Nội dung bài viết đề cập về thuốc dãn cơ thuộc nhóm không khử cực đầu tiên có thời gian khởi phát ngắn, tạo điều kiện thuận lợi cho đặt nội khí quản nhanh nhưng ít có tác dụng phụ đó là rocuronium. Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về rocuronium nhưng chưa có báo cáo về việc sử dụng thuốc này trong bối cảnh gây mê mổ cấp cứu. Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của các thuốc dãn cơ trong mổ cấp cứu.
Trang 1CHỌN LỰA THUỐC DÃN CƠ TRONG GÂY MÊ MỔ CẤP CỨU
Nguyễn Văn Chinh*, Nguyễn Văn Chừng*
TÓM TẮT
Mục đích: Thuốc dãn cơ thuộc nhóm không khử cực đầu tiên có thời gian khởi phát ngắn, tạo điều kiện
thuận lợi cho đặt nội khí quản nhanh nhưng ít có tác dụng phụ đó là Rocuronium Mặc dù đã có nhiều nghiên cứu về Rocuronium nhưng chưa có báo cáo về việc sử dụng thuốc này trong bối cảnh gây mê mổ cấp cứu Nghiên cứu nhằm đánh giá hiệu quả của các thuốc dãn cơ trong mổ cấp cứu
Phương pháp: Nghiên cứu tiền cứu, thử nghiệm lâm sàng Nghiên cứu ghi nhận các thông số về thời gian
đặt nội khí quản, lý do chọn lựa thuốc dãn cơ, thời gian khởi phát liệt, các tai biến biến chứng Sử dụng thang điểm 9 để đánh giá độ giãn cơ hàm, dây thanh âm và các đáp ứng đặt nội khí quản
Kết quả: Tỷ lệ phân loại theo ASA I & II: 80% Rocuronium được sử dụng trên 132 trường hợp (82,5%),
Vecuronium sử dụng trên 19 trường hợp (11,9%), và Atracurium được sử dụng trên 9 trường hợp (5,6%) Tình trạng đặt nội khí quản tốt: 95% theo lâm sàng và 90% theo máy TOF – Watch Rocuronium khởi phát tác động nhanh và đánh tin cậy, thích hợp cho đặt nội khí quản nhanh trong phẫu thuật cấp cứu Không ghi nhận các tai biến biến chứng liên quan đến nhóm sử dụng Rocuronium
Kết luận: Sử dụng Rocuronium trong gây mê cho các phẫu thuật cấp cứu an toàn và hiệu quả Đây là thuốc
dãn cơ rất dễ mua và đang sử dụng rộng rãi trong nước Việc chuẩn bị tốt trước phẫu thuật và theo dõi chặt chẽ trong và sau phẫu thuật sẽ làm giảm các tai biến biến chứng, đồng thời làm tằng tỷ lệ thành công của phẫu thuật
Từ khóa: Thuốc dãn cơ, phẫu thuật cấp cứu, thuốc dãn cơ không khử cực
ABSTRACT
CHOOSING A MUSCLE RELAXANTS IN ANESTHESIA FOR EMERGENCY SURGERY
Nguyen Van Chinh, Nguyen Van Chung
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 16 - Supplement of No 2 - 2012: 63 - 69
Purpose: Rocuronium is a recently synthesized non – depolarizing neuromuscular blocking agent that has
been demonstrated to have a faster onset of action than any other non – depolarizing neuromuscular blocking agent Although widely studied in the operating room, there are no reports regarding its use for rapid tracheal intubation in anesthesia for emergency surgery This study is performed to look for the effects of muscle relaxants
in anesthesia for emergency surgery
Methods: Prospective study was performed using a data collection form completed at the time of intubation
