1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đột biến gen H-ras trong ung thư hốc miệng

7 59 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 438,99 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đề tài nghiên cứu này được thực hiện vớ mục tiêu phân tích sự liên quan giữa đột biến gen H-ras với đột biến gen p53, biểu hiện các protein p53, MDM2 và Ki-67 trong ung thư hốc miệng. Mời các bạn cùng tham khảo bài viết để nắm rõ nội dung chi tiết.

Trang 1

ĐỘT BIẾN GEN H-RAS TRONG UNG THƯ HỐC MIỆNG

Nguyễn Thị Hồng *

TÓM TẮT

Mục tiêu: Phân tích sự liên quan giữa đột biến gen H-ras với đột biến gen p53, biểu hiện các protein p53,

MDM2 và Ki-67 trong ung thư hốc miệng

Phương pháp: Thực hiện nghiên cứu cắt ngang trong 18 ca ung thư tế bào gai ở hốc miệng bằng cách tiến

hành giải trình tự chuỗi DNA tại các exon 1 và 2 của gen H-ras và nhuộm hóa miễn dịch khảo sát biểu hiện protein p53, MDM2 và Ki-67

Kết quả: Phát hiện 3 ca có đột biến H-ras, chiếm tỉ lệ 16,7%, gồm có 1 đột biến thêm 3 nucleotid (GGC)

và 1 đột biến điểm tại codon 13 (GGT>CGT) làm thay đổi axít amin Ngoài ra, có 5 đột biến im lặng (27,8%) biểu hiện đa hình nucleotid đơn C81T Đối chiếu với 8 ca trước đây đã phát hiện có đột biến gen p53 cho thấy 4 ca (22,2%) cùng có đột biến trên cả hai gen p53 và H-ras, tuy nhiên chỉ có đột biến p53 sai nghĩa hay ghép nối sai còn đột biến H-ras im lặng Đột biến H-ras liên quan với thói quen nhai trầu và biểu hiện quá mức protein MDM2 (P < 0,05), nhưng không liên quan với biểu hiện protein p53 và Ki-67 (P > 0,05)

Kết luận: Đột biến H-ras có thể phối hợp với biến đổi protein MDM2 tham gia vào quá trình sinh ung thư

hốc miệng ở người Việt Nam có thói quen nhai trầu-xỉa thuốc Đột biến H-ras và đột biến p53 độc lập và loại trừ lẫn nhau

Từ khóa: Đột biến H-ras, đột biến p53, biểu hiện quá mức, MDM2, Ki-67, ung thư hốc miệng

ABSTRACT

H-RAS GENE MUTATION IN ORAL CANCER

Nguyen Thi Hong * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 2 - 2011: 36 - 42

Objectives: To investigate the correlation between H-ras gene mutation and p53 gene mutation, p53,

MDM2, and Ki-67 expression in oral carcinoma

Methods: In this cross-sectional study, DNA samples obtained from the same 18 primary oral squamous cell

carcinomas were screened for mutations of hot spots in exons 1 and 2 of the H-ras gene by DNA sequencing Formalin-fixed paraffin-embedded tissues were stained by immunohistochemistry for p53, MDM2 and Ki-67 proteins

Results: H-ras mutations were detected in 3 cases (16.7%), including one insertion of three nucleotide

(GGC) between codons 10 and 11 resulting in in-frame insertion of glycine (10 Gly 11), one missense point mutation in codon 12 (GGC>AGC) and one missense point mutation in codon 13 (GGT>CGT) resulting in amino acid changes Silent mutations with C81T single nucleotide polymorphism (SNP) were found in 5 of 18 tumors (27.8%) Compared to p53 mutation previously detected in 8 cases, 4 cases (22.2%) had simultaneously H-ras mutation (silent mutation) and p53 mutation (missense or aberrant splicing mutation) H-ras mutation showed significant association with the betel chewing habit and MDM2 expression (P < 0.05), but not with p53 and Ki-67 expression (P > 0.05)

