1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỷ lệ suy yếu, đặc điểm các tiêu chí thành phần chẩn đoán suy yếu theo tiêu chuẩn Fried và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh động mạch vành mạn tính

7 87 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 7
Dung lượng 365,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Suy yếu (Frailty syndrome), một hội chứng lão khoa, biểu hiện trạng thái dễ bị tổn thương với các yếu tố về thể chất, xã hội và môi trường. Tuy nhiên việc đánh giá suy yếu trên NCT Việt Nam mắc bệnh động mạch vành (ĐMV) mạn tính hiện chưa được quan tâm. Xác định tỷ lệ suy yếu, mô tả các tiêu chí thành phần chẩn đoán suy yếu theo tiêu chuẩn Fried và các yếu tố liên quan.

Trang 1

TỶ LỆ SUY YẾU, ĐẶC ĐIỂM CÁC TIÊU CHÍ THÀNH PHẦN CHẨN ĐOÁN SUY YẾU THEO TIÊU CHUẨN FRIED VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN TRÊN BỆNH NHÂN CAO TUỔI MẮC BỆNH ĐỘNG MẠCH VÀNH MẠN TÍNH

Huỳnh Trung Quốc Hiếu*, Nguyễn Văn Tân*, Phạm Hòa Bình*

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Suy yếu (Frailty syndrome), một hội chứng lão khoa, biểu hiện trạng thái dễ bị tổn thương với

các yếu tố về thể chất, xã hội và môi trường Tuy nhiên việc đánh giá suy yếu trên NCT Việt Nam mắc bệnh động mạch vành (ĐMV) mạn tính hiện chưa được quan tâm Chúng tôi khảo sát tỷ lệ suy yếu ở NCT mắc bệnh ĐMV mạn tính nhằm đáp ứng nhu cầu chăm sóc và nâng cao sức khỏe của NCT

Mục tiêu: Xác định tỷ lệ suy yếu, mô tả các tiêu chí thành phần chẩn đoán suy yếu theo tiêu chuẩn Fried và

các yếu tố liên quan

Phương pháp nghiên cứu: Cắt ngang mô tả, thực hiện trên 295 bệnh nhân cao tuổi (>65 tuổi) nhập viện do

bệnh ĐMV mạn tính tại bệnh viện Thống Nhất TP Hồ Chí Minh, từ tháng 9/2016 đến tháng 4/2017 Sử dụng tiêu chuẩn Fried để đánh giá suy yếu Phân tích hồi quy tuyến tính đa biến được sử dụng để đo lường mối liên quan giữa suy yếu và các biến độc lập

Kết quả: Tuổi trung bình của đối tượng tham gia nghiên cứu là 74,82 tuổi (ĐLC=7,2); 54,58 % nam giới Tỉ

lệ suy yếu, tiền suy yếu, không suy yếu là: 54,93%; 35,93%; 9,15% Tỉ lệ các tiêu chí thành phần chẩn đoán suy yếu theo tiêu chuẩn Fried: yếu cơ 74,58%, chậm chạp 69,15%, hoạt động thể lực kém 67,12%, kiệt sức 57,92%, sụt cân không tự chủ 7,8% Các yếu tố liên quan với suy yếu: tuổi, chỉ số khối cơ thể (BMI), rối loạn lipid máu, suy tim Trong đó tuổi cao và BMI thấp là yếu tố nguy cơ độc lập liên quan đến suy yếu

Kết luận: Tỉ lệ suy yếu xác định bằng tiêu chuẩn Fried trong nghiên cứu của chúng tôi khá tương đồng với

các báo cáo khác trên thế giới và y văn, nên có thể sử dụng tiêu chuẩn Fried để đánh giá suy yếu trên NCT mắc bệnh ĐMV mạn tính

Từ khoá: suy yếu, bệnh động mạch vành mạn tính, người cao tuổi, Fried

ABSTRACT

PREVALENCE OF FRAILTY, COMPONENTS OF FRIED FRAILTY PHENOTYPE AND ITS ASSOCIATED FACTORS IN OLDER HOSPITALISED PATIENTS WITH CHRONIC CORONARY

