1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Đánh giá hiệu quả của phương pháp gây mê bằng sevoflurane và không sử dụng thuốc giãn cơ trong phẫu thuật nội soi cắt tuyến ức điều trị bệnh nhược cơ

8 105 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 8
Dung lượng 419,06 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục tiêu nghiên cứu của bài viết nhằm đánh giá hiệu quả của phương pháp gây mê bằng sevoflurane và không sử dụng thuốc giãn cơ trong phẫu thuật cắt tuyến ức điều trị bệnh nhược cơ. Mời các bạn cùng tham khảo nội dung chi tiết của tài liệu.

Trang 1

179

ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CỦA PHƯƠNG PHÁP GÂY MÊ BẰNG

SEVOFLURANE VÀ KHÔNG SỬ DỤNG THUỐC GIÃN CƠ

TRONG PHẪU THUẬT NỘI SOI CẮT TUYẾN ỨC ĐIỀU TRỊ BỆNH NHƯỢC CƠ

Võ Văn Hiển*; Nguyễn Hữu Tú**; Mai Văn Viện*

TÓM TẮT

Nghiên cứu 19 bệnh nhân (BN) nhược cơ (NC) (nhóm I, IIA, IIB) có chỉ định phẫu thuật nội

soi cắt tuyến ức được gây mê bằng sevoflurane và không sử dụng thuốc giãn cơ

Kết quả: thời gian mất phản xạ mi mắt 110,34 giây, thời gian đạt chỉ số RE, SE < 50: 154,23

giây; thời gian đặt ống nội khí quản (NKQ): 6,8 phút Điều kiện đặt ống NKQ: rất tốt 84,2%; tốt

15,8%; không có biến đổi huyết động trước, sau khi đặt ống NKQ và trong quá trình phẫu thuật

Tỷ lệ hài lòng của phẫu thuật viên đối với phương pháp vô cảm: rất hài lòng 94,7% và hài lòng:

5,3% 100% BN được rút ống NKQ ngay sau phẫu ngay tại phòng mổ và không có BN nào phải

đặt ống NKQ lại do cơn NC, do cơn cholinergic hoặc do suy hô hấp

Kết luận: gây mê bằng sevoflurane và không sử dụng thuốc giãn cơ có hiệu quả gây mê tốt

đảm bảo cho phẫu thuật BN được rút NKQ sớm và không có biến chứng về hô hấp sau phẫu thuật

* Từ khóa: Bệnh nhược cơ; Sevoflurane; Thuốc giãn cơ; Phẫu thuật cắt tuyến ức

SEVOFLURANE ANESTHESIA WITHOUT MUSCLE RELAXANTS

FOR THORACOSCOPIC THYMECTOMY

IN MYASTHENIA GRAVIS

SUMMARY

19 myasthenia gravis (MG) patients (class I, IIA, IIB) undergoing thoracoscopic thymectomy

were anesthezied with sevoflurane and without muscle relaxant

Results: time for a loss of eyelid reflex was 110.34 seconds, time for decrease of RE, SE <

50 was 154.23 seconds; setting up of intubation was 6.8 minutes; the intubating conditions:

excellent 84.2%; good: 15.8%; no hemodynamic changes before, after intubating and during

surgery; surgeons’ satisfaction with anesthesia: very satisfied 94.7%; quite satisfied: 5.3%

Trang 2

180

100% of patients were successfully extubated in the operating room and none had to be reintubated due to myasthenic crisis or respiratory failure

Conclusion: our experience indicated that sevoflurane anesthesia without muscle relaxants can be safety applied for thoracoscopic thymectomy in MG patients

* Key words: Mysthenia gravis; Sevoflurane; Muscle relaxant; Thoracoscopic thymectomy

* Bệnh viện Quân y 103

** Đại học Y Hà Nội

Người phản hồi (Corresponding): Võ Văn Hiển (vanhien103@gmail.com)