Data collected included the reason for the neuromuscular – blocking agent chosen, the time to onset of paralysis and any complications encoutered The nine – point numerical descriptor scales recorded the degree of body movement, vocal cord movement and the physician’s overall satisfaction with the extent of paralysis
Results: Classify of ASA I & II: 80% Rocuronium was used in 132 patients (82.5%), Vecuronium was
used in 19 patients (11.9%) and Atracurium was used in 9 patients (5.6%) Good condition for rapid tracheal intubation: 95% in clinical appreciate and 90% in TOF – Watch Rocuronium produced fast and reliable paralysis for rapid tracheal intubation in anesthesia for emergency surgery Of the complications reported, none
Đại Học Y Dược TP HCM
Tác giả liên lạc: TS.BS Nguyễn Văn Chinh , ĐT: 0903885497 Email: chinhnghiem06@yahoo.com
Trang 2appeared to be related to Rocuronium
Conclusions: Use of Rocuronium in anesthesia for emergency surgery is safe and effective This is the drug
to be buying easily and widely in condition of our country A well – prepared surgery and a close careful monitoring during and after the surgery must be applied in order to detect and manage in time complications It will contribute to succesful method
Keyword: Muscle Relaxants, Emergency Surgery, Non – Depolarizing Neuromuscular Blocking Agent
ĐẶT VẤN ĐỀ
Giai đoạn khởi mê trong quá trình gây mê
được xem là thời điểm nguy hiểm vì những
phản xạ tự bảo vệ cơ thể của người bệnh bị ức
chế nên khả năng trào ngược dịch dạ dày và
hít phải chất nôn ói vào khí phế quản thường
xảy ra, nhất là trong những trường hợp gây
mê để mổ những trường hợp (TH) cấp cứu
Do đó, khoảng thời gian này được mong
muốn càng ngắn càng tốt mà Succinylcholine
đã được xem là thuốc dãn cơ duy nhất đáp
ứng yêu cầu này(8) Tuy nhiên,
Succinylcholine lại có những tác dụng phụ
bất lợi với nguy cơ phát triển thành những
biến chứng nghiêm trọng, đe dọa tính mạng
người bệnh Chính điều này đã làm hạn chế
tính thông dụng của nó trên thực hành lâm
sàng và là động lực thúc đẩy sự ra đời của
những thuốc dãn cơ mới khác Đó là
Rocuronium, một loại thuốc dãn cơ thuộc
nhóm không khử cực có thời gian khởi phát
ngắn, tạo điều kiện thuận lợi cho đặt nội khí
quản (NKQ) nhanh tương tự như
Succinylcholine nhưng ít có tác dụng phụ bất
lợi như Succinylcholine(5) Mặc dù đã có nhiều
nghiên cứu về Rocuronium nhưng chưa có
báo cáo nào về việc sử dụng thuốc này trong
bối cảnh gây mê phẫu thuật cấp cứu và đó
cũng chính là lý do chúng tôi chọn nghiên
cứu đề tài này
Mục tiêu nghiên cứu
Đánh giá hiệu quả và những tác dụng phụ
của các loại thuốc dãn cơ trong gây mê để mổ
cấp cứu
Đề xuất sử dụng thuốc dãn cơ thích hợp cho
người bệnh trong gây mê mổ cấp cứu
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Phương pháp
Tiền cứu, thử nghiệm lâm sàng
Đối tượng
Những bệnh nhân được gây mê để phẫu thuật cấp cứu tại bệnh viện Bình Dân và bệnh viện Nguyễn Tri Phương TP Hồ Chí Minh từ tháng 02/2009 đến tháng 03/2011, có
Tiêu chuẩn chọn bệnh
Chỉ định gây mê toàn diện qua NKQ
Bệnh nhân thuộc nhóm ASA I, II, III
