1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ Một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh THCS trong dạy học chủ đề phân số số học 6

71 20 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 71
Dung lượng 469,76 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG PHẠM THỊ THÚY MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THCS TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ PHÂN SỐ - SỐ H

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

PHẠM THỊ THÚY

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THCS TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ PHÂN SỐ - SỐ HỌC 6

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP

DẠY HỌC BỘ MÔN TOÁN

HẢI PHÒNG - 2021

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

PHẠM THỊ THÚY

MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC CHO HỌC SINH THCS TRONG DẠY HỌC CHỦ ĐỀ PHÂN SỐ - SỐ HỌC 6

LUẬN VĂN THẠC SĨ LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan bản luận văn này là kết quả nghiên cứu của cá nhân tôi Các số liệu và tài liệu được trích dẫn trong luận văn là trung thực Kết quả nghiên cứu này không trùng với bất cứ công trình nào đã được công bố trước đó

Tôi xin chịu trách nhiệm với lời cam đoan của mình

Hải Phòng, tháng 11 năm 2021

Tác giả

Phạm Thị Thúy

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Lời đầu tiên trong luận văn, tác giả xin trân trọng cảm ơn các thầy, cô giáo khoa Toán trường Đại học Hải Phòng đã nhiệt tình giảng dạy và giúp đỡ tác giả trong suốt khóa học và quá trình nghiên cứu đề tài

Đặc biệt, tác giả xin bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc tới TS Thái Thị Nga – người đã trực tiếp hướng dẫn và tận tình chỉ bảo, tạo điều kiện thuận lợi cho tác giả trong quá trình nghiên cứu, thực hiện đề tài

Tác giả xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo và các

em học sinh trường THCS Ngũ Phúc, đã tạo điều kiện giúp đỡ tác giả trong quá trình hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tác giả xin bày tỏ lòng biết ơn tới những người thân trong gia đình, bạn bè đã luôn động viên và giúp đỡ tác giả về mọi mặt trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn

Dù đã cố gắng song chắc chắn luận văn không thể tránh khỏi những thiếu sót, kính mong sự góp ý của các thầy cô và các bạn đồng nghiệp

Hải Phòng, tháng 11 năm 2021

Tác giả

Phạm Thị Thúy

Trang 5

MỤC LỤC

Trang

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN ii

MỤC LỤC iii

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT v

MỞ ĐẦU 1

1 Lí do lựa chọn đề tài nghiên cứu 1

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu 2

3 Mục tiêu nghiên cứu 3

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4

4.1 Đối tượng nghiên cứu 4

4.2 Phạm vi nghiên cứu 4

5 Phương pháp nghiên cứu 4

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận 4

5.2 Phương pháp điều tra quan sát 4

5.3 Phương pháp thống kê toán học 4

5.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm 4

6 Kết cấu đề tài 4

CHƯƠNG I:CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6

1.1 Năng lực, năng lực tự học 6

1.1.1 Năng lực 6

1.1.2 Năng lực tự học 8

1.2 Dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh 10 1.2.1 Cơ hội phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua dạy học môn Toán 10

1.2.2 Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của tự học 11

1.3 Nội dung “phân số” trong chương trình Số học 6 12

1.4 Thực trạng tự học chủ đề phân số - số học 6 của HS hiện nay 13

1.5 Kết luận chương 1 14

Trang 6

CHƯƠNG 2:MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC 15

CHO HỌC SINH THCS THÔNG QUA DẠY HỌC CHỦ ĐỀ PHÂN SỐ - SỐ HỌC 6 15

2.1 Định hướng xây dựng và thực hiện các biện pháp dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực tự học cho HS THCS 15

2.2 Một số biện pháp phát triển NLTH cho HS lớp 6 khi dạy học chủ đề “Phân số - Số học 6” theo hướng phát triển NLTH cho HS THCS 16

2.2.1 Biện pháp 1 Hướng dẫn học sinh xác định được mục tiêu bài học 16

2.2.2 Biện pháp 2 Gợi động cơ, kích thích nhu cầu học tập của học sinh 18

2.2.3 Biện pháp 3 Xây dựng phiếu học tập hướng dẫn học sinh tự học 22

2.2.4 Biện pháp 4 Hướng dẫn học sinh tự học ở trên lớp 40

2.2.5 Biện pháp 5 Hướng dẫn học sinh tự học ở nhà 45

2.2.6 Biện pháp 6 Phát triển NLTH của HS thông qua hoạt động trải nghiệm 48

2.3 Kết luận chương 2 49

CHƯƠNG 3:THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 51

3.1 Mục đích thực nghiệm 51

3.2 Nhiệm vụ thực nghiệm 51

3.3 Nội dung thực nghiệm 51

3.4 Cách tiến hành thực nghiệm 52

3.5 Đánh giá kết quả thực nghiệm 52

3.5.1 Đánh giá định tính 52

3.5.2 Đánh giá định lượng 52

3.6 Kết luận chương 3 53

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 54

1 Kết luận 54

2 Khuyến nghị 54

TÀI LIỆU THAM KHẢO 55

PHỤ LỤC 56

Phụ lục 1: PHIẾU HỌC TẬP §8 56

Phụ lục 2: GIÁO ÁN THỰC NGHIỆM 57

Phụ lục 3: ĐỀ KIỂM TRA 61

Trang 7

DANH MỤC CÁC KÍ HIỆU, CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 8

MỞ ĐẦU

1 Lí do lựa chọn đề tài nghiên cứu

Với sự phát triển không ngừng của xã hội như hiện nay, đòi hỏi con người phải luôn thay đổi, tiến bộ, có phẩm chất, năng lực tốt mới có thể thích ứng, bắt kịp với xu thế của thời đại Để làm được điều đó, trách nhiệm và mục tiêu của ngành giáo dục là rất lớn trong việc phát hiện, bồi dưỡng, phát triển đạo đức, phẩm chất, năng lực cho HS là tiền đề phát triển năng lực suốt đời cho con người

Nghị quyết 29 – NQ/TW cũng đã chỉ đạo: “Các cơ sở giáo dục và đào tạo đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học theo hướng phát triển năng lực

cá nhân của người học, áp dụng các phương pháp, kĩ thuật dạy học tích cực, chú trọng rèn luyện phương pháp tự học…” Chính vì thế, việc dạy học không

chỉ dừng lại bằng việc truyền tải kiến thức mà còn phải giúp HS rèn luyện, phát triển năng lực, khả năng của bản thân, bồi dưỡng phương pháp tự học

Có thể nói, dạy học chủ yếu là dạy cách học, dạy cách tư duy Dạy cách học chủ yếu là dạy phương pháp tự học

