Đềtài nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏnhững vấn đềthường gặp trong sửdụng mặt nạthanh quản trong gây mê và hồi sức, và đã đưa ra những phương hướng khắc phục 7.2. Vềphương pháp nghiên cứu Đây là phương pháp tiền cứu, ứng dụng lâm sàng có đối chứng với cởmẫu nghiên cứu lớn nên có tính thuyết phục cao 7.3. Những đóng góp mới khác Các kết quảnghiên cứu làm cơsởcho những công trình nghiên cứu tiếp theo đểcó thể đưa ra phục vụbệnh nhân, phục vụxã hội
Trang 1BỘ Y TẾ ĐẠI HỌC Y DƯỢC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
*****
ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU CẤP BỘ
NGHIÊN CỨU ỨNG DỤNG MẶT NẠ THANH QUẢN ĐỂ KIỂM SOÁT ĐƯỜNG THỞ TRONG GÂY MÊ PHẪU THUẬT, ĐẶT NỘI KHÍ QUẢN KHÓ VÀ CẤP CỨU SUY TUẦN HOÀN, HÔ HẤP CẤP
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS.BS NGUYỄN VĂN CHỪNG
7921
Trang 21 KẾT QUẢ CỦA ĐỀ TÀI
2 Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS BS NGUYỄN VĂN CHỪNG
3 Cơ quan chủ trì đề tài: Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh
4 Thời gian thực hiện: 2007 – 2009
5 Tổng kinh phí thực hiện: 353.500.000 đồng
Trong đó kinh phí từ NSNN: 238.000.000 đồng
6 Tình hình thực hiện đề tài so với đề cương:
6.1 Về mức độ hoàn thành khối lượng công việc:
Đã hoàn thành mục tiêu đăng ký:
- Khảo sát tính an toàn của mặt nạ thanh quản cổ điển, mặt nạ thanh quản proseal, và các loại mặt nạ thanh quản khác qua sự biến đổi về hô hấp, tuần hoàn; các tai biến, biến chứng trong và sau Gây mê – Phẫu thuật
- Khảo sát tính hiệu quả của mặt nạ thanh quản cổ điển, mặt nạ thanh quản proseal, và các loại mặt nạ thanh quản khác qua các thông số: áp lực thông khí, áp lực kín, độ bảo hoà dưỡng khí (SpO2), ETCO2,
- Đánh giá tính dể sử dụng của mặt nạ thanh quản cổ điển, mặt nạ thanh quản proseal, và các loại mặt nạ thanh quản khác qua kỹ thuật đặt và rút mặt
Trang 3Đạt các yêu cầu đăng ký:
TT Tên sản phẩm Yêu cầu khoa học Chú thích
1 Ứng dụng đặt MNTQ
trong một số trường hợp
cần gây mê toàn thể
Đã xác định cụ thể yêu cầu của mỗi phương pháp gây
sử dụng hiệu quả MNTQ trong xử lý đường thở khó
3 Ứng dụng đặt MNTQ
trong xử lý cấp cứu suy
tuần hoàn và hô hấp cấp
Đã xác lập được những yêu cầu cụ thể để sử dụng MNTQ hiệu quả trong cấp cứu suy tuần hoàn và hô hấp cấp
4 Đào tạo, huấn luyện được
nhiều đối tượng: Bác sĩ,
cử nhân, điều dưỡng sử
dụng thành thạo MNTQ
trong gây mê và hồi sức
Đạt chất lượng, đảm bảo công tác chuyên môn tốt trong công tác chăm sóc, phục
vụ bệnh nhân
5 Tham gia phổ biến, báo Tài liệu giảng dạy,
Trang 4Ngoài ra, đề tài đã góp phần đào tạo 04 bác sĩ chuyên khoa II, 03 thạc sĩ,
01 bác sĩ nội trú thông qua luận án, luận văn tốt nghiệp
Đề tài đã có:
6.2.1 - 06 bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành Y Học TP Hồ Chí Minh, tập 14 số 1, 2010
6.2.1.1 - Nguyễn Thị Hồng Vân, Mã Thanh Tùng, Trần Thị Hoàn
Mỹ, Nguyễn Văn Chừng “Sử Dụng Mặt Nạ Thanh Quản Trên Sàn Phụ Được Đánh Giá Đặt Nội Khí Quản Khó Trong Mổ Lấy Thai”
6.2.1.2 - Nguyễn Văn Chừng, Lê Hữu Bình, Nguyễn Văn Chinh, Trần Đỗ Anh Vũ “Nghiên Cứu Sử Dụng Mặt Nạ Thanh Quản Proseal Trong Gây Mê Phẫu Thuật Nội Soi Cắt Ruột Thừa”
6.2.1.3 - Nguyễn Văn Chừng, Nguyễn Thị Hồng Phấn “Đánh Giá
An Toàn Và Hiệu Quả Sử Dụng Mặt Nạ Thanh Quản-Proseal Trong Mổ Lấy Thai Với Duy Trì Mê Bằng Thuốc Mê Hô Hấp”
6.2.1.4 - Nguyễn Văn Chừng, Phan Văn Ngon “Sử Dụng Mặt Nạ Thanh Quản Proseal Trong Phẫu Thuật Nội Soi Khối U Buồng Trứng”
6.2.1.5 - Đỗ Thanh Huy, Nguyễn Văn Chừng “Sử Dụng Mặt Nạ Thanh Quản Proseal Với Thuốc Mê Tĩnh Mạch Propofol Khởi Mê Trong Gây Mê Phẫu Thuật Trong Ngày”
6.2.1.6 - Nguyễn Thị Hoài Nam, Nguyễn Văn Chừng, Phan Tôn Ngọc Vũ , Trần Thị Xuân Mai “Nghiên Cứu Sử Dụng Mặt Nạ Thanh Quản Phối Hợp Duy Trì Mê Bằng Sevofluran Trong Phẫu Thuật Nội Soi Mũi Xoang”
6.2.2 - 01 bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành Y Học TP Hồ Chí Minh, tập 13 số 1, 2009
6.2.2.1 - Nguyễn Văn Chừng, Nguyễn Văn Sách, Trương Triều
Phong “Đánh Giá Hiệu Quả Mask Thanh Quản Proseal Trong Phẫu Thuật Cấp Cứu”
Trang 56.2.3 - 01 bài báo đăng trên tạp chí chuyên ngành Y Học TP Hồ Chí Minh, tập 12 số 1, 2008
6.2.3.1 - Nguyễn Thành, Phan Tôn Ngọc Vũ, Nguyễn Anh Tuấn, Nguyễn Văn Chừng “Đánh Giá Hiệu Quả Mặt Nạ Thanh Quản ProsealTMTrong Gây Mê-Phẫu Thuật Nội Soi Cắt Túi Mật”
6.2 Về tiến độ thực hiện