Tuổi từ 15 tuổi trở lên
Tiêu chuẩn loại
Có tiên lượng đặt NKQ khó
Có bệnh lý thần kinh – cơ Đang dùng thuốc có tác dụng tương tác với thuốc dãn cơ
Đang có thai
Phương pháp tiến hành
Thăm khám và chuẩn bị bệnh nhân như khi gây mê - phẫu thuật cấp cứu thông thường Chuẩn bị trang thiết bị, dụng cụ và thuốc men đầy đủ
Chuẩn bị người bệnh thuận lợi cho máy kích thích thần kinh cơ hoạt động, kích thích tại thần kinh trụ và theo dõi những đáp ứng của cơ khép ngón cái
Thực hiện phương pháp gây mê toàn diện qua NKQ với:
Tiền mê: Midazolam 0,04 – 0,05 mg/kg và Fentanyl 1 – 2 mcg/kg
Dẫn đầu mê: Propofol hoặc Etomidate Khi người bệnh bắt đầu mất ý thức, chích dãn cơ Rocuronium với liều 1 mg/kg
Trang 3Sau 60 giây, tiến hành đặt NKQ và đánh giá
tình trạng đặt NKQ trên lâm sàng và trên máy
kích thích thần kinh cơ (TOF – Watch)
Duy trì mê bằng thuốc mê hô hấp
Isoflurane, Sevoflurane
Đánh giá tình trạng đặt NKQ trên lâm sàng:
Độ dãn cơ hàm Dây thanh
âm
Đáp ứng đặt NKQ
0 điểm Không thể mở
hàm
Đóng kín Ho, gồng dữ dội
hoành nhẹ
Duy trì huyết động học ổn định trong phẫu
thuật
Theo dõi bệnh nhân trong, sau gây mê -
phẫu thuật tới cho tới khi người bệnh xuất viện,
xử lý tình huống bất thường xảy ra
Thu thập và xử lý số liệu
Dữ liệu nghiên cứu: tuổi, giới, cân nặng,
bệnh kèm theo, tình trạng huyết động trước
trong và sau mổ Tất cả các số liệu đều được
ghi lại trong phiếu theo dõi nghiên cứu và nhập
vào máy vi tính Quản lý và xử lý tất cả các số
liệu theo chương trình SPSS 13.0
Tính trị số trung bình và độ lệch chuẩn cho
các biến liên tục Các chỉ số được biểu hiện bằng
số trung bình độ lệch chuẩn
Tính tần suất và tỷ lệ phần trăm cho các biến
định tính
Tính trị số P value và khác biệt có ý nghĩa
thống kê khi p < 0,05
Phép kiểm T được sử dụng để kiểm định sự
đồng nhất về giá trị trung bình cho các biến liên
tục phân phối chuẩn 2 mẫu phụ thuộc hay độc
lập
Phép kiểm 2 để kiểm định các biến số rời
rạc, mục đích là để kiểm tra tính phù hợp, tính
đồng nhất và tính độc lập cho các biến ở một
hoặc nhiều mẫu
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Từ tháng 02/2009 đến tháng 03/2011, chúng tôi đã khảo sát, thực hiện, theo dõi gây mê toàn diện cho 160 trường hợp phẫu thuật cấp cứu tại bệnh viện Bình Dân và bệnh viện Nguyễn Tri Phương Kết quả nghiên cứu như sau:
Đặc điểm chung
Bảng 1: Đặc điểm chung của bệnh nhân
Phân loại
Các bệnh kèm theo
Bảng 2: Bệnh kèm theo
Các thuốc gây mê đã dùng
Bảng 3: Thuốc đã dùng trong gây mê
Thuốc gây mê
Thuốc dãn cơ
Thay đổi huyết động học trong lúc mổ
Bảng 4: Thay đổ huyết động trong lúc mổ
Thay đổ huyết động
bình
SpO2
Trước khi tiền mê 76,6 3,7 11,6 1,6 98,1 3,2 Trước khi khởi mê 74,2 3,4 10,2 1,8 99,1 3,1 Sau khi đặt NKQ 86,4 4,9 12,4 2,8 99,2 4,1 Khi BN thở lại 77,5 5,8 10,7 1,5 97,2 3,8
Trang 4Tình trạng đặt NKQ
Bảng 5: Tình trạng đặt NKQ
Tình trạng
đặt NKQ
Sử dụng thang điểm 9 để đánh giá độ giãn
cơ hàm, dây thanh âm và các đáp ứng đặt NKQ:
Rất tốt: đạt 9 điểm
Tốt: từ 6 đến 8 điểm