Trong giáo dục, Toán thuộc môn học tự nhiên Trong nhà trường các tri thức toán giúp học sinh học tốt các môn học khác, trong đời sống hàng ngày các kiến thức, kĩ năng tính toán, vẽ hình, đọc biểu đồ, đo đạc, ước lượng giúp giải quyết các vấn đề cơ bản trong cuộc sống từ đó giúp con người phát triển các năng lực kĩ năng để có thể thích ứng với thời kì hội nhập công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Trong thực tế, HS THCS nhất là với HS lớp 6, các em ở lứa tuổi 11-12 tuổi, lứa tuổi có nhiều thay đổi mạnh mẽ về thể chất, sức khỏe và tâm lí Lớp

6 cũng là khối lớp đầu tiên của THCS, HS còn bỡ ngỡ với cách học, cách dậy, mỗi môn học có một GV đảm nhiệm, mỗi thầy cô có một phương pháp khác nhau, nội dung các môn học nhiều hơn đòi hỏi khả năng tự học cũng nhiều hơn Hơn nữa, kỹ năng tự học của HS lớp 6 còn yếu nên việc phát triển

Trang 9

NLTH trong dạy học ở trường THCS là nhiệm vụ quan trọng, cấp thiết, có tầm quan trọng lâu dài

Từ những lí do trên, tôi mạnh dạn chọn đề tài: “Một số biện pháp phát triển năng lực tự học cho học sinh THCS trong dạy học chủ đề phân số -

Số học 6”

2 Tổng quan vấn đề nghiên cứu

Trong lịch sử giáo dục, tự học là một khái niệm được đề cập, nghiên cứu từ rất sớm Tự học được hiểu là người học tự giác, chủ động thực hiện hoạt động học tập của mình Ngay từ thời cổ đại, giáo dục phương Tây đã rất coi trọng người học, trao quyền tự chủ cho người học trong việc tìm tòi và rút

ra kết luận như trong cách giảng dạy của Heraclitus (530 - 475), Socrate (469

- 390) Tới đầu thế kỉ XVI tư tưởng nền móng cho lý thuyết tự học được chính thức khởi tạo bởi các nhà triết học, nhà giáo dục học như: Vistorrino (1378 – 1446) với tư tưởng “Tôi muốn dạy cho thanh niên suy nghĩ chứ không nói bậy” Hay J.Locke đã chỉ ra rằng “Tò mò là cái lợi khí lớn nhất của

tự nhiên dùng để sửa cái dốt nát của chúng ta” Vì vậy trong quá trình dạy học người thầy nhất định phải biết tạo ra những tình huống, những gợi ý khơi dậy tính tò mò của HS, phát huy mạnh mẽ vai trò của cá nhân trong học tập Đến thế kỉ XVII xuất phát từ tư tưởng phát huy tính tích cực của người học và vận dụng vào thực tiễn dạy học, những nghiên cứu về tư tưởng dạy học của Komensky đã chỉ ra rằng: “Dạy học tích cực, lấy học sinh làm trung tâm” Vào cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, ở các nước phương Tây phát triển, đã xuất hiện quan điểm mới về cách dạy, cách học Đó là quan niệm: “Dạy học hướng vào người học” Như N.A.Rubakin (1862 – 1946) trong tác phẩm “Tự học như thế nào”, đã trình bày nhiều vấn đề phương pháp tự học, đặc biệt là phương pháp sử dụng tài liệu và ông đã nhấn mạnh: “Hãy mạnh dạn tự mình đặt ra câu hỏi rồi tự mình tìm lấy câu trả lời, đó là phương pháp tự học”

Như vậy, qua một số nghiên cứu tiêu biểu của các nhà giáo dục học và tâm lý học thế giới về tự học và NLTH tôi nhận thấy tự học rất quan trọng nó

Trang 10

quyết định tới vấn đề học tập suốt đời của con người trong bối cảnh xã hội ngày càng phát triển như hiện nay Việc phát triển NLTH cho HS là vô cùng cần thiết và cấp bách đặt ra cho ngành giáo dục hiện nay

Với Việt Nam thì vấn đề tự học cũng đã được quan tâm, chú trọng từ lâu Ngay từ thời phong kiến hay nền giáo dục cách mạng (1945) vấn đề tự học đã được phát động, khởi xướng trong đó không thể không kể đến vị lãnh

tụ vĩ đại Hồ Chí Minh, một tấm gương về tinh thần và phương pháp tự học Người từng nói: “còn sống thì còn phải học”, và cho rằng: “về cách học phải lấy tự học làm cốt” Và từ đó đến nay có rất nhiều công trình nghiên cứu về tự học đã được công bố Như tác phẩm “Giáo dục học môn Toán” của Phạm Văn Hòa, Nguyễn Gia Cốc, Trần Thúc Trình, đã nêu rõ và chỉ ra việc phát triển năng lực cho học sinh trung học phổ thông qua quá trình học môn Toán Tác phẩm “Khuyến khích một số hoạt động trí tuệ của học sinh qua môn Toán ở trường THCS” của Nguyễn Bá Kim, Vương Dương Minh, Tôn Thân, cũng đã nhấn mạnh đến việc phát triển năng lực toán học của học sinh thông qua các hoạt động trí tuệ tiêu biểu Hay tư liệu Hội thảo môn Toán, Viện khoa học giáo dục, Hà Nội; Kỷ yếu hội thảo khoa học quốc gia: “Nghiên cứu giáo dục toán học theo hướng phát triển năng lực người học, giai đoạn 2014 – 2020”… Như vậy vấn đề tự học, NLTH cho HS đã được đề cập đến ở một số sách, công trình nghiên cứu, luận văn và luận án

Điều đó cho thấy, khả năng tự học của con người nói chung, NLTH của

HS nói riêng có vai trò quan trọng, ý nghĩa to lớn tới việc nâng cao chất lượng học tập, khả năng tư duy độc lập, phát triển lên là giải quyết được các vấn đề trong cuộc sống

3 Mục tiêu nghiên cứu

Đề xuất một số biện pháp phát triển NLTH cho HS THCS thông qua học chủ đề phân số - số học 6

Trang 11

4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

4.1 Đối tượng nghiên cứu

Năng lực tự học của HS THCS

4.2 Phạm vi nghiên cứu

Phát triển NLTH cho HS THCS trong dạy học chủ đề phân số - số học 6

5 Phương pháp nghiên cứu

5.1 Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Tìm hiểu và nghiên cứu các lý luận của các nhà giáo dục, tâm lý học… về năng lực tự học

- Đọc, phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa tài liệu: Phân tích các nguồn

tư liệu (sách, báo, tạp chí khoa học, nghiên cứu khoa học, khóa luận, luận văn…) về năng lực tự học, các nội dung Số học 6

5.2 Phương pháp điều tra quan sát

Điều tra thực trạng dạy học môn Toán theo hướng phát triển NLTH học sinh ở một số trường THCS

5.3 Phương pháp thống kê toán học

Sử dụng phương pháp thống kê toán học để phân tích, so sánh kết quả điều tra, thực nghiệm từ đó rút ra kết luận