6.3 Đề tài hoàn thành đúng tiến độ trong khoảng thời gian cho phép
quy định
7 Về những đóng góp mới của đề tài
7.1 Về giải pháp khoa học – công nghệ
Đề tài nghiên cứu đã góp phần làm sáng tỏ những vấn đề thường gặp trong sử dụng mặt nạ thanh quản trong gây mê và hồi sức, và đã đưa ra những phương hướng khắc phục
7.2 Về phương pháp nghiên cứu
Đây là phương pháp tiền cứu, ứng dụng lâm sàng có đối chứng với cở mẫu nghiên cứu lớn nên có tính thuyết phục cao
Trang 6NHÓM NGHIÊN CỨU
Chủ nhiệm đề tài: PGS.TS.BS NGUYỄN VĂN CHỪNG
Cộng tác:
ThS Phan Tôn Ngọc Vũ: phó chủ nhiệm
ThS.Nguyễn Anh Tuấn
ThS Bùi Ngọc Uyên Chi
ThS Nguyễn Văn Chinh: thư ký
BS Nguyễn Đoan Nghiêm
ThS Trương Triều Phong
BSCK2 Nguyễn Thị Hoài Nam
Ms Nguyễn Đoan Thùy
BSCK2.Trương Quốc Việt
BSCK2.Nguyễn Thị Hồng Vân (Bệnh viện Từ Dũ TP Hồ Chí Minh)
ThS Nguyễn Thị Hồng Vân (Bệnh viện Đại học Y Dược TP Hồ Chí Minh) ThS.Nguyễn Thành Vinh
Trang 81.5.3 Tác động sinh lý của mặt nạ thanh quản với hệ tuần hoàn 30
1.6 Chỉ định và chống chỉ định sử dụng 31 1.6.1 Chỉ định sử dụng mặt nạ thanh quản 31 1.6.2 Chống chỉ định sử dụng mặt nạ thanh quản 31 1.7 Kỹ thuật đặt mặt nạ thanh quản 31 1.7.1 Kỹ thuật đặt bằng tay 32 1.7.1.1 Kỹ thuật đặt bằng ngón tay trỏ 32 1.7.1.2 Kỹ thuật đặt bằng ngón tay cái 37 1.7.2 Kỹ thuật đặt bằng dụng cụ 39
Chương II: ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 43
2.1 Phương pháp nghiên cứu 44
2.3.1 Phương tiện nghiên cứu 45 2.3.2 Các bước tiến hành 46
2.3.2.2 Chuẩn bị bệnh nhân 47 2.3.2.3 Đặt mặt nạ thanh quản 49 2.3.2.4 Các nghiệm pháp xác định vị trí mặt nạ thanh quản 50
- Nghiệm pháp bong bóng 50
- Nghiệm pháp ấn hõm ức 50
Trang 9- Đặt ống thông dạ dày 50
- Độ sâu của mặt nạ thanh quản 51
- Nội soi khí quản 51 2.3.2.5 Đo áp lực kín mặt nạ thanh quản 51
2.3.2.7 Rút mặt nạ thanh quản 53 2.3.2.8 Xác định trào ngược và hít sặc bằng nghiệm pháp giấy qùy 53 2.3.2.9.Thử khí máu động mạch 53 2.3.2.10 Nội soi hầu họng, thanh quản 53 2.3.2.11 Tai biến và biến chứng 54 2.3.3 Thu thập các số liệu 55 2.3.4 Xử lý số liệu thống kê 56
Chương III: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 58
Trang 103.1.7 Phân bố bệnh nhân theo chiều cao, cân nặng và CSKCT (BMI) 61 3.1.7.1 Phân bố bệnh nhân theo chiều cao 61 3.1.7.2 Phân bố bệnh nhân theo cân nặng 62 3.1.7.3 Phân bố bệnh nhân theo chỉ số khối cơ thể (BMI) 62 3.1.8 Phân bố bệnh nhân theo phân loại ASA, Mallampati 63 3.1.8.1 Phân bố bệnh nhân theo phân loại ASA 63 3.1.8.2 Phân bố bệnh nhân theo phân loại Mallampatti 64 3.1.9 Phân bố bệnh nhân theo bệnh mổ, bệnh kèm theo 64 3.1.9.1 Phân bố bệnh nhân theo bệnh mổ 64 3.1.9.2 Phân bố bệnh nhân theo bệnh kèm theo 65 3.1.10 Thời gian đặt nội khí quản, mặt nạ thanh quản 65 3.1.11 Số lần đặt, cỡ ống và thể tích bơm bóng 66
3.1.11.3 Thể tích bơm bóng 67 3.1.12 Áp lực kín mặt nạ thanh quản, áp lực đường thở 68 3.1.12.1 Áp lực kín mặt nạ thanh quản 68 3.1.12.2 Áp lực đường thở 68 3.1.2 Thời gian gây mê, thời gian phẫu thuật 68 3.1.2.1 Thời gian gây mê 68 3.1.2.2 Thời gian phẫu thuật 69 3.1.3 Thời gian rút ống NKQ, MNTQ sau khi kết thúc cuộc mổ 69
Trang 113.1.4 Theo dõi huyết động trong và sau mổ 70
3.1.4.1 Theo dõi huyết động trong mổ 72 3.1.4.2 Theo dõi huyết động sau mổ 73 3.1.5 Theo dõi SpO2, ETCO2, khí máu động mạch trong và sau mổ 74
3.1.5.1 Thay đổi SpO2 trong và sau mổ 76
3.1.5.2 Thay đổi ETCO2 trong và sau mổ 76
3.1.5.3 Thay đổi khí máu động mạch trong và sau mổ 77 3.1.6 Phân loại nhiễm máu và chất tiết trên mặt nạ thanh quản 78 3.1.7 Tai biến và biến chứng 79 3.1.8 Kết quả nội soi mũi họng 24 giờ sau mổ 81
Chương IV: NHẬN XÉT - BÀN LUẬN 84
4.1 Đặc điểm chung của nghiên cứu 85 4.1.1 Tuổi, giới, chỉ số trọng lượng cơ thể 86
4.1.2 Sử dụng thuốc gây mê 87 4.2 Đặc điểm liên quan đến kỹ thuật sử dụng mặt nạ thanh quản 90
4.2.1 Chọn kích cỡ sử dụng mặt nạ thanh quản 91 4.2.2 Tỷ lệ thành công sử dụng mặt nạ thanh quản 92 4.2.3 Thời gian đặt, thời gian gây mê, thời gian phẫu thuật 95 4.2.4 Các biện pháp xác định vị trí mặt nạ thanh quản 96
Trang 124.2.5.1 Vị trí thích hợp của mặt nạ thanh quản 98
4.2.5.2 Vị trí sai lệch của mặt nạ thanh quản quá nông 99
4.2.5.3 Vị trí sai lệch của mặt nạ thanh quản quá sâu 101 4.2.5.4 Vị trí đầu túi hơi của mặt nạ thanh quản gập ra sau 102
4.2.6 Thể tích bơm bóng hơi 103
4.2.7.Các biện pháp xác định vị trí sai lệch qua ống dẫn (drain tube) 104