Đạt: từ 3 đến 5 điểm
Không đạt: từ < 3 điểm
Phương pháp phẫu thuật
Bảng 6: Phương pháp phẫu thuật
Thời gian phẫu thuật
Bảng 7: Thời gian phẫu thuật
Thời gian phẫu thuật
(phút)
<30 30 – 60 60 - 90 >90 Tổng
NHẬN XÉT VÀ BÀN LUẬN:
Đặc điểm chung
Bệnh nhân giới nữ chiếm đa số (69,4%), tỷ lệ
nữ/nam: 2.27 (bảng 1) Mẫu nghiên cứu của
chúng tôi gồm các bệnh nhân cấp cứu nhưng tỷ
lệ nữ/nam vẫn không khác biệt so với các
nghiên cứu khác vì giới nữ thường bị các bệnh
cấp cứu về ruột thừa và bệnh đường mật nhiều
hơn nam giới Một số tác giả cho rằng, có sự
khác biệt trong đáp ứng giữa nam và nữ đối với
Rocuronium (nữ > nam) nhưng trong nghiên
cứu của chúng tôi thì không có sự khác biệt nào
trong đáp ứng của Rocuronium liên quan đến
giới tính(11)
Đa số tập trung < 60 tuổi (>85%) (bảng 1)
Đáp ứng của Rocuronium với nhóm cao tuổi
(>60 tuổi) và nhóm trẻ tuổi cũng rất khó đánh
giá do số bệnh nhân > 60 tuổi chiếm thấp
(13,7%) Hơn nữa, quá trình tích tuổi cũng sẽ thay đổi sinh lý và giải phẫu cùng với những bệnh lý đi kèm cũng nhiều hơn mà trong nhóm nghiên cứu chúng tôi chọn những bệnh nhân xếp loại ASA III nên phần nào cũng hạn chế bệnh nhân cao tuổi
Đa số thuộc nhóm ASA I và II: có 126 bệnh nhân (gần 80%) được đánh gía tình trạng chung tốt, trong đó số bệnh nhân được phân loại ASA II: có 99 bệnh nhân (61,9%) và số bệnh nhân được phân loại ASA III (bảng 1): 34 (21,2%), tức
là thuộc loại bệnh nhân có nguy cơ khi phải chịu cuộc gây mê – phẫu thuật Điều này càng nói lên tính phức tạp của công tác gây mê cho những phẫu thuật cấp cứu: bệnh nhân chưa được chuẩn bị trước mổ, bệnh đi kèm chưa được kiểm soát, dạ dày đầy…
Bệnh kèm theo
Kết quả thăm khám trước mổ cho thấy tỷ
lệ bệnh nhân mang những bệnh kèm theo khá cao (45%), thường gặp là những bệnh thuộc
về các cơ quan tuần hoàn chiếm đa số như tim mạch có 28 TH (17,5%) như: cao huyết áp, thiếu máu cơ tim, rối loạn nhịp tim, bệnh hô hấp như viêm phổi, hen suyển: có 7 bệnh nhân (4,4%), bệnh tiểu đường: 18 TH (11,2%)
và bệnh khác: 15 TH (9,4%) (bảng 2) Theo y văn, ở bệnh nhân cấp cứu thì các rối loạn về
hệ thống tim mạch, hô hấp chiếm tỷ lệ hàng đầu trong các bệnh lý đi kèm với quá trình tính tuổi Chỉ riêng những vấn đề bệnh lý kèm theo này đã gây nhiều khó khăn trong công tác gây mê hồi sức nhằm giữ vững độ an toàn cho bệnh nhân, chưa kể đến tình trạng bệnh lý
mà bệnh nhân đang có cần phải phẫu thuật(6)
Các thuốc gây mê đã dùng
Trong nghiên cứu, phần lớn các trường hợp (gần 90%) (bảng 3), chúng tôi duy trì mê bằng thuốc mê bay hơi Sevoflurane Đây là loại thuốc
mê giúp ổn định huyết động học, tác dụng ức chế tim mạch ít nhất trong các thuốc mê hô hấp
họ Halogen, rất ít tính chất làm thiếu máu cơ tim
do hiện tượng “ăn cắp“ lượng máu nuôi cơ tim,
có lẽ đây là thuốc thích hợp để gây mê cho bệnh
Trang 5nhân cấp cứu, bệnh nhân phải phẫu thuật bệnh
nặng, một đặc điểm thuận lợi của thuốc
Sevoflurane là nó ít gây rối loạn nhịp tim khi
dùng chung với Epinephrine
