,trong việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật, thúc đẩy nhanh quá trình côngnghiệp hóa hiện đại hóa, đồng thời nó có vai trò chủ lực trong sản xuất những sảnphẩm nông sản thiết yếu bậc nhất, đảm bảo sự sống và phát triển cho con người.Việt Nam là một nước có nền nông nghiệp phát triển từ lâu đời và có trên 70%dân số sống bằng nghề nông Vì thế nên trong công cuộc đổi mới Đảng và Nhà nước

ta đã lấy nông nghiệp làm trọng điểm và làm cơ sở để phát triển kinh tế Điều này đãđược khẳng định rõ trong Nghị Quyết 06 của Bộ chính trị (10/11/1998): “Nhà nước

ta có những chính sách khuyến khích phát triển hình thức trang traị gia đình như cácloại hình sản xuất khác của kinh tế hộ gia đình, đặc biệt khuyến khích các hộ nôngdân, các trang trại gia đình và các thành phần kinh tế khác liên kết với nhau hìnhthành các hình thức kinh tế hợp tác để mở rộng quy mô sản xuất kinh doanh”

Như vậy, theo định hướng trên, kinh tế hộ nông dân đã phát huy sức mạnh

to lớn trong việc phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn Trên nền tảng kinh

tế tự chủ của hộ nông dân đã hình thành các trang trại được đầu tư vốn, lao độngvới trình độ công nghệ và quản lý cao hơn nhằm mở rộng quy mô sản xuất hànghóa, nâng cao năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh trong cơ chế thị trường.Hiện nay hình thức kinh tế trang trại đang tăng lên về số lượng với nhiềuthành phần tham gia nhưng chủ yếu vẫn là trang trại hộ gia đình Nó đã đượcphát triển trong khắp cả nước, nhất là các tỉnh trung du, miền núi và ven biển

Sự phát triển của kinh tế trang trại đã góp phần khai thác nguồn lực trongdân, thu hẹp diện tích đất trống đồi núi trọc, đất hoang hoá, sử dụng có hiệu quảđất đai, vốn, kỹ thuật, kinh nghiệm quản lý, tạo thêm việc làm cho lao động nôngthôn, góp phần xoá đói giảm nghèo, tăng thêm nông sản hàng hoá, tăng thu nhập

Trang 2

cho người dân; phân bố lại dân cư, xây dựng lại vùng nông thôn mới và pháttriển nông nghiệp đa dạng và bền vững Mặt khác, nó đã làm chuyển biến nềnnông nghiệp thuần tuý sang nền nông nghiệp sản xuất hàng hoá mà kinh tế trangtrại là hạt nhân phá vỡ toàn bộ cái vỏ bọc của sản xuất tự cung tự cấp lâu nay.Tuy nhiên, quá trình phát triển kinh tế trang trại đang đặt ra nhiều vấn đềcần giải quyết đó là khả năng cạnh tranh chưa cao, hầu hết các địa phương chưalàm tốt công tác quy hoạch sản xuất, công tác khuyến nông, thị trường tiêu thụ vàcông tác quản lý còn hạn chế, khoa học kỹ thuật áp dụng vào sản xuất chưa phổbiến, thiếu vốn, chủ trang trại còn thiếu hiểu biết về thị trường.

Hương Sơn là huyện miền núi có diện tích rộng lớn là 110.314,98 ha và chủyếu phát triển nông nghiệp nên rất phù hợp cho sự hình thành và phát triển củakinh tế trang trại Trong những năm gần đây loại hình tổ chức này đã phát triểnnhanh chóng và mang lại hiệu qủa sản xuất kinh doanh khá cao, mở đường chokinh tế hộ phát triển Hiện nay, ở Hương Sơn có khoảng gần 200 trang trại đã vàđang phát triển Tuy nhiên chủ yếu là theo xu thế trang traị gia đình với quy môvừa và nhỏ Bên cạnh sự nhạy bén trong áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, sửdụng các giống mới đã làm nâng cao năng suất lao động, tăng thu nhập, góp phầnnâng cao đời sống người dân, xoá đói giảm nghèo, tạo thêm việc,… làm thì nóvẫn còn tồn tại một số nhược điểm, khó khăn ảnh hưởng đến sản xuất của trangtrại như trình độ của chủ trang trại đa phần là chưa qua đào tạo, thị trường cònhạn hẹp, các trang trại phát triển xô bồ, không đồng bộ và thiếu quy hoạch,…đãlàm giảm hiệu quả sản xuất kinh doanh của các trang trại trên địa bàn huyện

Xuất phát từ thực tế đó chúng tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện Hương Sơn - Hà Tĩnh” nhằm tìm ra những thuận lợi, khó khăn từ đó đề xuất

một số giải pháp để thúc đẩy sự phát triển kinh tế trang trại trên địa bàn huyệnHương Sơn được hiệu quả hơn

1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài

1.2.1 Mục tiêu tổng quát

Đánh giá thực trạng phát triển kinh tế trang trại ở địa bàn huyện Hương Sơn

để thấy được hiệu quả cũng như những thuận lợi, khó khăn của các trang trại, từ

Trang 3

đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển kinh tế trang trại ở Hương Sơn đượchiệu qủa hơn, góp phần nâng cao đời sống cho người dân.

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hoá cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh tế trang trại

- Nêu được những nét cơ bản về điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội - môitrường của vùng nghiên cứu

- Đánh giá thực trạng và xu thế phát triển kinh tế trang trại tại vùng nghiêncứu để từ đó đánh giá những mặt thuận lợi và khó khăn làm ảnh hưởng đến sựphát triển của kinh tế trang trại

- Đề xuất một số giải pháp nhằm thúc đẩy phát triển kinh tế trang trại trênđịa bàn huyện trong thời gian tới

1.3 Đối tượng, nội dung và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

- Nghiên cứu các trang trại trên địa bàn huyện Hương Sơn

- Các mối quan hệ kinh tế, kỹ thuật, xã hội liên quan đến phát triển kinh tếtrang trại ở huyện Hương Sơn

1.3.2 Nội dung nghiên cứu

- Điều tra, đánh giá điều kiện tự nhiên và kinh tế - xã hội của vùng nghiên cứu

- Nghiên cứu thực trạng, xu hướng phát triển kinh tế trang trại ở vùngnghiên cứu

- Đánh giá hiệu quả, thuận lợi, khó khăn của việc phát triển kinh tế trang trạitrên địa bàn nghiên cứu

- Đề xuất một số giải pháp nhằm phát trển kinh tế trang trại tại vùng nghiên cứu

1.3.3 Phạm vi nghiên cứu

- Đề tài nghiên cứu tiến hành thực trạng phát triển kinh tế trang trại là chính

- Thời gian nghiên cứu có hạn nên lựa chọn ngẫu nhiên 60/188 trang trạicủa huyện để điều tra

- Các trang trại lâm nghiệp chỉ mới tiến hành nghiên cứu được trong một năm

- Đánh giá hiệu quả kinh tế thông qua các chỉ số còn hiệu quả xã hội và môitrường chưa có chỉ số cụ thể để đánh giá

Trang 4

CHƯƠNG I TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu và phát triển kinh tế trang trại trên thế giới

Kinh tế trang trại ở trên thế giới đã được nhiều tác giả tiến hành nghiên cứu

đó là : “Kinh tế trang trại - sức mạnh của nền nông nghiệp Pháp” của Trần Đức,Nxb nông nghiệp (1997) đã nêu lên nguồn gốc hình thành của việc phát triểnkinh tế trang trại và tình hình phát triển kinh tế trang trại ở một số nước trên thếgiới nói chung và của nước Pháp nói riêng; “Nông nghiệp Châu Âu - những kinhnghiệm phát triển kinh tế trang trại”của Trần Đức, Nxb Khoa học xã hội (1996)

đã nói về tình hình chung của việc phát triển kinh tế trang trại trên thế giới vàmột số nước ở châu Âu đồng thời nói lên những kinh nghiệm phát triển kinh tếtrang trại ở một số nước; “Kinh tế trang trại gia đình trên thế giới và Châu Á” củaNguyễn Điền - Trần Đức - Nguyễn Huy Năng, Nxb Thống kê (1993),…Các tàiliệu trên đã đều đề cập đã đề cập đến tình hình phát triển trang trại của một sốnước trên thế giới cũng như các yếu tố ảnh hưởng đến sự phát triển của kinh tếtrang trại và nêu lên một số giải pháp để kinh tế trang trại được hiệu quả hơn.Như chúng ta đã biết, kinh tế trang trại trên thế giới được hình thành đầu tiên ởChâu Âu vào cuối thế kỷ XVII đầu thế kỷ XVIII Sang thế kỷ XX, do sự phát triểncủa công nghiệp và dịch vụ đã thu hút lao động trong khu vực công nghiệp nhanh hơntốc độ tăng lao động nông nghiệp Sự hiện diện và phát triển của kinh tế trang trại giađình ngày càng tạo ra nhiều nông sản hàng hóa đáp ứng nhu cầu công nghiệp hoá.Sau chiến tranh thế giới thứ hai, nhiều nước và lãnh thổ ở châu Á đã tiếnhành cải cách ruộng đất chuyển giao ruộng đất cho những người nông dân trực tiếpsản xuất nông nghiệp Nhìn chung việc này đã có tác động trực tiếp đến quá trìnhhình thành và phát triển của trang trại gia đình theo hướng sản xuất hàng hoá [5].Như vậy, kinh tế trang trại sản xuất hàng hoá đã tồn tại hàng trăm năm gắnliền với sự ra đời và phát triển của chủ nghĩa tư bản Tuy nhiên, các nước có điềukiện kinh tế xã hội phát triển khác nhau thì quá trình hình thành và quy mô trangtrại ở mỗi nước cũng khác nhau Từ thực tiễn hình thành và phát triển trang trại ở

Trang 5

nhiều nước trên thế giới cho thấy thời kỳ bắt đầu công nghiệp hoá khả năng thuhút lao động của công nghiệp còn thấp, số lượng các trang trại gia đình tiếp tụctăng lên Đến giai đoạn công nghiệp hoá đất nước phát triển, khả năng thu hút laođộng của các nghành công nghiệp và dịch vụ tăng nhanh, số lượng các trang trạigiảm xuống nhưng quy mô diện tích và thu nhập trong từng trang trại tăng lên.Tình hình phát triển kinh tế trang trại trên thế giới ở một số nước như sau:

* Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở nước Pháp

Sau cách mạng 1789, ruộng đất của địa chủ phong kiến được chuyển chonông dân và tư bản nông nghiệp Ở đây chủ yếu là trang trại gia đình, lực lượngsản xuất ra một lượng hàng hoá nông sản gấp 2,2 lần nhu cầu trong nước [10].Năm 1990, 70% gia đình có ruộng đất riêng, 30% nông trại phải lĩnh canhmột phần hay vay toàn bộ, tự canh tác bằng máy móc riêng hoặc tổ hợp tác dùngchung máy

Bảng 1.1 Sự phát triển kinh tế trang trại ở Pháp [7]

Năm

SLTT (1000 TT) 5.672 5.703 5.505 3.966 2.285 1.588 982 801,40DTBQ/TT (ha) 5,90 5,80 6,00 11,60 14,00 19,00 24,00 35,00

Qua bảng số liệu cho thấy: Từ năm 1802 đến 1892 thì số lựơng trang trạităng lên và quy mô giảm xuống Còn từ năm 1892 đến năm 1993 thì số lượngtrang trại giảm dần qua các năm nhưng quy mô diện tích tăng đến 35 ha/ trangtrại, tăng gấp 6,03 lần so với năm 1802

Như vậy số lượng trang trại có xu hướng giảm dần nhưng quy mô của mộttrang trại có xu hướng tăng lên chứng tỏ hoạt động sản xuất kinh doanh của trangtrại ngày càng phát triển lên và có xu hướng hợp tác ngày càng tăng

* Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Mỹ

Ở Mỹ, nông trại phát triển chậm hơn các nước châu Âu từ 30 đến 40 năm,đến nay quy mô đất canh tác bình quân một trang trại là 180 ha, 85% chủ trangtrại canh tác trên đất của mình, chỉ 15% số trang trại của các tập đoàn nông công

Trang 6

nghiệp, các trang trại gia đình chiếm đa số gồm hai vợ chồng và 1 đến 2 con.Thời gian gần đây xuất hiện hình thức trang trại hợp tác xã của một số gia đình,loại này chiếm 10 – 12% đất canh tác.