4.2.8.Thông khí với mặt nạ thanh quản 105
4.2.9 Áp lực thán khí trong hơi thở ra (ETCO2) 107
4.2.10 Huyết động với mặt nạ thanh quản 110
4.2.11 Độ bão hoà dưỡng khí (oxygen) máu qua mạch đập (SpO2) 113
4.3 Những tai biến, biến chứng khi sử dụng mặt nạ thanh quản 114
4.3.1.Biến chứng trào ngược và hít sặc dịch vị 115
4.3.2 Tai biến trào ngược và hít sặc dịch vị 117
4.3.3 Khàn tiếng sau gây mê - phẫu thuật 120
4.3 4 Ho sau gây mê – phẫu thuật 121
4.3.5 Đau họng, co thắt thanh quản, tổn thương niêm mạc 121
4.3.6 Kết quả nội soi mũi họng sau gây mê – phẫu thuật 123
2 Sử dụng mặt nạ thanh quản trong kiểm soát đường thở khó 124
3 Sử dụng mặt nạ thanh quản trong cấp cứu hô hấp-tuần hoàn 142
5 Những hạn chế của nghiên cứu 157
KẾT LUẬN và KIẾN NGHỊ 158
Trang 13Kết luận 159
Phiếu thu thập số liệu -23-
Trang 14
NHỮNG CHỮ VIẾT TẮT
ALTK: Áp lực thông khí
ASA: American Society of Anesthesiologists
Hiệp hội Gây mê Hồi sức Hoa kỳ
ETCO2 : End Tidal Carbon Dioxide Thán khí cuối kỳ thở ra
ET: Endotracheal Tube Ống nội khí quản NKQ
FM: Face mask Mặt nạ mặt MNM
FDA: Food and Drugs Administration
Cơ quan Kiểm soát Lương Thực và Dược Phẩm Hoa kỳ
F: Frequency Tần số
FOB: Fiberoptic bronchoscopy: ống soi mềm khí - phế quản
GMTD: Gây mê toàn diện
GTV: Gây tê vùng
HC: Hội chứng
HS: Hồ sơ
LMA: Laryngeal Mask Airway Mặt nạ thanh quản MNTQ
MNTQ-Classic: Mặt nạ thanh quản cổ điển MNTQ-Cổ điển MNTQCĐ
Trang 15MNTQ-Proseal: Mặt nạ thanh quản có độ kín cao MNTQ Proseal MAC: Monitored anesthetic care : theo dõi chăm sóc gây mê
NKQ: Nội khí quản
OLCT: Orolaryngeal CombiTube: Ống kết hợp thực- thanh quản OELM: Optimal external laryngeal manipulation
Thao tác bên ngoài thanh quản đạt tối ưu
PaO2: Áp lực riêng phần dưỡng khí máu động mạch
Trang 16DANH MỤC CÁC BẢNG Bảng Số Nội Dung Bảng Trang
Bảng 1.1 Các thông số về mặt nạ thanh quản cổ điển 20
Bảng 1.2 Các thông số về mặt nạ thanh quản ProSeal 22
Bảng 3.4 Phân bố bệnh nhân theo giới 60
Bảng 3.6 Phân bố bệnh nhân theo chuyên khoa phẫu thuật 61
Bảng 3.7 Loại MNTQ sử dụng trong nghiên cứu 61
Bảng 3.8 Phân bố bệnh nhân theo giới tính 61
Bảng 3.10 Phân bố bệnh nhân theo chiều cao 62
Bảng 3.11 Phân bố bệnh nhân theo cân nặng 63
Bảng 3.12 Phân bố bệnh nhân theo BMI 64
Bảng 3.13 Phân loại ASA 64
Bảng 3.14 Phân loại Mallampati 65
Bảng 3.22 Thời gian phẫu thuật 69
Bảng 3.23 Thời gian gây mê 70
Bảng 3.24 Thời gian rút NKQ và MNTQ 70
Bảng 3.25 Thay đổi mạch 71
Trang 17Bảng 3.26 Thay đổi HA tâm thu 73 Bảng 3.27 Thay đổi HA tâm trương 75 Bảng 3.28 Thay đổi HAĐM trung bình 76 Bảng 3.29 Thay đổi thán khí trong hơi thở ra (ETCO
2) 77 Bảng 3.30 Phân loại nhiễm máu và chất tiết MNTQ 78 Bảng 3.31 Tai biến và biến chứng 78 Bảng 3.32 Thông số khí máu động mạch (KMĐM) 80 Bảng 3.33 Kết quả nội soi mũi họng 24 giờ sau mổ 81 Bảng 4.34 Tỷ lệ đặt thành công 91 Bảng 4.35 So sánh ETCO
2 trướcvàsau bơm thán khí 107 Bảng 4.36 Tỷ lệ hít sặc, viêm phổi và tử vong do hít sặc 116 Bảng 4.37 So sánh tỷ lệ ho sau phẫu thuật 118 Bảng 2.3 Chọn cỡ MNTQ dựa vào trọng lượng cơ thể 126
Trang 18Hình Số Nội Dung Hình Trang
Hình1.1 Hình ảnh giải phẫu họng 8
Hình 1.2 Giải phẫu hầu - thanh quản cắt dọc 12
Hình 1.3 Những sụn cấu tạo thanh quản 14
Hình 1.4 Dây thanh âm, thanh môn dưới đèn soi thanh quản 15
Hình 1.5 Cấu tạo mặt nạ thanh quản cổ điển 20
Hình 1.6 Cấu tạo mặt nạ thanh quản proseal 22
Hình 1.7 Cấu tạo mặt nạ thanh quản flexible 23
Hình 1.8 Độ nhiễm máu và chất tiết MNTQ trong mổ 25
Hình 1.9 Mặt nạ thanh quản Fastrach 26
Hình 1.10 Mặt nạ thanh quản Fastrach cĩ bộ phận quan sát 26
Hình 1.7.1.1 Hình minh họa đặt MNTQ cổ điển 32
Hình 1.7.1.2 Hình minh hoạ đặt MNTQ proseal: 35
Hình 1.7.1.3 Hình minh hoạ đặt MNTQ proseal bằng ngĩn cái 37
Hình 1.7.1.4 Hình minh hoạ đặt MNTQ flexible 38
Hình 1.7.2.1 Hình minh hoạ đặt MNTQ proseal bằng dụng cụ 39
Hình 3.1.17 Nội soi họng 24 giờ sau gây mê – phẫu phẫu 82
Hình3.1.18 Nội soi họng 24 giờ sau gây mê – phẫu phẫu 83
Trang 19DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ
Sơ Đồ Số Nội Dung Sơ Đồ Trang
Bảng 1.1 Các thông số về mặt nạ thanh quản cổ điển 20
Bảng 1.2 Các thông số về mặt nạ thanh quản Proseal 22
SĐ Số 1 Xử Lý Đường Thở Khó 141
DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ Biểu Đồ Số Nội Dung Biểu Đồ Trang
Biểu đồ 3.1 Thời gian rút NKQ và MNTQ 70
