1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Khảo sát tỉ lệ gãy xương đốt sống và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân cao tuổi giảm mật độ xương

7 74 1

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 483,25 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nội dung của bài viết trình bày về gãy xương đốt sống ở người cao tuổi có giảm mật độ xương, khảo sát tỉ lệ gãy xương đốt sống ở người cao tuổi có giảm mật độ xương là khá cao và có mối liên quan giữa giới, tuổi, chỉ số T Score, tiền sử dùng corticosteroid, tiền sử gãy xương, tiền sử té ngã, số lần sinh con với tình trạng gãy xương đốt sống.

Trang 1

LIÊN QUAN TRÊN BỆNH NHÂN CAO TUỔI GIẢM MẬT ĐỘ XƯƠNG 

Nguyễn Thái Hòa***, Cao Thanh Ngọc**, Nguyễn Đình Khoa*  

TÓM TẮT 

Mục  tiêu:  Gãy xương đốt sống (GXĐS) ở người cao tuổi có giảm mật độ xương thường không có triệu 

chứng. Mục tiêu của nghiên cứu này là để khảo sát tỉ lệ gãy xương đốt sống ở người cao tuổi và tìm hiểu các yếu 

tố liên quan đến tình trạng gãy xương đốt sống.  

Đối  tượng  và  phương  pháp  nghiên  cứu:  Nghiên cứu  cắt ngang được thực hiện tại khoa nội cơ xương 

khớp bệnh viện Chợ Rẫy trong khoảng thời gian từ tháng 1 – 5/2013, khảo sát gãy xương đốt sống ngực và thắt  lưng. Chẩn đoán gãy xương đốt sống bằng phương pháp Genant’s, mật độ xương được đo bằng DXA và tìm  hiều các yếu tố liên quan đến gãy xương đốt sống.  

Kết quả: Có 96 bệnh nhân (BN) được đưa vào trong thời gian nghiên cứu. Độ tuổi trung bình là 73,4 ± 8, 

nữ chiếm 77,1%. 87,6% BN loãng xương, 12,4% BN thiếu xương. Tỉ lệ gãy xương đốt sống là 46,8%. Tuy  nhiên gãy xương đốt sống tăng theo tuổi và cao nhất ở nhóm đối tượng trên 80 tuổi với 68%. Ngược lại chỉ số T  Score giảm ở BN có gãy xương. Gãy bờ (68%) và gãy lún (62%) là hai kiểu gãy thường gặp nhất. Tần suất gãy  xương tập trung vào vùng nối giữa ngực và thắt lưng (T12 và L1) với 28%. Có mối liên quan giữa tình trạng  gãy xương đốt sống  với  giới  (OR=2,74,  1,03‐7,34,  p=0,039),tiền  sử  dùng  corticosteroid  (OR=8,05,  3,05‐21,2,  p=0,000), tiền sử té ngã (OR=1,41), tiền sử gãy xương sau 50 tuổi (OR=2,63), số lần sinh con. Tuy nhiên chưa  thấy được mối liên quan giữa nhẹ cân, hút thuốc lá, uống rượu, mãn kinh sớm với tình trạng gãy xương đốt  sống  

Kết luận: Nghiên cứu của chúng tôi đã cho thấy rằng tỉ lệ GXĐS ở người cao tuổi có giảm mật độ xương là 

khá cao và có mối liên quan giữa giới, tuổi, chỉ số T Score, tiền sử dùng corticosteroid, tiền sử gãy xương, tiền sử 

té ngã, số lần sinh con với tình trạng gãy xương đốt sống. 

Từ khóa: Gãy xương đốt sống, cao tuổi, giảm mật độ xương 

ABSTRACT 

PREVALENCE AND RISK FACTORS OF RADIOGRAPHIC VERTEBRAL FRACTURE  

IN THE ELDERLY WITH LOW BONE MINERAL DENSITY 

Nguyen Thai Hoa, Cao Thanh Ngoc, Nguyen Dinh Khoa  

* Y Hoc TP. Ho Chi Minh * Vol. 18 ‐ Supplement of No 1 ‐ 2014: 472 ‐ 478 

Objectives:  Vertebral fracture (VE) in the  elderly  with  low  bone  mineral  density  usually  had  no  specific 

symptoms.  The  aim  of  study  was  estimated  the  prevalence  of  radiographic  vertebral  fracture  and  investigate  factors associated with this condition in the elderly.  

Methods: This cross sectional study was conducted in the rheumatology department, Cho Ray hospital from 

1 – 5/2013. Thoracic and lumbar spine radiographs were obtained, and vertebral fractures were evaluated using  Genant’s semiquantitative method. Bone mineral sensity (BMD) were measured by dual X ray absorptiometry  (DXA) and identified risk factors for vertebral fractures.  