Bảng 1.2 Sự phát triểnkinh tế trang trại ở Mỹ [7]

* Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Anh

Cuối thế kỷ XVII, cuộc cách mạng tư sản đã phá bỏ triệt để các bãi chăn thảgai súc công và các cơ chế có lợi cho dân nghèo nên đã thúc đẩy quá trình tậptrung ruộng đất và làm phá sản các công trại nhỏ Sau chiến tranh thế giới thứhai, khi diện tích bình quân một trang trại tăng lên 36 ha thì các nông trại nhỏ códiện tích dưới 5 ha vẫn chiếm 1/3 tổng số [6]

Bảng 1.3 Sự phát triển kinh tế trang trại ở Anh [10]

* Tình hình phát triển trang trại ở Đài Loan

Từ năm 1930 đến 1960, sách lược “Lấy nông nghiệp nuôi công nghiệp, lấycông nghiệp phát triển nông nghiệp” Thực hiện chính sách đó, từ năm 1949 -

1953, công cuộc cải cách ruộng đất được tiến hành theo ba bước:

Trang 7

- Giảm tô

- Giải phóng đất công ( 1951 ), bán đất cho tá điền

- Thực hiện người cày có ruộng (1953 )

Bảng 1.4 Sự phát triển kinh tế trang trại ở Đài Loan [5], [7]

Qua bảng 1.4 cho thấy: Số lượng nông trại ở Đài Loan tăng dần từ năm

1952 đến 1970 Sau đó từ 1970 đến 1996 thì lại có xu hướng giảm dần Còn quy

mô bình quân của trang trại thì từ năm 1952 đến 1970 có xu hướng giảm dần,đến năm 1975 lại tăng và đến 1980 lại giảm Từ 1980 đến 1996 thì quy mô trungbình lại tăng lên

Kinh tế trang trại phát triển đã thu hút lực lượng lao động dư thừa trongnông nghiệp, trang trại cung cấp gần 100% rau quả và lương thực thực phẩm cho

xã hội Trước cải cách ruộng đất nông dân làm thuê chiếm 6,30%, sau cải cáchruộng đất không còn nông dân làm thuê, thu nhập phi nông nghiệp chiếm 62% sovới tổng số Trong 40 năm, mặc dù dân số tăng nhanh đến năm 1991 là 20,50triệu người nhưng thu nhập bình quân năm không ngừng tăng lên: năm 1952 là

148 USD, năm 1993 là 10.200 USD Mức dự trữ cũng tăng đáng kể năm 1980 là

22 tỷ USD; năm 1989 là 76,7 tỷ USD; năm 1993 là 80 tỷ USD [7]

1.2 Tình hình nghiên cứu và phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam

Ở Việt Nam, kinh tế trang trại là vấn đề đã được nhiều tác giả và các tổchức trong nước nghiên cứu Đó là các tài liệu như: “Phát triển và quản lý trangtrại trong kinh tế thị trường” của PGS.TS Lê Trọng, Nxb Văn hóa dân tộc (2000)

đã nói lên khái niệm, vai trò, đặc trưng và các yếu tố tác động đến sự phát triểncủa kinh tế trang trại đồng thời có một số giải pháp vĩ mô để trang trại ở ViệtNam phát triển hiệu quả hơn); “Quản lý trang trại nông lâm nghiệp” của TS

Trang 8

Nguyễn Văn Tuấn, Nxb Nông nghiệp (2000) đã nghiên cứu về nguồn gốc hìnhthành và phát triển của kinh tế tranbg trại ở trên thế giới và ở Việt Nam, các tiêuchí xác định trang trại đồng thời có các giải pháp để kinh tế trang trại phát triểntốt hơn,… “Kinh tế trang trại vùng đồi núi” của trần Đức, Nxb thống kê (1997),

“Hỏi đáp về kinh tế trang trại” của Phạm Công Chung, Nxb Văn hóa (2005),…Các tài liệu trên đã đề cập đến khái niệm, vai trò và đặc trưng của kinh tế trangtrại cũng như thực trạng về phát triển kinh tế trang trại ở một số vùng ở nước ta Bên cạnh đó còn có một số báo cáo về kinh tế trang trại như “Kinh tế hộnông dân và vấn đề phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam” - tài liệu hội tảo Dự

án HAU - JICA, 10/1999, Đại học nông nghiệp I Hà Nội của Tô Dũng Tiến;

“Thực trạng phát triển trang trại ở nước ta” - tài liệu hội thảo dự án HAU – JICA

từ 6/10 - 8/10/1999 của Nguyễn Thế Nhã; đề tài “ Phát triển kinh tế trang trại gắnvới mục tiêu bền vững ở khu vực Duyên hải Nam trung bộ” của Đào Hữu Hòa -Đại học kinh tế Đà Nẵng; luận văn “ Tìm hiểu tình hình phát triển kinh tế trangtrại ở huyện Hương Sơn - Hà Tĩnh” của Nguyễn Bá Thẩm (2007),…cũng đã nói

về thực trạng và các giải pháp để phát triển kinh tế trang trại ở nước ta

Ở tỉnh Hà Tĩnh cùng với huyện Hương Sơn cũng đã có các báo cáo về tìnhhình phát triển kinh tế trang trại ở địa phương nhưng vẫn chưa làm phát huy đượchết lợi thế cũng như việc khắc phục những khó khăn trong vấn đề phát triển kinh

tế trang trại ở địa phương

Quá trình hình thành và phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam là một quátrình tương đối phức tạp và trải qua nhiều thời kỳ

- Thời kỳ Lý - Trần: Trang trại được hình thành từ thời Lý - Trần nhưng nóchỉ mang nét đặc trưng của mô hình tiền trang trại Song lối sản xuất của các điềntrang, thái ấp là khép kín, phát canh thu tô, kinh tế hiện vật chi phối quá trình sảnxuất kinh doanh, kinh tế hàng hoá chưa phát triển

- Thời kỳ Lê - Nguyễn: Nhà Lê chú trọng phát triển một hình thức sản xuấttập trung mới là đồn điền Sang thời kỳ nhà Nguyễn các đồn điền được tạo điềukiện phát triển rất mạnh và nó đã góp phần to lớn vào sự nghiệp mở mang, pháttriển mọi mặt của đất nước

Trang 9

Đồn điền trong thời kỳ nhà Lê còn mang tính quân sự nhưng sang thời kỳ nhàNguyễn đồn điền mang tính kinh tế và dần dần tách khỏi hoạt động quân sự [8], [4].

- Thời kỳ Pháp thuộc: Thời kỳ này đất đai được chia làm hai loại:

+ Ruộng đất của các đồn điền: Có hai loại đồn điền:

Đồn điền trồng lúa chuyên canh: chủ yếu tập trung ở Nam kỳ và đồng bằngsông Hồng

Đồn điền cây công nghiệp: (cao su, cà phê,…) loại đồn điền này được tổchức theo kiểu xí nghiệp tư bản, lao động trong các đồn điền là các công nhânđược tổ chức thành các tổ, đội tương đối chặt chẽ Vì thế có thể nói kinh tế trangtrại ở nước ta chính thức ra đời từ giai đoạn này

+ Ruộng đất địa chủ: Địa chủ tổ chức sản xuất trên đất mình theo hai hìnhthức chính là cho tá điền cấy rẽ và thuê mướn nhân công

- Thời kỳ chiến tranh giải phóng và thống nhất đất nước

+ Ở miền Bắc: Tiến hành cải cách ruộng, hầu hết nông dân đều tham giavào hợp tác xã nông nghiệp, về cơ bản không tồn tại đồn điền như trước kia nữa.+ Ở miền Nam: Hệ thống đồn điền nói chung vẫn được duy trì nhưng dođiều kiện chiến tranh nên hầu như tê liệt và hiệu quả kinh tế không cao

- Thời kỳ cả nước đi lên xã hội chủ nghĩa: Nhà nước quốc hữu hoá các đồnđiền thành các nông trường quốc doanh, phần lớn ruộng đất chia cho nông dân vàhầu hết chúng đều được đưa vào hợp tác xã hay tập đoàn sản xuất nông nghiệp

- Thời kỳ đổi mới từ năm 1986 đến nay

Đại hội VI (12/1986) Đảng đã chỉ rõ, trong thời kỳ quá độ ở nước ta phải là “nền kinh

tế có cơ cấu nhiều thành phần” và tiếp đến ở Nghị quyết 10 của Bộ chính trị về “Đổimới cơ chế quản lý trong nông nghiệp” Đặc biệt là Nghị quyết 6 khoá VI năm 1989Đảng đã chỉ ra rằng “Gia đình xã viên trở thành những đơn vị kinh tế tự chủ”, đồngthời luật doanh nghiệp tư nhân được công bố ngày 03/01/1991 Đó chính là những cơ

sở để hệ thống trang trại phát triển với tốc độ và quy mô ngày càng lớn hơn [4]

Các văn bản chính sách chủ yếu của nhà nước trong thời kỳ này về vấn đềđổi mới cơ chế quản lý trong nông nghiệp nông thôn bao gồm:

Trang 10

Nghị quyết 10 của Bộ chính trị coi hộ gia đình trong nông nghiệp là đơn vịkinh tế tự chủ và đề ra chủ trương giao khoán đất đai ổn định cho từng hộ trongmột thời gian dài để sử dụng vào mục đích nông lâm nghiệp.

Luật đất đai năm 1992 khẳng định: đất đai thuộc sở hữu toàn dân nhưngNhà nước có thể giao quyền sử dụng lâu dài cho các cá nhân, tổ chức và hộ giađình dùng vào mục đích nông lâm nghiệp, thời hạn giao có thể kéo dài đến 50năm đối với đất trồng cây lâu năm và 20 năm đối với đất trồng cây hàng năm Nghị quyết 64 - CP/1993 của Chính phủ quy định về việc giao đất nôngnghiệp cho các hộ gia đình và cá nhân sử dụng ổn định lâu dài vào mục đích sảnxuất nông nghiệp

Nghị quyết 02/ CP (1994) của Chính phủ quy định việc giao đất lâm nghiệpcho các tổ chức, cá nhân, hộ gia đình để sử dụng lâu dài vào mục đích lâmnghiệp với thời hạn 50 năm

Nghị định 01/CP năm 1994 quy định việc giao khoán kinh doanh rừng vàđất lâu dài cho cá nhân, hộ gia đình trong các doanh nghiệp Nhà nước

Khi các chính sách trên đi vào cuộc sống đã làm cho nông nghiệp và nông thônnước ta phát triển thêm một bước Nông nghiệp nước ta liên tục đạt được nhữngthành tựu quan trọng, chính trong quá trình phát triển này đã làm xuất hiện một hìnhthức tổ chức sản xuất mới, đó là các trang trại nông - lâm - ngư nghiệp, tạo ra mộthướng phát triển mới trong nông nghiệp và nông thôn nước ta ở thời kỳ đổi mới [8]

Bảng 1.5 Tình hình phát triển kinh tế trang trại ở Việt Nam(1989 - 2008)

Trang 11

Tính đến hết năm 2007 cả nước có khoảng 11.6062 trang trại, tăng gấp 22,65lần so với năm 1989, 8,76 lần so với năm 1992, và 1,29 lần so với năm 1999 [13].Đến năm 2008 thì cả nước có 150.000 trang trại, tăng 1,29 lần so với năm 2007 [14].