5.4 Phương pháp thực nghiệm sư phạm

Tiến hành thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm nghiệm tính khả thi và hiệu quả của các biện pháp sư phạm trong dạy học môn Toán theo hướng phát triển NLTH cho HS THCS

6 Kết cấu đề tài

Luận văn gồm ba phần:

Phần mở đầu trình bày các vấn đề: Lí do chọn đề tài, tổng quan vấn đề nghiên cứu, mục tiêu nghiên cứu, đối tượng và phạm vi nghiên cứu, phương pháp nghiên cứu

Phần nội dung: Gồm ba chương

Chương 1 Cơ sở lý luận và thực tiễn

Trang 12

Chương 2 Một số biện pháp phát triển NLTH cho HS THCS thông qua dạy học chủ đề phân số - số học 6 ở trường THCS

Chương 3 Thực nghiệm sư phạm

Phần kết luận và khuyến nghị: Trình bày những kết luận rút ra trong quá trình nghiên cứu và thực nghiệm đồng thời đưa ra một số ý kiến đề xuất

Ngoài ra có tài liệu tham khảo và phụ lục

Trang 13

CHƯƠNG I

CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN

1.1 Năng lực, năng lực tự học

1.1.1 Năng lực

1.1.1.1 Khái niệm năng lực

“Năng lực” là một khái niệm được nhắc đến trong mọi lĩnh vực, ngành nghề trong cuộc sống

Theo từ điển Tiếng Việt [9] “Năng lực là khả năng, điều kiện chủ quan hoặc tự nhiên sẵn có để thực hiện một hành động nào đó”

Tâm lý học thì có rất nhiều định nghĩa khác nhau về năng lực, nhưng nhìn chung đều quan niệm năng lực là tổ hợp các thuộc tính của cá nhân phù hợp với từng yêu cầu từng hoạt động để đạt được kết quả nhưng đồng thời năng lực cũng xuất hiện và phát triển trong chính hoạt động đó Như vậy năng lực không mang tính chung, mà mỗi một ngành nghề, một công việc nó lại mang tính cụ thể hóa

Theo Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể [1] “Năng lực là khả năng thực hiện thành công các hoạt động trong một bối cảnh nhất định nhờ vào sự huy động sức mạnh tổng hợp của kiến thức, kỹ năng và các thuộc tính

cá nhân khác như cảm hứng, niềm tin, ý chí”

Như vậy, dễ thấy bản chất của năng lực là khả năng thực hiện hoạt động trong một hoàn cảnh cụ thể nhờ huy động mọi kĩ năng, kiến thức, cảm xúc, tâm lí… để mang lại kết quả trong những hoàn cảnh, tình huống cụ thể Năng lực được đánh giá qua hình thức, kĩ năng thực hiện hoạt động của cá nhân trong việc xử lí tình huống cũng như giải quyết vấn đề trong cuộc sống

1.1.1.2 Cấu trúc của năng lực

Phân tích cấu trúc của năng lực T.Lobanova và Yu.SHunin (2008) [16]

có viết: “Không nên coi năng lực và kĩ năng là đồng nghĩa; năng lực là khả năng thực hiện các hành động nhận thức hoặc hành động thực hành một cách

Trang 14

thành thạo, chính xác và thích ứng với điều kiện luôn thay đổi, còn kĩ năng là

hệ thống các hành động phức tạp và các thành phần phi nhận thức (thái độ, cảm xúc, động cơ, giá trị, đạo đức)”

Tham khảo [16] năng lực được cấu thành từ 7 thành tố:

+ Động cơ học tập: Động cơ, gây hứng thú, tò mò lĩnh hội tri thức mới + Kiến thức: là những tri thức khoa học, chính xác đã được công bố mà người học thu nhận được

+ Kĩ năng nhận thức: được hình thành trong quá trình học cũng như trong cuộc sống

+ Kĩ năng thực hiện và kinh nghiệm sống có được thông qua quá trình trải nghiệm trong cuộc sống

+ Thái độ tích cực, chấp nhận thách thức

+ Sự yêu thích, cảm xúc

+ Giá trị và đạo đức yêu bản thân, tự tin, ý thức trách nhiệm

Từ cấu trúc của năng lực ta thấy được giáo dục phát triển năng lực không chỉ nhằm phát triển năng lực tri thức, lĩnh hội mà còn phát triển cả về phương pháp, kĩ năng, năng lực xã hội Năng lực được hình thành trên cơ sở của sự kết hợp các thành tố trên

1.1.1.3 Quá trình hình thành năng lực

Theo Dirk Schneckenberg và Johannes Wildt [13], [14] quá trình hình thành năng lực của mỗi cá nhân gồm 7 bước theo mức độ tăng dần: tiếp nhận thông tin, thu nhận kiến thức, hình thành khả năng, thái độ hành động, hình thành năng lực, năng lực kĩ năng có tính chuyên nghiệp, cuối cùng là năng lực nghề nghiệp Trong đó từ 1 đến 5 tạo thành năng lực người học, còn 6 - 7 hình

thành nên năng lực nghề nghiệp

Theo Nguyễn Cảnh Toàn “Học và dạy cách học” (2004) [7] có viết

“Năng lực là sự tích hợp tổng thể cách học và kĩ năng tác động đến nội dung trong hàng loạt tình huống – vấn đề khác nhau” Trước mỗi vấn đề năng lực được dần tạo ra qua 5 kĩ năng chính: Tự đặt câu hỏi, thu thập thông tin, xử lí thông tin, thông báo thông tin và cuối cùng là hành động

Trang 15

Chính vì vậy, năng lực của mỗi cá nhân được hình thành thông qua quá trình học tập, rèn luyện không ngừng theo nhiều giai đoạn, nhiều mức độ khác nhau Trong đó giai đoạn trước làm tiền đề cho giai đoạn sau

sở hữu của mình”

Vậy ta có thể hiểu đơn giản tự học là quá trình tự giác, tích cực, chủ động chiếm lĩnh tri thức từ đó hình thành các kĩ năng, kĩ xảo thông qua vận dụng các năng lực, phẩm chất, động cơ để có thể tự mình giải quyết các vấn

Trang 16

1.1.2.2 Năng lực tự học

1.1.2.2.1 Khái niệm năng lực tự học

Theo Nguyễn Cảnh Toàn – “Học và dạy cách học” (2002) [6] cho rằng:

“Năng lực tự học được hiểu là một thuộc tính kỹ năng rất phức hợp Nó bao gồm kỹ năng và kĩ xảo cần gắn bó với động cơ và thói quen tương ứng, làm cho người học có thể đáp ứng được những yêu cầu mà công việc đặt ra” Còn trong “Tự học thế nào cho tốt” - Nguyễn Cảnh Toàn (2009) [8] cho rằng:

“Năng lực tự học là sự tích hợp tổng thể cách học và kỹ năng tác động đến nội dung trong hàng loạt tình huống, vấn đề khác nhau” Như vậy, có thể nói NLTH là khả năng tự mình sử dụng các kĩ năng, kĩ xảo để tiếp thu các kiến thức của nhân loại từ đó vận dụng giải quyết vấn đề trong cuộc sống

1.1.2.2.2 Cấu trúc của năng lực tự học

Tham khảo [2] mỗi năng lực gồm có ba thành phần chính:

+ Các hợp phần của năng lực: Mô tả một hoặc nhiều hoạt động thuộc chuyên môn, thể hiện khả năng tiềm ẩn của con người, ví dụ như năng lực ngôn ngữ, năng lực phân tích, so sánh

+ Các thành tố năng lực: Là các kĩ năng cơ bản tạo nên mỗi hợp phần,

ví dụ như kĩ năng giải toán

+ Tiêu chí thực hiện: Mỗi thành tố chỉ rõ các mức độ cần thực hiện, kết quả cần đạt được

Căn cứ vào thành phần của năng lực và tham khảo [3], [5] và [7] có thể chia năng lực tự học gồm năm hợp phần:

Trang 17

1.1.2.2.3 Cấp độ của năng lực tự học

Tham khảo [5] [7] có 3 hình thức tự học:

+ Tự học không có người hướng dẫn: Người học tự mày mò, tìm kiếm tài liệu, không có sự giúp đỡ của GV nên cách này đòi hỏi người thực hiện phải thật sự say mê, mong muốn khám phá tri thức mới, và cần phải có kiến thức sâu rộng và liên tục cọ sát với thực tiễn để có thể thực hiện tốt hoạt động của mình

+ Tự học có hướng dẫn gián tiếp: Là hình thức tự học với sự giúp đỡ của GV từ xa thông qua các phương tiện thông tin như điện thoại, mạng xã hội… Với hình thức này GV và HS tương tác dưới dạng thông qua các thắc mắc, kiểm tra hoặc đánh giá

+ Tự học có hướng dẫn trực tiếp: Là hình thức tự học có sự hướng dẫn trực tiếp của GV thông qua các buổi gặp gỡ trên lớp sau đó về nhà HS tiến hành hoạt động tự học Hình thức này phù hợp hơn với độ tuổi HS THCS, khi

đó HS chiếm lĩnh tri thức dưới sự tác động của GV

Như vậy HS có thể có nhiều hình thức tự học khác nhau Trong nghiên cứu này tôi chủ yếu đề cập đến vấn đề tự học dưới sự hướng dẫn của GV với

sự hỗ trợ của tài liệu

1.2 Dạy học môn Toán theo hướng phát triển năng lực tự học cho học sinh

1.2.1 Cơ hội phát triển năng lực tự học của học sinh thông qua dạy học môn Toán

Toán học là một môn có nhiều ứng dụng trong cuộc sống, các kiến thức

cơ bản của toán học giúp con người giải quyết được rất nhiều vấn đề quanh ta Các kĩ năng của toán học như kĩ năng tính toán, kĩ năng phân tích, so sánh, khái quát còn có sự kết nối giữa toán học với thực tiễn, giữa toán học với các môn khác như Vật lí, Hóa học… Chính vì vậy, chương trình Giáo dục phổ thông mới đặc biệt chú trọng trong việc phát triển NLTH của HS thông qua môn Toán Vì thế, NLTH của HS được rèn dũa một cách sắc bén hơn thông

Trang 18

qua việc học môn Toán Phẩm chất, ý chí đặc biệt là khả năng tư duy, kỹ năng

xử lí tình huống cũng ngày được phát triển một cách rõ rệt hơn, đưa con người ta phát triển toàn diện về mọi mặt

Tham khảo [7] ta thấy để tự học môn Toán đạt kết quả tốt thì cần phải

có các kĩ năng sau:

+ Tự nghiên cứu hay đơn giản là đọc hiểu, xử lí thông tin: Đứng trước một thông tin mới lạ, HS cần tích cực suy nghĩ và liên tục đặt ra những câu hỏi Từ đó còn gợi ra tính tò mò, thúc đẩy mong muốn tìm tòi, khám phá tri thức của HS

+ Nghe hiểu - nghe ghi: Khi HS đã nắm được kiến thức cần ghi lại theo cách hiểu của bản thân, và đó cũng là một lần ghi nhớ khắc sâu lại kiến thức

+ Tự thể hiện, hợp tác với bạn hoặc thầy cô: Đến đây HS tự thể hiện, chia sẻ suy nghĩ của bản thân về vấn đề được đặt ra dưới hình thức trình bày, hỏi đáp hoặc thảo luận nhóm

+ Hệ thống hóa kiến thức: HS có sự liên hệ với các kiến thức đã học từ

đó đưa đến một hệ thống kiến thức dưới dạng sơ đồ một cách dễ hiểu và tổng quát nhất Điều này đòi hỏi HS phải hiểu rõ bản chất, nắm vững tri thức, khái quát hóa vấn đề một cách chính xác và khoa học

1.2.2 Yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả của tự học

Tham khảo [11] thì hiệu quả của quá trình tự học quyết định bởi 4 yếu

tố cơ bản sau:

+ Ý thức, động cơ học tập: Có thể nói ý thức, động cơ học tập là yếu tố quyết định hình thành NLTH Bởi có ý thức tự giác, có động cơ, mục tích học tập đúng đắn sẽ thúc đẩy người học phát triển được nội lực của bản thân đồng thời kết hợp với ngoại lực tác động thì hoạt động học tập sẽ đạt được kết quả cao hơn

+ Năng lực trí tuệ: Mỗi HS có một điểm mạnh, điểm yếu khác nhau, cũng có thể nói việc tiếp thu cũng như xử lí kiến thức nhanh hay chậm quyết định bởi năng lực trí tuệ của mỗi HS Người có trí tuệ tốt thường có khả năng

Trang 19

tự học cao hơn, khả năng làm việc độc lập một mình tốt hơn Chính vì thế, rèn luyện và phát triển năng lực trí tuệ là rất cần thiết trong việc phát triển NLTH của HS

+ Phương pháp học tập của HS: Kiến thức và phương pháp luôn song hành cùng nhau nên phương pháp học tập là cách thức hoạt động của người học tìm tòi, lĩnh hội tri thức và hình thành kĩ năng HS cần rèn luyện thói quen, phương pháp, sẽ khơi dậy được mục đích và kĩ năng tự học

+ Phương pháp của thầy cô: Theo [4] ta có thể hiểu đơn giản phương pháp dạy học là dưới tác động hoạt động, giao lưu của thầy gây nên tác động, giao lưu của trò để đạt được mục đích dạy học Như vậy, hoạt động tự học của học sinh có tốt hay không sẽ chịu ảnh hưởng tác động phương pháp dạy của thầy cô