* Khoa Răng Hàm Mặt – Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh

Tác giả liên lạc: TS.BS Nguyễn Thị Hồng Email: nguyopat@hcm.vnn.vn

Trang 2

Conclusion: H-ras mutation can be associated with MDM2 alteration in the tumorigenesis of betel and

tobacco-related oral carcinoma in Vietnamese patients H-ras mutation and p53 mutation are independent and mutually exclusive

Key words: H-ras mutation, p53 mutation, overexpression, MDM2, Ki-67, oral carcinoma

ĐẶT VẤN ĐỀ

Đột biến gen đè nén bướu p53 phổ biến

nhất, chiếm hơn 50% các loại ung thư ở người(12)

Tỉ lệ đột biến gen p53 trong ung thư hốc miệng

(UTHM) ở người Việt Nam là 44,4%(6) Nhiều

trường hợp không có đột biến ở gen p53 gợi ra

khả năng đột biến ở gen khác

Trong các oncogen, gen ras thường bị đột

biến nhất(10,11) Khoảng 30% ung thư ở người có

đột biến gen này(10) Họ gen ras, gồm có 3 gen là

vị ở màng tế bào và giữ vai trò trung tâm điều

hòa các đường dẫn truyền tín hiệu tăng trưởng

tế bào Đường dẫn truyền tín hiệu EGFR–Ras–

Raf–MEK–ERK hiện đang là điểm đích hấp dẫn

cho điều trị ung thư(10) Trong UTHM, đa số đột

biến chỉ tìm thấy ở gen H-ras mà rất ít khi ở gen

K-ras và N-ras(10)

Bất hoạt gen đè nén bướu hoặc hoạt hóa

oncogen có thể làm mất kiểm soát chu trình tế

bào khiến cho tế bào sinh sản liên tục Protein

Ki-67 được xem là chất đánh dấu về sự sinh

sản tế bào

Mặt khác, biểu hiện quá mức protein p53 có

thể do đột biến gen p53 hoặc do bất thường

protein MDM2 - là protein gắn và phân hủy

protein p53 Trong UTHM ở những nước có thói

quen nhai trầu, đột biến oncogen H-ras và biểu

hiện quá mức protein MDM2 khá phổ biến(10)

Do vậy, chúng tôi thực hiện nghiên cứu này

nhằm khảo sát đột biến gen H-ras, phân tích sự

liên quan giữa đột biến gen H-ras với một số đặc

điểm lâm sàng-giải phẫu bệnh, và với đột biến

gen p53, biểu hiện các protein p53, MDM2 và

Ki-67 trong UTHM

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Mẫu nghiên cứu

18 ca ung thư tế bào gai ở hốc miệng chưa điều trị đặc hiệu, được điều trị tại Bệnh viện Ung Bướu Tp.HCM tháng 7 và 8 năm 2000

Thiết kế nghiên cứu

Cắt ngang mô tả

Các phương pháp thực hiện

Khám lâm sàng và sinh thiết bướu nguyên phát

Ly trích DNA

Từ mẫu mô sinh thiết bằng bộ ly trích QIAmp DNA Mini Kit (QIAGEN)

Phản ứng chuỗi polymerase (PCR)

Thực hiện PCR khuếch đại exon 1 và exon 2 (Bảng 1 và 2)

Bảng 1: Trình tự đoạn mồi gen H-ras

Exon Trình tự mồi (5’- 3’) Sản phẩm

PCR

AGACCCTGTAGGAGGACC (cùng

chiều) Exon 1

GAGGAAGCAGGAGACAGG (ngược

chiều)

280 bp

AGACGTGCCTGTTGGACATC (cùng

chiều) Exon 2

GGGCCAGCCTCACGGGGTTC

(ngược chiều)