Biểu đồ 3.2 Thay đổi mạch 71 Biểu đồ 3.3 Thay đổi huyết áp (HA) tâm thu 73
Biểu đồ 3.4 Thay đổi HA tâm trương 74
Biểu đồ 3.5 Thay đổi HA ĐM trung bình 76
Biểu đồ 3.6 Kết quả nội soi mũi họng 24 giờ sau mổ 82
Biểu đồ 4.7 Biến đổi HATĐ ở bệnh nhân tăng HA 111
Trang 20ĐẶT VẤN ĐỀ
Trang 21ĐẶT VẤN ĐỀ
Thông khí và kiểm soát hô hấp trong gây mê-phẫu thuật là vấn đề quan trọng
hàng đầu, mà những người làm công tác Gây mê - Hồi sức phải đặc biệt quan tâm Bởi sự thông khí không tốt, không hiệu quả sẽ gây ra thiếu dưỡng khí đưa đến nhiều tai biến, biến chứng, có thể làm cho bệnh nhân tử vong ngay hoặc để lại nhiều di chứng cho bệnh nhân suốt đời, nhất là sự tổn thương không hồi phục của hệ thần kinh trung ương
Trong thời kỳ đầu, những người làm công tác Gây mê – Hồi sức, đã tìm ra những dụng cụ, phương pháp để đảm bảo thông khí cho bệnh nhân trong quá trình cấp cứu, hay gây mê - phẫu thuật Tuy nhiên những dụng cụ vẫn còn thô
sơ, đơn giản; với sự tiến bộ nhanh chóng của khoa học kỹ thuật và y học trong những thập niên gần đây, ngành Gây mê – Hồi sức có nhiều phương tiện, dụng
cụ để thực hiện thông khí và kiểm soát hô hấp cho người bệnh từ đơn giản, thô
sơ đến hiện đại, phức tạp; với mong muốn là kiểm soát đường thở một cách hiệu quả từ những dụng cụ như: mặt nạ mặt, ống mũi hầu (MH, OPT: Oropharyngeal Tube), ống hầu họng có bóng hơi (COPA: Cuffed Oropharyngeal Airway), ống nội khí quản (TT: Tracheal Tube), mặt nạ thanh quản (MNTQ, LMA: Laryngeal Mask Airway), ống kết hợp thực quản – khí quản (KHTKQ, OLCT: Orolaryngeal Combined Tube, Orolaryngeal Combitube)
Mặt nạ thanh quản được Brain A I J, mô tả và thiết kế đầu tiên vào năm 1981, được gọi là mặt nạ thanh quản cổ điển (LMAC: Laryngeal Mask Airway Classic) và đã đưa vào sử dụng trên lâm sàng vào năm 1988 Năm 2000, sau nhiều năm nghiên cứu và hàng trăm lần cải tiến, mặt nạ thanh quản Proseal (LMAP: Laryngeal Mask Airway Proseal), mặt nạ thanh quản “siêu khít”, đã được đưa vào sử dụng trên lâm sàng, với sự thay đổi về cấu tạo của loại mặt nạ
Trang 22Ngày nay nhiều Bác sĩ Gây mê - Hồi sức, ở nhiều nước trên thế giới, đã sử dụng mặt nạ thanh quản trong nhiều loại Gây mê - Phẫu thuật khác nhau, đặc biệt thích hợp nhất khi sử dụng mặt nạ thanh quản là những phẫu thuật có thời gian ngắn, phẫu thuật ngoại trú, những lọai phẫu thuật không cần thiết phải đặt ống nội khí quản Vì mặt nạ thanh quản không những đảm bảo được sự thông khí trong quá trình Gây mê - Phẫu thuật, mà còn ít gây thương tổn vùng hầu họng, thương tổn thanh quản, dây thanh âm, có thể đặt mà không cần dùng đèn, không cần dùng thuốc dãn cơ và ít gây kích thích, đau đớn nên ít ảnh hưởng đến huyết động trong lúc đặt và lúc rút so với ống nội khí quản
Nước ta, việc sử dụng mặt nạ thanh quản trong phẫu thuật chưa nhiều, mà thường được dùng những phương pháp vô cảm như gây tê: gây tê tuỷ sống, gây
tê ngoài màng cứng hay gây mê toàn diện qua nội khí quản Vì vậy chúng tôi thực hiện nghiên cứu, đánh giá việc sử dụng mặt nạ thanh quản trên bệnh nhân với nhiều lọai phẫu thuật khác nhau nhằm:
MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU:
1 Mục tiêu tổng quát:
Khảo sát tính an toàn, hiệu quả và tính sử dụng đơn giản của mặt nạ thanh quản cổ điển, mặt nạ thanh quản proseal, và các loại mặt nạ thanh quản khác trong gây mê - phẫu thuật và hồi sức
2 Mục tiêu chuyên biệt:
• Khảo sát tính an toàn của mặt nạ thanh quản cổ điển, mặt nạ thanh quản proseal, và các loại mặt nạ thanh quản khác qua sự biến đổi về
hô hấp, tuần hoàn; các tai biến, biến chứng trong và sau Gây mê – Phẫu thuật
• Khảo sát tính hiệu quả của mặt nạ thanh quản cổ điển, mặt nạ thanh quản proseal, và các loại mặt nạ thanh quản khác qua các thông số:
áp lực thông khí, áp lực kín, độ bảo hoà dưỡng khí (SpO2), áp lực thán khí trong hơi thở ra (ETCO2)
Trang 23• Đánh giá tính dể sử dụng của mặt nạ thanh quản cổ điển, mặt nạ thanh quản proseal, và các loại mặt nạ thanh quản khác qua kỹ thuật
- Mục đích sử dụng mặt nạ thanh quản để kiểm soát đường thở là hành động cứu bệnh nhân, giúp bệnh nhân tiếp thu được dưỡng khí một chất rất cần thiết cho sự sống của con người
- Đã được Cơ quan Kiểm soát Lương Thực và Dược Phẩm Hoa kỳ (Food and Drugs Administration) khuyến cáo đưa vào sử dụng trong kiểm soát đường thở
Trang 24
CHƯƠNG I
TỔNG QUAN TÀI LIỆU
Trang 251.1 GIẢI PHẪU HỌNG
1 Giải phẫu[16,22,78,81]