GV cần nêu rõ mục đích việc học, gợi động cơ tạo hứng thú học tập cho HS

Thông qua các hoạt động dạy học, HS tiếp cận và lĩnh hội tri thức, dần hình thành kĩ năng, kĩ xảo nhằm giải quyết được các vấn đề đặt ra Hoạt động kiểm tra đánh giá của thầy sẽ giúp HS hoàn thiện sản phẩm ban đầu của mình đồng thời rèn luyện cho HS năng lực kiểm tra đánh giá

1.3 Nội dung “phân số” trong chương trình Số học 6

“Phân số” ở THCS được phân bố ở học kì II lớp 6 được xây dựng mang tính kế thừa và phát triển hoàn chỉnh, hoàn thiện và khái quát các kiến thức đã học ở chương trình tiểu học Theo tài liệu Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 có đưa ra một số yêu cầu cần đạt như sau:

Kiến thức:

+ Khái niệm phân số với tử số và mẫu số là các số nguyên

+ Định nghĩa hai phân số bằng nhau

+ Tính chất cơ bản của phân số

+ Phân số tối giản Số đối, số nghịch đảo của một phân số

+ Tính chất cơ bản của phép cộng, phép nhân phân số

Trang 20

Kỹ năng:

+ Chỉ được phân số với tử và mẫu là các số nguyên

+ Nhận biết hai phân số bằng nhau và áp dụng quy tắc bằng nhau của hai phân số để tìm x, chứng minh hai phân số bằng nhau

+ Thực hiện rút gọn phân số, quy đồng mẫu số

+ So sánh hai phân số

+ Thực hiện được các phép tính cộng, trừ, nhân, chia phân số

+ Vận dụng các tính chất giao hoán, kết hợp, phân phối, quy tắc dấu ngoặc trong các dạng toán tính, tính nhanh

+ Tìm được giá trị phân số của một số cho trước, tìm được một số khi biết giá trị phân số đó

+ Giải quyết được một số vấn đề thực tiễn gắn với các phép tính về phân số

Một số dạng bài tập cơ bản

+ So sánh phân số

+ Tính giá trị biểu thức Tính nhanh

+ Tìm x

+ Hai bài toán cơ bản về phân số liên quan đến thực tế

1.4 Thực trạng tự học chủ đề phân số - số học 6 của HS hiện nay

Phần lớn các HS lớp 6 còn bỡ ngỡ, chưa làm quen được với cách học của cấp 2, các em còn bị động khi tiếp thu kiến thức, chưa biết đọc, tìm kiếm thông tin trong SGK cũng như chưa ghi chép bài sao cho khoa học Đa số HS chưa có động cơ và mục đích việc học đúng đắn, học một cách bị động, chủ yếu việc tự học toán là làm bài tập thầy cô giao về nhà một cách máy móc chưa có sự chủ động trong việc ôn luyện kiến thức cũ và tự học kiến thức mới Đặc biệt với nội dung chủ đề “phân số” thực chất các em đã được làm quen từ Tiểu học nhưng phần lớn ở các em còn ngại tính toán, thời gian tập trung cho việc học phân số còn nhiều hạn chế, thực hiện giải toán một cách máy móc, chưa có chiều sâu kiến thức, kết quả thu được chưa cao, còn mắc lỗi sai nhiều, đa số ở vấn đề tính toán và thứ tự thực hiện phép tính

Trang 21

1.5 Kết luận chương 1

Xuất phát từ cơ sở lí luận và thực tiễn đã trình bày ở trên, ta có thể kết luận:

Tự học là quá trình thực hiện của người học trong việc tìm tòi, lĩnh hội tri thức Với HS THCS thì quá trình tự học diễn ra thuận lợi dưới sự tác động,

hỗ trợ của GV và tài liệu Để tự học đạt hiệu quả thì HS cần có những kĩ năng cần thiết, kĩ năng đó có thể xuất hiện trong quá trình tự học

Với chủ đề phân số - số học 6 góp một phần quan trọng trong việc rèn luyện và phát triển NLTH của HS Vì thế cần phải có những biện pháp cụ thể

để phát huy được NLTH trong quá trình học tập môn Toán cũng như là trong quá trình học tập chủ đề phân số - số học 6 này

Trang 22

CHƯƠNG 2 MỘT SỐ BIỆN PHÁP PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC TỰ HỌC

CHO HỌC SINH THCS THÔNG QUA DẠY HỌC

CHỦ ĐỀ PHÂN SỐ - SỐ HỌC 6 2.1 Định hướng xây dựng và thực hiện các biện pháp dạy học môn

Toán theo hướng phát triển năng lực tự học cho HS THCS

Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể năm 2018 nêu rõ việc dạy

học cần “lấy người học làm trung tâm” phát triển năng lực, phẩm chất của

người học, trong đó có NLTH, rèn luyện tính tự giác, tự chủ trong học tập và

cao hơn nữa là dần hình thành năng lực tự học suốt đời Chính vì vậy, xây

dựng biện pháp dạy học môn Toán theo hướng phát triển NLTH cho HS

THCS cần dựa trên các định hướng sau:

Định hướng 1 Xây dựng kế hoạch giáo dục dựa trên mục tiêu chương trình

Bám sát mục tiêu Chương trình giáo dục phổ thông, tùy vào đặc trưng,

mục tiêu kiến thức, kĩ năng cần đạt của môn học GV xây dựng chương trình

bồi dưỡng cho HS phương pháp tự học, khả năng hợp tác, kỹ năng vận dụng

kiến thức vào thực tiễn trên tinh thần lấy học sinh làm trung tâm

Định hướng 2 Phù hợp tâm sinh lí học sinh

Các hoạt động phải xây dựng phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của lứa

tuổi học sinh THCS Với HS THCS khả năng tiếp thu kiến thức còn thụ động,

phát hiện vấn đề và suy luận logic chưa cao, nên đòi hỏi GV cần có những biện

pháp hỗ trợ thúc đẩy HS trong việc tìm tòi phát hiện kiến thức mới Bài tập vận

dụng bám sát chương trình, đi từ dễ đến khó bảo đảm tính logic Tăng cường các

hoạt động trải nghiệm tạo hứng thú, đưa môn Toán đến gần với HS hơn

Để rèn luyện, phát huy khả năng NLTH của HS thì GV cần chú trọng

đến một số biện pháp như:

Biện pháp 1 Gợi động cơ

Gợi động cơ, tìm tòi, phát hiện, tự khám phá kiến thức mới Việc học

tập tự giác, tích cực đòi hỏi HS phải có mục tiêu đặt ra và cần có động cơ để

Trang 23

thúc đẩy HS hoàn thành các mục tiêu đó Vì thế, động cơ nhằm biến những mục đích sư phạm thành mục đích cá nhân Có mục đích cụ thể HS sẽ tự tìm cho mình những con đường đúng đắn để giải quyết các vấn đề trong việc lĩnh hội tri thức Chính vì lẽ đó, với môn Toán thao tác gợi động cơ vô cùng quan trọng góp phần quyết định mục đích học tập Đối với đặc thù môn toán, gợi động cơ chủ yếu sử dụng nội bộ kiến thức toán học, hoặc gợi động cơ xuất phát từ tình huống thực tế

