1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tỷ lệ hạ thân nhiệt và các yếu tố nguy cơ trong gây mê phẫu thuật ổ bụng

6 142 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 6
Dung lượng 436,56 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu được thực hiện với mục tiêu xác định tỷ lệ hạ thân nhiệt và các yếu tố nguy cơ ở những bệnh nhân gây mê phẫu thuật ổ bụng. Nghiên cứu tiến hành trên 101 bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật ổ bụng lớn (> 120 phút), gây mê toàn diện được đưa vào nghiên cứu.

Trang 1

KHẢO SÁT TỶ LỆ HẠ THÂN NHIỆT VÀ CÁC YẾU TỐ NGUY CƠ

TRONG GÂY MÊ PHẪU THUẬT Ổ BỤNG

Nguyễn Văn Chừng*, Phạm Thị Minh Thư**, Lê Văn Long **

TÓM TẮT

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ hạ thân nhiệt và các yếu tố nguy cơ ở những bệnh nhân gây mê phẫu thuật ổ

bụng

Phương pháp nghiên cứu: Phân tích tiền cứu 101 bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật ổ bụng lớn (> 120

phút), gây mê toàn diện được đưa vào nghiên cứu Nhiệt độ trung tâm của cơ thể được đo ở thực quản và ghi nhận mỗi 15 phút cho đến khi cuộc phẫu thuật kết thúc Các biến lâm sàng được xem như là yếu tố nguy cơ gây

hạ thân nhiệt: tuổi, giới, BMI, thời gian gây mê phẫu thuật, kỹ thuật gây mê, ước lượng máu mất, số lượng và nhiệt độ dịch truyền, nhiệt độ phòng mổ,… và các biến chứng của hạ thân nhệt cũng được khảo sát

Kết quả: Tỷ lệ hạ thân nhiệt (< 36 o C) trong gây mê phẫu thuật ổ bụng là 87,13%, đa số là hạ thân nhiệt nhẹ (84,16%) Nghiên cứu đã chứng minh thân nhiệt nam giới thấp hơn nữ giới, thân nhiệt ở bệnh nhân gây mê toàn thân phối hợp gây tê ngoài màng cứng thấp hơn gây mê toàn thân đơn thuần Tăng số lượng dịch truyền, kéo dài thời gian gây mê – phẫu thuật, tăng thể tích CO 2 bơm vào ổ bụng là những yếu tố nguy cơ gây hạ thân nhiệt Giảm BMI, nhiệt độ phòng mổ, nhiệt độ dịch truyền, nhiệt độ khí hô hấp là những yếu tố làm hạ thân nhiệt Biến chứng của hạ thân nhiệt bào gồm: kéo dài thời gian rút NKQ và run lạnh sau mổ

Kết luận: Bệnh nhân phẫu thuật ổ bụng lớn có nguy cơ hạ thân nhiệt trong mổ, đòi hỏi phải theo dõi nhiệt

độ chặt chẽ

Từ khóa: hạ thân nhiệt, phẫu thuật ổ bụng, gây mê hồi sức, yếu tố nguy cơ

ABSTRACT

SURVEY INCIDENCE OF HYPOTHERMIA AND RISK FACTORS FOR ANESTHESIA OF

ABDOMINAL SURGERY

Nguyen Van Chung, Pham Thi Minh Thu, Le Van Long

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 15 - Supplement of No 1 - 2011: 327 - 322

Objectives: To determine the risk factors and incidence of hypothermia in patients undergoing major

abdominal surgeries

Methods: Prospective analysis 101 patients undergoing major abdominal surgeries (> 120 mins), general

anesthesia were admitted to the study Oesophagus core body temperature was measured after induction of general aneasthesia and every 15 mins until the end of the operation Clinical variables that were assessed as predictors of core body temperature included age, sex, body mass index (BMI), time of procedure, anesthesia technique, estimated blood loss, amount and temperature of intravenous fluids, operation room temperature, … and potential hypothermia related complications were also examined

Results: Frequency of hypothermia (< 36 o C) in major abdominal surgeries was 87.13%, mild-hypothermia was common (84.16%) The study demonstrated body temperature was lower signigficantly in male than female and in epidural combined general anesthesia than only general anesthesia (p<0.05) The advanced amount of intravenous fluids, time of procedure and aneasthesia, the volume of CO 2 pneumoperitoneum are risk factors for hypothermia The decreased BMI, temperature of operation room and intravenous fluids, temperature of