Về diện tích sản xuất kinh doanh, năm 1989 là 22.946 ha, năm 1992 là56.282 ha, gấp 5,24 lần so với năm 1989 nhưng diện tích đất bình quân của mộttrang trại chỉ còn 4,40 ha; đến năm 1999 diện tích các trang trại tăng lên 39.6282

ha, gấp 6,81 lần so với 1992 và 17,29 so với năm 1989 và quy mô bình quân củamột trang trại chỉ còn 4,39 ha Đến năm 2008 thì tổng diện tích các trang trại là900.000 ha, diện tích bình quân lên tới 6 ha

Vốn đầu tư của các trang trại cả nước ngày càng tăng Năm 1989, tổng vốnđầu tư của các trang trại là 513.677 triệu đồng, bình quân mỗi trang trại đầu tư98,5 triệu đồng, năm 1999 tổng vốn đầu tư của các trang trại là 18.030.000 triệuđồng, bình quân mỗi trang trại là 146,17 triệu đồng, tăng gấp 35,10 lần so vớivốn đầu tư năm 1989 [4], [1] Đến năm 2007 thì tổng vốn đầu tư của các trangtrại lên tới 330.077.670 triệu đồng, gấp 64,40 lần so với năm 1989, vốn đầu tưbình quân đạt 285 triệu đồng/trang trại [13] Điều này phản ánh trình độ đầu tưthâm canh, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật theo hướng công nghiệp hóa hiệnđại hóa của trang trại trong gần 20 năm qua đã dần dần tăng lên

Về giá trị sản xuất hàng hóa: Tổng giá trị sản phẩm bình quân của các trangtrại trong những năm 1997 đến 1999 đạt khoảng 9.575 tỷ đồng, chiếm 7,98%tổng giá trị sản phẩm nông nghiệp Đặc biệt là tỷ suất nông sản hàng hóa của cáctrang trại năm 1992 chiếm 78,60% thì đến năm 1999 đã tăng lên đến 86,74%

Về quy mô đất đai của các trang trại ở các vùng miền khác nhau là khácnhau do điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội của mỗi vùng quy định

Miền núi và trung du số trang trại tuy nhiều nhưng quy mô còn nhỏ, chỉ 2-3 ha,trừ trang trại trồng rừng

Ở đồng bằng Sông Hồng, việc hình thành trang trại diễn ra chậm, quy môthường nhỏ, bình quân chỉ 0,30 ha/ trang trại

Ở đồng bằng sông Cửu Long, ruộng đất nhiều, bình quân gấp 3-4 lần đồngbằng Sông Kinh tế hàng hóa tương đối phát triển, việc chuyển nhượng ruộng đất

Trang 12

giữa các hộ tương đối phổ biến.Vì thế nhiều trang trại trồng lúa, thủy sản, côngnghiệp - dịch vụ đã được hình thành và phát triển.

Tây Nguyên và Đông Nam Bộ: Có quỹ đất thuận lợi cho sự phát triển câycông nghiệp dài ngày như: cà phê, cao su, điều…, trồng rừng nên quy mô trangtrại ở đây tương đối lớn và hình thành từ nhiều nguồn gốc khác nhau

Đô thị ven đô và những nơi đất ít thì đất đai ở đây không có vai trò quyếtđịnh mà những yếu tố tác động đến sản xuất hàng hóa là vốn, kỹ thuật,…

Năm 2007, cả nước có 116.062 trang trại, trung bình 1.813 trang trại/ tỉnh.Chủ yếu là ở Đồng bằng Sông Cửu Long với 51.540 trang trại, chiếm 44,40%.Đông Nam Bộ có 16.383 trang trại, Đồng bằng Sông Hồng có 15.715 trang trại.Các trang trại này đã sử dụng 448.277 lao động, bình quân 5,60 lao động/trangtrại trong đó lao động gia đình tự có chiếm 44%, còn lại là lao động thuê ngoài.Nơi sử dụng lao động thuê ngoài cao là Đồng bằng Sông Hồng, Duyên hải Namtrung bộ, Bắc trung bộ, chiếm tỷ lệ 60-70% [14]

Tóm lại, kinh tế trang trại là hình thức tổ chức sản xuất có thời gian pháttriển chưa lâu nhưng nó đang phát triển và mở ra hướng làm ăn mới, hình thànhđội ngũ nông dân năng động, dám nghĩ dám làm, tạo ra nhiều việc làm cho hàngtriệu nông dân, góp phần thay đổi bộ mặt nông thôn, nâng cao đời sống, gópphần xóa đói giảm nghèo và ổn định xã hội

1.3 Một số thuận lợi và khó khăn trong việc phát triển kinh tế trang trại

ở nước ta

1.3.1 Thuận lợi

Nước ta là nước có khí hậu nhiệt đới gió mùa phù hợp với nhiều loại cây trồng

có giá trị kinh tế cao, nuôi trồng và chăn nuôi phù hợp với nhiều loại gia súc, gia cầm

Là nước có tiềm năng lớn cho việc phát triển kinh tế trang trại như: có lựclượng lao động dồi dào, cần cù, chịu khó, có kinh nghiệm, có óc sáng tạo và hamhọc hỏi Bờ biển dài trên 3.000 km, thuận lợi cho việc phát triển nuôi trồng thủysản Đất đai hoang hóa chưa sử dụng còn nhiều

Đảng và Nhà nước ta luôn khuyến khích làm giàu chính đáng, tao cơ hộicho sự phát triển Nhà nước đã đưa ra một số chính sách lâu dài cho phát triểnkinh tế trang trại

Trang 13

Đảng và Nhà nước khuyến khích và bảo hộ kinh tế trang trại Các hộ giađình, cá nhân đầu tư phát triển kinh tế trang trại được Nhà nước giao đất, chothuê đất, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ổn định, lâu dài theo pháp luật

để sản xuất kinh doanh

Nhà nước đặc biệt khuyến khích về việc đầu tư khai thác và sử dụng có hiệuquả đất trống đồi núi trọc, đất hoang hóa

Có các chính sách hỗ trợ về thị trường giá cả đầu vào và đầu ra, chính sáchthuế, khoa học và công nghệ, khuyến nông, chính sách đào tạo, sử dụng cán bộ,

về vốn, chế biến, tiêu thị sản phẩm, xây dựng cơ sở hạ tầng, tạo điều kiện cho cáctrang trại phát triển bền vững [14]

1.3.2 Khó khăn

Tuy Đảng và Nhà nước đã có chủ trương phát triển trang trại nhưng một số

vấ đề vẫn cần tiếp tục được làm rõ như: việc giao đất, thuê đất, chuyển nhượng,tích tụ để làm trang trại, việc thuê mướn, sử dụng lao động, việc các bộ, đảngviên làm kinh tế trang trại, việc đăng ký hoạt động và thuế thu nhập trang trại…Những vấn đề đó chậm giải quyết đã làm hạn chế sự phát triển của kinh tế trangtrại

Hiện còn khoảng 30% trang trại chưa được giao đất, thuê đất ổn định lâu dàinên chủ trang trại chưa thực sự yên tâm sản xuất [14]

Đây là loại hình kinh tế mới hình thành nên chưa có nhiều kinh nghiệmtrong sản xuất

Hầu hết các địa phương có trang trại chưa làm tốt công tác quy hoạch sản xuất,

cơ sở hạ tầng còn khó khăn, lạc hậu, thị trường không ổn định, kém phát triển.Mặt khác, phần lớn các chủ trang trại còn thiếu hiểu biết về thị trường, khoahọc kỹ thuật và quản lý, thiếu vốn sản xuất để phát triển lâu dài, thường lúng túng

và chịu thua thiệt khi giá nông sản xuống thấp, tiêu thụ sản phẩm gặp khó khăn

Trang 14

“Trang trại” và “kinh tế trang trại” là hai cụm từ ghép, phản ánh hai nộidung khác nhau Khi ta nói “trang trại” tức là nói đến những cơ sở sản xuất kinhdoanh nông nghiệp của một loại hình tổ chức sản xuất nhất định (theo nghĩa rộngbao gồm cả hoạt động xã hội kinh doanh trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, lâmnghiệp,nuôi trồng thuỷ sản…) [5].

Bản thân cụm từ “trang trại” không phản ánh bản chất kinh tế xã hội của cơ sởsản xuất Còn khi nói “kinh tế trang trại” là đề cập đến tổng thể những mối quan hệkinh tế, xã hội và môi trường nãy sinh trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanhcủa các trang trại gồm quan hệ giữa các trang trại với nhau, giữa các trang trại với các

tổ chức kinh tế khác, với Nhà nước, với thị trường, với môi trường sinh thái tự nhiên.Tuy nhiên trong cách nói của người Việt ở một số trường hợp cụ thể, cụm

từ “trang traị” và “kinh tế trang trại” có thể được dùng thay thế cho nhau mà ýnghĩa của câu văn, câu nói không bị thay đổi [5]

Sự phân tích nội dung khác nhau giữa “trang trại” và “kinh tế trang trại” cũngnhư việc có thể dùng thay thế cho nhau trong những trường hợp cụ thể có ý nghĩaquan trọng về mặt lý luận, tránh nhầm lẫn khi phân tích, đánh giá những hiệntượng và những vấn đề thuộc bản chất của các trang trại và kinh tế trang trại[5].Trang trại có thể được nhìn nhận về mặt kinh tế, xã hội và môi trường Tuỳvào việc nhìn nhận theo mặt nào mà có những khái niệm khác nhau về trang trại.Nhưng trong các mặt đó của trang trại thì kinh tế là mặt cơ bản chứa đựng những

Trang 15

nội dung cốt lõi của trang trại Vì vậy, trong nhiều trường hợp khi nói đến kinh tếtrang trại là nói tới mặt kinh tế của trang trại, người ta gọi tắt là trang trại [6],[5].Ngày nay, kinh tế trang trại đã phát triển ở hầu hết các nước sản xuất nôngnghiệp, lâm nghiệp hàng hoá Việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại làquá trình chuyển đổi từ kinh tế hộ nông dân chủ yếu mang tính tự cung tự cấpsang sản xuất hàng hoá với quy mô từ nhỏ đến lớn.

Theo nghị định số 03/2000/NĐ - CP ngày 02/02/2000 về kinh tế trang trạinhư sau: “Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức hàng hoá trong nông nghiệpnông thôn, chủ yếu dựa vào hộ gia đình, nhằm mở rộng quy mô và nâng cao hiệuquả sản xuất trong lĩnh vực trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thuỷ sản, trồng rừng,gắn sản xuất với chế biến và tiêu thụ nông, lâm thuỷ sản”

Và theo tác giả Lê Trọng - Nhà xuất bản nông nghiệp thì cho rằng:

“Trang trại là cơ sở sản xuất, là doanh nghiệp kinh doanh nông nghiệp củamột hoặc một nhóm nhà kinh doanh”

“Kinh tế trang trại là hình thức tổ chức kinh tế cơ sở, là doanh nghiệp trựctiếp tổ chức sản xuất ra nông sản hàng hoá dựa trên cơ sở hiệp tác và phân cônglao động xã hội, được chủ trang trại đầu tư vốn, thuê mướn phần lớn hoặc hầu hếtsức lao động và trang bị tư liệu sản xuất để hoạt động kinh doanh theo yêu cầucủa thị trường, được Nhà nước bảo hộ theo luật định” [3]

2.1.1.2 Đặc trưng của kinh tế trang trại

Kinh tế trang trại có một số đặc trưng cơ bản sau [3], [7]:

- Trang trại là đơn vị sản xuất hoạt động trong lĩnh vực sản xuất nôngnghiệp là chủ yếu

- Chuyên môn hoá, tập trung hoá sản xuất hàng hoá và dịch vụ theo nhu cầucủa thị trường có lợi nhuận cao

Đây là một đặc trưng cơ bản của kinh tế trang trại so với kinh tế nông hộ.Trong đó giá trị tổng sản phẩm và sản phẩm hàng hoá là chỉ tiêu hàng hoá trực tiếpđánh giá về quy mô trang trại nhỏ, vừa và lớn Quy mô trang trại thường lớn hơnnhiều lần so với quy mô của kinh tế nông hộ và có tỷ suất nông sản hàng hoá trên85% Ngoài ra còn có những chỉ tiêu gián tiếp như ruộng đất, vốn, lao động,

Trang 16

….Riêng về quy mô ruộng đất chẳng những nhiều hơn gấp nhiều lần (tuỳ theophương hướng và sản xuất kinh doanh) mà còn tập trung liền vùng, liền khoảnh.