Họng là một phần của đường tiêu hoá nằm ở giữa hốc miệng và thực quản Đồng thời cũng là ngã ba của đường ăn, đường thở vì họng nối hốc mũi và thanh quản Ống họng dài khoảng 12 cm, dẹt từ trước ra sau, trên rộng dưới hẹp, chỗ rộng nhất ở trên cùng ngay dưới nền sọ 5cm, chỗ hẹp nhất là phần họng tiếp giáp với thực quản và họng được chia thành 3 tầng
1.1 Họng trên (họng mũi):
Thông với hốc mũi qua hai lỗ mũi sau Ở thành bên của họng mũi có lỗ vòi Eustache nằm ngang mức đầu sau của cuốn mũi dưới Thành trên của họng mũi chính là mái vòm họng Ở góc hợp bởi thành sau và trên của họng mũi có một đám lùi sùi tổ chức tân bào gọi là VA (Vegetations Adenoids), còn gọi là
A số III, A này phát triển mạnh ở trẻ 1 - 2 tuổi và teo dần đi ở tuổi vị thành niên, trưởng thành
1.2 Họng giữa (họng miệng):
Còn gọi là họng miệng được giới hạn bởi thành sau và hai thành bên, tiếp tục của thành bên họng mũi Phía trước được giới hạn bởi cung miệng và qua cung này họng miệng thông với hốc miệng
Hốc của miệng được giới hạn ở trên bởi khẩu cái mềm, ở dưới là gốc lưỡi
và hai bên là cột trụ trước và cột trụ sau Nằm giữa cột trụ trước và cột trụ sau
là amidan khẩu cái, còn gọi là amidan (A): A số I và II Mặt tự do của các A này hướng về họng và có nhiều khe Ở gốc lưỡi cũng có một đám tổ chức tân bào gọi là Amidan dưới lưỡi hay là A số IV Ở họng tổ chức tân bào khá phát triển
Toàn bộ các amidan số I, II, III, IV (A: I, II, III, IV); cùng với các nang
Trang 261.3 Họng dưới (họng thanh quản):
Ở phía sau họng dưới đổ vào thực quản, ở phía trước họng dưới có lỗ thông với thanh quản Nếp lưỡi thanh thiệt bên được xem là giới hạn phân cách họng thanh quản với họng miệng, phần này tương ứng với mức ngang xương móng Họng thanh quản là phần thấp nhất của họng nên còn gọi là hạ họng (hypopharynx), nằm trước các đốt sống cổ thứ 3 đến thứ 6 (C3 - C6), đi
Trang 27GIẢI PHẪU HỌNG
Trang 28Dải khứu: olfactory tract Hành khứu: olfactory bulb
Lỗ răng cửa: incisive foramen Mảnh sàng: cribiform plate
Nhánh mũi trong giữa của TK sàng trước: medial internal nasal branch of anterior ethmoidal nerve
2 Thần kinh họng Các sợi thần kinh vận động, cảm giác và tự động của
vùng họng đều xuất phát từ đám rối hầu Đám rối hầu được tạo thành từ nhánh hầu của dây thần kinh sọ thứ IX (dây thiệt hầu) và dây thứ X (dây lang thang) kết nối với các sợi giao cảm của hạch giao cảm cổ trên
- Chi phối cho vận động: Các sợi thần kinh vận động cơ họng đi từ đám rối
hầu đều có nguồn gốc từ dây thần kinh IX và X, riêng cơ trâm hầu do nhánh vận động tách thẳng từ dây thần kinh IX
- Chi phối cảm giác: Vùng họng do các sợi cảm giác tách ra từ dây IX và X
Nhánh lưỡi là nhánh tận cùng của dây IX đảm nhận vị giác 1/3 sau lưỡi
- Thần kinh tự động: Các sợi giao cảm làm tiết dịch của các tuyến thuộc niêm
mạc mũi họng đều từ hạch chân bướm khẩu cái Cơ thắt nhẫn họng đóng mở thực quản tự động theo sự chi phối theo sợi phó giao cảm từ dây X và các sợi giao cảm từ hạch cổ trên, kích thích dây X cơ thắt chùng, kích thích giao cảm
cơ thắt co lại
3 Chức năng sinh lý họng
Họng là một ống đưa không khí và thức ăn đi tiếp xuống dưới và cũng là một bộ phận cộng hưởng âm Là giao điểm của đường ăn và đường thở, nên ở đây có các vùng phản xạ điều khiển sự di chuyển thức ăn và không khí
Họng mũi bình thường thì mở thông với họng miệng và hốc miệng, khi người ta nuốt hay phát âm thì khẩu cái mềm nâng lên và áp chặt vào thành sau họng làm ngăn cách giữa tầng họng trên và giữa Khi thức ăn chuyển dời thì thanh quản được che kín lại
Ở họng có đầu tận của thần kinh vị giác phân bố ở khẩu cái mềm và gốc lưỡi nên có chức năng vị giác và chức năng bảo vệ cơ thể bằng cách co cơ khít họng khi có kích thích nóng, lạnh hoặc vật lạ xâm nhập
1.2 GIẢI PHẪU THANH QUẢN
Trang 291.2.1 Giải phẫu [16,22,78,81]
Thanh quản là cơ quan ở giữa hầu và khí quản, nằm trước thực quản, một phần của đường thở, phần trên của thanh quản mở vào họng và qua họng thông với hốc miệng và hốc mũi Thanh quản nằm ở trước cổ ngang mức đốt sống cổ C4 – C6 Phần trên qua màng giáp móng thanh quản liên quan đến xương móng Thanh quản di chuyển dễ dàng, có thể đẩy sang bên, lên cao hay xuống thấp khi thở, nuốt, cúi đầu hoặc ngửa cổ
1.2.1.1 Khung sụn thanh quản:
Thanh quản gồm có 9 sụn: trong đó gồm có 3 sụn đôi, đó là 2 sụn phễu (Arytenoid), 2 sụn sừng (Corniculate), 2 sụn chêm (Cuneiform); 3 sụn đơn là sụn Nhẫn (Cricoid), sụn Giáp trạng (Thyroid), và sụn nắp thanh môn (Epiglottis) Trong lòng của thanh quản có nối hai dây thanh âm thật, trong chiều dày của dây thanh âm có cơ thanh hay cơ giáp phễu
Khi chúng ta thở các dây thanh (dây thanh âm) tạo nên một khe gọi là khe thanh môn, qua khe này không khí di chuyển đi ra đi vào, ở tư thế phát âm hai dây thanh khép lại Ở phía trên hai dây thanh âm thật có dây thanh âm giả, đó
là hai nếp niêm mạc
1.2.1.2 Các cơ thanh quản:
Gồm có cơ bên trong thanh quản và bên ngoài thanh quản
- Các cơ bên ngoài thanh quản: Gắn nắp thanh quản với các phần sụn, các cơ
này có tác dụng nâng hay hạ thanh quản và cố định thanh quản ở tư thế nhất định
- Các cơ bên trong thanh quản: Đính ở mặt trong và mặt ngoài thanh quản,
các cơ này thực hiện chức năng thở và phát âm
Trang 30Chứa sợi đàn hồi và được phủ biểu mô rung động hình trụ, ngoại trừ hai dây thanh âm, dây chằng phễu nắp thanh quản, nắp thanh quản của sụn phễu
và khoang liên phiễu được phủ biểu mô phẳng nhiều lớp
1.2.1.4 Thần kinh thanh quản:
Chia làm hai nhánh của thần kinh sọ số X (thần kinh Lang thang) là thần kinh thanh quản trên và thần kinh thanh quản dưới
٠ Thần kinh thanh quản trên chia thành hai nhánh:
- Nhánh trong xuyên qua màng giáp móng để vào thanh quản chi phối cảm giác cho thanh quản từ nắp thanh môn tới dây thanh
- Nhánh ngoài để chỉ huy vận động cơ nhẫn giáp
٠ Thần kinh thanh quản dưới còn gọi là thần kinh quặt ngược; đi ngược từ trong lồng ngực lên trên tới thanh quản, cho các nhánh vận động các cơ khác của thanh quản, trừ cơ nhẫn giáp Thần kinh quặt ngược này có thể bị tổn thương trong phẫu thuật vùng cổ, nhất là phẫu thuật cắt tuyến giáp, làm cho hai dây thanh âm không cử động được, dẫn đến khàn giọng nói Nếu tổn thương thần kinh thanh quản trên 1 bên ảnh hưởng ít, 2 bên khàn nhẹ Nếu tổn thương thần kinh quặt ngược 1 bên dẫn đến khó thở, khàn giọng và thở co kéo, nếu tổn thương 2 bên không nói được và không thở được ở thời kỳ hít vào, làm cho bệnh nhân thiếu dưỡng khí do ngạt cấp đưa đến tử vong
Liệt một bên thần kinh quặt ngược làm liệt dây thanh cùng bên gây biến đổi giọng nói; nếu thần kinh thanh quản trên bình thường, liệt thần kinh quặt ngược hai bên sẽ gây khó thở, thở co kéo vì còn duy trì được độ căng không đối kháng của cơ nhẫn giáp
1.2.2 Sinh lý thanh quản:
Thanh quản có hai chức năng chính là:
Chức năng hô hấp: Là chức năng quan trọng nhất vì có ý nghĩa sống còn
của cơ thể, đó là chức năng mở thanh môn do cơ duy nhất nhẫn - phễu sau đảm trách Các tình trạng bệnh lý thanh quản sẽ gây khó khăn cho người gây
mê trong khi đặt ống nội khí quản
Trang 31Chức năng phát âm: Các tình trạng bệnh lý làm cho hai dây thanh âm
không khép kín hoặc không di động sẽ dẫn tới khàn tiếng hoặc mất tiếng
GIẢI PHẪU THANH QUẢN
Trang 32
Chú thích:
Chỗ nối bướm - chẩm: sphenooccipital suture
Cơ cằm - lưỡi: genioglossus muscle
Cơ cằm - móng: geniohyoid muscle
Cơ co hầu: pharyngeal constrictor muscles
Cơ phễu ngang: transverse arytenoid muscle
Cơ thực quản: esophageal muscles
Củ trước đốt đội (C1): anterior tubercle of atlas
Hạch khẩu cái: Palatine glands
Củ hầu xươngẩm: pharyngealtubercle of occipital bone
Hạnh nhân khẩu cái: palatine tonsil
Dây chằng móng - nắp: hyoepiglottic ligament
Hạnh nhân hầu: pharyngeal tonsil
Dây chằng đỉnh của mỏm răng (của đốt trục - C2): apical ligament of
dens (dens of axis - C2)
Khẩu cái cứng: hard palate Khẩu cái mềm: soft palate
Khoảng trên ức: suprasternal space (of Burns)
Lỗ tịt: foramen cecum Khoảng sau hầu: retropharyngeal space
Hố yên: sella turcica Mạc trước khí quản: pretracheal fascia Mạc hầu - nền: pharyngobasilar fascia
Mạc miệng hầu: bucco - pharyngeal fascia
Mạc cổ nông: superficial cervical fascia
Mạc trước sống và dây chằng dọc trước: prevertebral fascia & anterior
longitudinal ligament
Màng đội - chẩm trước: anterior atlantooccipital membrane
Màng giáp móng: thyrohyoid membrane
Ống Eustache: Eustachian tube Ống răng cửa: incisive canal
Xoang bướm: sphenoidal sinus Xoang trán: frontal sinus
Trang 33GIẢI PHẪU THẦN KINH, SỤN VÀ CÁC CƠ THANH QUẢN
Hình 1.3: Những sụn cấu tạo thanh quản
(Nguồn: Frank H Netter, Atlas of Human Anatomy.TLTK 81)
Trang 34
THANH QUẢN NHÌN DƯỚI ĐÈN SOI THANH QUẢN
Hình 1.4: Dây thanh âm, thanh môn dưới đèn soi thanh quản