Trang 2

ventilated gases are associated with lower final body temperatures The complications associated with hypothermia included delay of time to extubation and shiver at PACU

Conclustion: Patients undergoing major abdominal surgeries are at risk for development of intraoperative

hypothermia and so, they have to be monitored temperature more carefully

Keywords: hypothermia, abdominal surgery, anesthesia

ĐẶT VẤN ĐỀ

Phẫu thuật là phương pháp điều trị ngoại

khoa, giữ vai trò quan trọng và vô cùng cần

thiết trong y học hiện nay Một cuộc mổ có thể

dài, ngắn, đơn giản hay phức tạp khác nhau

tuỳ theo tính chất của căn bệnh, nhưng việc

theo dõi, hồi sức bệnh nhân trong mổ luôn đòi

hỏi phải thực hiện một cách toàn diện và chặt

chẽ Tuy nhiên có một trị số mà những người

làm công tác gây mê hồi sức ít quan tâm và

thường bị bỏ qua đó là thân nhiệt của bệnh

nhân trong mổ Vì vậy chúng tôi tiến hành

nghiên cứu này với các mục tiêu:

1 Xác định tỷ lệ hạ thân nhiệt của bệnh nhân

trong gây mê phẫu thuật ổ bụng

2 Xác định mối liên quan giữa thân nhiệt với

các yếu tố nguy cơ như: loại phẫu thuật, thời

gian phẫu thuật, số lượng dịch truyền, nhiệt độ

dịch truyền, nhiệt độ phòng mổ,…

3 Đánh giá các hậu quả của hạ thân nhiệt

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Tiến hành nghiên cứu và lấy số liệu tại khoa

Phẫu thuật- Gây mê hối sức – cở sở 1, BV Đại

học Y Dược TP Hồ Chí Minh trong thời gian từ

9/2009 đến 01/2010

Tiêu chuẩn chọn bệnh

Tất cả bệnh nhân có chỉ định phẫu thuật ổ

bụng lớn (> 120 phút), gây mê toàn diện được

đưa vào nghiên cứu

Tiêu chuẩn loại trừ

Bệnh nhân có thân nhiệt lúc mới vào phòng

mổ > 38oC hoặc có dùng thuốc hạ sốt trước đó,

trong quá trình theo dõi thân nhiệt trong mổ của

bệnh nhân có lúc > 38oC

PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Thiết kế nghiên cứu

Phân tích tiền cứu

Phương pháp thực hiện

Trong suốt quá trình gây mê – phẫu thuật, tất cả bệnh nhân đều được che kín bằng khăn phẫu thuật, gây mê toàn thân + gây tê ngoài màng cứng, tiền mê: fentanyl 2μg/kg + midazolam 1mg , khởi mê: fentanyl 1μg/kg, propofol 2,5 mg/kg, esmeron 0,6 mg/kg, đặt nội khí quản, thở máy, duy trì mê: Foran 2% hoặc Sevo 2% + oxy 2 l/ph Nhiệt độ trung tâm được

đo tại vị trí 1/3 dưới của thực quản, nhiệt độ khí

hô hấp đo ở vị trí phía trước ống NKQ, đo liên tục qua monitoring và ghi nhận mỗi 15phút/lần cho đến khi kết thúc quá trình gây mê – phẫu thuật Các biến số khác được ghi nhận vào cuối cuộc mổ Thời gian rút nội khí quản tính từ lúc tắt thuốc mê cho tới lúc rút ống NKQ, tình trạng run lạnh được theo dõi và ghi nhận từ phòng

mổ cho đến 2g sau mổ Trong mổ, khi thân nhiệt bệnh nhân < 34oC thì tiến hành ủ ấm nửa trên cơ thể bằng mền hơi

Hạ thân nhiệt được định nghĩa khi nhiệt độ

cơ thể < 36oC(2,4,6,11,14,15,16,17) Theo hội gây mê Hoa

Kỳ và các tác giả khác(4,6), hạ thân nhiệt được chia làm 3 mức độ: Nhẹ: 36oC – 34oC; Trung bình: 34oC – 32oC; Nặng: < 32oC