- Về thị trường: Việc sản xuất hàng hoá thì hàng hoá luôn gắn với thị trường, do

đó thị trường bán sản phẩm và mua vật tư là nhân tố có tính quyết định chiến lượcphát triển sản xuất sản phẩm hàng hoá cả về số lượng, chất lượng và hiệu quả kinhdoanh của trang trại Vì vậy, trong quản lý trang trại, vấn đề tiếp cận thị trường, tổchức thông tin thị trường đối với kinh doanh của trang trại là nhân tố quyết định nhất

- Trang trại có nhiều khả năng áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật tốt hơnkinh tế nông hộ vì trang trại có vốn và có lãi nhiều hơn Nhìn chung các trang trạichẳng những có đủ công cụ thường và sức kéo trâu, bò mà đã trang bị nhiều loạimáy móc và áp dụng nhiều quy trình công nghệ mới (hay quy trình sản xuất mới)vào các nghành sản xuất, dịch vụ theo hướng công nghiệp hoá và hiên đại hoánông nghiệp Đó chính là yếu tố để nâng cao năng suất, chất lượng sản phẩm vàhiệu quả kinh doanh

- Về lao động: Các trang trại có sử dụng nguồn lao động vốn có của giađình nhưng hầu hết và chủ yếu là thuê mướn lao động làm thường xuyên quanhnăm và trong các thời vụ với số lượng nhiều ít khác nhau theo quy mô của trangtrại Số lượng lao động làm thuê bao giờ cung lớn hơn số lao động tự có của giađình chủ trang trại

- Các chủ trang trại là người có ý chí làm giàu, có phương pháp và nghệthuật biết làm giàu và có những điều kiện nhất định để taọ lập trang trại [3], [7].Ngoài ra ta thấy ở các trang trại thì tư liệu sản xuất thuộc quyền sở hữuhoặc quyền sử dụng của chủ thể độc lập Chủ trang trại thường là người trựctiếp quản lý trang trại

Trang trại có hình thức tổ chức quản lý tiến bộ hơn được thể hiện ở chỗ:Hầu hết các trang trại đều kết hợp giữa chuyên môn hoá và phát triển tổng hợp.Các trang trại phải có ghi chép, hạch toán kinh doanh, tổ chức sản xuất khoahọc trên cơ sở về những kiến thức nông học và về kinh tế thị trường [7]

2.1.1.3 Vai trò của kinh tế trang trại

- Về mặt kinh tế

Trang 17

Trang trại là tế bào của nền nông nghiệp hàng hoá, là bộ phận cấu thành của

hệ thống nông nghiệp, là đối tượng để tổ chức lại nền nông nghiệp, đảm bảochiến lược phát triển nông nghiệp hàng hoá thích ứng với sự hoạt động của cácquy luật kinh tế thị trường [3]

Các trang trại góp phần vào việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển cácloại cây trồng, vật nuôi có giá trị hàng hoá cao, khắc phục dần tình trạng sản xuấtmanh mún, lạc hậu tạo nên những vùng chuyên môn hoá, tập trung hoá và thâmcanh cao nhờ vào việc có khả năng áp dụng hiệu quả các thành tựu khoa học vàcông nghệ vào sản xuất, nâng cao hiệu quả sử dụng các nguồn lực

Mặt khác, qua việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế thì kinh tế trang trạigóp phần thúc đẩy công nghiệp, đặc biệt là công nghiệp chế biến và dịch vụ ởnông thôn Đồng thời trang trại là nơi tiếp nhận và truyền tải các tiến bộ khoa học

và công nghệ thông qua chính hoạt đông sản xuất của mình Thực tế cho thấyviệc phát triển kinh tế trang trại bao giờ cũng đi liền với việc khai thác và sửdụng một cách đầy đủ và hiệu quả trong nông nghiệp, nông thôn so với kinh tế

hộ Do vậy, phát triển kinh tế trang trại góp phần tích cực thúc đẩy sự tăngtrưởng và phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn [7],[8]

- Về mặt xã hội

Phát triển kinh tế trang trại góp phần quan trọng trong việc làm tăng số hộgiàu, làm giảm số hộ nghèo trong nông thôn, tạo thêm việc làm và tăng thu nhập.Điều này đã góp phần giải quyết một trong những vấn đề bức xúc của nông thônnước ta hiện nay Mặt khác nó còn thúc đẩy sự phát triển của kết cấu hạ tầngnông thôn, là tấm gương cho các hộ nông dân về cách thức tổ chức kinh doanhtiên tiến và có hiệu quả [7]

- Về mặt môi trường

Bên cạnh lợi ích về kinh tế - xã hội thì kinh tế trang trại còn có lợi về mặtmôi trường sinh thái đó là: Nó đã và đang “đánh thức dậy” nhiều vùng đất hoanghoá, đồi núi trọc, đóng vai trò quan trọng vào việc khôi phục, bảo vệ và phát triểnmôi trường [3], đưa đất đai vào sử dụng đem lại hiệu quả cao Ví dụ: Việc pháttriển trang trại lâm nghiệp đã góp phần phủ xanh đất trống đồi núi trọc, tăng độ

Trang 18

phì cho đất, giảm lưu lượng dòng chảy, chống xói mòn, rửa trôi….Ngoài ra còntận dụng được mặt nước nuôi trông thuỷ sản, bảo vệ môi trường sinh thái,….

2.1.2 Các loại hình kinh tế trang trại và những tiêu chí xác định trang trại

2.1.2.1 Các loại hình kinh tế trang trại [7], [10]

a Phân loại theo cơ cấu thu nhập

- Trang trại thuần nông: là trang trại có thu nhập chủ yếu từ sản xuất kinhdoanh nông nghiệp

-Trang trại có thu nhập chủ yếu ngoài nông nghiệp

b Phân loại theo cơ cấu sản xuất

Tuỳ vào điều kiện tự nhiên, trình độ sản xuất và đặc điểm thị trường củatừng vùng trang trại được chia ra:

- Trang trại kinh doanh tổng hợp: Kết hợp nông nghiệp với tiểu thủ công nghiệp

- Trang trại chuyên môn hoá: chăn nuôi gà, vỗ béo lợn, nuôi bò thịt hoặcnuôi bò sữa, trồng cây ăn quả, hoa, cây cảnh…hoặc chuyên sản xuất nông lâmsản làm nguyên liệu cho công nghiệp chế biến

c Phân loại theo hình thức tổ chức quản lý

- Trang trại gia đình: Là trang trại độc lập sản xuất kinh doanh do chủ hộđứng ra quản lý, thường một trang trại là một hộ gia đình

- Trang trại liên doanh: Do hai đến ba trang trại gia đình kết hợp lại thành mộttrang trại có quy mô và năng lực sản xuất lớn, đủ sức cạnh tranh với trang trại khác

- Trang trại hợp doanh: được tổ chức theo nguyên tắc như công ty cổ phầnhoạt động trong các lĩnh vực sản xuất, chế biến, tiêu thụ nông sản

Loại này thường có quy mô lớn, thực hiện chuyên môn hoá sản xuất, sửdụng lao động làm thuê là chủ yếu

d Phân loại theo hình thức sở hữu tư liệu sản xuất

- Chủ trang trại sở hữu toàn bộ tư liệu sản xuất từ đất đai, công cụ, máymóc, kho bãi

- Chủ trang trại chỉ sở hữu một phần tư liệu sản xuất, một phần phải đi thuêbên ngoài (có đất đai nhưng phải đi thuê máy móc, công cụ, kho tàng…)

Trang 19

- Chủ trang trại hoàn toàn không có tư liệu sản xuất mà phải đi thuê toàn bộ

từ đất đai, máy móc, thiết bị, kho tàng, mặt nước, chuồng trại,…

e Phân loại theo phương thức điều hành sản xuất

- Chủ trang trại sống cùng gia đình ở nông thôn, trực tiếp điều hành sản xuất

2.1.2.2 Những tiêu chí xác định và nhận dạng trang trại

Dựa trên các đặc tính của kinh tế trang trại chúng ta xác định và nhận dạngtrang trại về hai mặt định tính và định lượng

- Về định tính: Đặc trưng cơ bản của trang trại là sản xuất sản phẩm hànghoá, tiêu chí này có sự thống nhất ở tất cả các nước có kinh tế trang trại

- Về mặt định lượng: Thông qua các chỉ số cụ thể nhằm định dạng phânbiệt đâu là trang trại và đâu không phải là trang trại từ đó phân loại quy mô giữacác trang trại

Ở trên thế giới: Ở các nước phổ biến chỉ sử dụng tiêu chí định tính chung cóđặc trưng là sản xuất sản phẩm hàng hoá, không phải sản xuất tự cấp, tự túc Chỉ

có một số nước sử dụng tiêu chí đinh lượng để nhận dạng trang trại như Mỹ,Trung Quốc Chủ yếu là tiêu chí về diện tích đất, giá trị sản lượng hàng hoá,trong đó tiêu chí về diện tích của các trang trại ở mỗi nước là khác nhau tuỳthuộc vào quỹ đất nhiều hay ít [11]

Ở Việt Nam, kinh tế trang trại phát triển ở hầu hết các nghành sản xuất nông

- lâm - ngư nghiệp, quy mô và phương thức sản xuất đa dạng, phát triển

Theo thông tư liên tịch số 09/2000/TTLT/BNN – TCTK đã hướng dẫn tiêuchí để xác định kinh tế trang trại như sau [11], [15]:

* Tiêu chí định tính

- Mục đích sản xuất của trang trại phải là sản xuất hàng hoá với quy mô lớn

Trang 20

- Mức độ tập trung hoá và chuyên môn hoá sản xuất phải cao hơn hẳn so vớiquy mô nông hộ, thể hiện ở quy mô sản xuất như đất đai, đầu con gia súc, laođộng, giá trị nông lâm thuỷ sản hàng hoá.

- Chủ trang trại phải là người có kiến thức, kinh nghiệm điều hành trực tiếpsản xuất, biết áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, tiếp nhận chuyển giao côngnghệ mới vào sản xuất, sử dụng lao động gia đình và thuê bên ngoài

* Tiêu chí định lượng để xác định kinh tế trang trại

Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thuỷ sản được xácđịnh là trang trại phải đạt được cả hai tiêu chí định lượng sau đây:

Một là, giá trị sản lượng hàng hoá và dịch vụ bình quân một năm:

- Đối với các tỉnh phía Bắc và Duyên hải miền trung: Từ 40 triệu đồng trở lên

- Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên: Từ 50 triệu đồng trở lên

Hai là, quy mô sản xuất phải tương đối lớn và vượt trội so với kinh tế nông

hộ tương ứng với từng nghành sản xuất và vùng kinh tế

- Đối với trang trại trồng trọt

+ Trang trại trồng cây hàng năm

Đối với các tỉnh phái Bắc và Duyên hải miền Trung: Phải từ 2ha trở lên.Đối với các tỉnh phía Nam và Tây Nguyên: Phải từ 3 ha trở lên

+ Trang trại trồng cây lâu năm

Đối với các tỉnh phái Bắc và Duyên hải miền Trung: Phải từ 3 ha trở lên.Đối với các tỉnh phía nam và Tây Nguyên: Phải từ 5 ha trở lên

Trang trại trồng hồ tiêu:Từ 0,5 ha trở lên

+ Trang trại lâm nghiệp: Phải có diện tích từ 10 ha trở lên đối với các vùngtrong cả nước

- Đối với trang trại chăn nuôi

+ Chăn nuôi đại gia súc: Trâu, bò,…

Chăn nuôi sinh sản, lấy sữa phải có thường xuyên từ 10 con trở lên

Chăn nuôi lấy thịt phải có thường xuyên từ 50 con trở lên

+ Chăn nuôi gia súc: Lợn, dê,…

Trang 21

Chăn nuôi sinh sản: Có thường xuyên đối với lợn có 20 con trở lên; đối với

dê, cừu có từ 100 con trở lên

Chăn nuôi lợn thịt: Có thường xuyên từ 100 con trở lên (không kể lợn sữa),

dê, cừu thịt từ 200 con trở lên

+ Chăn nuôi gia cầm: Gà, vịt, ngan, ngỗng… có thường xuyên từ 2.000 contrở lên (không tính số đầu con dưới 7 ngày tuổi)

- Trang trại nuôi trồng thủy sản

Diện tích mặt nước để nuôi trồng thủy sản phải có từ 2 ha trở lên (riêng đốivới nuôi tôm thịt theo kiểu công nghiệp từ 1ha trở lên)

- Đối với các loại sản phẩm nông lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản có tínhchất đặc thù như: trồng hoa, cây cảnh, trồng nấm, nuôi ong, giống thủy sản vàthủy đặc sản thì tiêu chí xác định là giá trị sản lượng hàng hóa (tiêu chí 1) [8].Năm 2003, sau ba năm thực hiện Thông tư liên tịch “Hướng dẫn tiêu chí đểxác định kinh tế trang trại” số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK, ngày 23/06/2000 của

Bộ NN&PTNT và Tổng cục thống kê Tuy nhiên, trong quá trình thực tiễn xácđịnh tiêu chí đã nãy sinh một số vấn đề chưa phù hợp với thực tiễn, đáp ứng đòihỏi của các ngành, các địa phương, nhất là đối với các chủ trang trại Sau khi bànbạc và được sự thống nhất của Cục thông kê đã sửa một phần của thông tư69/2000/TTLT/BNN-TCTK

Thông tư của Bộ NN&PTNT số 74/2003/TT-BNN, ngày 04/07/2003 sửađổi như sau:

Đối với tiêu chí định lượng:

Một hộ sản xuất nông nghiệp, lâm nghiệp, nuôi trồng thủy sản được xácđịnh là trang trại phải đạt một trong hai tiêu chí về giá trị sản lượng hàng hóabình quân một năm, hoặc về quy mô sản xuất của trang trại được quy định tạiThông tư liên tịch số 69/2000/TTLT/BNN-TCTK

Đối với hộ sản xuất kinh doanh tổng hợp có nhiều loại sản phẩm hàng hóacủa ngành nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản thì tiêu chí xác định trang trại là giátrị sản lượng hàng hóa và dịch vụ bình quân một năm

Trang 22

Giá trị sản lượng hàng hóa và dịch vụ bình quân một năm thực hiện theoquy định của Thông tư 69/2000/TTLT/BNN-TCTK.