Results:  A  total  96  respondents  were  recruited.  The  mean  age  was  73.4  ±  8  years  old  with  females 

constituted 77.1%. 87.6% had osteoporosis and 12,4% had osteopenia. The prevalence of vertebral fracture was 

* Bệnh viện Chợ Rẫy ** Đại Học Y Dược TPHCM *** Bệnh viện Đại Học Y Dược Cần Thơ  

Trang 2

46.8%. However, the risk of fracture increased with advancing age, such that from the age 80+0.68% had at least  one  VE.  In  constrast,  T  Score  reduced  in  the  fracture  patient.  The  most  common  type  of  fracture  were  wedge  (68%) and compression (62%). Although fracture occurred in all vertebrae, most (28%) occurred at the T12‐L1.  The model for vertebral fractures showed an association with sex (OR=2.74, 1.03‐7.34, p=0.039), corticosteroid  intake (OR=8.05, 3.05‐21.2, p=0.000), fall history (OR=1.41), history of fracture after 50 years old (OR=2.63).  There  was  no  significance  association  between  vertebral  farcture  and  smoking,  alcohol,  early  menopause,  underweight.  

Conclusions: This study indicates that the prevalence of vertebral fractures is high in the elderly. Sex, age, 

T  Score,  corticosteroid  intake,  fall  history,  history  of  fracture  after  50  years  old  were  associated  with  vertebral  fracture. 

Key words: Vertebral fracture, elderly, low bone mineral density 

ĐẶT VẤN ĐỀ 

Hiện  nay  xu  hướng  già  hóa  về  dân  số  nói 

chung đã và đang đặt ra nhiều vấn đề cho xã hội 

nói  chung  và  ngành  y  tế  nói  riêng.  Theo  thống 

kê Ủy Ban Người Cao Tuổi Việt Nam đến năm 

2029 tỉ lệ người cao tuổi sẽ đạt 16,8% dân số.  

Một trong những hệ quả của lão là bộ xương 

cơ thể bị hao mòn theo thời gian dẫn đến tổn hại 

cấu trúc làm cho xương dễ gãy. Loãng xương là 

một  trong  những  bệnh  thường  hay  gặp  ở  phụ 

nữ sau mãn kinh và đàn ông sau 60 tuổi. Đây là 

bệnh  tiến  triển  âm  thầm  không  triệu  chứng 

nhưng đáng sợ vì hệ quả của nó là gãy xương 

Gãy  xương  đốt  sống  (GXĐS)  là  một  dạng 

phổ  biến  nhất  của  gãy  xương  do  loãng  xương, 

bệnh  thường  đi  kèm  với  các  triệu  chứng  như 

đau lưng mạn tính, nặng hơn là suy kiệt thể lực 

dẫn  đến  tàn  phế,  giảm  chất  lượng  sống.  Trong 

số  các  trường  hợp  GXĐS  chỉ  có  30%  BN  đến 

bệnh viện vì triệu chứng mà thôi. Cho nên việc 

xác  định  các  yếu  tố  liên  quan  đến  GXĐS  đóng 

một  vai  trò  rất  quan  trọng  nhằm  sàng  lọc  ra 

được  những  trường  hợp  có  nguy  cơ  cao  GXĐS 

từ  đó  có  thể  chẩn  đoán,  dự  phòng  và  điều  trị 

sớm  với  mục  tiêu  giảm  thiểu  những  di  chứng 

trầm  trọng  do  gãy  xương  gây  nên,  đặc  biệt  là 

trên những người cao tuổi.  

Tại Việt Nam, các nghiên cứu về gãy xương 

đốt  sống  vẫn  còn  khá  ít  và  trong  đó  chưa  có 

nghiên cứu nào được thực hiện trên BN cao tuổi. 

Vì vậy, nghiên cứu của chúng tôi nhằm khảo sát 

tỉ lệ gãy xương đốt sống và các yếu tố liên quan  trên những BN này.  

ĐỐI TƯỢNG ‐ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 

‐ Nghiên cứu mô tả cắt ngang có phân tích, 

thực hiện trên 96 BN cao tuổi đang nhập viện tại  khoa nội cơ‐xương‐khớp bệnh viện Chợ Rẫy từ  tháng  1‐5/2013,  và  được  chẩn  đoán  xác  định 

giảm mật độ xương. 

‐  Tiêu  chuẩn  loại  trừ:  BN  đang  có  các  bệnh 

nguy kịch hoặc không thể trả lời những câu hỏi. 

‐ Quy trình lấy mẫu:  

+ Bước 1: BN cao tuổi có giảm mật độ xương  đang  nhập  viện  tại  khoa  cơ  xương  khớp  bệnh  viện Chợ Rẫy. 

+ Bước 2: Giải thích với BN về lý do nghiên  cứu,  nếu  được  sự  đồng  ý  chúng  tôi  cho  BN  ký  vào giấy tình nguyện tham gia nghiên cứu.  +  Bước  3:  Chụp  x  quang  đốt  sống  ngực  và  đốt sống thắt lưng. 