Thu thập số liệu

Thân nhiệt, tuổi, giới tính, BMI, nhiệt độ phòng mổ, nhiệt độ dịch truyền, số lượng dịch truyền, thời gian gây mê phẫu thuật, phương pháp phẫu thuật (mổ mở, nội soi), thể tích CO2

bơm vào ổ bụng, thời gian rút nội khí quản, tình trạng run lạnh

Trang 3

Xử lý và phân tích số liệu

Chúng tôi sử dụng phần mềm SPSS 17.0 để

xử lý số liệu

Tất cả các khác biệt có ý nghĩa thống kê với

giá trị p < 0,05

KẾT QUẢ

Bảng 1: Đặc điểm chung của nhóm nghiên cứu

Giới (Nam/Nữ) 56/45

Tuổi 53,25 + 14,91

BMI (kg/m 2 ) 21,71 + 3,66

ASA (I/II/III) 5/76/20

Thời gian gây mê (phút) 202,95 + 63,23

Thời gian phẫu thuật (phút) 179,95 + 64,64

Số lượng dịch truyền (ml) 1770,35 + 75,60

Số lượng dịch rửa ổ bụng (ml) 444,50 + 86,04

Số lượng máu mất (ml) 185,00 + 198,92

Nhiệt độ dịch truyền (oC) 24,05 + 0,14

Nhiệt độ dịch rửa ổ bụng (oC) 30,94 + 2,28

Thời gian nằm viện (ngày) 12,62 + 0,59

Phương pháp vô cảm (mê NKQ/mê

NKQ + tê NMC) 38/63

Phương pháp phẫu thuật (mổ

mở/nội soi) 45/56

SỰ BIẾN ĐỔI THÂN NHIỆT

32.5

33.5

34.5

35.5

36.5

37.5

T1 T3 T4 T6

Thời gian (phút)

Biều đồ 1: Sự biến đổi thân nhiệt trong quá trình

gây mê – phẫu thuật

Nhận xét: Thân nhiệt bệnh nhân có xu hướng

giảm dần theo thời gian và tăng lên vào cuối

cuộc mổ Đa số bệnh nhân hạ thân nhiệt (<36 oC)

sau 45 phút kể từ lúc gây mê – phẫu thuật

Bảng 2: Tỷ lệ hạ thân nhiệt trong quá trình gây mê –

phẫu thuật

Số lượng

35 – 35,9 55 54,46 %

34 – 34,9 30 29,70 %

< 36

< 34 3 2,97 %

87,13%

Tổng 101 100%

Nhận xét: Tỷ lệ hạ thân nhiệt (< 36oC) chiếm

tỷ lệ cao 87,13% Không có trường hợp nào hạ thân nhiệt mức độ nặng (< 32 oC)

Bảng 3: Hạ thân nhiệt và các yếu tố liên quan

Các yếu tố liên quan đến hạ thân nhiệt

Tuổi p > 0,05 Giới p < 0,05

ASA p > 0,05

+ 34,298

Số lượng dịch truyền p < 0,05 To = - 0,0001 x V

+ 35,756 Nhiệt độ dịch truyền p < 0,05 To = 0,164 x to +

31,290 Nhiệt độ phòng mổ p < 0,05 To = 0,148 x to +

31,895 Thời gian gây mê p < 0,05 To = - 0,004 x t +

35,962 Loại thuốc gây mê hô hấp

(Isofluaran/Sevofluaran)

p > 0,05 Phương pháp vô cảm

(Mê NKQ/Mê NKQ + tê NMC)

p < 0,05

Nhiệt độ khí hô hấp < thân

nhiệt Thời gian phẫu thuật p < 0,05 To = - 0,003 x t +

35,819 Phương pháp phẫu thuật

(mổ mở hoặc nội soi)

p > 0,05 Thể tích CO 2 trong mổ nội soi p < 0,05 To = - 0,001 x V

CO2 + 35,613 Rửa ổ bụng trong mổ p > 0,05

Nhận xét: Các yếu tố như giới tính, BMI, số

lợng dịch truyền, nhiệt độ dịch truyền, nhiệt độ phòng mổ, thời gian gây mê – phẫu thuật, phương pháp vô cảm, thể tích CO2 bơm vào ổ bụng, nhiệt độ khí hô hấp là những yếu tố có ảnh hưởng đến thân nhiệt của bệnh nhân

Bảng 4: Hậu quả của hạ thân nhiệt

Các yếu tố liên quan đến hạ thân nhiệt

Lạnh run sau mổ (tỷ lệ 43,56%) p < 0,05

Thời gian rút nội khí quản p < 0,05

Số lượng máu mất p > 0,05

Số lượng Hemoglobin p > 0,05 Thời gian Quick (TQ) p > 0,05 Thời gian Cephlin – Kaolin (TCK) p > 0,05