Ngày nhận bài: 19/06/2014; Ngày phản biện đánh giá bài báo: 25/07/2014

Ngày bài báo được đăng: 08/08/2014

ĐẶT VẤN ĐỀ

Vô cảm cho phẫu thuật trên BN NC nói

chung và phẫu thuật cắt tuyến ức ở BN

NC nói riêng luôn là một thách thức lớn

đối với các nhà gây mê hồi sức do nó

đóng một vai trò hết sức quan trọng trong

thành công của phẫu thuật BN NC

thường nhạy cảm với các loại thuốc sử

dụng trong gây mê như thuốc ngủ, thuốc

giảm đau và thuốc giãn cơ ở các mức độ

khác nhau Đặc biệt, nếu sử dụng thuốc

giãn cơ sẽ có những nguy cơ cao như

không thể rút được ống NKQ ngay sau

mổ, BN phải thông khí nhân tạo kéo dài,

dẫn đến các nguy cơ khác như viêm phổi,

phế quản, cơn NC, cơn cholinergic… làm

ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị Chính vì

vậy, nhiều tác giả cho rằng không nên dùng

thuốc giãn cơ khi gây mê cho BN NC

nhằm tránh tác dụng phụ của thuốc Tuy

nhiên, nếu không dùng thuốc giãn cơ thì

sử dụng thuốc mê như thế nào để đảm

bảo cho việc đặt ống NKQ và thuận lợi

cho phẫu thuật, thời điểm rút ống NKQ và

tình trạng hô hấp sau phẫu thuật như thế

nào… là những vấn đề chưa được nghiên

cứu và đánh giá một cách có hệ thống

Vì vậy, nghiên cứu này nhằm mục tiêu:

Bước đầu đánh giá hiệu quả của phương

pháp gây mê bằng sevoflurane và không

sử dụng thuốc giãn cơ trong phẫu thuật cắt tuyến ức điều trị bệnh NC

ĐỐI TƯỢNG VÀ PHƯƠNG PHÁP

NGHIÊN CỨU

1 Đối tượng nghiên cứu

19 BN được chẩn đoán xác định NC

do u tuyến ức hoặc tăng sản tuyến ức có chỉ định phẫu thuật cắt tuyến ức nội soi tại Khoa Gây mê Hồi sức, Bệnh viện

Quân y 103 từ 01 - 2011 đến 3 - 2014

2 Phương pháp nghiên cứu

* Phương pháp gây mê:

BN khi vào phòng mổ được thiết lập hai đường truyền tĩnh mạch ngoại vi bằng catheter 18G (một đường sử dụng thuốc

mê và một đường sử dụng thuốc khác) truyền dung dịch natriclorua 0,9% và đường động mạch quay để theo dõi huyết

áp xâm nhập

Lắp đặt hệ thống theo dõi bằng monitor Datex Omeda (GE, Mỹ) với các chỉ số: điện tim ở đạo trình DII, nhịp tim,

độ bão hòa oxy (SpO2), áp lực CO2 cuối thì thở ra (PetCO2), theo dõi nồng độ sevorane cuối thì thở ra (EtSevorane), huyết áp động mạch xâm nhập Theo dõi