+ Bước 4: Tiến hành phỏng vấn các đặc điểm 

về nhân khẩu xã hội, bệnh học, lối sống.  

‐  Số  liệu  được  trình  bày  dưới  dạng  trung  bình ± độ lệch chuẩn, giá trị lớn nhất, giá trị nhỏ  nhất, tần số, tỉ lệ phần trăm. Các phép kiểm Chi  bình  phương,  Fisher’s  exact,  t‐test,  hồi  quy  logistic  đa  biến.  P  <  0,05  được  xem  là  sự  khác  biệt có ý nghĩa thống kê. Số liệu được xử lý bằng  phần mềm SPSS 16.0. 

KẾT QUẢ  

Trang 3

Trong  5  tháng  thực  hiện,  có  96  BN  gồm  74 

nữ  và  22  nam.  Đặc  điểm  các  đối  tượng  nghiên 

cứu được mô tả trong bảng 1. Tuổi trung bình là 

73,4 ± 8, trong các yếu tố liên quan tiền sử dùng 

corticosteroid  chiếm  tỉ  lệ  cao  nhất  với  32,4%  và 

thấp nhất là uống rượu chỉ với 7,6%.  

Có 84 (87,6%) BN loãng xương (biểu đồ 1) và 

45  (46,8%)  BN  gãy  xương  đốt  sống  (biểu  đồ  2), 

trong đó gặp nhiều nhất là gãy cùng lúc cả đốt 

sống ngực và thắt lưng với 48%. 

Trong bảng 2: gãy bờ và gãy lõm là hai loại 

gãy  xương  đốt  sống  thường  gặp  nhất  ở  người 

cao  tuổi  có  giảm  mật  độ  xương.  Phần  lớn  các 

trường  hợp  GXĐS  rơi  vào  vị  trí  vùng  chuyển 

tiếp giữa ngực và thắt lưng, có đến 14 lượt gãy ở 

T12 và 12 lượt gãy ở L1.  

Về mối liên quan giữa tình trạng gãy xương 

đốt sống với các yếu tố được thể hiện trong bảng 

3 và 4. Ở nhóm GXĐS có tuổi cao hơn, sinh con 

nhiều  hơn  và  chỉ  số  T  Score  thấp  hơn  so  với 

nhóm không GX. Về giới cũng nhận thấy nguy 

cơ  gãy  xương  ở  nữ  cao  hơn  nam  gấp  2,74  lần 

(OR=2,74; 1,03‐7,34; p=0,044).  

Bảng 1: Đặc điểm đối tượng nghiên cứu 

Đặc điểm Tần số (%) N=96

Tuổi, năm (TB ± ĐLC) 73,4 ± 8

Giới Nam 22 (22,9)

Nữ 74 (77,1)

TS dùng corticosteroid Có 32,4

Không 67.6

TS té ngã Có 22,9

Không 77,1

TS gãy xương Có 19

Không 81 Nhẹ cân Có 21,9

Không 78,1 Hút thuốc lá Có 11,4

Không 88,6 Uống rượu Có 7,6

Không 92,4 Mãn kinh sớm Có 15,9

Không 84,1

Những  bệnh  nhân  có  tiền  sử  dùng 

corticosteroid  nguy  cơ  GXĐS  cao  gấp  8,05  lần 

(OR=8,05;3,05‐21,2;p=0,000).  Cũng  ghi  nhận 

được  mối  liên  quan  giữa  BN  có  tiền  sử  té  ngã,  tiền sử đã gãy xương, số lần sinh con với GXĐS.  Tuy  nhiên  chưa  thấy  được  mối  liên  quan  giữa  tình  trạng  mãn  kinh  sớm,  hút  thuốc  lá,  uống  rượu.  

Bảng 2: Đặc điểm gãy xương đốt sống  

Đặc điểm Tần suất (%)

Gãy bờ 68 Gãy lún 62

Gãy lỏm 30

Bảng 3: Mối liên quan giữa tuổi, chỉ số T Score, số 

lần sinh con với tình trạng gãy xương đốt sống 

Tuổi 76 ± 7,5 71 ± 7,7 0,001

T score CXĐ -3,5 ± 1 -2,7 ± 1,2 0,000

T score CSTL -4 ± 0,9 -3,1 ± 1,3 0,000

Số con 6,7 ± 3,4 5,3 ± 2,7 0,021

Bảng 4: Mối liên quan giữa giới, chỉ số nhân trắc, 

bệnh học, lối sống với tình trạng GXĐS  

Giới Nữ (53,1%) Nam (29,2%) 0,04

TS corticosteroid 24 (79,4%) 21 (32,4%) 0,000

TS té ngã 15 (69,2%) 30 (40,5%) 0,011

TS gãy xương 13 (75%) 32 (41,2%) 0,006 Nhẹ cân 12 (60,9%) 33 (43,9%) 0,15 Mãn kinh sớm 9 (54,5%) 37 (46,2%) 0,703 Hút thuốc lá 2 (25%) 43 (50,5%) 0,128 Uống rượu 1 (25%) 44 (49,5%) 0,274