Thuốc mê tĩnh mạch Propofol, chúng tôi sử
dụng trong 100% các TH (bảng 3), là thuốc gây
giảm huyết áp động mạch đáng kể nên khi dùng
cần chú trọng về đặc điểm này và nên bắt đầu
với liều lượng thấp và tăng lên từ từ để đạt được
kết quả mong muốn, tuy nhiên với kích thích
khi đặt nội khí quản hoặc phẫu thuật có thể làm
đảo ngược tác dụng dãn mạch của Propofol,
thêm vào đó Propofol được biến dưỡng nhanh,
ít gây tích lũy thuốc và khi ngưng cung cấp
thuốc thì bệnh nhân sẽ tỉnh dậy trong thời gian
ngắn cũng như sự phục hồi tri giác hoàn toàn so
với những thuốc khác Hơn nữa, hiện nay có
phương pháp gây mê tĩnh mạch kiểm soát nồng
độ đích (TCI), vừa phát huy tác dụng tối ưu của
Propofol, vừa hạn chế tối đa tác dụng phụ của
thuốc này nên nhiều tác giả khuyến cáo sử
dụng(2)
Đa số các trường hợp dùng phối hợp
Propofol + Rocuronium và duy trì Sevoflurane +
Fentanyl (gần 90%) (bảng 3) Với hai tính chất
giảm đau và dãn cơ thì hầu hết thuốc gây mê
đều có, nhưng muốn đạt yêu cầu phải dùng một
lượng thuốc mê rất cao, nên cách thuận lợi hơn
hết là dùng kết hợp vừa thuốc giảm đau trung
ương và thuốc dãn cơ sẽ tăng mục đích yêu cầu
và hạn chế những tác dụng không thuận lợi do
thuốc mê gây ra Với những chất thuốc mê, nhất
là thuốc an thần Midazolam giúp cho người
bệnh đi vào một giấc mê êm dịu, ít xáo trộn
huyết động, lại có tính làm quên thuận chiều rất
cao sẽ giúp ổn định được hệ thần kinh cao cấp,
hệ thần kinh tự trị Vì vậy, một cuộc gây mê
muốn đạt được cùng lúc nhiều mục đích: giảm
đau, dãn cơ, an định thần kinh… trong hoàn
cảnh hiện tại chỉ có phương pháp gây mê phối
hợp nhiều loại thuốc để sử dụng được tính chất
chính, tính ưu việt của mỗi loại thuốc với liều
lượng thích hợp của từng loại thuốc để hạn chế
những tác dụng không mong muốn của những
thuốc này
Thuốc dãn cơ Vecuronium được xem là ít phóng thích Histamin và ảnh hưởng lên tim mạch ít nhất trong các thuốc dãn cơ không khử cực mà chúng tôi đã sử dụng trong 19 TH (11,9%) (bảng 3) cho những bệnh nhân có bệnh
lý về tim mạch Ngoài ra, thuốc dãn cơ Atracurium chuyển hoá hầu như không phụ thuộc chức năng gan và chức năng thận, hệ số đào thải không giảm theo tuổi như hầu hết các thuốc dãn cơ khử cực khác, là thuốc dãn cơ thích hợp nhất để gây mê cho các bệnh nhân lớn tuổi kèm bệnh lý gan mật Có 9 TH (5,6%) (bảng 3) dùng Atracurium trong nghiên cứu là cũng vì mục đích đó(1,7)
Thay đổi huyết động học trong thời gian phẫu thuật
Trong nghiên cứu, thay đổi về SpO2 không đáng kể Thay đổi về mạch và huyết áp tập trung vào thời điểm trước khi khởi mê và sau khi đặt NKQ (bảng 4), tuy nhiên sự thay đổi này không có ý nghĩa về mặt thống kê Giải thích điều này có lẽ do còn phụ thuộc nhiều yếu tố như: kích thích lúc đặt NKQ, độ giảm đau, các thuốc gây mê, bệnh lý đi kèm…Theo đa số các tác giả thì Rocuronium không có hoặc rất ít tác dụng lên hệ tim mạch ngay cả với liều cao 0.9 hoặc 1.2mg/kg, thậm chí trong trường hợp Bệnh nhân đã có tăng kali/máu(3) Điều này cũng phù hợp với nghiên cứu của chúng tôi Ngoài ra, trong nghiên cứu chúng tôi cũng ghi nhận có 6 trường hợp phải dùng Atropine sau khởi mê do nhịp tim chậm <50 lần / phút và có 3 trường hợp phải dùng Avlocardyl sau khởi mê do nhịp tim nhanh >140 lần / phút