167 bp

Bảng 2: PCR khuếch đại vùng exon 1 và 2

Thành phần PCR Thể tích

Trang 3

Chương trình PCR

94oC x 2 phút

94oC x 1 phút

56oC (exon 1) hay 62 oC (exon 2) x 1 phút

72oC x 30 giây

35 chu kỳ nhiệt

72oC x 7 phút

Mỗi đợt thí nghiệm luôn có một chứng

dương đã biết cho kết quả PCR (+) và một chứng

âm thay thế DNA bằng nước cất Kết quả PCR

được đánh giá bằng điện di trên gel agarose 2%

Giải trình tự chuỗi DNA

Tinh sạch sản phẫm PCR Tiếp theo, thực

hiện PCR để khuếch đại đoạn cần xác định

trình tự

Bảng 3: PCR giải trình tự

Thành phần PCR Thể tích

Dung dịch đệm 5X

Đoạn mồi

Nước cất

Sản phẩm PCR đã tinh sạch

BigDye Terminator v3.1

1,0 μl 0,5 μl 3,9 μl 4,0 μl 0,6 μl

Chương trình PCR

96oC x 2 phút

96oC x 10 giây

53oC x 5 giây

60 oC x 4 phút

25 chu kỳ nhiệt Giữ ở 4oC

Kết tủa DNA bằng cách 10 μl sản phẩm

DNA từ PCR trên được thêm 30 μl ethanol 100%

và 2,5 μl EDTA 125 mM Quay ly tâm 15000

vòng trong 15 phút Thêm 30 μl ethanol 70%,

quay ly tâm 15000 vòng/phút trong 10 phút Đổ

dịch nổi, lấy cặn lắng và để khô tự nhiên Hòa

tan tủa trong 20 μl dung dịch đệm Formamide

Biến tính DNA ở 95oC trong 2 phút, rồi làm

lạnh đột ngột để tách thành các chuỗi đơn DNA

Sau đó đưa vào giếng trong máy giải trình tự

DNA tự động ABI-Prism 3100 Genetic Analyzer

(Applied Biosystem) để phân tích trình tự

nucleotid trên chuỗi DNA

Mỗi đoạn DNA ở các mẫu được giải trình tự

hai chiều lần lượt với đoạn mồi cùng chiều và

đoạn mồi ngược chiều Nếu có đột biến thì sẽ

phát hiện tại một vị trí có hai nucleotid thay vì

chỉ một nucleotid như bình thường, do mẫu DNA được định chuỗi có những chuỗi bình thường và chuỗi đột biến Kết quả cũng được đối chiếu với trình tự nucleotid trên DNA bình thường trong hệ thống dữ liệu của NCBI

(GenBank accession number J00277) để xác định

chính xác nucleotid đột biến

Nhuộm hóa mô miễn dịch

Mẫu mô vùi nến được cắt thành những lát mỏng 4 μm liên tiếp nhau Mỗi lát cắt được trải trên phiến kính có tráng silane và sấy khô ở 37oC trên 12 giờ

Các kháng thể đơn dòng DO-7 kháng p53, IF-2 kháng MDM2, và MIB-1 kháng Ki-67 (Dakopatts, Đan Mạch) Qui trình nhuộm theo phương pháp Avidin-Biotin-Peroxidase Complex (ABC), và sử dụng kit Histofine (Nichirei, Nhật Bản) Mỗi đợt nhuộm luôn có một tiêu bản chứng dương chứa mẫu mô đã biết

có chứa kháng nguyên cần tìm cho phản ứng dương tính, và một tiêu bản chứng âm thay kháng thể thứ nhất bằng dung dịch đệm PBS

Tế bào bướu được xem là nhuộm dương tính khi nhân tế bào bắt màu nâu Mức độ nhuộm được tính dựa trên tỉ lệ % số tế bào bướu nhuộm dương tính trên tổng số tế bào bướu đếm trong 3 vi trường x 200 dưới kính hiển vi quang học Thang đánh giá biểu hiện như sau: P53 hay MDM2 (-): 0-10%, p53 hay MDM2 (+): 11-100%