BÀN LUẬN 

Tuổi trung bình trong nghiên cứu của chúng  tôi cao hơn so với các nghiên cứu khác về loãng  xương(2,16), điều này có thể do sự khác biệt về nơi  lấy mẫu và cách chọn mẫu. Về giới, tỉ lệ BN nữ  trong nghiên cứu cao hơn hẳn so với nam (tỉ lệ  nữ/nam là 3,3/1). Theo y văn, nữ giới có tần suất  mắc  bệnh  cao  hơn  nam  giới,  các  nghiên  cứu  khác cũng có kết quả tương tự(2,16).  

Trong  số  các  yếu  tố  được  khảo  sát  tiền  sử  dùng corticosteroid chiếm tỉ lệ cao nhất (32,4%),  corticosteroid  ảnh  hưởng  lên  xương  bè  nhiều  hơn vỏ xương như: xương đốt sống, xương sườn 

và đầu xương dài. Cho đến nay không có liều an  toàn đối với nguy cơ loãng xương cũng như gãy 

Trang 4

xương  cho  dù  dùng  liều  5mg  hay  đường  khí 

dung, do đó nguy mất xương và gãy xương tăng 

theo  liều(17),  các  tài  liệu(1,2)  cho  rằng  tiền  sử 

corticosteroid là một yếu tố nguy cơ quan trọng 

của GXĐS.  

Bảng 5: So sánh tỉ lệ GXĐS giữa các nghiên cứu 

Tác giả GXĐS

chung

GXĐS ngực

GXĐS lưng

Minh Châu (15) 33,3 %

A.W.L KWOK(6) 37,6 % 27,3 % 52,5 %

Hongwei Wang(19) 43 % 48,8 %

Chúng tôi 46,8 % 28 % 24 %

Kết  quả  nghiên  cứu  dịch  tể  học  về  gãy 

xương  đốt  sống  ở  người  cao  tuổi  tại  hai  bệnh 

viện  trường  đại  học  ở  Trùng  Khánh  –  Trung 

Quốc năm 2012 của tác giả Hongwei Wang và cs 

(19) cho thấy tỷ lệ gãy xương đốt sống thắt lưng là 

48,8%, gãy đốt sống ngực là 43% cao hơn nghiên 

cứu của chúng tôi do thời gian thực hiện tới 10 

năm  (2001  đến  2011)  và  lấy  tất  cả  những  bệnh 

nhân  gãy  xương  do  chấn  thương  chứ  không 

riêng  cho  bệnh  nhân  cao  tuổi  gãy  xương  do 

loãng  xương.  Nghiên  cứu  Trần  Hoàng  Minh 

Châu (15)  năm  2009  thực  hiện  tại  Quận  Gò  Vấp 

cho  thấy  tỉ  lệ  gãy  xương  đốt  sống  là  33%  thấp 

hơn chúng tôi vì thực hiện ở người trên 50 tuổi, 

tuổi trung bình 63,2.  

Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  tỉ  lệ  gãy  xương 

gần  tương  đương  với  Nhật  Bản  (37,6%)  nhưng 

cao  hơn  so  với  ba  nước  Hong  Kong  (18%), 

Indonesia (20%), Thailand (24,5%) khi so sánh tỉ 

lệ gãy xương đốt sống của bốn  nước  năm  2012 

của tác giả A.W.L KWOK và cs(6). Cho đến  nay 

chưa có một “tiêu chuẩn vàng” nào để xác định 

là  gãy  xương  đốt  sống  cả  vì  vậy  mà  số  liệu  về 

tần suất lưu hành và tỉ lệ mới mắc của người cao 

tuổi  dao  động  khá  lớn.  Mức  dao  động  lớn  này 

không  những  phụ  thuộc  vào  sự  khác  biệt  giữa 

các vùng địa lý, các vùng kinh tế sinh thái khác 

nhau  mà  còn  phụ  thuộc  định  nghĩa  thế  nào  là 

gãy  xương  đốt  sống.  Hiện  nay  chẩn  đoán  gãy 

xương đốt sống có thể bằng phương pháp định 

lượng  và  phương  pháp  bán  định  lượng  tuy 

nhiên phương pháp bán định lượng tỷ lệ dương 

tính  giả  cao  hơn(12)  điều  này  lý  giải  nghiên  cứu  chúng tôi tỉ lệ gãy xương cao hơn do nghiên cứu  của  A.W.L  KWOK(6)  dùng  phương  pháp  định  lượng  thường  được  dùng  nhiều  trong  các  nghiên cứu vể dịch tể học.    