Tình trạng đặt NKQ
Hiệu quả đặt NKQ nhanh trên lâm sàng đạt mức rất tốt và tốt là 95,6% (Bảng 5), có 7 trường hợp đặt NKQ sau 90 giây Kết quả này cao hơn các tác giả khác, như theo Hoàng Thị Xuân là 93,2%, nhưng khác biệt không có ý nghĩa thống kê Hiệu quả đặt NKQ nhanh đánh giá theo máy TOF - Watch đạt mức rất tốt và tốt là 88,7% (Bảng 5) thấp hơn so với kết quả đánh giá trên lâm sàng và tỉ lệ Đạt là 18
Trang 6trường hợp (11,3%) cao hơn so với kết quả
đánh giá trên lâm sàng (4,4%)(9)
Trong nghiên cứu này, đa số các trường hợp
chúng tôi đặt nội khí quản dễ dàng ở thời điểm
60 giây sau chích dãn cơ với liều 1mg/kg So với
các tác giả khác thì đây là liều trung bình để đặt
nội khí quản nhanh, một số các tác giả(4), khi
dùng so sánh hiệu quả đặt nội khí quản nhanh
của Rocuronium và Suxamethonium thì dùng
liều Rocuronium lớn hơn (1 – 1,2 mg/kg) và cho
thấy Rocuronium có thể dùng thay thế
Suxamethonium trong các trường hợp cần đặt
nhanh nội khí quản trong gây mê để phẫu thuật
cấp cứu(3) Như vậy, so sánh hiệu quả đặt nội khí
quản trên lâm sàng và trên máy TOF – Watch thì
chúng tôi nhận thấy: thực tế lâm sàng có thể đặt
nội khí quản tốt và dễ dàng khi giá trị trên máy
chưa cho phép, nghĩa là khoảng giá trị dao động
trên máy tương đối rộng để ta chọn lựa thời
điểm thích hợp để đặt nội khí quản
Phương pháp phẫu thuật
Tỉ lệ mổ hở và mổ nội soi gần tương tự
nhau, phẫu thuật nội soi trong nghiên cứu này
có 74 bệnh nhân (46,3%) (bảng 6) bao gồm: cắt
ruột thừa, thủng dạ dày, tắc ruột do dính, thai
ngoài tử cung, cắt túi mật… với phương pháp
phẫu thuật nội soi có bơm thán khí vào ổ bụng;
thời gian gần đây, phẫu thuật nội soi là một xu
hướng tiến bộ của ngoại khoa, đang được ưa
chuộng và áp dụng rộng rãi ở các ngoại quốc
cũng như tại Việt nam, tỉ lệ phẫu thuật nội soi ở
các bệnh viện tại thành phố Hồ Chí Minh cũng
được áp dụng rộng rãi
Phẫu thuật nội soi có nhiều ưu điểm như có
diễn tiến hậu phẫu khá nhẹ nhàng, ít gây đau
đớn cho người bệnh, giúp rút ngắn thời gian
nằm viện, giảm đáng kể chi phí điều trị cho
bệnh nhân…nên đang được ưa chuộng, nhưng
phẫu thuật nội soi có bơm hơi vào ổ bụng gây ra
nhiều xáo trộn, biến đổi các chức năng sinh học
và cũng như gây ra nhiều tai biến, biến chứng so
với phẫu thuật mở để điều trị bệnh cấp cứu như
từ trước đến nay nên cần nắm vững những
nguyên tắc căn bản, những thay đổi về sinh lý,
thực hiện phương pháp vô cảm, sử dụng thuốc
mê thích hợp để hạn chế những nguy cơ, tai biến cho bệnh nhân(10)
Thời gian phẫu thuật (phút)
Thời gian phẫu thuật đa số là < 90 phút, chiếm khoảng 90% (bảng 7) Điều này cũng phù hợp cho các loại phẫu thuật cấp cứu Những trường hợp như mổ nội soi như viêm ruột thừa, cắt túi mật, thai ngoài tử cung, thủng dạ dày… hay mổ hở như mở thận ra da, dẫn lưu thận, viêm phúc mạc khu trú…thì thời gian phẫu thuật đều < 90 phút mà lại là những bệnh cấp cứu thường gặp Hơn nữa, các loại phẫu thuật nội soi hiện nay do đa phần các phẫu thuật viên