(Nguồn: Frank H Netter, Atlas of Human Anatomy.TLTK 81)
Chú thích:
Củ sụn chêm: cuneiform tubercle Củ sụn sừng: corniculate tubercle
Hạnh nhân lưõi: lingual tonsil Khuyết gian phễu: interarytenoid notch
Nắp thanh môn: epiglottis Nếp lưỡi-nắp giữa: median glosso - epiglottic fold
Nếp phễu-nắp: aryepiglottic fold Nếp thanh thất: ventricular folds
Ngách thành lê: piriform recess Thung lũng nắp thanh quản: vallecula
Thanh âm giả: false cords Tiền đình: ventricle
1.3 LIÊN QUAN GIẢI PHẪU-SINH LÝ VÀ GÂY MÊ
1.3.1 Phương pháp đâm kim qua màng giáp nhẫn: đây là động tác cấp cứu
nhất thời để đưa dưỡng khí bằng thơng khí phun tia, với tần số cao (jet
ventilation) vào phổi trong trường hợp khẩn cấp như khĩ thở do nghẹt thanh
quản, liệt cấp hai dây thanh, mà khơng đặt được ống nội khí quản, khơng thể
thơng khí bằng mặt nạ mặt (CICV: can not intubation, can not ventilation)
1.3.2 Động tác Sellik: thường dùng để phịng trào ngược trong gây mê với
bệnh nhân cĩ dạ dày đầy, trong những trường hợp cấp cứu, cĩ nguy cơ trào
Trang 35ngược cao; và hít chất trào ngược là một tai biến nguy hiểm trong gây mê do hội chứng hít phải; cần khởi mê nhanh để rút ngắn thời gian nguy hiểm và động tác Sellick là biện pháp hữu hiệu để phòng tránh trào ngược lúc khởi
mê
1.3.3 Đặt nội khí quản ngược dòng: trường hợp cần thiết phải đưa dưỡng khí vào phổi mà không thể đặt ống nội khí quản theo phương pháp thông thường, trong xử trí đường thở khó, khi không có đủ phương tiện như mặt nạ thanh quản, không có dụng cụ nội soi phế quản mềm
1.3.4 Đánh giá cấu trúc toàn diện: vùng đầu-mặt-cổ, hầu-họng, quản trong đặt những dụng cụ khi gây mê như ống mũi hầu, mặt nạ thanh quản, ống nội khí quản, và đánh giá mức độ khó trong đặt ống nội khí quản
thanh-khí-1.4 MẶT NẠ THANH QUẢN
LỊCH SỬ PHÁT MINH
- Vào khoảng tháng 6 năm 1981, Bác sĩ Archie Brain, một bác sĩ Gây mê Hồi sức (Anh) và đồng nghiệp thiết kế một dụng cụ để thông khí được gọi tên là mặt nạ thanh quản (MNTQ, LMA: Laryngeal mask airway) đầu tiên tại Bệnh viện Hoàng Gia Anh Quốc, gọi là mặt nạ thanh quản cổ điển (c-LMA: classic Laryngeal Mask Airway ), cải tiến từ Goldman Dental Mask; ưu điểm của mặt
nạ thanh quản cổ điển này là duy trì được thông khí hiệu quả và tốt hơn so với mặt nạ mặt (FM: face mask), cũng như làm tự do đôi tay của người gây mê và
ít gây tổn thương xâm lấn hơn so với khi dùng ống nội khí quản (TT: Tracheal Tube) Mặt nạ thanh quản cổ điển được sử dụng lần đầu tiên để gây
mê trên một bệnh nhân để phẫu thuật thoát vị bẹn tại bệnh viện William Harvey vào tháng 8 năm 1981
- Tài liệu đầu tiên viết về mặt nạ thanh quản được đăng trên tạp chí Gây mê Hồi sức Anh Quốc vào tháng 8 năm 1983
Trang 36đều khi bơm hơi, do đó ôm kín vùng hầu thanh quản hơn, và ít gây dị ứng vì không có chất Latex
- Năm 1988 bệnh viện Royal Eat Sussex ở Anh là bệnh viện đầu tiên chấp nhận đưa mặt nạ thanh quản vào sử dụng trong gây mê - phẫu thuật
- Năm 1990 mặt nạ thanh quản được dùng trong gây mê - phẫu thuật trong hầu hết các bệnh viện ở vương quốc Anh
- Năm 1992 được Cơ quan Kiểm soát Lương Thực và Dược Phẩm (FDA: Food and Drugs Administration) Mỹ chấp thuận và cho sử dụng mặt nạ thanh quản (MNTQ) ở Mỹ
- Năm 1993 mặt nạ thanh quản được giải thưởng Nữ Hoàng Anh
- Năm 1993 mặt nạ thanh quản được Hội Gây mê Hồi sức Mỹ đưa vào danh mục sử dụng trong xử trí đường thở khó
- Trong những năm đầu sử dụng mặt nạ thanh quản, người ta đã gặp phải một
số vấn đề tương đối khá nghiêm trọng như viêm phổi hít ở bệnh nhân sử dụng mặt nạ thanh quản cổ điển mà bị nôn ói và hít vào phổi chất nôn ói trong khi gây mê, cho nên vào năm 1991 trong tạp chí Gây mê Hồi sức Châu Âu (The European Journal of Anaesthesiology) bác sĩ Archie Brain đã cho đăng một bài báo tựa đề “Nghiên cứu mặt nạ thanh quản phòng viêm phổi hít ở bệnh nhân”, để nói lên nhược điểm cuả mặt nạ thanh quản cổ điển
- Bác sĩ Archie Brain nhận thấy rằng: Muốn cải thiện những nhược điểm của mặt nạ thanh quản cổ điển để mặt nạ thanh quản có hiệu quả hơn thì phải đạt được ít nhất một trong những giải pháp sau:
1- Làm tăng lực ép của mặt nạ thanh quản đối với tổ chức quanh lưỡi và vùng hầu họng
2 - Tăng bề mặt tiếp xúc giữa mặt nạ thanh quản và tổ chức thanh quản 3- Tạo thêm một đường ống thông với thực quản, nhằm giải quyết vấn đề gây tăng áp lực dạ dày do bơm khí vào và qua đường thông này có thể hút được chất nôn ói, đây chính là khâu quyết định để giải quyết vấn đề trào ngược và hít chất trào ngược