Biện pháp 2 Xây dựng kế hoạch

Đặc biệt với môn Toán là môn học thuộc nhóm môn tự nhiên, nên HS cần phải có kế hoạch thực hiện hoạt động sao cho khoa học, logic để quá trình lĩnh hội tri thức đạt hiệu quả cao Xây dựng kế hoạch cần chỉ rõ nội dung nhiệm vụ, thời gian thực hiện ở nhà, ở lớp cũng như sau mỗi tiết học

Biện pháp 3 Thực hiện kế hoạch

Đây là giai đoạn quan trọng, quyết định và chiếm nhiều thời gian của quá trình tự học Trong giai đoạn này HS cần thực hiện một số hoạt động như:

+ Tìm hiểu, tiếp cận thông tin

+ Xử lí thông tin

+ Thực hiện nhiệm vụ bằng việc vận dụng tri thức toán học vào giải quyết vấn đề

+ Báo cáo, trao đổi, chia sẻ bài làm cũng như sản phẩm

+ Đánh giá kết quả, rút kinh nghiệm

2.2 Một số biện pháp phát triển NLTH cho HS lớp 6 khi dạy học chủ đề “Phân số - Số học 6” theo hướng phát triển NLTH cho HS THCS

2.2.1 Biện pháp 1 Hướng dẫn học sinh xác định được mục tiêu bài học

Trang 24

2.2.1.2 Cách thức thực hiện

Sử dụng hệ thống câu hỏi, yêu cầu HS nghiên cứu trước nội dung và trả lời Câu hỏi được đặt ra ngắn gọn, dễ hiểu mang tính trọng tâm, trọng điểm nêu được yêu cầu về kiến thức, kĩ năng cần đạt của bài học

Yêu cầu HS chuẩn bị trước nội dung bài học ở nhà và thể hiện được các mục tiêu kiến thức, kĩ năng cần đạt

Để gợi nhớ lại kiến thức phân số lớp 4 và nhằm mục đích khái quát về phân số, yêu cầu HS nghiên cứu SGK ở nhà và trả lời các câu hỏi sau:

Ví dụ 2.1 Mở rộng khái niệm phân số Phân số bằng nhau Tính chất

cơ bản của phân số

Kiến thức:

- Khái niệm phân số

- Quy tắc bằng nhau của hai phân số

- Tính chất cơ bản của phân số

- Phân số tối giản Rút gọn phân số Quy đồng mẫu số

Kĩ năng:

- Lấy ví dụ và xác định được phân số với tử và mẫu là các số nguyên

- Xác định được hai phân số bằng nhau, quy tắc bằng nhau của hai phân số

- Nêu và áp dụng được hai tính chất cơ bản của phân số áp dụng trong rút gọn và quy đồng mẫu số

- Thực hiện so sánh các phân số cùng mẫu, phân số khác mẫu

- Nhận biết hỗn số dương Chuyển phân số về hỗn số và ngược lại

- Vận dụng giải các bài toán thực tiễn có liên quan

Trang 25

Ví dụ 2.3 Phép cộng và phép trừ phân số

Kiến thức:

- Quy tắc cộng hai phân số cùng mẫu

- Định nghĩa số đối của phân số cho trước

- Quy tắc trừ hai phân số cùng mẫu

Kĩ năng:

- Tìm số đối của phân số cho trước

- Thực hiện phép cộng, trừ phân số cùng mẫu, khác mẫu

- Vận dụng các tính chất của phép cộng, quy tắc dấu ngoặc trong dạng toán tính nhanh

- Giải bài toán thực tiễn có liên quan

Ví dụ 2.4 Phép nhân và phép chia phân số

Kiến thức:

- Định nghĩa phân số nghịch đảo của phân số khác 0

- Quy tắc nhân, chia phân số

Kĩ năng:

- Tìm được phân số nghịch đảo của phân số khác 0

- Thực hiện phép nhân, phép chia phân số Rút gọn kết quả nếu có thể

- Vận dụng tính chất phân phối của phép nhân đối với phép cộng trong dạng toán tính nhanh

Như vậy sau mỗi buổi học, HS phải trả lời, thực hiện được các mục tiêu đưa ra thì hoạt động dạy - học mới thực sự đạt kết quả

2.2.2 Biện pháp 2 Gợi động cơ, kích thích nhu cầu học tập của học sinh

2.2.2.1 Cơ sở khoa học

Gợi động cơ, kích thích niềm say mê, hứng thú học tập - là vấn đề mà rất nhiều nhà nghiên cứu giáo dục hướng đến Để gợi động cơ học tập thì có nhiều biện pháp cũng như đề xuất được đưa ra như sử dụng kiến thức, từ kinh nghiệm thực tế hoặc từ kiến thức toán học sẵn có quy lạ về quen, cụ thể hóa, khái quát hóa… Khi tiến hành gợi động cơ học tập GV cần tạo cho HS một

Trang 26

tâm lí thoải mái, sẵn sàng, hào hứng thông qua các hoạt động trải nghiệm nhẹ nhàng, gần gũi, yêu cầu nội dung vừa sức phù hợp với lứa tuổi HS Thêm nữa, về mặt kiến thức nên đi từ cụ thể đến trừu tượng, từ dễ đến khó tạo cho

HS một tâm thế sẵn sàng, tránh gây áp lực Để làm được những điều này đòi hỏi GV phải am hiểu sâu về các mạch kiến thức, đồng thời nắm bắt đúng khả năng tiếp thu cũng như tâm sinh lí của HS Với HS lớp 6 các tình huống gợi động cơ đòi hỏi phải đơn giản, vui nhộn hứng thú

2.2.2.2 Cách thức thực hiện

Kiến thức “phân số” HS đã được tiếp cận ở chương trình Tiểu học, nên khi học tới chủ đề này có thể sử dụng một số biện pháp gợi động cơ, tạo hứng thú trong học tập như:

+ Sử dụng nội bộ kiến thức toán học: Tổng quát hóa quy tắc dựa trên nền tảng có sẵn của kiến thức tiểu học

+ Quy lạ về quen, xét tính tương tự: Sử dụng ngôn ngữ toán học, biến đổi, tìm ra sự tương đồng, hay tính tương tự của kiến thức mới từ các kiến thức đã biết, từ đó có cái nhìn tổng quát, khái quát hơn

+ Xuất phát từ kĩ năng, kiến thức thực tế: Tiến hành một số hoạt động trải nghiệm nhỏ trong đầu tiết học, thúc đẩy sự tò mò, khơi gợi niềm say mê hứng thú của HS Tạo tâm thế sẵn sàng cho một tiết học mới

Ví dụ 2.5 Mở rộng phân số (Sử dụng nội bộ kiến thức toán học)

Tình huống 1: Lấy 3 ví dụ về phân số Hãy chỉ ra tử số, mẫu số của phân số đó Ở câu hỏi này, GV đã gợi lại cho HS kiến thức cũ, nhằm gây được sự tò mò, liệu kiến thức phân số tiểu học còn đúng với kiến thức lớp 6 nữa không?