Kết quả của chúng tôi cho thấy gãy bờ (68%) 

và  gãy  lún  (62%)  là  hai  dạng  gãy  xương  đốt  sống thường gặp nhất ở người cao tuổi có giảm  mật độ xương và thấp nhất là gãy lõm (30%), tác  giả Hồ Phạm Thục Lan (3)  với  nghiên  cứu  khảo  sát  quy  mô  gãy  xương  đốt  sống  ở  người  Việt  Nam  2011  tại  Thành  Phố  Hồ  Chí  Minh  bằng  phương  pháp  định  lượng  cũng  cho  kết  quả  tương tự.  

Tần suất gãy đốt sống tập trung cao nhất ở  vùng nối ngực – thắt lưng. Đốt sống T12 và L1 bị  gãy nhiều nhất khi có đến 14 và 12 lượt gãy. Đây 

là nơi chuyển tiếp từ cột sống ngực có độ còng  (Cyphosis)  và  cột  sống  lưng  có  độ  ưỡn  (Lordosis),  cột  sống  ngực  cứng  nhắc  do  có  khung sườn và cột sống thắt lưng có độ cử động 

tự do. Hơn nữa khi có một lực tác động vào thì  lực  này  thường  rơi  vào  vùng  T12  và  L1(11).  Nghiên cứu của Hongwei Wang(19) cũng cho kết  quả  tương  tự.  Tác  giả  Hồ  Phạm  Thục  Lan  khi  khảo sát xương đốt sống ở người Việt Nam thấy  rằng  chiều  cao  đốt  sống  từ  T10  đến  L5  có  khuynh  hướng  giảm  dần  theo  thời  gian  nên  ở  người cao tuổi tỉ lệ gãy đốt sống lưng cao hơn so  với gãy đốt sống ngực. 

Mối liên quan giữa các yếu tố chỉ số nhân  trắc, bệnh học, lối sống với tình  trạng  gãy  xương đốt sống 

Tuổi 

Là  yếu  tố  nguy  cơ  cao  của  gãy  xương  đốt  sống(6,7).  Kết  quả  chúng  tôi  cho  thấy  tuổi  trung  bình  của  nhóm  gãy  xương  76  (SD=7,5)  cao  hơn  nhóm không gãy xương 71 (SD=7,7) (p=0,001). Tỉ 

lệ  gãy  xương  tăng  theo  tuổi  bất  kể  giới  tính,  vùng địa dư, chủng tộc và thật vậy trong nghiên  cứu này tỉ lệ gãy xương đốt sống ở nhóm trên 80  tuổi chiếm cao nhất là 68% và sự khác biệt có ý  nghĩa giữa các nhóm tuổi. Các tác giả Hồ Phạm 

Trang 5

Thục  Lan(8,3),  Hongwei  Wang(19)  đều  có  cùng 

nhận xét. 

Giới 

Nữ  có  39  trường  hợp  gãy  xương  đốt  sống 

chiếm tỉ lệ 53,1% trong khi nam giới là 6 trường 

hợp chiếm 29,2%. Trong nghiên cứu của chúng 

tôi  cho  thấy  tỉ  lệ  gãy  xương  đốt  sống  ở  nữ  cao 

hơn so với nam giới, cụ thể nữ có nguy cơ gãy 

xương  đốt  sống  cao  gấp  2,74  lần  so  với  nam 

(p=0,044).  Nhiều  nghiên  cứu  cho  thấy  giới  nữ, 

đặc biệt là sau mãn kinh tỉ lệ gãy xương cao hơn 

nam(15,8), có thể do tình trạng thiếu hụt Estrogen 

sau tuổi mãn kinh(8) dẫn đến mất cân bằng giữa 

hai  quá  trình  tạo  xương  và  hủy  xương,  thiếu 

Estrogen  xương  trở  nên  xốp,  dòn  và  dễ  gãy. 

Ngoài ra khung xương của nữ nhỏ hơn [14], phải 

sinh con, cho con bú, ít vận động nên nguy cơ dễ 

gãy xương hơn (12). 

Nhẹ cân 

Tỉ  lệ  gãy  xương  đốt  sống  ở  những  bệnh 

nhân nhẹ cân (60,9%) cao hơn bệnh nhân không 

nhẹ cân (43,9%), tuy nhiên sự khác biệt này chưa 

có ý nghĩa (p=0,15). Mặc dù các tài liệu đều cho 

rằng  mô  gầy  và  mô  mỡ  là  một  yếu  tố  nguy  cơ 

quan  trọng  đối  với  mật  độ  xương.  Mô  mỡ 

chuyển hóa tạo ra Estradiol kích thích quá trình 

tạo  xương  và  ức  chế  quá  trình  hủy  xương  mà 

phụ nữ loãng xương và người cao tuổi lại có ít 

mô mỡ nên tăng nguy cơ gãy xương. Nam giới 

mật  độ  xương  liên  quan  tới  mô  gầy  do 

Testostrone  kích  thích  mô  cơ  và  mô  xương. 