Trang 37- Từ năm 1983 đến năm 1994, bác sĩ Archie Brain và các đồng nghiệp đã thiết kế, cải tiến hàng trăm lần, nhiều loại kiểu mẫu và thử nghiệm lâm sàng nhưng chưa đạt được yêu cầu hoàn chỉnh
- Năm 1995 cấu hình mặt nạ thanh quản proseal đầu tiên được thiết kế có một đường ống thông với thực quản được gắn vào mặt sau của đường ống thở và nhô ra ở đầu cuối của phần bóng hơi của mặt nạ thanh quản Nhưng thiết kế đầu tiên này gặp phải vấn đề là không kín khi bơm bóng hơi, những lần cải tiến sau đó đã tăng thể tích bóng hơi, nhất là phần phía sau của MNTQ được tựa vào phần hầu họng chung quanh Mẫu thiết kế này được áp dụng ở các nước Anh, Pháp, Ý, Úc, Tây Ban Nha Người ta nhận thấy trào ngược vẫn có xẩy ra nhưng tỉ lệ gây nên viêm phổi hít giảm hẳn
- Năm 1995, đã có hơn 80 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới sử dụng mặt
nạ thanh quản trong gây mê - phẫu thuật
- Năm 1996 trên toàn thế giới đã có hơn 30 triệu lượt sử dụng mặt nạ thanh quản cho bệnh nhân
- Những cải tiến trên vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu đòi hỏi đề ra, cho nên năm 2000 bác sĩ Archie Brain và các cộng sự đã mô tả và thiết kế mẫu mặt nạ thanh quản proseal (LMA-P: Laryngeal Mask Airway ProSealTM , MNTQ-P) đang dùng như ngày nay
- Mặt nạ thanh quản proseal (MNTQ-P) sử dụng lần đầu trong lâm sàng ở các nước:
* Bác sĩ Verghese và cộng sự sử dụng đầu tiên ở Anh
* Bác sĩ Agro và cộng sự sử dụng đầu tiên ở Ý
* Bác sĩ Fullekrug và cộng sự sử dụng đầu tiên ở Đức
* Bác sĩ Capdevilla và cộng sự sử dụng đầu tiên ở Pháp
* Bác sĩ Rosenblatt và cộng sự sử dụng đầu tiên ở Mỹ
Trang 38- Ở Mỹ được sử dụng nhiều trong gây mê phẫu thuật ngoài viện, phẫu thuật trong ngày, trong phẫu thuật cấp cứu, và trong xử trí đường thở khó
- Ở Việt Nam, mặt nạ thanh quản đã được đưa vào giới thiệu và sử dụng vào những năm của thập niên 1990s
- Năm 1999, BS.Nguyễn Văn Chừng và BS.Võ Nguyên Quang Phổ[21] đã báo cáo sử dụng mặt nạ thanh quản trong gây mê - phẫu thuật ở trẻ em tại trung tâm Chấn Thương Chỉnh Hình TP Hồ Chí Minh
- Năm 1999 tại hội nghị khoa học Gây mê Hồi sức tổ chức tại bệnh viện Chợ Rẫy TP Hồ Chí Minh, BS Trương Quốc Việt và BS Nguyễn Thị Hồng Vân[31]
đã báo cáo sử dụng mặt nạ thanh quản và ống COPA (Cuffed Oropharyngeal Airway) trong trường hợp đặt nội khí quản khó
1.4.1 MẶT NẠ THANH QUẢN CỔ ĐIỂN [22,24,25,31]
Mặt nạ thanh quản cổ điển (MNTQ-Cổ điển; LMA-C: Laryngeal Mask Airway Classic) gồm 3 phần: phần ống, bóng hơi (coussinet) và dây bơm
• Phần ống xa rộng một đầu của ống nối với bóng hơi, đầu còn lại có gắn raccord chuẩn
• Bóng hơi có hình dạng đặc biệt, có thể bơm lên hoặc làm xẹp bằng một van (valve) ở đầu xa của dây bơm hơi
• Dây bơm hơi có một van, một bóng chứng (ballonnet de témoin)
Trang 39Hình 1.5: Cấu tạo mặt nạ thanh quản cổ điển
(Nguồn: LMA;W.B Saunders Company Ltd 1996, TLTK 116)
Bảng 1.1: Các thông số về mặt nạ thanh quản cổ điển .[116]
Cỡ MNTQ Bệnh nhân Cân nặng
(kg)
Thể tích bơm tối đa (ml)
1 Sơ sinh < 5 kg 2,5 - 4
1.5 Nhủ nhi 5 – 10 kg 7
2 Trẻ em 10 – 20 kg 10
Trang 401.4.2 MẶT NẠ THANH QUẢN PROSEAL (MNTQ-P)
Mặt nạ thanh quản (MNTQ-ProSeal; LMA ProSealTM) được làm từ chất silicon Y học
- Phần thân: có 2 đường ống riêng biệt:
• Một đường thông với thực quản, gọi là ống dẫn (drain tube), ống này tận cùng ở đầu xa của mặt nạ, qua ống này có thể hút chất dịch trong họng hay đặt ống hút vào dạ dày;
• Một đường ống khác thông với thanh quản gọi là ống hô hấp (airway tube), ống hô hấp và ống dẫn được gắn song song với nhau
- Bộ phận chống cắn (bite block): được làm với chất liệu cứng hơn bao
quanh thành hai ống và ở 1/3 phần xa hai ống, ngang với phần răng cửa
- Bóng hơi (cuff): mềm, dãn nở đều, úp khít sát lên mặt trên thanh quản,
phần lưng tì vào tổ chức hầu họng, lòng bóng hơi của mặt nạ thanh quản proseal sâu hơn lòng của bóng hơi mặt nạ thanh quản cổ điển
- Khe để đặt dụng cụ: nằm giữa bóng hơi và phần gốc 2 ống; là nơi lắp đầu
phương tiện để đặt hoặc cho đầu ngón tay trỏ hay ngón cái để làm thao tác đặt mặt nạ thanh quản proseal
- Van (valve): một chiều để giữ hơi trong bóng không thoát ra ngoài, đầu gần
của dây dẫn van được nối với túi hơi nhỏ để kiểm tra độ căng, đầu xa của dây nối với bóng hơi