ARTERY DISEASE

Huynh Trung Quoc Hieu, Nguyen Van Tan, Pham Hoa Binh

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 1- 2018: 48 - 54

Background: Frailty syndrome, a geriatric syndrome, manifesting vulnerability to physical, social and

environmental factors However, the assessment of Frailty in the elderly in Vietnam with chronic coronary artery disease is not interested We investigated the prevalence of Frailty in elderly patients with chronic coronary artery disease in order to meet the needs of health care and improvement of the elderly

Objectives: Determine prevalence of frailty, describes components of Fried frailty phenotype and its associated factors

Methods: Cross-sectional study, performed in 295 elderly patients (> 65 years) hospitalized due to chronic

* Đại học Y Dược TPHCM

Trang 2

coronary artery disease at Thong Nhat Hospital, Ho Chi Minh City, from September 2016 to April 2017 Frailty was assessed using Fried frailty phenotype Multivariate linear regression analysis was used to measure the association between Frailty and independent variables

Results: Mean age of participants was 74.82 years (SD = 7.2); 54.58% male Using the Fried frailty criteria,

the percentages of non-frail, pre-frail and frail participants were 9.15%; 35.93%; 54.93% The prevalence of components of Fried frailty phenotype participants were: Low grip strength 74.58%; Low walking speed 69,15%; Low physical activity 67.12%; Exhaustion 57.92%; Weight loss 7.8% Factors associated with frailty: age, body mass index (BMI), dyslipidemia, heart failure In that high age and low BMI are independent risk factors related

to frailty

Conclusions: The prevalence of frailty determined by Fried frailty phenotype in our study is quite similar to

other reports in the world and literature, so the Fried frailty phenotype can be used to assess Frailty in elderly patients with the Chronic coronary artery disease

Keywords: frailty, chronic coronary artery disease, elderly, Fried

ĐẶT VẤN ĐỀ

Suy yếu hay Hội chứng dễ bị tổn thương

(Frailty syndrome) là một hội chứng lão khoa,

xảy ra do sự tích tụ của quá trình suy giảm chức

năng nhiều hệ thống cơ quan trong cơ thể, biểu

hiện là trạng thái dễ bị tổn thương với các yếu tố

về thể chất, xã hội và môi trường(6) Tỉ lệ suy yếu

trong dân số ngày càng tăng nhất là trong hoàn

cảnh lão hóa của dân số toàn cầu và vì thế suy

yếu cũng trở thành chủ đề nghiên cứu chính

trong lý thuyết và thực hành lão khoa

Bệnh động mạch vành (ĐMV) là một trong

những nguyên nhân gây tử vong hàng đầu trong

số những bệnh nhân mắc bệnh tim mạch nhập

viện ở Hoa Kỳ, Châu Âu và trên thế giới Số

bệnh nhân cao tuổi (65 tuổi) và rất cao tuổi (80

tuổi) mắc bệnh ĐMV đang gia tăng trong xã hội

của chúng ta với một tỉ lệ rất lớn(9)

Nhiều nghiên cứu trên thế giới đã được tiến

hành nhằm xác định tỉ lệ và các yếu tố nguy cơ

liên quan đến suy yếu ở NCT mắc bệnh ĐMV

Tuy nhiên cho đến nay ở Việt Nam suy yếu vẫn

còn là một vấn đề khá mới và chúng tôi chưa ghi

nhận báo cáo số liệu về tỉ lệ suy yếu trên NCT

mắc bệnh ĐMV Nhằm có thêm dữ liệu về suy

yếu trên NCT Việt Nam, cũng như góp phần

thông báo những điểm cần lưu ý để chăm sóc

bệnh nhân bệnh ĐMV thêm hiệu quả, nên chúng

tôi tiến hành thực hiện nghiên cứu về tình trạng

suy yếu trên bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh ĐMV Kết quả nghiên cứu cũng là tiền đề cho các nghiên cứu liên quan sâu rộng hơn sau này

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tỉ lệ suy yếu theo tiêu chuẩn Fried ở bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh ĐMV mạn tính

Mô tả đặc điểm các tiêu chí thành phần chẩn đoán suy yếu và một số yếu tố liên quan trên bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh ĐMV theo tiêu chuẩn Fried