độ mê qua hệ thống Datex-Ohmeda S/5TM Entropy Module với hai chỉ số SE

Trang 3

181

và RE, theo dõi mức độ liệt cơ trong quá

trình phẫu thuật bằng máy kích thích thần

kinh với TOF mode (kích thích 60 mA

trong 20 giây) tại vị trí thần kinh trụ tay

trái

BN được thở oxy qua mũi với tốc độ

2 lít/phút Tiến hành tiêm sufentanil 0,5

μg/kg cân nặng, sau 5 phút tiếp tục tiêm

propofol với liều 2,5 - 3 mg/kg Sau khi

BN mất phản xạ mi mắt, các chỉ số RE,

SE < 50, phun tê vùng hầu họng, nắp

thanh môn, dây thanh âm bằng lidocain

spray 10% và gây tê thanh khí quản bằng

lidocain 2% 5 ml qua màng nhẫn giáp,

sau đó tiến hành đặt ống NKQ Univent

(Fuji System, Nhật Bản) Dùng ống nội soi

phế quản mềm để xác định vị trí của ống

NKQ và vị trí của bóng chẹn phế quản

Kiểm tra lại một lần nữa vị trí của ống

NKQ và bóng chẹn phế quản bằng cách

nghe rì rào phế nang ở hai phổi

Duy trì thông khí nhân tạo với mode

A/C bằng máy thở Datex - Omeda

Advance với các chỉ số FiO2 = 60%, f = 14

lần/phút; Vt = 10 ml/kg cân nặng và được

điều chỉnh sao cho giá trị của PetCO2

trong khoảng 28 - 32 mmHg Khi thông

khí một phổi, tiến hành bơm 5 - 6 ml

không khí vào bóng chẹn phế quản và cài

đặt Vt = 6 - 8 ml/kg, f = 16 - 18 lần/phút,

FiO2 = 100% được điều chỉnh sao cho

SpO2 > 95%, P-peak < 30 cmH2O,

PetCO2 < 35 mmHg

Duy trì EtSevoflurane mức 1,5 - 2

MAC (với FGF < 1 lít/phút, FiO2= 60%)

và thuốc giảm đau sufentanil qua bơm

tiêm điện với tốc độ 0,2 μg/kg/giờ

Ngừng sufentanil 20 phút trước khi kết

thúc phẫu thuật, ngừng sevoflurane khi

bắt đầu đóng vết mổ Tiếp tục giảm đau

cho BN bằng paracetamol (biệt dược

perfangan 1 g/100 ml) truyền tĩnh mạch chậm trong vòng 15 phút BN được rút ống NKQ ngay tại phòng mổ khi có đủ điều kiện Sau rút ống NKQ, cho BN thở oxy hỗ trợ qua mũi 2 lít/phút và chuyển về khu hậu phẫu để tiếp tục theo dõi

* Các chỉ tiêu nghiên cứu:

* Đánh giá các mốc thời gian:

- Thời gian mất phản xạ mi mắt: thời gian bắt đầu tiêm propofol vào tĩnh mạch cho đến khi BN mất phản xạ mi mắt

- Thời gian đặt ống NKQ: tính từ khi đưa đèn soi thanh quản vào miệng BN cho đến khi đặt ống NKQ và cuff chẹn phế quản vào đúng vị trí

- Thời gian phẫu thuật

- Thời gian gây mê

- Thời gian mở mắt: tính từ khi ngừng thuốc mê đến khi BN mở mắt khi gọi

- Thời gian rút ống NKQ: tính từ khi ngừng thuốc mê đến khi rút ống NKQ

- Thời gian nhận thức bản thân: tính từ khi ngừng thuốc mê đến khi BN nhận thức đúng về bản thân (tên, tuổi, không gian, thời gian)

* Đánh giá điều kiện đặt ống NKQ:

- Thang điểm đánh giá điều kiện đặt ống NKQ (theo Viby- Mogensen J và CS [4])

Bảng 1: Thang điểm đánh giá điều kiện

đặt ống NKQ

Mức độ di động của hàm

Di động (1 điểm)

Không di động (3 điểm)

Di động 1 phần (2 điểm) Thông khí

bằng mask

Dễ dàng thông khí bằng mask (1 điểm)

Không thể thông khí bằng mask

Trang 4

182

Thông khí bằng mask khó khăn (2 điểm)

(3 điểm)

Mức độ nhìn

thấy khe

thanh âm

Nhìn rõ khe thanh âm (1 điểm)

Không nhìn thấy khe thanh âm và nắp thanh môn (3 điểm)

Nhìn thấy một phần khe thanh

âm (2 điểm)

Vị trí dây

thanh

Dây thanh mở (1 điểm)