Ki67 (-): 0-20%, Ki67 (+): 21-100%

Phân tích thống kê

Tất cả dữ liệu được nhập bằng phần mềm Excel và xử lý bằng phần mềm IBM-SPSS Phân tích sự liên quan giữa các yếu tố bằng các phép kiểm chi bình phương, chính xác Fisher, McNemar và Mann-Whitney Liên quan có ý

nghĩa khi phép kiểm có P < 0,05

KẾT QUẢ Đột biến gen H-ras

Phát hiện đột biến gen H-ras trong 7 ca

(38,9%), trên exon 1, với 8 đột biến (Bảng 4):

Trang 4

-1 ca đột biến thêm 3 nucleotid (GGC) vào

giữa codon 10 và codon 11, nên tạo ra thêm 1

axít amin là glycin (10Gly11) trong khung

-1 ca đột biến điểm sai nghĩa tại codon 12

(GGC>AGC) và đột biến im lặng tại codon 27

-1 ca đột biến điểm sai nghĩa tại codon 13

(GGT>CGT)

- Và 4 ca đột biến im lặng C81T tại codon 27

biểu hiện đa hình nucleotid đơn (SNP)

Không kể đột biến im lặng, tỉ lệ đột biến

H-ras là 16,7%, trong đó đột biến điểm chiếm đa số

(66,7%)

Đột biến H-ras với đột biến p53

Trong mẫu nghiên cứu này, đã phát hiện 8

ca (44,4%) có đột biến gen p53(6) Đối chiếu kết quả cho thấy 4 ca (22,2%) đột biến đồng xảy ra

trên cả hai gen p53 và H-ras; tuy nhiên chỉ có đột biến p53 sai nghĩa hay ghép nối sai, trong khi đột biến H-ras im lặng

Bảng 4: Đột biến gen H-RAS và gen p53

Đột biến H-RAS (exon 1và 2)

STT Tuổi Giới Thói quen Vị trí Độ mô

học

Giai đoạn Nucl-eotid Codon Axit Amin Kiểu đ.biến

Đột biến p53 (exon5-8)

81

GGC-AGC CAT-CAC

G12S H27H

Sai nghĩa

Im lặng

(-)

Ghép sai

Đột biến H-ras với lâm sàng-giải phẫu

bệnh UTHM

Tất cả 3 ca đột biến H-ras xảy ra ở bệnh nhân

nữ có thói quen nhai trầu, ung thư ở giai đoạn

trễ, bướu có độ ác tính mô học thấp và không có

đột biến p53 Phân tích thống kê tìm thấy liên

quan có ý nghĩa giữa đột biến H-ras với thói

quen nhai trầu (P < 0,05) (Bảng 5)

Bảng 5: Đột biến H-ras và lâm sàng-giải phẫu bệnh

UTHM

Hras Đặc điểm Mẫu

18 ca Không đột biến

15 ca (83,3%)

Đột biến

3 ca (16,7%)

P

Tuổi

0,245

Giới

Hras Đặc điểm Mẫu

18 ca Không đột biến

15 ca (83,3%)

Đột biến

3 ca (16,7%)

P

Nhai trầu

Hút thuốc

Thói quen

0,043

Nướu răng

Vị trí

Vị trí khác

0,078

Bướu

0,528

Hạch

0,515

Giai

1,000

Trang 5

Hras Đặc điểm Mẫu

18 ca Không đột biến

15 ca (83,3%)

Đột biến

3 ca (16,7%)

P

Đột biến gen H-ras và gen p53 với biểu

hiện p53, MDM2 và Ki-67

Mặc dù bướu có đột biến p53 hay ras tăng

biểu hiện Ki67 cao hơn so với bướu không có

đột biến gen này, nhưng sự khác biệt không có ý

nghĩa thống kê (P > 0,05) (Bảng 6)