Nhận xét: Hạ thân nhiệt gây lạnh run sau mổ

và kéo dài thời gian rút NKQ (p < 0,05)

Trang 4

BÀN LUẬN

Tỷ lệ hạ thân nhiệt và sự biến đổi thân

nhiệt trong quá trình gây mê – phẫu thuật

ổ bụng

Trong quá trình gây mê toàn diện, trung tâm

điều nhiệt bị ức chế, các quá trình sản sinh nhiệt

bị giảm, do đó khả năng điều chỉnh sự thay đổi

thân nhiệt rất dễ bị tác động bởi các yếu tố nguy

cơ Trong nghiên cứu của chúng tôi tỷ lệ hạ thân

nhiệt là 87,13% (Bảng 2), đa số là hạ thân nhiệt

nhẹ (84,16%) Vì lý do y đức nên chúng tôi

không để thân nhiệt bệnh nhân xuống quá thấp,

khi thân nhiệt bệnh nhân < 34oC, chúng tôi tiến

hành ủ ấm bằng mền hơi đắp nửa trên cơ thể, do

đó trong nghiên cứu này không có bệnh nhân hạ

thân nhiệt nặng, chỉ có 3 bệnh nhân hạ thân

nhiệt trung bình (<34oC) chiếm 2,97% Theo

Panagiotis Kiekkas và cs tỷ lệ hạ thân nhiệt

trong phẫu thuật chỉnh hình là 73,5%(16),

Suneerat Kongsayreepong và cs, tỷ lệ hạ thân

nhiệt sau mổ chung là 57,1%(17), Nishant

Agrawal là 60 % trong phẫu thuật đầu - cổ(15) So

với các tác giả này tỷ lệ hạ thân nhiệt của chúng

tôi khá cao vì chúng tôi chọn nghiên cứu trên

đối tượng có thời gian phẫu thuật > 2 giờ chứ

không phải nghiên cứu trên tất cả các bệnh nhân

được phẫu thuật Hơn nữa, ở nước ta còn nhiều

hạn chế, các phòng mổ của mình hầu như không

có hệ thống sưởi ấm cho tất cả bệnh nhân, cũng

như chưa quan tâm đúng mức đến vấn đề này

nên tỷ lệ hạ thân nhiệt ở các bệnh viện Việt Nam

còn cao

Biểu đồ 1 biểu diễn sự biến đổi thân nhiệt

trong quá trình gây mê phẫu thuật Sau khởi mê

15 phút, thân nhiệt bệnh nhân giảm 0,51oC

Trong 1 giờ đầu, thân nhiệt giảm nhiều nhất

(1,11oC), giờ thứ 2 giảm tiếp 0,41oC rồi giảm từ

từ trong các giờ tiếp theo Nhiệt độ thấp nhất

trong quá trình gây mê – phẫu thuật là vào thời

điểm 4 giờ 45 phút, sau đó nhiệt độ tăng lên dần

Nghiên cứu của Hasegawa(10), Negishi và cộng

sự(13) cho thấy thân nhiệt giảm 1,9 + 0,5 oC trong

2 giờ đầu sau gây mê - phẫu thuật, các tác giả

Hoàng Trọng Nam(1), Daniel Sessler(5) cũng cho

kết quả tương tự Kết quả này phù hợp với sinh

lý trong gây mê Trong điều kiện bình thường, nhiệt lượng cơ thể phân phối không bằng nhau, điều hoà nhiệt bằng cách ổn định trương lực của thành mạch để duy trì sự chênh lệch giữa nhiệt

độ trung ương và ngoại biên Gây mê toàn diện làm giảm ngưỡng điều hoà thân nhiệt bằng trương lực thành mạch do mở các cầu nối tĩnh mạch và giãn mạch Kết quả dẫn đến hiện tượng tái phân bố nhiệt lượng cơ thể từ trung tâm ra ngoại biên, vì thế thân nhiệt giảm 1 – 1,5oC trong giờ đầu gây mê Ngoài ra, gây mê toàn diện cũng làm mất đi cơ chế sinh nhiệt do run nên làm giảm nhiệt lượng cơ thể đáng kể Vào giai đoạn cuối cuộc mổ, thân nhiệt của một số bệnh nhân tăng lên đôi chút Điều này cũng phù hợp với sinh lý gây mê vì lúc này thuốc mê đã được giảm, bệnh nhân có sự hồi tỉnh, các phản xạ điều nhiệt được hồi phục một phần và bắt đầu có các phản xạ sinh nhiệt