Khe thanh đóng hoặc dây thanh di động (3 điểm)

Dây thanh ở vị trí trung gian (2 điểm)

Mức độ di

chuyển của

BN tại thời

điểm đặt ống

NKQ

Nằm yên không nhúc nhích (1 điểm)

Ho liên tục hoặc dịch chuyển có mục đích (3 điểm)

1 hoặc 2 tiếng

ho (2 điểm)

- Số lần thực hiện động tác đặt ống

NKQ cho đến khi đặt được ống NKQ

thành công

- Biến đổi mạch, huyết áp động mạch

tại các thời điểm trước và sau khi đặt ống

NKQ: T0: (trước gây mê (giá trị nền); T1

(ngay trước khi đặt ống NKQ); T2 (ngay

sau khi đặt ống NKQ); T3 (2 phút sau khi

đặt ống NKQ); T4 (5 phút sau khi đặt ống

NKQ)

* Đánh giá mức độ thuận lợi của phẫu

thuật:

- Biến đổi huyết động tại các thời điểm

trong phẫu thuật: T5 (ngay trước khi rạch

da); T6 (ngay sau khi rạch da); T7 (5 phút

sau khi rạch da); T8 (đặt trocar vào

khoang phế mạc); T9 (bóc tách tuyến ức);

T10 (đặt dẫn lưu khoang màng phổi); T11

(bóp bóng làm nở phổi); T12 (khâu vết

mổ); T13 (trước khi rút ống NKQ); T14 (sau

rút ống NKQ 5 phút)

- Đánh giá mức độ xẹp phổi chủ động:

phổi xẹp hoàn toàn (3 điểm); phổi xẹp

một phần không ảnh hưởng đến trường

mổ (2 điểm); phổi xẹp một phần ảnh hưởng nhiều đến trường mổ (1 điểm);

phổi không xẹp (0 điểm)

- Mức độ hài lòng của phẫu thuật viên với phương pháp vô cảm

- Đánh giá ảnh hưởng của sevoflurane lên mức độ liệt cơ: dựa trên chỉ số TOF (train of four) đo khi BN bắt đầu mất tri giác (được xác định là giá trị ban đầu) và tại các thời điểm 30 phút, 60 phút, 90 phút và khi BN tỉnh trở lại

* Đánh giá tình trạng hô hấp sau rút

giờ/lần sau khi rút ống NKQ Đánh giá xét nghiệm khí máu động mạch tại các thời điểm trước mổ, khi thông khí hai phổi, thông khí một phổi, 2 giờ sau rút ống NKQ, ngày thứ nhất, ngày thứ hai và ngày thứ ba sau phẫu thuật

* Xử lý số liệu: theo phần mềm thống

kê y học SPSS 11.0 với kết quả ở dạng tỷ

lệ %, giá trị trung bình (X ) và độ lệch chuẩn (SD) Sự khác biệt có ý nghĩa thống kê khi p < 0,05

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ

BÀN LUẬN

1 Đặc điểm của BN nghiên cứu

Bảng 2: Một số đặc điểm của BN

nghiên cứu

Độ NC theo

Trang 5

183

4 (21,1%)

Các mốc

thời gian

trung bình

(Min -

Max)

Thời gian mắc bệnh (tháng)

50,2 ± 6,5 (3 - 90) Thời gian mất

phản xạ mi mắt

(giây)

110,3 ± 23,7 (65 - 140) Thời gian đạt chỉ

số RE, SE < 50

(giây)

154,2 ± 39,8 (115 - 186) Thời gian đặt ống

NKQ (phút)

6,8 ± 2,5 (5,0 - 12,0)

Thời gian phẫu thuật (phút)

137,2 ± 25,6 (95 - 145) Thời gian gây mê

(phút)

150,4 ± 23,5

115 - 176 Thời gian mở mắt

(phút)

10,4 ± 3,4 (8,5 - 15) Thời gian rút ống

NKQ (phút)