Người  có  khối  lượng  mỡ  nhiều  và  BMI  cao,  có 

mật  độ  phân  bố  mỡ  ở  các  vùng  cơ  thể  nhiều 

nhất là vùng hông, chúng có vai trò là chiếc gối 

đệm  bảo  vệ  xương  đặc  biệt  là  đầu  trên  xương 

đùi  làm  giảm  hoặc  triệt  tiêu  lực  va  chạm  nên 

giảm nguy cơ gãy xương khi té ngã và ngược lại 

người  có  BMI  thấp  tăng  nguy  cơ  gãy  xương(12). 

Thật vậy, trong một nghiên cứu  của  Viện  Dinh 

Dưỡng nguy cơ gãy xương tăng 4,8 lần đối với 

người nhẹ cân(10). 

Chỉ số T Score 

Các nghiên cứu đều cho thấy mật độ khoáng 

xương  thấp  đều  liên  quan  đến  nguy  cơ  gãy  xương,(1,15),  những  người  phụ  nữ  có  mật  độ  xương  thấp  đo  bất  kỳ  ở  xương  nào  là  yếu  tố  nguy  cơ  độc  lập  đối  với  một  ca  gãy  đốt  sống  mới. Kết quả của chúng tôi cho thấy có mối liên  quan  có  ý  nghĩa  giữa  chỉ  số  T  Score  với  tình  trạng gãy xương đốt sống, cụ thể T Score trung  bình đo tại vùng cột sống thắt lưng và cổ xương  đùi  ở  nhóm  gãy  xương  đều  thấp  hơn  nhóm  không gãy xương (p=0,000). 

Tiền sử dùng corticosteroid 

Tỉ  lệ  BN  có  tiền  sử  dùng  corticosteroid  cao  nhất  với  32,4%  và  có  mối  liên  quan  với  tình  trạng gãy xương đốt sống (p=0,000). Những BN  dùng corticosteroid nguy cơ gãy xương đốt sống  tăng  gấp  8,05  lần  (OR  =  8,05;  3,05  –  21,2;  P=0,000).  Kết  quả  này  phù  hơp  với  y  văn,  corticosteroid  ảnh  hưởng  lên  xương  bè,  tốc  độ  mất  xương  rất  nhanh:  đến  20%  khối  lượng  xương  trong  năm  đầu(1),  do  tác  động  bè  xương  nhiều  hơn  vỏ  xương  do  đó  gãy  xương  nhiều  nhất  là  xương  đốt  sống,  xương  sườn  và  đầu  xương dài. 

Tiền sử té ngã 

Kết quả của chúng tôi có 22,9 % BN có tiền 

sử té ngã, và đây cũng là một yếu tố liên quan  với tình trạng gãy xương đốt sống. Tỉ lệ GXĐS 

ở  BN  có  tiền  sử  té  ngã  (69,2%)  cao  hơn  BN  không có  tiền  sử  té  ngã  (40,5%)  (p  =  0,011).  Ở  người cao tuổi còn có nhiều nguy cơ té ngã do  sức  cơ  giảm  nên  đi  không  vững,  kiểm  soát  tư  thế kém, thường kèm theo các bệnh lý kết hợp:  tụt  huyết  áp,  loạn  nhịp  tim,  Parkinson,  giảm  thị lực(4)… Sự thiếu hụt về thần kinh được tìm  thấy  trong  khoảng  24,7%‐52,2%  các  trường  hợp  GXĐS(9),  Hongwei  Wang (19)  ghi  nhận  là  18,7% ở người cao tuổi. 

Tiền sử gãy xương 

Đứng  thứ  ba  (19%)  sau  tiền  sử  dùng  corticosteroid  và  tiền  sử  té  ngã.  Có  mối  liên  quan  giữa  tiền  sử  gãy  xương  với  tình  trạng  gãy xương đốt sống, Cụ thể tỉ lệ GXĐS ở bệnh  nhân  có  tiền  sử  gãy  xương  (75%)  cao  hơn  BN 

Trang 6

Tác  giả A.  W.  L.  Kwok(7)  cũng  cho  kết  luận 

tương tự nghiên cứu chúng tôi. 

Hút thuốc lá 

Thuốc  lá  là  yếu  tố  nguy  cơ  cho  các  bệnh  lý 

hô hấp và tim mạch, ngoài ra nó ảnh hưởng đến 

nhiều bệnh lý trong đó có cả loãng xương và gãy 

xương(5).  Nghiên  cứu  của  chúng  tôi  cho  thấy 

không có mối liên quan giữa hút thuốc lá và tình 

trạng  gãy  xương  đốt  sống  (p=0,128). 