Biểu hiện MDM2(+) trong 7 ca (38,9%), nhất

là ở người nhai trầu (57,1%), liên quan với đột

biến H-ras (P < 0,05) (Bảng 7)

Bảng 6: Đột biến H-ras, đột biến p53 với Ki-67

Tổng

ca

Ki-67 (-) 6

ca (33,3%)

Ki-67 (+)

12 ca (66,7%)

Trung bình Ki67 ± độ lệch chuẩn

P

Đột biến

p53 –

17,493 Đột biến

p53 +

16,534

0,687

Đột biến

H-ras –

18,023 Đột biến

H-ras +

9,644

0,437

Bảng 7: Đột biến H-ras với p53, MDM2

Tổng

ca

Không đột biến H-ras

Đột biến H-ras

P

Đột biến p53 –

Đột biến p53 +

10

8

7 (70,0)

8 (100,0)

3 (30,0)

0 0,216 Biểu hiện p53 –

Biểu hiện p53 +

3

15

3 (100,0)

12 (80,0)

0

3 (20,0)

0,396 MDM2–

MDM2+

11

7

11 (100,0)

4 (57,1)

0

3 (42,9)

0,043

BÀN LUẬN

Đột biến gen đè nén bướu p53 và đột biến

oncogen H-ras tương đối phổ biến trong UTHM

ở Việt Nam, trong đó đột biến p53 (44,4%)

thường gặp hơn đột biến H-ras (16,7%) Mặt

khác, đột biến p53 và đột biến H-ras dường như

độc lập và loại trừ lẫn nhau: bệnh nhân UTHM

hoặc bị đột biến p53 hoặc đột biến H-ras, còn nếu

như bị cả hai thì chỉ có đột biến p53 làm biến đổi

protein còn đột biến H-ras im lặng

Theo y văn, UTHM ở những nước châu Á

đột biến p53 (Ấn Độ: 17-21%, Đài Loan:

5,4%)(2,3,12) Ngược lại, tỉ lệ đột biến p53 cao ở

Nhật Bản (63%), Mỹ (53%), Pháp (67%) - nơi mà hút thuốc và uống rượu được xem là những yếu

tố nguy cơ chính(1,2,8), tỉ lệ đột biến H-ras rất thấp

(0-5%)(8,10,12)

Trong khi đó, ở Việt Nam, tỉ lệ đột biến p53

khá cao gần tương tự ở Nhật Bản và phương

Tây, tỉ lệ đột biến H-ras cũng tương đối cao Đây

là điểm khác biệt hiện nay trong bệnh sinh UTHM ở nước ta so với nhiều nước khác Sự thay đổi nhiều về tỉ lệ đột biến gen trong UTHM giữa các nước chủ yếu do sự khác biệt về thói quen nguy cơ(1,11); ngoài ra có thể do sự khác nhau về kỹ thuật phát hiện, vị trí ung thư(1), chế

độ dinh dưỡng, tình trạng răng miệng(11) Mẫu nghiên cứu này có 7 ca (38,9%) nhai trầu (trong

đó 5 ca có xỉa thuốc), 7 ca (38,9%) hút thuốc và 4

ca (22,2%) không có những thói quen trên

Đa số đột biến trên gen p53 và H-ras là đột

biến điểm Nhận định này nhất quán với y văn(12) Nghiên cứu chỉ phân tích exon 1 và 2

của gen H-ras, vì đây là những exon dễ bị đột

biến nhất, có nhiều điểm nóng đột biến như codon 12 và 13 trên exon 1 (vùng gắn GTP), codon 61 (vùng GTPase) trên exon 2(9,10,11) Đột biến tại những vị trí này khiến cho protein luôn ở trạng thái được hoạt hóa (đột biến tăng chức năng) Kết quả cũng tìm thấy đột biến tại codon 12 và 13 Theo Sathyan và c.s (2007), đa

số đột biến tại codon 12 (63%), kế tiếp codon

13 (32%), codon 61 (5%)(10) Quá trình sinh ung thư ở hốc miệng là một tiến trình đa giai đoạn, ước tính cần khoảng 6-10 lần biến đổi gen(12) Kết quả tỉ lệ cao về đột biến