12,7 ± 3,5 (7 - 16) Thời gian nhận

thức bản thân (phút)

14,5 ± 2,2 (8 - 17)

2 Điều kiện đặt ống NKQ và mức độ thuận lợi của phẫu thuật

* Điều kiện đặt ống NKQ:

Bảng 3:

100% BN đặt ống NKQ thành công sau một lần duy nhất với điều kiện đặt ống NKQ

được chấp nhận, trong đó rất tốt (84,2%); tốt (15,8%)

* Biến đổi huyết động trước và sau khi

đặt ống NKQ và tại các thời điểm trong

quá trình phẫu thuật:

Sau khi khởi mê, nhịp tim và huyết áp

động mạch có xu hướng giảm so với thời

điểm ban đầu T0 (p < 0,05), sau khi đặt

ống NKQ, mạch và huyết áp động mạch

tăng hơn so với thời điểm trước đặt ống

NKQ (p < 0,05) Các thời điểm khác trong

quá trình phẫu thuật, nhịp tim và huyết áp

động mạch đều trong giới hạn bình thường

* Mức độ thuận lợi của phẫu thuật:

- Đánh giá mức độ xẹp phổi chủ động:

phổi xẹp hoàn toàn (3 điểm): 18 BN (94,7%); phổi xẹp một phần không ảnh hưởng đến trường mổ (2 điểm): 1 BN (5,3%); phổi xẹp một phần ảnh hưởng nhiều đến trường mổ (1 điểm): 0 BN (0%); phổi không xẹp (0 điểm): 0 BN (0%)

- Mức độ hài lòng của phẫu thuật viên:

Rất hài lòng: 18 BN (94,7%); hài lòng nhiều: 1 BN (5,3%); hài lòng vừa: 0 BN (0%); hài lòng ít: 0 BN (0%); không hài lòng: 0 BN (0%)

- Ảnh hưởng của sevoflurane lên mức độ liệt cơ:

Trang 6

184

Hình 1: Biến đổi chỉ số TOF tại các thời điểm trong quá trình gây mê

(*): Khác biệt có ý nghĩa thống kê so với thời điểm ban đầu (p < 0,05)

Chỉ số TOF tại các thời điểm 30, 60 và 90 phút trong phẫu thuật thấp hơn thời điểm ban đầu có ý nghĩa thống kê (p < 0,05)

3 Biến đổi các chỉ số về hô hấp sau phẫu thuật

- Biến đổi tần số thở và SpO2 sau rút ống NKQ: tần số thở và SpO2 sau khi rút ống NKQ nằm trong giới hạn bình thường, không có BN nào phải đặt lại ống NKQ do biến chứng cơn NC, cơn cholinergic hoặc do suy hô hấp sau mổ

- Kết quả xét nghiệm khí máu động mạch:

Bảng 4:

CHỈ TIÊU

(*): Khác biệt có ý nghĩa thống kê so với thời điểm trước mổ (p < 0,05)

PaO2 tại thời điểm 2 giờ sau rút ống NKQ thấp hơn thời điểm trước mổ, các thời điểm thông khí một phổi, thông khí hai phổi cao hơn trước mổ (p < 0,05) Các giá trị

pH, PaCO2 tại các thời điểm không có sự khác biệt có ý nghĩa thống kê (p > 0,05)

Trang 7

185

BÀN LUẬN

Nhược cơ là một bệnh tự miễn mắc phải

có liên quan đến hoạt động và bệnh lý của

tuyến ức Nhiều nghiên cứu trong và ngoài

nước đều khẳng định phẫu thuật cắt tuyến

ức là một trong những phương pháp điều trị

có hiệu quả và giữ vai trò chủ đạo trong hệ

thống phương pháp điều trị bệnh NC [1, 2]