A.W.L.Kowk (6) cũng ghi nhận như thế. Kết quả 

chúng tôi tương tự tác giả Minh Châu(15) đều cho 

thấy chưa có mối liên quan có ý nghĩa giữa hút 

thuốc lá và gãy xương. Điều này có thể lý giải do 

các đối tượng hút thuốc lá là nam giới, chiếm tỉ 

lệ  rất  thấp  và  ít  gãy  xương  hơn  nữ.  Đồng  thời 

những  BN  cao  tuổi,  thường  kèm  các  bệnh  lý 

phối hợp như tăng huyết áp, đái tháo đường, rối 

loạn lipid máu  nên thường được các bác sĩ tư 

vấn bỏ thuốc lá. 

Uống rượu 

Cũng  như  hút  thuốc  lá  chúng  tôi  chưa  tìm 

thấy  mối  liên  quan  có  ý  nghĩa  giữa  uống  rượu 

và  nguy  cơ  gãy  xương  (p=0,274),  tác  giả 

A.W.L.Kowk(6) cũng cho kết luận tương tự. Điều 

này có thể lý giải tuy một số người có thói quen 

uống  rượu  nhưng  số  lượng  rất  ít,  chủ  yếu  là 

nam  mà  nghiên  cứu  chúng  tôi  đa  phần  là  nữ 

giới  (771,%)  và  người  cao  tuổi  thường  ý  thức 

được  vấn  đề  sức  khỏe  bản  thân  vì  uống  rượu 

không tốt cho sức khỏe. 

Mãn kinh sớm 

Kết quả nghiên cứu chúng tôi cho thấy tỉ lệ 

gãy xương đốt sống ở phụ nữ mãn kinh sớm cao 

hơn so với phụ nữ mãn kinh bình thường nhưng 

chưa  ghi  nhận  được  mối  liên  quan  giữa  mãn 

kinh sớm và tình trạng gãy xương đốt sống (p = 

0,703). Mặc dù nhiều nghiên cứu cho rằng mãn 

kinh  sớm  là  yếu  tố  nguy  cơ  của  gãy  xương, 

những người mãn kinh sau 45 tuổi ít có nguy cơ 

gãy  xương  đốt  sống (13).  Sau  mãn  kinh  nồng  độ 

Estrogen giảm, kích thích hoạt động hủy cốt bào, 

tăng  quá  trình  hủy  xương  gây  mất  xương 

khoảng  20%  ‐30%  ở  xương  xốp  và  5%  ‐  10%  ở  xương đặc trong giai đoạn đầu của thời kỳ sau  mãn kinh, ngoài ra do tăng hủy xương nên tăng  nồng  độ  canxi  trong  máu,  giảm  tiết  PTH  và  giảm  calcitriol  làm  giảm  hấp  thu  canxi  tại  ruột  nên  xương  thiếu  nguyên  liệu,  dễ  gãy  xương  hơn(12). 

Số lần sinh con 

Do đối tượng nghiên cứu là người cao tuổi,  sống  đa  số  ở  nông  thôn  nên  sinh  con  nhiều  (trung bình là 6, cao nhất lên đến 14 người). Số  con  trung  bình  của  nhóm  có  gãy  xương  (6,7  ±  3,4) cao hơn nhóm không gãy xương (5,3 ± 2,7) 

và sự khác biệt có ý nghĩa (p=0,021). Người phụ 

nữ  trong  lúc  mang  thai  có  tập  quán  ăn  kiêng,  sau  sinh  ít  vận  động,  nằm  trong  buồng  tối  không có ánh sáng mặt trời, ăn thiếu chất, thiếu  canxi  cũng  là  một  yếu  tố  nguy  cơ  loãng  xương 

và  gãy  xương.  Nghiên  cứu  của  Vũ  Thị  Thanh  Thủy(18)  cũng  cho  rằng  sinh  trên  4  lần  cũng  là  một  yếu  tố  nguy  cơ  liên  quan  đến  xẹp  lún  đốt  sống. 

KẾT LUẬN 

Qua nghiên cứu 96 BN cao tuổi đến khám tại  phòng  khám  Nội  Cơ‐xương‐khớp  bệnh  viện  Chợ Rẫy chúng tôi rút ra được kết luận sau 

Tỉ lệ loãng xương 

Tỉ  lệ  loãng  xương  ở  bệnh  nhân  cao  tuổi  có  giảm mật độ xương là 87,6% và tỉ lệ gãy xương  đốt sống: 46,8% 

Đặc điểm gãy xương đốt sống 

Gãy hai vị trí ngực và thắt lưng: 48%. 

Kiểu  GXĐS  thường  gặp  nhất:  gãy  bờ  (68%) 

và gãy lún (62%). 

Đốt  sống  thường  bị  gãy:  T12  và  L1  chiếm  31% các trường hợp gãy xương. 