H-ras (42,9%) và biểu hiện quá mức protein

MDM2 (57,1%) trong UTHM ở người nhai trầu,

cũng như sự liên quan giữa H-ras với thói quen nhai trầu và với protein MDM2 (P < 0,05), cho

thấy UTHM ở người nhai trầu thường có đột

Trang 6

có thói quen nhai trầu phổ biến, biểu hiện quá

mức MDM2 thường gặp trong UTHM, như tỉ lệ

71% ở Ấn Độ(7)

Theo y văn, các nitrosamin trong thuốc lá

nhai có thể alkylat hóa DNA ở vị trí nucleotid

guanin (G) và thymin (T) dẫn tới chuyển vị G:C

> A:T(2,10,11) Trong nghiên cứu này, đột biến

chuyển vị (G:C > A:T) phổ biến nhất, gặp trong 1

đột biến sai nghĩa ở người nhai trầu kèm xỉa

thuốc và ở tất cả 5 đột biến im lặng ở những

bệnh nhân có sử dụng thuốc lá (4 ca nhai

trầu-xỉa thuốc và 1 ca hút thuốc) Như vậy, đột biến

H-ras có thể liên quan các hóa chất nitrosamin

trong thuốc lá nhai hay xỉa

Các ca đột biến H-ras đều tăng biểu hiện

protein p53, MDM2 và Ki-67 Điều này có thể

giải thích qua vai trò của H-ras, MDM2 và p53

trong tế bào(11,12) Gen H-ras nằm trên nhiễm sắc

thể 11 mã hóa protein p21ras định vị ở màng bào

tương của màng tế bào, có thể “đóng” hay

“mở” Ras giữ vai trò trung tâm điều hòa tiến

trình dẫn truyền các tín hiệu tăng trưởng tế bào

Khi thụ thể tiếp nhận yếu tố tăng trưởng ở màng

tế bào kích thích ras ở trạng thái hoạt động và

gắn vào GTP, ras có thể gắn và hoạt hóa một

chuỗi các protein kiểm soát sự sinh sản, tăng

trưởng và biệt hóa như Ras–Raf–MEK–ERK(4,10)

Là enzym GTPase, protein p21ras cắt rời

phosphat khỏi GTP Sau khi chuyển GTP thành

GDP, p21ras vào trạng thái “đóng” không hoạt

động nữa Tuy nhiên, nếu oncogen ras bị đột

biến, sự chuyển đổi này không xảy ra sẽ thúc

đẩy tế bào liên tục phân bào (thể hiện Ki67 tăng)

gây ra ung thư

Protein p53 được xem là yếu tố bảo vệ bộ

gen do ngăn cản tế bào bị tổn thương DNA tiếp

tục sinh sản mà phải sửa chữa tổn thương hoặc

chết theo lập trình(1,2) Điều hòa hoạt động

protein p53 theo 3 cách: do tổn thương DNA, do

yếu tố sao chép nhân E2F, và vòng kiểm soát

ngược tự điều hòa p53-MDM2(4) Protein MDM2

gắn và phân hủy protein p53, vì vậy sự biến đổi

protein MDM2 có thể làm cho protein p53 trở nên bền vững mà không cần đột biến(11)

Mặt khác, E2F hoạt hóa p53, cũng như hoạt hóa p19ARF–là yếu tố ngăn cản hoạt động của MDM2 giúp cho p53 không bị MDM2 hủy(4) Chuỗi phản ứng dẫn truyền tín hiệu theo đường Ras–Cyclin D1–pRb–E2F, tiếp theo E2F–19ARF– MDM2–p53 hay E2F–p53(4) cho thấy sự liên hệ giữa ras với MDM2 và p53