Các yếu tố liên quan đến hạ thân nhiệt

Trong quá trình gây mê phẫu thuật, thân nhiệt bệnh nhân bị ảnh hưởng bởi rất nhiều yếu

tố Nghiên cứu của chúng tôi đã chứng minh nam giới có thân nhiệt thấp hơn nữ giới, những bệnh nhân gây mê toàn diện cân bằng đơn thuần ít bị hạ thân nhiệt hơn so với những bệnh nhân có phối hợp tê ngoài màng cứng Đồng thuận với ý kiến của chúng tôi có Suneerat Kongsayreepoong và cộng sự(17) Nghiên cứu cũng chỉ ra các yếu tố liên quan thuận với thân nhiệt gồm có BMI, nhiệt độ dịch truyền, nhiệt độ phòng mổ, nhiệt độ khí thở Nghĩa là khi các yếu

tố này tăng lên thì thân nhiệt của bệnh nhân cũng tăng theo Ngược lại, các yếu tố sau lại liên quan nghịch với thân nhiệt: số lượng dịch truyền, thời gian gây mê – phẫu thuật, thể tích thán khí (CO2) Khi các yếu tố này tăng lên thân nhiệt của bệnh nhân giảm xuống Nhiệt độ khí

hô hấp luôn nhỏ hơn thân nhiệt, chứng tỏ bệnh nhân bị mất một lượng nhiệt đáng kể qua đường hô hấp qua cơ chế truyền nhiệt trực tiếp Nhiều tác giả như Bush HL(3), Frank Steven

M(9) cho rằng bệnh nhân càng lớn tuổi thì nguy

Trang 5

cơ hạ thân nhiệt càng cao, theo Nishant Agrawal

và cs nếu tăng 10 tuổi thì sẽ giảm 0,15oC(15)

Nghiên cứu của chúng tôi không ghi nhận có

mối liên quan giữa tuổi và thân nhiệt, có thể do

mẫu nghiên cứu của chúng tôi có phân bố tuổi

chưa đa dạng và đồng đều giữa các nhóm tuổi

Kết quả này cũng phù hợp với nghiên cứu của

các tác giả Hoàng Trọng Nam(1), Fernando J

Abelha(7), Flores Maldonado A(8), Panagiotis

Kiekkas(161) và cộng sư

Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy các yếu

tố như ASA, loại thuốc mê hơi, phương phẫu

thuật, rửa ổ bụng trong mổ không ảnh hưởng

đến thân nhiệt của bệnh nhân

Hậu quả của hạ thân nhiệt

Tỷ lệ run lạnh sau mổ là 43,56%, có mối liên

quan có ý nghĩa thống kê với hạ thân nhiệt trong

mổ (p < 0,05) Panagiotis Kiekkas(16) cũng ghi

nhận có mối liên quan này Nguyên nhân gây

run lạnh sau mổ phần lớn do hạ thân nhiệt trong

quá trình gây mê phẫu thuật Trong mổ, dưới

tác dụng của gây mê toàn diện, trung tâm điều

nhiệt bị ức chế làm run lạnh không phát sinh

Sau mổ, trung tâm điều hoà nhiệt được phục hồi

nên run lạnh xuất hiện Run lạnh sau mổ còn

liên quan với dãn mạch và là một trong những

nguyên nhân gây đau sau mổ

Trong quá trình gây mê, các thuốc mê làm

giảm chuyển hoá sinh nhiệt, bệnh nhân bị hạ

thân nhiệt góp phần làm chậm quá trình đào

thải thuốc, làm chậm thức tỉnh sau gây mê

Nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận nhóm bệnh

nhân hạ thân nhiệt có thời gian rút NKQ dài hơn

nhóm không bị hạ thân nhiệt (p < 0,05) Đồng

thuận với chúng tôi có Lenhardt(12) và Nishant

Agrawal(15) Do đó hạn chế hạ thân nhiệt trong

mổ sẽ giúp bệnh nhân mau tỉnh, rút ngắn thời

gian lưu NKQ, tiết kiệm được thời gian và nhân

lực chăm sóc bệnh nhân tại phòng hồi tỉnh

KẾT LUẬN

Qua khảo sát tỷ lệ hạ thân nhiệt và các yếu

tố nguy cơ trong gây mê phẫu thuật ổ bụng,

chúng tôi rút ra được các kết luận:

Tỷ lệ hạ thân nhiệt và mức độ hạ thân nhiệt trong gây mê phẫu thuật ổ bụng

- Tỷ lệ hạ thân nhiệt (< 36oC) : 87,13%

- Mức độ hạ thân nhiệt:

+ hạ thân nhiệt nhẹ (34 - 36oC): 84,16%

+ hạ thân nhiệt trung bình (< 34oC): 2,97%

- Biến đổi thân nhiệt theo thời gian: Thân nhiệt giảm nhanh nhất trong giờ đầu tiên và đạt thấp nhất sau 4 giờ 45 phút

Các yếu tố liên quan đến hạ thân nhiệt

- Nam giới hạ thân nhiệt nhiều hơn nữ giới

- Gây tê NMC phối hợp gây mê toàn diện gây hạ thân nhiệt nhiều hơn gây mê toàn diện đơn thuần

- Các yếu tố liên quan thuận với thân nhiệt: BMI,

nhiệt độ dịch truyền, nhiệt độ phòng mổ, nhiệt

độ khí thở

- Các yếu tố liên quan nghịch với thân nhiệt:

số lượng dịch truyền, thời gian gây mê – phẫu thuật, thể tích thán khí (CO2)

Các hậu quả của hạ thân nhiệt

- Run lạnh sau mổ

- Kéo dài thời gian hồi tỉnh và rút nội khí quản

TÀI LIỆU THAM KHẢO

số yếu tố nguy cơ gây giảm thân nhiệt trong mổ ở các bệnh nhân dưới gây mê nội khí quản” Luận văn bác sĩ y học, Đại học Y Dược Huế

of prewarming on post – induction core temperature and the incidence of inadvertent perioperative hypothermia in patients undergoing general anaesthesia” British Journal of Anaesthesia, 101 (5), pp 627-631

(1995) “Hypothermia during elective abdominal aortic aneurysm repair the high price of avoidable morbidity” British Journal of Anaesthesia, 21, pp 392 – 400

Trauma Victims” American Society of Anesthesiologists, Newsletter, 69 (11), pp.76 – 81

New England Journal of Medicine NEJM, vol 336, number 24,

pp 1730 – 1737

Hypothermia” Physicians’ Information and Education

Trang 6

Resource (PIER), American College of Physicians, Mall West,

Phyladelphia, USA, pp 487 – 529

Landeiro, Cristina C Santos (2005) “Hypothermia in a

surgical intensive care unit” BMC Anesthesiology, vol 5 (7),

pp 1471 – 2253

Pech Colli J, Alvarez Nemegyei J, Cervera Saenz M, Canto

Rubio A (1997) “Risk factors for mild intraoperative

hypothermia” Arch Med Res, 28 (4), pp 587 – 590

A, Beattie Charles (1994) “Core Hypothermia and Skin –

surface Temperature Gradient: Epidural Versus General

Anesthesia and the Effects of Age” Anesthesiology, 80 (3), pp

623 – 634

resistive – heating in prevention of core hypothermia during

major abdominal surgery” Masui, 52 (6), pp 636 – 641

Hart G K (2009) “ Inadvertent hypothermia and mortality in

postoperative intensive care patients: retrospective audit of 50

patients” AnesthesiaNow, 64 (9), pp 968 – 972

Heinz, Kurz Andrea, Sessler Daniel I, Narzt Edith, Lackner Franz (1997) “ Mild Intraoperative Hypothermia Prolongs Postanesthetic Recovery ” Anesthesiology, 87 (6), pp 1318 –

1323

warming are comparably effective” Anesthesia and Analgesia, 96 (6), pp 1683 – 1687

Lee, Charles D Goldman and Bruce M Wolfe (2001) “ Evaluation of core temperature during laparoscopic and open gastric bypass” Obeisity Surgery, 11 (5), pp 570 – 575

Steven M Frank (2003) “Hypothermia During Head and Neck Surgery” The Laryngoscope, 113, pp 1278 – 1282

Panagiyotis Souleles (2005) “Effect of hypothermia and shivering on standard PACU monitoring of patients” AANA journal, vol 73 (1), pp 47 – 53

Chadpaibool (2003) “Predictor of Core Hypothermia and the Surgical Intensive Care Unit” Anesthesia and Analgesia, vol

96, pp 826 – 833

Ngày đăng: 21/01/2020, 12:35

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w