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiên cứu cắt ngang với phương pháp chọn mẫu thuận tiện, thực hiện từ tháng 9/2016 đến tháng 4/2017 trên 295 bệnh nhân NCT (>65 tuổi) tại Trung tâm Tim Mạch bệnh viện Thống Nhất Tp Hồ Chí Minh

Cỡ mẫu nghiên cứu được tính dựa vào công thức ước lượng một trung bình với khoảng tin cậy 95%, sử dụng tỷ lệ ước tính NCT có suy yếu

là 19% theo nghiên cứu của tác giả Gharacholou

và cộng sự năm thực hiện năm 2012 tại Hoa Kỳ

Cỡ mẫu cần thiết cho nghiên cứu là 237 người Sau khi dự tính tình trạng thiếu mẫu có thể xảy

ra với ước đoán khoảng 10%, cỡ mẫu tính được gồm 270 đối tượng

Dân số mục tiêu là tất cả bệnh nhân cao tuổi (≥ 65 tuổi) nhập viện do bệnh ĐMV mạn tính tại Trung Tâm Tim Mạch bệnh viện Thống Nhất thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 9/2016 đến

Trang 3

tháng 4/2017 Từ dân số mục tiêu chọn ra những

trường hợp được chẩn đoán là bệnh ĐMV mạn

tính dựa trên thăm khám lâm sàng kết hợp các

test thăm dò: ĐTĐ lúc nghỉ, ĐTĐ gắng sức, SA

tim gắng sức, MSCT hoặc chụp ĐM(3, 15) Chúng

tôi loại ra khỏi nghiên cứu những trường hợp

sau: bệnh nhân có hội chứng vành cấp; bệnh

nhân có di chứng thần kinh sau cơn đột quỵ;

bệnh Parkinson nặng; sa sút trí tuệ; bệnh nhân

không thể vận động, đi lại; chống chỉ định vận

động và hoạt động thể lực của bác sĩ điều trị;

bệnh nội khoa cấp tính; không đồng ý tham gia

nghiên cứu

Năm 2000, Fried`s Frailty Phenotype hay

thường được gọi là chỉ số CHS đã được Fried và

đồng nghiệp đề xuất gồm năm tiêu chí: sụt cân

không chủ ý, tình trạng yếu cơ, kiệt sức (sức bền

và năng lượng kém), sự chậm chạp, và mức hoạt

động thể lực thấp

Các tiêu chí thành phần

Sụt cân không chủ ý 4,5 kg hoặc giảm 5%

trọng lượng cơ thể so với năm trước

Tình trạng yếu cơ: cơ lực tay thấp hơn so với

mức cơ bản (đã điều chỉnh theo giới và chỉ số

khối cơ thể)

Kiệt sức (Sức bền và năng lượng kém): Tự

báo cáo về tình trạng kiệt sức, xác định bằng hai

câu hỏi trong thang điểm tự báo cáo trầm cảm

CES–D (Center for Epidemiologic Studies

Depression Scale)

Sự chậm chạp: nhỏ hơn mức cơ bản đã được

điều chỉnh theo giới tính và chiều cao đứng, dựa

trên thời gian đi bộ 5m

Mức hoạt động thể lực thấp: Tổng số kilocalo

tiêu hao trong mỗi tuần được tính toán dựa trên

bộ câu hỏi các hoạt động trong tuần qua

Đối tượng nghiên cứu đáp ứng ba trong số

năm tiêu chí thì xác định là có suy yếu

(Frailty), từ một đến hai tiêu chí là tiền suy

yếu (Pre-frailty), không có tiêu chí nào là

không có suy yếu(4)

Chúng tôi trực tiếp hỏi bệnh sử, tiền sử và khám lâm sàng kỹ lưỡng bệnh nhân khi nhập viện, theo dõi bệnh nhân sau khi xuất viện Xem xét kết quả chụp ĐMV sau đó tiến hành thu thập các dữ liệu theo tiêu chuẩn Fried Mỗi bệnh nhân cần 10 – 15 phút để cân, đo sức mạnh bàn tay, tốc