đã quen với thao tác, thuần thục hơn nên cũng rút ngắn rất nhiều thời gian phẫu thuật
KẾT LUẬN
Trong phẫu thuật cấp cứu, thường bệnh nhân nằm trong bệnh cảnh nhiễm trùng, sốc nhiễm trùng hay thiếu khối lượng tuần hoàn, rất
dễ đưa đến các biến chứng về tim mạch, hô hấp, rối loạn đông máu, suy chức năng gan, thận… Điều này cũng chính là thách thức cho những người làm công tác gây mê hồi sức phải nắm vững, tuân thủ những nguyên tắc căn bản, dùng những dược chất thích hợp cho từng loại bệnh
lý, ít làm xáo trộn chức năng sinh lý của các cơ quan Rocuronium có khởi phát tác động nhanh hơn các thuốc dãn cơ không khử cực khác mà chúng ta đang có và ít bệnh nhân cần đến thông khí trợ giúp trước khi đặt nội khí quản Hơn nữa, dùng Rocuronium ít tác dụng phụ và không có biến chứng nào được ghi nhận trong nghiên cứu Do đó, chúng tôi nhận thấy sử dụng Rocuronium đem lại sự an toàn, hiệu quả
và thích hợp cho các phẫu thuật cấp cứu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Chu Mạnh Khoa, Nguyễn Quang Bình (1997) Use of Esmeron (Rocuronium) for intubation and it cardiovascular effect The 10th Asean Congress of Anesthesiologist Chiang Mai, Thailand,
tr 3 – 7
2 Dufour DG, Larose DL, Clement SC (2005) Rapid sequence intubation in the emergency department J Emerg Med, 13: 705 –
710
3 Erik GL, John CS, Edward AP, Aaron AR, Jason R (2000) Conparison of Succinylcholine and Rocuronium for Intubation
Trang 7of Emergency Deparment Patients Acad Emerg Med, 7: 1362 –
1369
4 Huizinga ACT, Vandenborm RHG, Wierda JMKH (1992)
Intubating conditions and onset of neuromuscular block of
Rocuronium (Org 9426), a comparison with suxamethonium
Acta Aneasth Scand, 36: 463 – 468
5 Hunter J (1996) Neuromuscular Blockade Textbook of
Anesthesia, third edition, A.R Aitkenhead G Smith, pp 20 – 44
6 Ma OJ, Bently BII, Debehnke DJ (1995) Airway management
practises in emergency medicine residencies J Emerg Med, 13:
501 – 504
7 Martyn JAJ, Standaert FG, Miller RD (2000) Neuromascular
physiology and pharmacology Anesthesia Fifth Edition, pp 735
– 751 Churchill Livingstone
8 Morgan GE, Mikhail MS (1996) Muscle Relaxants Clinical Aneasthesiology, second edition, pp.149 – 164
9 Nguyễn Quang Bình (1998) Đánh giá tác dụng phong bế thần kinh cơ của Esmeron bằng máy Monitoring dãn cơ TOF – Guard Hội nghị gây mê hồi sức toàn quốc lần thứ III ở Huế, tr
49 – 54
10 Nguyễn Thụ, Đào Văn Phan, Công Quyết Thắng (2000) Dược
lý lâm sàng của các thuốc ức chế dẫn truyền thần kinh cơ (dãn cơ) và các thuốc kháng Cholinesterase Thuốc sử dụng trong gây
mê Nhà xuất bản y học, tr 236 – 268
11 Sakles JC, Laurin EG, Rantapaa AA, Panacek EA (1998) Airway management in the emergency department: a one – year study
of 610 tracheal intubations J Emerg Med, 31: 325 – 332