Quy mô sản xuất thực hiện theo Thông tư 69/2000/TTLT/BNN-TCTK

2.1.3 Các điều kiện để hình thành và phát triển kinh tế trang trại trong nền kinh tế thị trường

Theo tài liệu: “Quản lý sản xuất kinh doanh trong trang trại” của PGS.TSHoàng Việt - Trường Đại học kinh tế quốc dân - Khoa Kinh tế nông nghiệp vàphát triển nông thôn, Nxb Nông nghiệp (2000), ta có các điều kiện sau:

2.1.3.1 Có sự tác động tích cực của Nhà nước

+ Sự tác động của nhà nước có vai trò to lớn trong việc tạo môi trườngkinh doanh và pháp lý để trang trại hình thành và phát triển, thường được thểhiện qua định hướng quy hoạch phát triển kinh tế, xã hội theo hướng khuyếnkhích kinh tế trang trại

+ Khuyến khích sự hình thành và phát triển kinh tế trang trại qua các biệnpháp đòn bẩy kinh tế để phục vụ cho kinh tế trang trại

+ Hỗ trợ nguồn lực như: Hỗ trợ kinh phí đào tạo chủ trang trại, xây dựng cơ

sở hạ tầng, chuyển giao tiến bộ khoa học kỹ thuật

2.1.3.2 Có quỹ ruộng đất cần thiết và chính sách để tập trung ruộng đất

Ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu, là điều kiện cơ bản để hình thành vàphát triển trang trại, nếu không có ruộng đất thì không thể tiến hành sản xuất ranông sản và nông sản hàng hóa Nhưng để thành lập ra một trang trại theo đúngnghĩa của nó thì quy mô ruộng đất phải đạt đến một mức nhất định phù hợp vớitừng trang trại mới đảm bảo cho hoạt động kinh doanh có hiệu quả [3]

2.1.3.3 Có sự hỗ trợ của công nghiệp chế biến

Thực tế cho thấy công nghiệp chế biến nông sản có vai trò hết sức to lớntrong việc tiêu thụ nông sản phẩm vì khi công nghiệp chế biến phát triển thì mớitạo ra thị trường rộng lớn và ổn định cho các trang trại

Như vây, để hình thành và phát triển trang trại tất yếu cần có sự hỗ trợ của ngànhcông nghiệp chế biến xuất phát từ yêu cầu của phát triển nông nghiệp nhưng công

Trang 23

nghiệp chế biến phải xuất phát từ yêu cầu phát triển nông nghiệp và phù hợp với nhucầu thị trường về chủng loại, chất lượng và quy cách nông sản phẩm chế biến.

2.1.3.4 Có sự hình thành các vùng sản xuất nông nghiệp chuyên môn hóa

- Có sự phát triển nhất định của kết cấu hạ tầng, trước hết là giao thông,thủy lợi và sự tiến bộ của khoa học kỹ thuật Những loại cơ sở hạ tầng thiết yếunhất đối với kinh tế trang trại là đường giao thông, thủy lợi, điện, thông tin liênlạc và thương mại Đó là những điều kiện vật chất, kỹ thuật rất cần thiết cho hoạtđộng sản xuất nông nghiệp Chúng góp phần quan trọng giúp người sản xuấtkhắc phục, giảm thiểu được những tác động tiêu cực của tự nhiên, đáp ứng yêucầu sinh học của sản xuất nông nghiệp và yêu cầu giao lưu trao đổi hàng hóa.Sản xuất hàng hóa là đặc trưng cơ bản nhất, đặc trưng bản chất của kinh tếtrang trại Sản xuất hàng hóa đòi hỏi hoạt động sản xuất kinh doanh của trang trạiphải được tiến hành trên cơ sở một hệ thống kết cấu hạ tầng kỹ thuật phát triển ởtrình độ nhất định [2], [5]

2.1.3.5 Có sự phát triển nhất định của các hình thức liên kết kinh tế trong nông nghiệp

2.1.3.6 Có môi trường pháp lý thuận lợi cho trang trại ra đời và phát triển

Sự công nhận địa vị pháp lý của kinh tế trang trại sẽ tạo cơ sở pháp lý chonhững người có nguồn lực yên tâm đầu tư sản xuất kinh doanh theo mô hình kinh

tế trang trại

2.1.3.7 Các điều kiện đối với trang trại và chủ trang trại

Chủ trang trại là người có ý chí quyết tâm làm giàu từ nghề nông đồngthời có sự tích luỹ nhất định về kinh nghiệm sản xuất, về tri thức và năng lựcsản xuất kinh doanh

Có sự tập trung nhất định về yếu tố sản xuất trước hết là ruộng đất và tiềnvốn là một phương thức kinh doanh, một đơn vị sản xuất kinh doanh trong nôngnghiệp có quy mô lớn và trình độ sản xuất cao hơn kinh tế nông hộ Khi nào cácyếu tố sản xuất được tập trung với quy mô nhất định thì mới sản xuất được lượnghàng hoá lớn và khi đó mới được công nhận là trang trại

Sự tập trung các yếu tố sản xuất của trang trại được thể hiện dưới các dạngkhác nhau Có yếu tố thuộc quyền sản xuất của trang trại, có thể thuộc quyền sở

Trang 24

hữu của Nhà nước, tập thể hay là cá nhân khác Đây là điểm khác so với kinh tế

hộ Quy mô tập trung các yếu tố về ruộng đất, vốn, tư liệu sản xuất của trang trạikhông phải là vô hạn mà là có giới hạn Đó là giới hạn của các đặc điểm sinh họccủa sản xuất nông nghiệp và giới hạn tối ưu của các yếu tố để đạt được hiệu quảsản xuất kinh doanh

Ví dụ: Luật đất đai và các văn bản chính sách khác còn quy định cụ thể vềthời hạn giao đất ổn định lâu dài đối với cây hàng năm, nuôi trồng thuỷ sản là 20năm, đối với cây lâu năm là 50 năm Khi hết thời hạn sử dụng đất, nếu người sửdụng đất có nhu cầu tiếp tục sử dung đất, chấp hành đúng pháp luật sẽ được Nhànước tiếp tục giao đất sử dụng [2], [11]

2.2 Thời gian và địa điểm nghiên cứu

- Thời gian: Từ ngày 16/02/2009 đến ngày 20/04/2009

- Địa điểm nghiên cứu: Nghiên cứu các trang trại ở huyện Hương Sơn - Hà Tĩnh Hương Sơn là huyện có diện tích tự nhiên là 110.314,98 ha với hơn 3/4 diệntích là đồi núi, có đồng bằng nhỏ hẹp, có nền kinh tế đang không ngừng phát triển.Trong những năm gần đây tốc độ phát triển kinh tế bình quân hàng năm của huyệnđạt 12,50%/năm, trong đó phát triển nông nghiệp là chủ yếu

Toàn huyện có 32 xã và thị trấn, giữa các vùng có sự phát triển là khônggiống nhau Với các chính sách khuyến khích phát triển kinh tế nông nghiệp nóichung và kinh tế trang trại nói riêng đã làm cho trang trại ở Hương Sơn đã khôngngừng phát triển, đóng góp vai trò quan trọng trong việc tạo ra nông sản phẩmhàng hóa trong sản xuất nông nghiệp Hiện nay, toàn huyện có 188 trang trại,trong đó có 54 trang trại trồng trọt, 93 trang trại chăn nuôi, 19 trang trại lâmnghiệp, 5 trang trại nuôi trồng thủy sản và 17 trang trại tổng hợp

2.3 Phương pháp nghiên cứu

2.3.1 Phương pháp thu thập số liệu

2.3.1.1 Thu thập số liệu thứ cấp

Sử dụng các tài liệu, công trình nghiên cứu đã được công bố của các tác giả

có liên quan đến vấn đề nghiên cứu

Trang 25

Số liệu được thu thập từ các văn bản, dự án, báo cáo, tài liệu tham khảo,Phòng nông nghiệp và Phòng thống kê huyện Hương Sơn.

2.3.1.2 Điều tra thực địa

a Lựa chọn địa điểm: Tiến hành điều tra các trang trại trên địa bàn huyệnHương Sơn- Hà Tĩnh

Mẫu điều tra: Chọn mẫu và tìm hiểu những trang trại này thông qua Phòngnông nghiệp huyện cung cấp từ đó lựa chọn để điều tra

Căn cứ vào tiêu chí phân loại của Thông tư liên bộ giữa Bộ NN&PTNT vớiTổng cục thống kê, dựa vào giá trị sản phẩm hàng hóa của trang trại chúng tôitiến hành điều tra ngẫu nhiên 60/188 trang trại của huyện các trang trại đượcphân ra làm 5 loại như sau:

- Trang trại trồng trọt: Chủ yếu là trồng cây ăn quả như: bưởi đường, cam

bù, cam chanh, chanh, vải,… làm sản phẩm hàng hóa là chủ yếu còn cây lươngthực chủ yếu chỉ sử dụng phục vụ cho gia đình và sử dụng vào chăn nuôi gia súc,đồng thời có thể kết hợp với chăn nuôi, trồng rừng, nuôi trông thủy sản, dịch vụ

- Trang trại chăn nuôi: Là loại trang trại có giá trị sản phẩm hàng hóa chủyếu là của ngành chăn nuôi, trang trại này chủ yếu là nuôi bò, trâu, hươu, dê, lợn,gia cầm, đồng thời có thể kết hợp với một số ngành khác

- Trang trại lâm nghiệp: Là loại trang trại có giá trị sản phẩm hàng hoá chủyếu từ việc trồng cây lâm nghiệp như: keo, gió trầm, bạch đàn, mây,…

- Trang trại nuôi trồng thuỷ sản: là trang trại có diện tích mặt nước nuôitrồng thuỷ sản sử dụng nuôi các loại cá làm sản phẩm hàng hoá chính

- Trang trại tổng hợp: Là trang trại liên kết giữa chăn nuôi - trồng trọt - lâmnghiệp - nuôi trồng thuỷ sản

b Phỏng vấn bán cấu trúc

- Lập phiếu điều tra:

+ Về tình hình cơ bản của trang trại: Họ tên chủ trang trại, tuổi, giới tính,trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn, thời gian thành lập trang trại, diện tíchđất, cơ cấu sản xuất, số nhân khẩu, lao động và vốn của trang trại

Trang 26

+ Về tình hình hoạt động sản xuất của trang trại: Các khoản đầu vào, đầu racủa việc sản xuất kinh doanh, giá trị sản xuất, giá trị sản phẩm hàng hóa, tư liệusản xuất của trang trại,… trong năm vừa qua.