Trang 27

Tình huống 2: Viết phép chia 2:3 sau dưới dạng phân số Chỉ ra tử số

và mẫu số của phân số đó

HS: 2 : 3 2

3

= Tử số là 2; mẫu số là 3

? Vậy phép chia −2 : 3 có viết được dưới dạng phân số không?

Ở ví dụ này xuất phát dựa trên xét tính tương tự từ đó dần hình thành nên kĩ năng dự đoán của HS

Ví dụ 2.6 Hai phân số bằng nhau (Gợi động cơ xuất phát từ thực tế) 1

2

24

48

13

26

412

GV: Yêu cầu HS viết phân số biểu diễn phần hình tô đậm

HS biểu diễn được phân số thông qua hoạt động trải nghiệm Đồng thời giúp HS thấy được mối liên hệ giữa toán học và thực tế, từ đó HS hứng thú hơn với môn học

GV: Trên hình vẽ dễ thấy phần tô đậm bằng nhau Vậy các phân số biểu diễn liệu có bằng nhau hay không?

HS: đưa ra dự đoán của mình dựa trên hoạt động trải nghiệm Hoạt động này đã góp phần hình thành nên kĩ năng dự đoán, tư duy logic của HS

Dự đoán: “Các phân số ở mỗi hình là bằng nhau”

Ví dụ 2.7. Phép cộng phân số (Sử dụng nội bộ kiến thức toán học, quy

lạ về quen)

Tình huống 1: Phát biểu quy tắc cộng, trừ hai phân số cùng mẫu đã học

ở Tiểu học Cho ví dụ minh họa

Trang 28

HS: Muốn cộng hai phân số cùng mẫu, ta cộng tử với tử và giữ nguyên mẫu Liệu quy tắc đó có còn đúng với phân số mở rộng?

HS suy nghĩ và đưa ra dự đoán

Phát triển khả năng suy luận của HS, khái quát hóa vấn đề đồng thời khơi dậy sự tò mò

Cộng trừ hai phân số cùng mẫu có quy tắc tính rồi, thế còn khác mẫu thì sao?

HS đưa ra phương án giải quyết trên các kiến thức có sẵn hay gọi là đi

từ đơn giản đến phức tạp, từ cụ thể đến tổng quát

Tình huống 2:

GV: Ghi chữ “Phép cộng” ra giữa bảng

HS: 10 HS tự lấy ví dụ về phép tính cộng đã được học: Có thể là Cộng hai số nguyên (cùng dấu, khác dấu), cộng hai phân số…

Ở hoạt động khởi động này tạo không khí thoải mái, giúp HS cảm thấy hứng thú hơn với môn học đồng thời khái quát lại kiến thức Tạo một tâm thế sẵn sàng tiếp thu kiến thức mới

Ví dụ 2.8. Số nghịch đảo Phép chia phân số (xây dựng động cơ dựa trên nội bộ toán học, quy lạ về quen)

Tình huống 1: Sử dụng kiến thức tiểu học HS hãy lấy ví dụ phân số, và lấy phân số “đảo ngược” tương ứng

HS: 3

7 có phân số đảo ngược là 7

31

2 0 có phân số đảo ngược là 2 0

1GV: Đối với lớp 6 thì thay tên “phân số đảo ngược” thành “phân số nghịch đảo” Vậy phân số nghịch đảo là gì? Dùng trong trường hợp nào chúng ta đi tìm hiểu bài học hôm nay

Ở hoạt động này đã gợi động cơ bằng cách quy lạ về quen hay xét tính tương đồng về bản chất, đồng thời rèn luyện ngôn ngữ toán học cho HS

Trang 29

Tình huống 2: Chia hai phân số

HS phát biểu quy tắc chia hai phân số đã học ở lớp 4 Lấy ví dụ minh họa

Một công cụ không thể không nhắc đến trong quá trình tự học là tài liệu

tự học Ta đã biết các tài liệu tự học chủ yếu của HS vẫn là sách giáo khoa, sách bài tập, sách tham khảo Tuy nhiên với lứa tuổi HS lớp 6 khả năng tự mình có thể chủ động tìm tòi nghiên cứu SGK là vấn đề khó khăn Chính vì thế, GV cần đưa ra hệ thống câu hỏi, hoặc bài tập phù hợp với năng lực của từng HS, đi từ dễ đến khó, từ cụ thể đến trừu tượng Thực hiện theo phiếu học tập cũng tạo điều kiện cho HS tiếp cận với bài học một cách phù hợp nhất với năng lực của bản thân, nhằm phát huy được năng lực của HS thông qua phiếu hướng dẫn học GV phải đầu tư tương đối nhiều thời gian, kiến thức chuyên môn vững vàng và am hiểu về tâm lí cũng như năng lực của HS

2.2.3.2 Cách thức thực hiện

Căn cứ vào nội dung SGK và mục tiêu của chương trình đặt ra GV tiến hành chi tiết hóa phân bậc các câu hỏi và bài tập để cho HS thực hiện trong việc tiếp cận cũng như củng cố kiến thức Ngoài ra GV có thể sắp xếp, bổ sung thêm những bài tập tương tự, lời gợi ý giúp HS có sự so sánh, tổng hợp, khái quát hóa kiến thức sau mỗi bài học, mỗi chủ đề Tài liệu hướng dẫn tự học cần đảm bảo tính chính xác, khoa học, tính logic, liên kết các mạch kiến thức Bài tập đảm bảo đi từ dễ đến khó, từ cụ thể đến tổng quát, từ đơn giản đến phức tạp

Trang 30

Hướng dẫn, mẫu phiếu học tập:

A Hệ thống câu hỏi: Ngắn gọn, dễ hiểu, bám sát trọng tâm kiến thức Nội dung đảm bảo tính liền mạch, logic đồng thời tránh nhàm chán, máy móc, gợi được động cơ học tập cho HS

B Bài tập luyện tập: Đơn giản, mang tính củng cố, ghi nhớ lí thuyết

C Gợi ý - đáp số: Mang tính gợi mở, hướng dẫn, tạo động cơ Đáp số phần bài tập luyện tập

D Bài tập vận dụng: Đảm bảo đi từ dễ đến khó, phân dạng toán cụ thể, phù hợp với mức độ HS