Các yếu tố liên quan đến GXĐS 

Tuổi 

Tuổi  càng  cao  tỉ  lệ  GXĐS  càng  tăng,  các nhóm tuổi 60‐69, 70‐79 và trên 80 tuổi có 

tỉ lệ GXĐS lần lượt là 33%; 48%; 68%. 

Trang 7

Tỉ  lệ  GXĐS  ở  nữ  giới  (53,1%)  cao  hơn  nam 

giới (29,2%).  

Chỉ số T Score 

Bệnh  nhân  gãy  xương  đốt  sống  có  chỉ  số  T 

Score trung bình đo tại vùng cột sống thắt lưng 

và  đo  tại  cổ  xương  thấp  hơn  bệnh  nhân  không 

gãy xương 

Tiền sử dùng corticosteroid 

Tỉ  lệ  GXĐS  ở  BN  có  tiền  sử  dùng 

corticosteroid (79,4%) cao hơn BN không có tiền 

sử dùng corticosteroid (32,4%). 

Tiền sử té ngã 

Tỉ  lệ  GXĐS  ở  BN  có  tiền  sử  té  ngã  (69,2%) 

cao hơn BN không có tiền sử té ngã (40,5%). 

Tiền sử gãy xương 

Tỉ lệ GXĐS ở BN có tiền sử gãy xương (75%) 

cao hơn BN không có tiền sử gãy xương (41,2%). 

Số lần sinh con 

BN GXĐS có số con trung bình (6,7) cao hơn 

BN không GXĐS (5,3). 

TÀI LIỆU THAM KHẢO 

Springer‐Berlin. 

xương và các yếu tố nguy cơ trên bệnh nhân bằng hoặc trên 

50 tuổi tại bệnh viện đa khoa khu vực Cái Nước ‐ Cà Mauʺ. Y 

học thực hành, 687(11), tr. 57‐60. 

người Việtʺ. Thời sự y học, 63, tr.11‐16. 

Elderlyʺ. American Family Physician, 69(1), 111‐116. 

Osteoporisis Int, 16, 155‐162 

vertebral  fracture  in  Asian  men  and  women:  Comparison 

between Hong Kong, Thailand, Indonesia and Japanʺ. Public 

Health. 

radiographic  vertebral  fractures  in  elderly  Chinese  men  and  women:  results  of  Mr.  OS  (Hong  Kong)  and  Ms.  OS  (Hong  Kong) studiesʺ. Osteoporisis Int, 24, 877‐885 

Vietnamese womenʺ. Bone, 45, 213‐217. 

fracturesʺ. Injury, 40(2), 166‐238 

ngừa  loãng  xươngʺ.  Kỷ  yếu  các  báo  cáo  khoa  học  hội  nghị  chuyên đề loãng xương và bệnh cột sống, TPHCM, tr. 21‐24. 

ngực ‐ thắt lưng tại bệnh viện chấn thương chỉnh hìnhʺ. Hội  nghị  khoa  học  thường  niên  lần  thứ  XV  ‐  Hôi  chấn  thương  chỉnh hình Thành Phố Hồ Chí Minh, tr.269 – 275 

xương ‐ Nguyên nhân, chẩn đoán, điều trị, phòng ngừa. Nhà  xuất bản y học 

factors and fracture risk: the Leisure World Cohort Studyʺ. J  Womens Health, 14(9), 808‐819 

the  Relationship  of  Whole  Bone  Strength  Indices  and  Fall  Related Loads to Age ‐ and Sex ‐ Specific Patterns of Hip and  Wrist Fracturesʺ. J Bone Miner Res, 21, 315‐323. 

tố nguy cơ gãy xương liên quan với loãng xương ở người trên 

50 tuổi quận Gò Vấp thành phố Hồ Chí Minh sau 5 năm theo  dõiʺ. luận văn chuyên khoa 2 – Đại học y dược thành phố Hồ  Chí Minh. 

nguy cơ ở phụ nữ mãn kinh và nam giới bằng hoặc trên 50  tuổi  điều  trị  tại  khoa  Lão  bệnh  viện  Nhân  Dân  Gia  Địnhʺ.  luận  văn  thạc  sĩ  y  học  –  Đại  học  y  dược  thành  phố  Hồ  Chí  Minh. 

predicttors  of  vertebral  fracture  in  patients  receiving  oral  glucocorticoids therapyʺ. Arthritis Rheum, 48, 3224‐3233. 

loãng xương sau mãn kinh ở Việt Namʺ. Tạp chí y học, tr. 75‐

82. 

fractures  among  the  elderly  in  Chongqing,  Chinaʺ.  J  Care  Injury 

 

Ngày nhận bài báo: 01/11/2013  Ngày phản biện nhận xét bài báo: 29/11/2013  Ngày bài báo được đăng: 05/01/2014  

 

Ngày đăng: 19/01/2020, 18:22

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w