+ Về các vấn đề liên quan khác như: Ý kiến của chủ trang trại, những dựđịnh, nguyện vọng, nhu cầu cũng như những thuận lợi và khó khăn của trang trại

- Phỏng vấn trực tiếp các chủ trang trại: Trực tiếp gặp các chủ trang trạithông qua giấy giới thiệu của cơ quan thực tập để phỏng vấn theo phiếu điều tra

c Phương pháp phỏng vấn sâu: Phỏng vấn các chuyên gia hay các nhà quản

lý về vấn đề mình nghiên cứu, người làm thuê, lao động của trang trại, … để tìmhiểu sâu hơn về các vấn đề mình nghiên cứu

2.3.2 Phương pháp phân tích số liệu

2.3.2.1 Phương pháp thống kê mô tả: Sử dụng phương pháp này thông qua số

bình quân, số tối đa, tối thiểu để mô tả tình hình sản xuất đó như thế nào

2.3.2.2 Phương pháp phân tổ: Phương pháp này được sử dụng chủ yếu để tổng

hợp các chỉ tiêu về cơ cấu các loại trang trại và tình hình phát triển các loại trangtrại cuả huyện về quy mô diện tích, quy mô sản xuất, quy mô lao động,…

2.3.2.3 Phương pháp so sánh: Trên cơ sở các chỉ tiêu được tính toán cho các

trang trại, ta tiến hành so sánh các chỉ tiêu đó giữa các loại hình trang trại

2.3.2.4 Phương pháp thống kê kinh tế: Là phương pháp nghiên cứu đối với các

hiện tượng kinh tế, xã hội số lớn, phương pháp này rất đa dạng và phức tạp

- Chọn mẫu điều tra, thu thập số liệu: Phải chọn mẫu điều tra nhanh, kịpthời, độ chính xác cao

- Tổng hợp hệ thống hóa số liệu: Chủ yếu trên cơ sở phân tổ thống kê

- Tiến hành phân tích tài liệu ở 3 khía cạnh khác nhau:

+ Phân tích mức độ hiện tượng

+ Phân tích tình hình biến động của hiện tượng

+ Phân tích mối quan hệ giữa các hiện tượng

- Tổng hợp lý thuyết

2.3.2.5 Phương pháp phân tích kinh tế

Phương pháp phân tích kinh tế là sử dụng tổng hợp của các phương pháp: Thống

Trang 27

kê kinh tế, toán kinh tế và phân tích kinh doanh, từ đó tìm ra những mô hìnhtrang trại có hiệu quả kinh tế nhất, phù hợp với điều kiện kinh tế của vùng đồngthời lựa chọn được phương án sản xuất kinh doanh tối ưu và sử dụng các nguồnlực để đạt hiệu quả kinh tế cao nhất.

2.3.3 Hệ thống chỉ tiêu nghiên cứu

2.3.3.1 Hệ thống chỉ tiêu về năng lực sản xuất của trang trại

- Quy mô về ruộng đất

- Quy mô về lao động

- Quy mô về tư liệu sản xuất

- Quy mô về vốn sản xuất kinh doanh

- Quy mô về cơ sở hạ tầng, phương tiện sinh hoạt

2.3.3.2 Hệ thống về quy mô quản lý sản xuất kinh doanh

- Cơ cấu sản xuất kinh doanh

- Trình độ văn hóa, trình độ chuyên môn của chủ trang trại

2.3.3.3 Hệ thống chỉ tiêu về kết quả sản xuất kinh doanh

* Các chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất:

- Tổng giá trị sản xuất (GO):

GO = 

n i

Pi Qi

n i

C GO

1 1

Trong đó: GO là tổng giá trị sản xuất

C là tổng chi phí (gồm chi phí vật chất

và dịch vụ, khấu hao, thuế, lãi vay, công thuê ngoài)

* Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả kinh tế

Trang 28

- Tỷ suất hàng hóa (H(GO)) :

H(GO) = H /GO

- Hiệu quả sử dụng lao động (GO/L) là tổng giá trị sản xuất/Tổng lao động

- Hiệu quả sử dụng đất đai GO/S) là tổng giá trị sản xuất/Tổng diện tích

- Hiệu quả sử dụng vốn (GO/V) là tổng giá trị sản xuất/Tổng vốn đầu tư

- Thu nhập hỗn hợp/tổng chi phí (MI/C)

- Thu nhập hỗn hợp/lao động chính của gia đình

- Thu nhập hỗn hợp/khẩu

- Giá trị sản xuất/trang trại (GO/TT)

- Giá trị sản phẩm hàng hóa/trang trại (H/TT)

* Các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả xã hội

- Thu nhập bình quân của một lao động/tháng

- Số công lao động trang trại thu hút trong một năm

- Tạo việc làm thường xuyên cho bao nhiêu lao động trong một năm

- Góp phần như thế nào trong việc xóa đói giảm nghèo

2.3.4 Phương pháp xử lý số liệu

Khi đã thu thập được các số liệu thì ta tiến hành xử lý chúng bằng phươngpháp thủ công, sử dụng máy tính bỏ túi, sử dụng phần mềm Word, Excel

Trang 29

CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của khu vực nghiên cứu

3.1.1 Điều kiện tự nhiên

3.1.1.1 Vị trí địa lí

Hương Sơn là huyện miền núi nằm về phía Tây Bắc của tỉnh Hà Tĩnh, có tọa

độ địa lý từ 105006′08″ đến 105033′08″ độ kinh đông, 18016′07″ đến 18036′28″ độ vĩBắc Phía Đông giáp huyện Đức Thọ, phía Tây giáp Lào, phía Nam giáp huyện VũQuang, Phía Bắc giáp huyện Nam Đàn và huyện Thanh Chương tỉnh Nghệ An.Toàn huyện có 32 đơn vị hành chính (xã, thị trấn), trong đó có 30 xã và 2thị trấn

Huyện có tổng diện tích đất tự nhiên là 110.314,98 ha, chiếm 18,33% diện tích

tự nhiên toàn tỉnh Huyện có 2 thị trấn là thị trấn Phố Châu và thị trấn Tây Sơn,trong đó thị trấn Phố Châu là trung tâm văn hóa - chính trị của huyện cách thành phố

Hà Tĩnh 70 km về phía Tây Bắc, thị trấn Tây Sơn là trung tâm kinh tế, dịch vụ thương mại của huyện - là đầu mối lưu thông hàng hóa từ cửa khẩu Cầu Treo đếncác vùng trong cả nước Huyện có quốc lộ 8A và đường mòn Hồ Chí Minh đi qua

-3.1.1.2 Địa hình, thổ nhưỡng

Địa hình của huyện chủ yếu là đồi núi (chiếm hơn 3/4 diện tích của huyện),

là miền núi thấp, hẹp ngang, sườn dốc, cấu trúc kéo dài theo hướng Tây BắcĐông Nam, độ cao trung bình khoảng 600-700 m, bao gồm:

Địa hình núi trung bình có dạng dải hẹp, có các núi cao từ 900 m trở lên,được cấu tạo bởi đá macma và đá biến chất, có địa hình hiểm trở, việc đi lại vàkhai thác gặp nhiều khó khăn

Địa hình núi thấp chiếm phần lớn diện tích của huyện và có độ dốc dưới

900 m, được cấu tạo chủ yếu từ núi đá trầm tích Dạng địa hình này có cấu trúcđịa chất tương đối phức tạp

Địa hình thung lũng kiến tạo - xâm thực: Được cấu tạo bởi các loại đá trầmtích vụn, bở, dễ xâm thực.Chiếm diện tích nhỏ, độ cao chủ yếu dưới 300 m Kiểu

Trang 30

địa hình này đang được khai thác và còn có thể khai hoang mở rộng diện tíchphát triển sản xuất nông nghiệp.

3.1.1.3 Khí hậu, thời tiết

Huyện Hương Sơn nằm trong vùng có khí hậu nhiệt đới gió mùa ẩm, có sựphân hoá khắc nghiệt với mùa đông lạnh - ẩm, mưa nhiều, mùa hè khô nóng

- Nhiệt độ: Nhiệt độ của huyện tương đối thấp, với nhiệt độ trung bình cảnăm khoảng 23,40C, nhiệt độ cao tuyệt đối khoảng 39,70C, các tháng có nhiệt độcao là tháng 6, 7, 8; nhiệt độ thấp tuyệt đối khoảng 5,10C có khi xuống thấp tới 4 -

50C, các tháng có nhiệt độ thấp là tháng 12, 1, 2

- Lượng mưa: Tổng lượng mưa bình quân của huyện tương đối lớn, từ 2.000đến 2.500 mm nhưng phân bố không đều giữa các tháng trong năm.Tổng lượngmưa 5 tháng mùa lạnh chiếm khoảng 26% lượng mưa cả năm Lượng mưa chủyếu tập trung vào mùa mưa (chiếm khoảng 74%) Số ngày mưa trung bình nămkhá cao, phổ biến từ 150-160 ngày

- Lượng nước bốc hơi: Về mùa đông lượng bốc hơi nhỏ, chỉ chiếm 1/5 – 1/2lượng mưa Về mùa nóng thì ngược lại, có lượng bốc hơi lớn, lượng bốc hơi củatháng 7 có thể gấp 4-5 lần các tháng mùa lạnh, trung bình 900 – 1.000 mm/năm

- Độ ẩm không khí: Độ ẩm không khí bình quân năm là 85%, thấp nhất vàocác tháng 6 và 7 Độ ẩm không khí dao động trong khoảng 75% - 90%

- Số giờ nắng: Tổng cả năm có khoảng 1.465 giờ, các tháng mùa đông trungbình 50 - 75 giờ, các tháng mùa hè trung bình từ 190 - 200 giờ Mùa hè nắng gắtnên bất lợi cho quá trình quang hợp, tăng sự thoát hơi nước làm ảnh hưởng xấuđến sản xuất nông nghiệp

- Gió: Có hai loại gió chính: Gió mùa Đông bắc và gió Tây nam

3.1.1.4 Thuỷ văn

Huyện có hệ thống sông suối khá dày đặc nhưng chiều dài của các con suốingắn có lưu lượng nước nhỏ, suối có độ dốc và tốc độ dòng chảy lớn, mật độsông suối phân bố tương đối đồng đều trung bình là 1,1km chiều dài/ km2

Trang 31

Ngoài ra huyện còn có nhiều kênh, hồ, đập lớn nhỏ nên đã phần nào đápứng được công tác điều tiết nước trong mùa mưa lụt và cung cấp nước trong mùakhô phục vụ sản xuất nông nghiệp.

Huyện có con sông lớn duy nhất chảy qua là sông Ngàn Phố Sông có chiềudài khoảng 70km, diện tích lưu vực của sông khoảng 1.060 km2

3.1.1.5 Tài nguyên rừng, động thực vật

Diện tích rừng của toàn huyện là 83.608,36 ha, chiếm 75,79% diện tích đất

tự nhiên Tài nguyên động thực vật rừng rất đa dạng và phong phú, một số loài

gỗ quý hiếm và có giá trị kinh tế cao như Pơ mu, Lim xanh, Vàng tâm,…;còn vềđộng vật rừng đã thống kê được 70 loài thú trong đó có nhiều loài quý hiếm nhưSao la, Mang Lớn, Voi, Bò tót,…

* Đánh giá chung về điều kiện tự nhiên:

Huyện có vị trí thuận lợi trong mối giao lưu kinh tế, văn hoá với các vùngxung quanh nên thuận lợi cho việc giao lưu buôn bán, kinh tế xã hội

Huyện có diện tích khá rộng lớn, có hệ thống sông suối dày đặc, có tàinguyên rừng phong phú nên thuận lợi cho việc phát triển nông - lâm nghiệp nóichung và kinh tế trang trại nói riêng Mặt khác, huyện có diện tích rừng rộng lớnnên rất thuận lợi cho phát triển trang trại lâm nghiệp

Tuy nhiên do lượng mưa khá lớn lại phân bố không đều, địa hình dốc nênthường bị lũ lụt và gây ngập úng tại một số vùng trũng đã gây thiệt hại khôngnhỏ cho sản xuất nông nghiệp

3.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội

3.1.2.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Hương Sơn

Đất đai là yếu tố quan trọng đối với tất cả các ngành sản xuất đặc biệt làtrong sản xuất nông - lâm - thuỷ sản Đối với phát triển kinh tế trang trại thì nó là

tư liệu sản xuất không thể thay thế được Huyện Hương Sơn có tổng diện tích đất

tự nhiên là 110.314,98 ha, bao gầm đất nông nghiệp, lâm nghiệp, đất chuyêndùng, đất ở, đất chưa sử dụng Việc sử dụng đất đai của huyện có sự biến độngqua các năm như sau:

Qua bảng 3.1 ta thấy: Diện tích đất nông nghiệp qua 3 năm giảm dần, đấtlâm nghiệp tăng lên, đất chuyên dùng tăng, đất thổ cư tăng và đất chưa sử dụnggiảm dần do được chuyển sang mục đích khác

Trang 32

Bảng 3.1 Tình hình sử dụng đất đai của huyện Hương Sơn qua 3 năm (2006 - 2008)

Trang 33

Diện tích đất nông nghiệp năm 2007 giảm so với năm 2006 là 0,53%, trong

đó đất trồng cây hàng năm giảm 12,12%, đất trồng cây lâu năm tăng 0,24%, đấtchăn nuôi tăng 29,75%, đất vườn tạp giảm 19,93%, đất nuôi trồng thuỷ sản tăng1,97% Đến năm 2008, diện tích đất nông nghiệp lại tiếp tục giảm so với năm

2007 là 0,37%, trong đó đất trồng cây hàng năm giảm 4,55%, đất trồng cây lâunăm tăng 5,66%, đất chăn nuôi tăng 0,73%, đất vườn tạp giảm 2,04%, đất nuôitrồng thuỷ sản giảm 0,41% Từ đó ta thấy, diện tích đất nông nghiệp bình quânqua 3 năm giảm 0,45% và cơ cấu các loại đất trong đất nông nghiệp bình quânqua 3 năm như sau: đất trồng cây hàng năm giảm 8,33%, đất trồng cây lâu nămtăng 2,95%, đất chăn nuôi tăng 15,24%, đất vườn tạp giảm 10,98%, đất nuôitrông thuỷ sản tăng 0,78% Và trong đất nông nghiệp thì đất trồng cây hàng nămchiếm tỷ trọng cao nhất

Từ năm 2006 - 2008, trong cơ cấu đất nông nghiệp có nhiều biến động.Nguyên nhân là do đất nông nghiệp được chuyển sang sử dụng vào một số mục đíchkhác như đất ở, đất sản xuất kinh doanh thương mại - dịch vụ, đất giao thông,….Năm 2006, huyện triển khai thực hiện đề án phát triển chăn nuôi đồng thờingười dân cũng thấy hiệu quả từ chăn nuôi mang lại tốt hơn so với việc trồng câyhàng năm nên trong 3 năm qua diện tích đất chăn nuôi tăng nhanh còn đất trồngcây hàng năm giảm dần Đất trồng cây lâu năm tăng là vì trong những năm trướcđây diện tích trồng cây ăn quả giảm mạnh do bị sâu bệnh, thị trường không ổnđịnh,…Nhưng từ năm 2006 trở lại đây, huyện đã có những chương trình hỗ trợcho việc trồng cây ăn quả như cam bù, bưởi đường…, và đưa thêm một số giốngmới vào sản xuất, đồng thời có sự hỗ trợ về giống, phân bón, kỹ thuật, thuốc bảo

vệ thực vật,…Mặt khác có sự mở rộng diện tích mặt nước để phục vụ cho việcnuôi trồng thuỷ sản nên làm cho diện tích mặt nước nuôi trồng thuỷ sản tăng lên(dù năm 2008 có gảm so với năm 2007 vì một số ruộng nuôi trồng thuỷ sản đượcchuyển sang trồng lúa, trồng cỏ), đất vườn tạp giảm nhẹ vì một số vườn chuyểnsang phục vụ cho nhu cầu đất ở, đất trồng cây ăn quả,…

Trang 34

Diện tích đất lâm nghiệp bình quân qua 3 năm tăng 0,08%, trong đó rừng tựnhiên giảm 4,41%, đất rừng trồng tăng 14,29%, đất chưa có rừng giảm 10,46%.Nguyên nhân đất lâm nghiệp tăng là do một số đất chưa sử dụng được người dântiến hành trồng rừng lên đó và trong đất lâm nghiệp thì diện tích rừng tự nhiên bị khai thác, chặt phá trái phép hoặc do bị cháy rừng nên làm cho diện tích rừng tựnhiên giảm, số rừng tự nhiên bị chặt phá một phần được sử dụng cho việc trồngrừng, và ngoài ra người dân còn trồng thêm rừng vào vùng đất chưa sử dụng vàđất chưa có rừng nên làm cho diện tích rừng trồng tăng nhanh, đất chưa có rừngthì giảm dần Điều này cũng chính là do các trang trại lâm nghiệp phát triển trongthời gian gần đây.

Bên cạnh đó, đất chuyên dùng tăng, bình quân từ năm 2006 - 2008 tăng1,83%, đất ở tăng gần 0,58% Sở dĩ như vậy là do số hộ tăng lên và một phần là

sử dụng cho quá trình đô thị hóa

Đất chưa sử dụng bình quân qua 3 năm giảm 0,60%, nhằm chuyển sang phục

vụ cho các hoạt động sản xuất nông - lâm - ngư nghiệp và một số mục đích khác.Nhìn chung, trong những năm gần đây sự biến động về đất đai của huyệnHương Sơn tạo thuận lợi cho phát triển ngành nông - lâm - ngư nghiệp nói chung

và đặc biệt là thúc đẩy cho sự phát triển của kinh tế trang trại trên địa bàn huyện

3.1.2.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Hương Sơn

Lao động là nguồn lực quan trọng để phát triển kinh tế của từng quốc giacũng như của từng vùng miền Dựa vào tình hình phát triển nguồn nhân lực,nguồn lao động người ta có thể đánh giá được tình hình phát triển kinh tế củamột vùng hay một quốc gia nào đó có phát triển hay không

Qua bảng 3.2 ta thấy: Năm 2006, dân số toàn huyện là 125.330 người, năm 2007

là 124.552 người, giảm 778 người hay giảm 0,62% so với năm 2006 Năm 2008

là 122.705 người, giảm 1.847 người hay giảm 1,48% so với năm 2007 Như vậybình quân qua 3 năm dân số giảm 1,05%

Trang 35

Bảng 3.2 Tình hình dân số và lao động của huyện Hương Sơn qua 3 năm (2006 – 2008)

1 Nhân khẩu Người 125.330 100,00 124.552 100,00 122.705 100,00 99,38 98,52 98,95

Nông nghiệp Người 11.2631 89,97 111.796 89,76 110.066 89,70 99,26 98,45 98,86

Phi nông nghiệp Người 12.699 10,03 12.726 10,22 12.639 10,30 100,21 99,32 99,76

Trang 36

Khẩu nông nghiệp là 112.631 người vào năm 2006, đến năm 2008 giảm xuốngcòn 110.066 khẩu Khẩu phi nông nghiệp tăng 12.699 người vào năm 2006 lên 12.726người vào năm 2007, nhưng đến năm 2008 lại giảm xuống còn 12.639 người Bìnhquân 3 năm khẩu nông nghiệp giảm 1,14%; khẩu phi nông nghiệp giảm 0,24%.

Về lao động, năm 2006 toàn huyện có 44.123 lao động, năm 2007 giảmxuống còn 43.685 lao động tức là giảm 438 lao động hay giảm 0,09%, đến 2008lao động của huyện tiếp tục giảm xuống 43.355 lao động tức là giảm 330 lao độnghay giảm 0,75% Bình quân qua 3 năm giảm 0,87% Và lao động nông nghiệp làchủ yếu Năm 2006, lao động nông nghiệp chiếm 91,11% tổng số lao động, đếnnăm 2008 chiếm 88,27% tổng số lao động của huyện Bình quân 3 năm lao độngnông nghiệp giảm 2,43%, lao động phi nông nghiệp tăng 13,84%

Tổng số hộ năm 2006 là 31.818 hộ, năm 2007 giảm xuống 31.795 hộ,nhưng năm 2008 lại tăng lên 31.875 hộ, bình quân 3 năm tăng 0,09% Trong đó,

hộ nông nghiệp năm 2006 là 28.800 hộ chiếm 90,51% tổng số hộ, còn lại là hộphi nông nghiệp Năm 2008, hộ nông nghiệp là 28.804 hộ (dù năm 2007 giảmxuống còn 28.779 hộ) chiếm 90,37%, hộ phi nông nghiệp là 9,63% Bình quân 3năm hộ nông nghiệp tăng rất ít là 0,01%, hộ phi nông nghiệp tăng 0,87% Nhưvậy hộ phi nông nghiệp tăng nhanh hơn hộ nông nghiệp nhiều

Qua đó cho thấy quá trình đô thị hóa ở nông thôn diễn ra nhanh và có sựchuyển dịch cơ cấu lao động sang nghành khác, đó là chuyển từ lao động nôngnghiệp sang ngành công nghiệp - thương mại -dịch vụ, di dời đến nơi khác ở, hay

do xuất khẩu lao động

Tóm lại, qua số liệu ở bảng 3.2 cho ta thấy: Huyện Hương Sơn chủ yếu là pháttriển nông nghiệp, có xã hầu như là thuần nông như Sơn lễ, Sơn Tiến, Sơn Phúc,….Bình quân lao động/hộ trên địa bàn huyện chưa đến 2 người (1,37 người), hiệu quả

sử dụng lao động chưa cao, năng suất, trình độ lao động còn thấp Vì thế nên thunhập của người dân còn thấp Do vậy phát triển kinh tế trang trại là hướng đi mới cótác dụng nâng cao thu nhập và mức sống của người nông dân được tốt hơn

Trang 37

Nhận xét: Ta thấy, ở Hương Sơn có lực lượng lao động trong nông nghiệprất dồi dào nên sẽ thuận lợi cho việc thuê mướn lao động của cá trang trại trên địabàn huyện

- Tổng chiều dài đường bộ các loại là 1.750 km, có đường quốc lộ 8A dài gần

70 km chạy dọc huyện nối với nước Lào Hầu hết các tuyến đường trên đã được rảinhựa và có tuyến đường Hồ Chí Minh đi qua Tuyến đường liên huyện dài 85 km,đường liên xã là 150 km Những năm gần đây huyện đã thường xuyên đầu tư nângcấp và xây dựng các tuyến đường trên địa bàn như mở hơn 10 km đường mới, xâydựng thêm 53 km đường bê tông, nâng cấp hơn 100 km đường các loại

- Hệ thống thủy lợi trên địa bàn huyện tương đối hoàn chỉnh phục vụ chocông tác tưới tiêu trong sinh hoạt và sản xuất Toàn huyện có 160 km kênhmương, với 6.200 con kênh, 7.540 cống đập điều tiết nội đồng, 84 trạm bơm cácloại với tổng công suất là 415 kw/h Tuy vậy việc tưới tiêu vẫn chỉ sử dụng chotrồng lúa là chủ yếu còn các loại cây trồng khác vẫn chưa được đảm bảo.Vì vậycần phải cải tạo và nâng cấp hệ thống thủy lợi được hoàn chỉnh hơn để phục vụcho việc sản xuất nông nghiệp

Hệ thống điện: Hiện nay, 100% xã, thôn, xóm đã có điện Toàn huyện có

150 km đường dây cao thế, 840 km đường dây hạ thế, 55 trạm biến áp, đồng thờihuyện cũng đã không ngừng xây dựng và nâng cấp mạng lưới điện để đáp ứng tốthơn cho việc sinh hoạt và sản xuất

- Hệ thống thông tin liên lạc: Huyện có 33 đài phát thanh, 1 đài phát thanhcủa huyện và 32 đài phát thanh của xã, thị trấn, 1 đài truyền hình của huyện

Trang 38

Nhận xét: Qua việc tìm hiểu về điều kiện tự nhiên - kinh tế và xã hội củahuyện Hương Sơn ta thấy rằng: Huyện Hương Sơn đã có những điều kiện thuậnlợi cho việc hình thành và phát triển kinh tế trang trại như đất đai, lao động, cơ sở

hạ tầng Nhưng bên cạnh đó để trang trại được phát triển tốt hơn nữa thì vẫn cònmột số vấn đề cần được giải quyết

3.1.2.4 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh của huyện Hương sơn

Qua bảng 3.3 ta thấy: Qua 3 năm, từ 2006-2008 tình hình phát triển kinh tếcủa huyện có sự thay đổi theo chiều hướng giảm tỷ trọng ngành nông nghiệp vàtăng tỷ trọng nghành công nghiệp, thương mại - dịch vụ