Trong mẫu nghiên cứu này, các ca có đột

biến H-ras đều xảy ra ở người nhai trầu, giai

đoạn trễ, bướu có độ ác tính mô học thấp Phân

tích thống kê ghi nhận đột biến H-ras liên quan

có ý nghĩa với biểu hiện MDM2 và với thói

quen nhai trầu (P < 0,05) Tuy nhiên, do số ca ít

nên những giải thích trên đây cần khẳng định ở

cỡ mẫu lớn hơn

KẾT LUẬN

Đột biến oncogen H-ras có thể tham gia trong quá trình sinh ung thư hốc miệng ở người Việt Nam Đột biến H-ras thường gặp trong

UTHM ở người nhai trầu, biểu hiện quá mức

MDM2, không có đột biến gen đè nén bướu p53

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Chitra G., Chandramouli A., Chanchal C (2010) “ P53 mutations in head and neck squamous cell carcinoma”, Int J

Pharm Biomed Res 1(3), pp.117-121

2 Greenblatt M.S., Bennett W.P., Hollstein M., Harris C.C (1994),

“Mutations in the p53 tumor suppressor gene: Clue to cancer etiology and molecular pathogenesis”, Cancer Research 54,

pp.4855-4878

3 Hsieh L.L., Wang P.F., Chen I.H., Liao C.T, Chen C.M., Chang

C.J.T (2001), “Characteristics of mutations in the p53 gene in oral

squamous cell carcinoma associated with betael quid chewing

and cigarette smoking in Taiwaneses”, Carcinogenesis 22(9),

pp.1497-1503

4 Michalides R.J.A.M (1999), “Cell cycle regulators: mechanisms

and their role in aetiology, prognosis, and treatment of cancer”, J

Clin Pathol 21, pp.555-568

5 Munirajan A.K., Mohanprasad B.K.C., Shanmugam G., Tsuchida

N (1998), “Detection of a rare point mutation at codon 59 and

relatively high incidence of H-ras mutation in Indian oral cancer”, Int J Oncol 13, pp 971-974

6 Nguyễn Thị Hồng, Phạm Hùng Vân, và cộng sự (2002), “Đột

biến gen p53 trong ung thư miệng: phát hiện qua kỹ thuật PCR-SSCP”, Tạp chí Y học Tp.HCM, phụ bản số 4, tập 6, trang 52-57

7 Ralhan R., Sandhya A., Meera M., Bohdan W., Nootan S.K (2000), “Induction of MDM2-P2 transcripts correlates with

Trang 7

stabilized wild-type p53 in betel- and tobacco-related human oral

cancer”, Am J Pathol 157(2), pp 587-596

8 Sakai E, Rikimaru K, Ueda M, Matsumoto Y, Ishii N, Enomoto S,

Yamamoto H and Tsuchida N (1992), “The p53

tumor-suppressor gene and ras oncogene mutations in oral

squamous-cell carcinoma”, Int J Cancer 52, pp 867-872

9 Saranath D., Chang S.E., Bhoite L.T., Panchal R.G., Kerr I.B,

Mehta A.R., Johnson N.W., Deo M.G (1991), “High frequency

of mutation in codon 12 and 61 of H-ras oncogene in chewing

tobacco-related human oral carcinoma of India”, Br J Cancer 63,

pp 573-578

10 Sathyan K.M., Nalinikumari K.R., Kannan S (2007), “H-Ras

mutation modulates the expression of major cell cycle regulatory

proteins and disease prognosis in oral carcinoma”, Modern Pathol

20, pp.1141-1148

11 Süzen S., Parry J.M (2001), “Analysis of ras gene mutation in

human oral tumours by polymerase chain reaction and direct

sequencing”, Turk J Med Sci 31, pp 217-223

12 Williams (2000), “Molecular pathogenesis of oral squamous cell

carcinoma”, Modern Pathol 53(5), pp.165-172

Ngày đăng: 21/01/2020, 09:27

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w