Một trong những khó khăn đối với bác sỹ

gây mê là lựa chọn phương pháp gây mê và

sử dụng thuốc mê như thế nào để đảm bảo

an toàn cho BN, đặc biệt là vấn đề hô hấp

sau mổ Chevalley C và CS [3] nhận thấy

việc thông khí nhân tạo sau phẫu thuật ở

BN NC thường phải áp dụng cho BN được

gây mê cân bằng ứng với tỷ số

chênh (odd ratio) là 4,2 (p = 0,03) và trong

trường hợp sử dụng thuốc giãn cơ, chỉ số

này là 13,9 (p = 0,009) Chính vì vậy, khi

gây mê trên BN NC, đa số tác giả đều

khuyến cáo nên sử dụng các thuốc ít ảnh

hưởng đến dẫn truyền thần kinh cơ và

không nên sử dụng thuốc giãn cơ Nghiên

cứu này sử dụng sevoflurane, là thuốc mê

bốc hơi thông dụng nhất hiện nay, có đặc

tính an toàn, đảm bảo độ mê sâu, ít gây

biến đổi huyết động, chất lượng tỉnh tốt Kết

quả nghiên cứu cho thấy: khi khởi mê bằng

propofol liều 2,5 - 3 mg/kg cân nặng kết hợp

với thuốc giảm đau sufentanil 0,5 μg/kg, BN

nhanh chóng đạt được độ mê thích hợp,

100% BN có điều kiện đặt ống NKQ chấp

nhận trên lâm sàng (đánh giá theo thang

điểm của Viby Mogensen) và đều đặt NKQ

thành công sau một lần duy nhất Thời gian

để đặt và chỉnh ống vào đúng vị trí là 6,8

phút Huyết động trước và sau khi đặt ống

NKQ cũng như trong quá trình phẫu thuật

đều nằm trong giới hạn bình thường Kết

quả của chúng tôi tương tự như Heike K [5],

Orathy P.S [8] Ngoài ra, chúng tôi cũng

nhận thấy trong phẫu thuật lồng ngực nói

chung và nội soi lồng ngực nói riêng, nhu

cầu giãn cơ để đảm bảo cho phẫu thuật là

không nhiều và ít ảnh hưởng đến thao tác của phẫu thuật viên trong trường mổ Theo đánh giá mức độ hài lòng của phẫu thuật viên bao gồm: đánh giá về mức độ xẹp phổi chủ động và mức độ thuận lợi của phẫu thuật, tỷ lệ rất hài lòng (94,7%) và hài lòng nhiều (5,3%), không có trường hợp nào phẫu thuật viên không hài lòng về phương

pháp gây mê nói trên

Chúng tôi thấy BN NC hay nhạy cảm với sevoflurane Sevoflurane làm giảm chỉ số TOF từ giá trị ở thời điểm ban đầu là 91,6% xuống giá trị trung bình trong suốt cuộc mổ

là 77,5% Tuy nhiên, các giá trị của TOF đều trở về giá trị ban đầu và không có sự khác biệt khi kết thúc cuộc mổ (đã ngừng thuốc mê) Theo Bowman [10], sevoflurane

có tác dụng ức chế dẫn truyền thần kinh cơ

do tác dụng ức chế giải phóng acetylcholin

ở khoang trước synap và ức chế thụ cảm thể cholinergic ở màng sau synap Tuy nhiên, nguyên nhân làm mất dần đáp ứng

co cơ sau khi kích thích liên tục (TOF) là do tác dụng ức chế giải phóng acetylcholin ở màng trước synap Theo Nitahara K [6], mức độ giảm chỉ số TOF ở BN NC phụ thuộc vào nồng độ của sevoflurane: nồng

độ 1,7% làm giảm chỉ số TOF ban đầu là 81% xuống mức 64% và ở nồng độ 3,4% giảm xuống mức 43%