* Về nông - lâm - ngư nghiệp

Qua 3 năm giá trị sản xuất ngành nông - lâm - ngư nghiệp tăng khá nhanh, từ459.408 triệu đồng (2006) lên 589.882 triêu đồng (2008), trong đó ngành nôngnghiệp tăng từ 412.270 triêu đồng (2006) lên 513.992 triệu đồng (2008) bình quânqua 3 năm tăng 11,66% nhưng về cơ cấu phần trăm lại giảm từ 89,74% (2006)xuống còn 87,12% (2008)

- Đối với ngành trồng trọt: Hiện đang có sự chuyển dịch mạnh mẽ trong cơcấu cây trồng theo hướng sản xuất hàng hóa có giá trị kinh tế cao, phù hợp vớiđiều kiện kinh tế của địa phương, có tác dụng cải tạo đất, giảm dần các loại câylương thực kém hiệu quả, tăng dần các loại cây ăn quả như cam bù, bưởiđường, Cụ thể là năm 2006 giá trị sản xuất của ngành trồng trọt là 275.414triệu đồng, nhưng năm 2008 tăng lên 319.217 triệu đồng, bình quân chung qua

3 năm tăng 7,66%

- Chăn nuôi: Trong những năm gần đây trong nông nghiệp có sự chuyển dịch

cơ cấu theo hướng tăng dần tỷ trọng ngành chăn nuôi và giảm dần tỷ trọng ngànhtrồng trọt Cụ thể: qua 3 năm, tỷ trọng ngành trồng trọt giảm từ 66,8% (2006)xuống còn 62,11% (2008), chăn nuôi tăng từ 33,2% (2006) đến 37,89%(2008).Trong ngành chăn nuôi có sự phát triển cả về số lượng, chủng loại và chất lượng

Đó là chăn nuôi lợn, trâu, bò, hươu, dê, gia cầm với nhiều loại giống có năng suấtcao, chất lượng tốt, khi đưa vào sử dụng mang lại hiệu quả kinh tế cao, việc áp dụngtiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất kinh doanh được quan tâm nhiều

Trang 39

Bảng 3.3 Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Hương Sơn qua 3 năm (2006 – 2008)

Tổng giá trị sản xuất 910.099 100,00 999.517 100,00 1.269.081 100,00 109,83 126,97 118,09 I.Ngành nông - lâm -thủy sản 459.408 50,48 489.428 48,97 589.882 46,48 106,53 120,52 113,31

Trang 40

đó là chăn nuôi lợn, trâu, bò, hươu, dê, gia cầm với nhiều loại giống có năng suấtcao, chất lượng tốt, khi đưa vào sử dụng mang lại hiệu quả kinh tế cao, việc áp dụngtiến bộ khoa học kỹ thuật vào trong sản xuất kinh doanh được quan tâm nhiều.

- Về ngành lâm nghiệp có sự tăng về số lượng, chất lượng và giá trị sảnphẩm, năm 2006 giá trị sản xuất của ngành lâm nghiệp là 42.281 triệu đồng vànăm 2008 là 62.849 triệu đồng, bình quân qua 3 năm tăng 21,92% Vì thế, trongnhững năm gần đây việc trồng rừng nguyên liệu đã mang lại hiệu quả kinh tế khátốt cho người dân

- Nuôi trồng thủy sản cũng vậy, tuy với diện tích không nhiều nhưng do mởrộng thêm diện tích canh tác và áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào trongsản xuất nên giá trị sản xuất kinh doanh của ngành thủy sản tăng từ 7.857 triệuđồng(2006) lên 13.111 triệu đồng (2008), bình quân qua 3 năm tăng 64,30%

- Ngành công nghiệp - tiểu thủ công nghiệp: Trong mấy năm trở lại đây tỷtrọng ngành này liên tục tăng cả về số lượng và tỷ trọng, nhưng vẫn còn chiếmmột phần rất nhỏ trong tổng giá trị sản xuất của các ngành Cụ thể, tổng giá trịsản xuất của ngành này là 40.267 triệu đồng chiếm 1,06% (2006) tăng lên 63.671triệu đồng chiếm 5,02% (2008), bình quân qua 3 năm tăng 25,45%

- Ngành xây dựng cơ bản: Đây là ngành thu hút được nhiều lao động thamgia, giải quyết được việc làm (thường xuyên và thời vụ) cho lao động nôngnghiệp ở nông thôn hiện nay Cụ thể, năm 2006 có tổng giá trị sản xuất là102.400 triệu đồng chiếm 11,25%, và đến năm 2008 là 182.200 triệu đồng chiếm14,36%, bình quân qua 3 năm tăng 33,39%

- Ngành thương mại dịch vụ: Trong những năm gần đây giá trị sản xuất củangành liên tục tăng, từ 109.860 triệu đồng (2006) lên 162.401 triệu đồng, bìnhquân qua 3 năm tăng 21,58%

- Ngành khác: Bao gồm các ngành như văn hóa, giáo dục, y tế,…ngành nàychiếm hơn 1/5 tổng giá trị sản xuất kinh doanh của toàn huyện Năm 2006, giá trịsản xuất đạt 198.164 triệu đồng chiếm 21,78%, đến năm 2008 đạt 270.927 triệuđồng chiếm 21,35%, bình quân qua 3 năm giá trị sản xuất của ngành tăng 16,93%

Ngày đăng: 20/12/2013, 13:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Hoàng Việt (2000), Quản lý sản xuất kinh doanh trong trang trại, Nxb. Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý sản xuất kinh doanh trong trang trại
Tác giả: Hoàng Việt
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2000
[2] Giáp Kiều Hưng (2006), Để thành công khi làm kinh tế trang trại , Nxb. Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Để thành công khi làm kinh tế trang trại
Tác giả: Giáp Kiều Hưng
Nhà XB: Nxb. Thanh Hóa
Năm: 2006
[3] Lê Trọng (2000), Phát triển và quản lý trang trại trong kinh tế thị trường, Nxb. Văn hóa dân tộc Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển và quản lý trang trại trong kinh tế thị trường
Tác giả: Lê Trọng
Nhà XB: Nxb. Văn hóa dân tộc
Năm: 2000
[4] Phạm Công Chung (2005), Hỏi đáp về kinh tế trang trại, Nxb. Thanh Hóa Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về kinh tế trang trạ
Tác giả: Phạm Công Chung
Nhà XB: Nxb. Thanh Hóa
Năm: 2005
[5] Nguyễn Đức Thịnh (2000), Kinh tế trang trại các tỉnh Trung du, miền núi phía Bắc, Nxb. Khoa học xã hội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế trang trại các tỉnh Trung du, miền núi phía Bắc
Tác giả: Nguyễn Đức Thịnh
Nhà XB: Nxb. Khoa học xã hội
Năm: 2000
[7] Nguyễn Thị Tiếng (2007), Bài giảng kinh tế nông hộ và trang trại, Khoa Nông Lâm Ngư, Trường Đại học Vinh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng kinh tế nông hộ và trang trại
Tác giả: Nguyễn Thị Tiếng
Năm: 2007
[8] Nguyễn Văn Tuấn (2000), Quản lý trang trại nông lâm nghiệp, Nxb. Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quản lý trang trại nông lâm nghiệp
Tác giả: Nguyễn Văn Tuấn
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp
Năm: 2000
[9] Trần Đức (1997), Kinh tế trang trại - sức mạnh của nền nông nghiệp Pháp. Nxb. Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế trang trại - sức mạnh của nền nông nghiệp Pháp
Tác giả: Trần Đức
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 1997
[10] Trần Đức (1998), Kinh tế trang trại vùng đồi núi, Nxb. Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: ), Kinh tế trang trại vùng đồi núi
Tác giả: Trần Đức
Nhà XB: Nxb. Thống kê
Năm: 1998
[11] Trường Đại học Nông nghiệp I Hà Nội ( 2005 ), Giáo trình chính sách nông nghiệp. Nxb. Nông nghiệp Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình chính sách nông nghiệp
Nhà XB: Nxb. Nông nghiệp

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1. Sự phát triển kinh tế trang trại ở Pháp [7] - Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện hương sơn   hà tĩnh
Bảng 1.1. Sự phát triển kinh tế trang trại ở Pháp [7] (Trang 5)
Bảng 1.2.  Sự phát triểnkinh tế trang trại ở Mỹ [7] - Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện hương sơn   hà tĩnh
Bảng 1.2. Sự phát triểnkinh tế trang trại ở Mỹ [7] (Trang 6)
Bảng 1.3.  Sự phát triển kinh tế trang trại ở Anh [10] - Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện hương sơn   hà tĩnh
Bảng 1.3. Sự phát triển kinh tế trang trại ở Anh [10] (Trang 6)
Bảng 1.4. Sự phát triển kinh tế trang trại ở Đài Loan [5], [7] - Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện hương sơn   hà tĩnh
Bảng 1.4. Sự phát triển kinh tế trang trại ở Đài Loan [5], [7] (Trang 7)
Bảng 3.1.  Tình hình sử dụng đất đai của huyện Hương Sơn qua 3 năm (2006 - 2008) - Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện hương sơn   hà tĩnh
Bảng 3.1. Tình hình sử dụng đất đai của huyện Hương Sơn qua 3 năm (2006 - 2008) (Trang 32)
Bảng 3.2.  Tình hình dân số và lao động của huyện Hương Sơn qua 3 năm  (2006 – 2008) - Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện hương sơn   hà tĩnh
Bảng 3.2. Tình hình dân số và lao động của huyện Hương Sơn qua 3 năm (2006 – 2008) (Trang 35)
Bảng 3.3.  Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Hương Sơn qua 3 năm (2006 – 2008) - Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện hương sơn   hà tĩnh
Bảng 3.3. Kết quả sản xuất kinh doanh của huyện Hương Sơn qua 3 năm (2006 – 2008) (Trang 39)
Bảng 3.5. Quy mô trang trại của huyện Hương Sơn qua 3 năm ( 2006 – 2008 ) - Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện hương sơn   hà tĩnh
Bảng 3.5. Quy mô trang trại của huyện Hương Sơn qua 3 năm ( 2006 – 2008 ) (Trang 43)
Bảng 3.6. Cơ cấu các loại hình trang trại điều tra ở huyện Hương Sơn năm 2008 - Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện hương sơn   hà tĩnh
Bảng 3.6. Cơ cấu các loại hình trang trại điều tra ở huyện Hương Sơn năm 2008 (Trang 44)
Bảng 3.8. Thực trạng sử dụng đất đai của các trang trại điều tra ở huyện Hương Sơn năm 2008 - Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện hương sơn   hà tĩnh
Bảng 3.8. Thực trạng sử dụng đất đai của các trang trại điều tra ở huyện Hương Sơn năm 2008 (Trang 48)
Bảng 3.9. Thực trạng nhân khẩu và lao động của các trang trại điều tra - Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện hương sơn   hà tĩnh
Bảng 3.9. Thực trạng nhân khẩu và lao động của các trang trại điều tra (Trang 51)
Bảng 3.10. Quy mô sản xuất của các trang trại điều tra ở huyện Hương sơn năm 2008 - Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện hương sơn   hà tĩnh
Bảng 3.10. Quy mô sản xuất của các trang trại điều tra ở huyện Hương sơn năm 2008 (Trang 54)
Bảng 3.11.  Nhu cầu về vốn của các trang trại điều tra Ở huyện Hương Sơn năm 2008 - Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện hương sơn   hà tĩnh
Bảng 3.11. Nhu cầu về vốn của các trang trại điều tra Ở huyện Hương Sơn năm 2008 (Trang 55)
Hình 3.4. Sơ đồ về thị trường tiêu thụ sản phẩm của các trang trại - Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện hương sơn   hà tĩnh
Hình 3.4. Sơ đồ về thị trường tiêu thụ sản phẩm của các trang trại (Trang 60)
Bảng  3.13.  Chi phí sản xuất của các trang trại điều tra ở Hương Sơn năm 2008 - Luận văn nghiên cứu thực trạng và đề xuất một số giải pháp phát triển kinh tế trang trại ở huyện hương sơn   hà tĩnh
ng 3.13. Chi phí sản xuất của các trang trại điều tra ở Hương Sơn năm 2008 (Trang 63)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w