E Hướng dẫn – đáp số: Hướng dẫn, gợi động cơ, đáp số phần bài tập vận dụng nhằm phát huy năng lực tự kiểm tra đánh giá của HS

Ví dụ 2.9. Phép cộng và phép trừ phân số

A Hệ thống câu hỏi

a) Phát biểu quy tắc cộng hai phân số Lấy ví dụ minh họa

b) Trình bày các tính chất của phép cộng

c) Định nghĩa số đối của một phân số? Lấy ví dụ minh họa

d) Nêu quy tắc trừ hai phân số? Lấy ví dụ minh họa

Cộng hai phân số khác mẫu:

Bước 1 Rút gọn phân số nếu có thể

Bước 2 Quy đồng các phân số đưa về cùng mẫu số

Bước 3 Tiến hành cộng tử với tử và giữ nguyên mẫu

Bước 4 Rút gọn kết quả nếu có thể

Trang 31

b) Tính chất cơ bản của phép cộng phân số

5 6

- 13

2 3

Trang 32

Bài 2 Số đối của 3 là:

C 1

13

C 3

32

54

−Bài 7 Hoàn thành bảng sau:

2

14

2

512

53

8

45

215

Trang 33

Bài 1 Để thực hiện được bài tập này yêu cầu HS nắm vững định nghĩa

số đối

Nội dung bài tập 7 kiểm tra quy tắc cộng, trừ phân số

Tổng hợp lại xây dựng nên phương pháp cộng, trừ phân số:

Bước 1 Rút gọn từng phân số nếu có thể

Bước 2 Quy đồng đưa chúng về cùng mẫu

Bước 3 Thực hiện tính cộng, trừ phân số

Bước 4 Rút gọn kết quả nếu có thể

Bài 7 Hoàn thành bảng sau:

2

14

2

512

53

8

45

215

5

130

52

10

72

7 9 -13

2 3

1 2

1 2

5 6

7 9

13

2 3

Trang 34

10c) 3

15

15 24

−+Bài 9 Tính

Bài 14 Ông An gặt lúa trên một thửa ruộng Giờ thứ nhất ông An gặt được 1

5 thửa ruộng, giờ thứ hai ông An gặt được

2

3 thửa ruộng Giờ thứ ba ông An gặt được 1

15 thửa ruộng Hỏi sau ba giờ gặt, ông An đã gặt hết được

thửa ruộng đó chưa?

Trang 35

Bài 15 Chị Hoa mới đi làm và được nhận lương tháng đầu tiên Chị

quyết định dành 2

5số tiền để biếu bố mẹ, dành

1

3 số tiền mua sách Tìm số phần lương còn lại của chị Hoa?

)36

d

Bài 10 Tính nhanh

Hướng dẫn:

Có nhận xét gì các mẫu số trong đề bài

Nhận xét: Thấy có 2 phân số cùng mẫu với nhau

Ta có thể nhóm chúng lại với nhau để tính được không?

- HS dựa trên dạng toán tính nhanh trong chương số nguyên đưa ra dự đoán (Gợi động cơ xuất phát từ nội bộ toán học, quy lạ về quen)

- Nhóm các phân số có cùng mẫu lại với nhau được

- Từ đó tổng hợp được phương pháp cho dạng toán tính nhanh này: Bước 1 Bỏ ngoặc nếu có (Lưu ý quy tắc dấu ngoặc)

Bước 2 Nhóm các phân số cùng mẫu với nhau thành một nhóm

Bước 3 Tính trong ngoặc trước ngoài ngoặc sau

Ngày đăng: 03/04/2022, 12:07

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2014), Tài liệu hội thảo “Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực học sinh” Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu hội thảo “Xây dựng chương trình giáo dục phổ thông theo hướng phát triển năng lực học sinh
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2014
3. Nguyễn Bá Kim, 2002, Phương pháp dạy học môn Toán, Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Toán
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
4. Nguyễn Bá Kim (2015), Phương pháp dạy học môn Toán , Nxb Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học môn Toán
Tác giả: Nguyễn Bá Kim
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm
Năm: 2015
5. Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường (1997), Quá trình dạy - tự học , Nxb Giáo dục, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Quá trình dạy - tự học
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn, Nguyễn Kỳ, Vũ Văn Tảo, Bùi Tường
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 1997
6. Nguyễn Cảnh Toàn (2002), Học và dạy cách học , Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học và dạy cách học
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn
Nhà XB: Nxb Đại học Sư phạm Hà Nội
Năm: 2002
7. Nguyễn Cảnh Toàn (2004), Học và dạy cách học , Nxb ĐHSP Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Học và dạy cách học
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn
Nhà XB: Nxb ĐHSP Hà Nội
Năm: 2004
8. Nguyễn Cảnh Toàn (2009), Tự học thế nào cho tốt , Nxb Tổng hợp, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tự học thế nào cho tốt
Tác giả: Nguyễn Cảnh Toàn
Nhà XB: Nxb Tổng hợp
Năm: 2009
9. Quang Tịnh và Bùi Thị Tuyết Khanh (2000), Từ điển tiếng Việt , Nxb Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Quang Tịnh và Bùi Thị Tuyết Khanh
Nhà XB: Nxb Giáo dục
Năm: 2000
11. Trần Thị Thanh Thủy (2015), Phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 12 thông qua dạy học chủ đề số phức , Luận văn thạc sĩ sư phạm Toán, Đại học Giáo dục, Đại học Quốc gia Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phát triển năng lực tự học cho học sinh lớp 12 thông qua dạy học chủ đề số phức
Tác giả: Trần Thị Thanh Thủy
Năm: 2015
12. Bob Taylor (1995), “Self-Directed Learning: Revisiting an Idea Most Appropriate for Middle School Students”, ERIC(ED395287), pp, 1-8 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Self-Directed Learning: Revisiting an Idea Most Appropriate for Middle School Students
Tác giả: Bob Taylor
Năm: 1995
13. D Schneckenberg and J Wildt (2006), “The Challenge of a competence in academic staff development”, NN. Y., CELT Sách, tạp chí
Tiêu đề: The Challenge of a competence in academic staff development
Tác giả: D Schneckenberg and J Wildt
Năm: 2006
16. T Lobanova and Yu Shunin (2008), “Competence-based education: A common European strategy”, Computer Modelling and New Technologies Sách, tạp chí
Tiêu đề: Competence-based education: A common European strategy
Tác giả: T Lobanova and Yu Shunin
Năm: 2008
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2018), Chương trình GDPT (chương trình tổng thể) Khác
10. Từ điển giáo dục học (2001), Nxb Từ điển Bách khoa Khác
14. Iain Mac Labhrainn, CM Legg, Dirk Schneckenberg and Johannes Wildt (2006), The challenge of eCompetence in academic staff development, CELT, NUI Khác
15. Philip C Candy (1991), Self-Direction for Lifelong Learning. A Comprehensive Guide to Theory and Practice, ERIC Khác

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w