Về thời điểm rút ống NKQ sau mổ, nghiên cứu cho thấy 100% BN đủ điều kiện

để rút ống NKQ ngay sau phẫu thuật Thời gian rút ống NKQ 12,7 phút Sau khi rút ống NKQ, các chỉ số về hô hấp như tần số thở, SpO2 và các xét nghiệm về khí máu trong vòng 72 giờ sau phẫu thuật đều nằm trong giới hạn bình thường Không có BN nào phải đặt lại ống NKQ do cơn NC, hoặc cơn cholinergic hoặc do suy hô hấp sau phẫu thuật Kết quả này tương tự như Nitahara K [6], Giorgio D.R [7], Orathy P.S [8], Kiran U [9] Rút ống NKQ ngay sau mổ là một trong những ưu điểm của phương pháp gây mê

Trang 8

186

không sử dụng thuốc giãn cơ ở BN NC BN

không phải thở máy, không có tình trạng ứ

trệ do tăng tiết dịch đường hô hấp do đó

tình trạng nhiễm khuẩn đường hô hấp và

kiểm soát được nhiễm khuẩn do thở máy

kéo dài, BN nhanh chóng ổn định sức khỏe

sau phẫu thuật Ưu điểm này làm tăng hiệu

quả điều trị bệnh NC, giảm bớt ngày nằm

điều trị và giảm bớt chi phí cho BN cũng

như Ngành Y tế

KẾT LUẬN

Gây mê bằng sevoflurane không sử

dụng thuốc giãn cơ đảm bảo hiệu quả vô

cảm tốt cho phẫu thuật nội soi cắt tuyến ức

điều trị bệnh NC 100% BN rút được ống

NKQ ngay sau cuộc mổ Không có BN nào

phải đặt lại ống NKQ do biến chứng suy hô

hấp, cơn NC, cơn cholinergic sau

mổ

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Lê Việt Anh Nghiên cứu ứng dụng phẫu

thuật nội soi lồng ngực cắt tuyến ức điều trị bệnh

NC Học viện Quân y 2011

2 Nguyễn Văn Chừng, Trần Đỗ Anh Vũ Gây

mê hồi sức trong phẫu thuật cắt u tuyến ức trên

BN NC Y học Thành phố Hồ Chí Minh 2005, 9

(1), tr.45-50

3 Chevalley C, Spiliopoulos A, Perrot M et

al Perioperative medical management and

outcome following thymectomy for myasthenia

gravis General anesthesia 2001, 48, pp.446-451

4 Viby Mogensen J, Fuchs Buder T, Claudius C et al Good clinical research

practice in pharmacodynamic studies of neuromuscular blocking agents II: the Stockholm revision Acta Anaesthesiol Scand

2007, 51, pp.789-908

5 Heike K, Stephan Z, Jan-Uwe S et al

Airway injuries after one-lung ventilation: A comparision between double-lumen tube and endobronchial blocker Anesthesiology 2006,

105, pp.471-477

6 Nitahara K, Sugi Y, Higa K et al

Neuromuscular effects of sevoflurane in myasthenia gravis patients British Journal of Anesthesia 2007, 98 (3), pp.337-341

7 Giorgio D R, Cecilia C, Laura D et al

Propofol or sevoflurane anesthesia without muscle relaxants allow the early extubation of myasthenic patients Canadian Journal of Anesthesia 2003, 50 (6), pp.547-552

8 Orathy P.S, Parvatha P, Ponnuswamy K

et al Propofol or sevoflurane anesthesia without

muscle relaxants for thymectomy in myasthenia gravis Indian Journal Thorac Cardiovasc Surg

2004, 20, pp.83-87

9 Kiran U, Choudhury M, Saxena N et al

Sevoflurane as a sole anaesthetic for thymectom y in m yasthenia gravis Acta Anaesthesiol Scand 2000, 44, pp.351-353

10 Bowman WC Prejunctional and

postjunctional cholinoreceptors at the neuromuscular junction Anesth Analg 1980, 59, pp.935-943.

Ngày đăng: 20/01/2020, 13:58

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w