độ đi bộ, hỏi hai câu hỏi liên quan tới “kiệt sức”

và bảng câu hỏi về hoạt động thể lực

Khám lâm sàng: nhằm đánh giá tình trạng chung, dấu hiệu sinh tồn, tình trạng bệnh tim mạch, đánh giá mức độ đau thắt ngực theo Hiệp hội Tim mạch Canada (Canadian Cardiovascular Society - CCS) Thu thập thông tin cá nhân, đánh giá theo bộ câu hỏi soạn sẵn Số liệu được xử lý mỗi ngày, để cung cấp lại thông tin ngay khi có phát hiện sai sót

Nhập liệu bằng phần mềm Epi Data và phân tích theo phần mềm STATA 11.0 Kiểm tra bảng câu hỏi và kết quả từng đối tượng ngay trong ngày, nếu cần thiết trở lại gặp đối tượng khảo sát lần 2

Kết quả được trình bày dưới dạng tần suất, tỉ

lệ %, trung bình ± độ lệch chuẩn (có phân phối chuẩn), trung vị và khoảng tứ vị 25%-75% (có phân phối không chuẩn), dùng phép kiểm chi bình phương để so sánh 2 biến định tính, sử dụng mô hình hồi quy Logistic đa biến phân tích các yếu tố nguy cơ liên quan đến sự xuất hiện của suy yếu với ngưỡng ý nghĩa p < 0.05

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Qua nghiên cứu trên 295 bệnh nhân cao tuổi bệnh ĐMV mạn tính tại bệnh viện Thống Nhất Thành phố Hồ Chí Minh, từ tháng 9 năm 2016 đến tháng 3 năm 2017 có 161 bệnh nhân nam chiếm 54,58 %, cao hơn so với 134 bệnh nhân nữ chiếm 45,42% Tỉ lệ nam/nữ là 1,20

Bảng 1: Một số đặc điểm chung của các đối tượng

nghiên cứu

Biến số Tần số Tỉ lệ %

Tuổi (TB ± ĐLC) 74,82 ± 7,2 Chỉ số BMI (TB ± ĐLC) 22,3 ± 2,87 (15-34,1)

Sống một mình 5 1,69

Số ngày nằm viện (TB ± ĐLC) 12,49 ± 4,8

Trang 4

Tuổi trung bình của nghiên cứu là 74,82 tuổi,

chỉ số BMI trung bình của các đối tượng nghiên

cứu là 22,3 ± 2,87

Biểu đồ 1: Tỉ lệ suy yếu theo tiêu chuẩn Fried

Theo tiêu chuẩn Fried: chúng tôi ghi nhận

162 bệnh nhân có suy yếu chiếm tỉ lệ 54,92%;

106 bệnh nhân có tiền suy yếu chiếm tỉ lệ

35,93% và 27 bệnh nhân không có suy yếu

chiếm tỉ lệ 9,15%

Trong các tiêu chí thành phần của suy yếu

theo tiêu chuẩn Fried thì giảm sức cơ (đo bằng

lực bóp bàn tay) là thường gặp nhất, xuất hiện

ở 220 bệnh nhân chiếm tỉ lệ 74,58%, tiếp theo

là chậm chạp (đo bằng tốc độ đi bộ 5m) gặp ở

204 bệnh nhân chiếm tỉ lệ 69,15%, hoạt động thể lực kém chiếm tỉ lệ 67,12% xuất hiện ở 198 bệnh nhân Trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 23 bệnh nhân (7,8%) thỏa tiêu chí sụt cân không tự chủ

Biểu đồ 2: Đặc điểm các tiêu chí thành phần trong

xác định suy yếu theo tiêu chuẩn của Fried

Bảng 2: Suy yếu và các yếu tố liên quan

Giới tính Nữ 15 (55,56) 52 (49,06) 67 (41,36) 0,251

Nam 12(44,44) 54 (50,94) 95 (58,64) Nhóm tuổi 65-74tuổi 24 (88,89) 71 (66,98) 58 (35,8) <0,001

75-84 tuổi 3 (11,11) 32 (30,19) 73 (45,06)

>85 tuổi 0 3 (2,83) 31 (19,14)

18,5 - 22,9 14 (51,85) 49 (46,23 ) 88 (54,32 )

23 - < 25 9 (33,33) 31 (29,25 ) 39 (24,07 )

>=25 4 (14,81) 21 (19,81 ) 14 (8,64) Hoàn cảnh gia đình Sống chung 27 (100) 104 (98,11) 159 (98,15) 0,774

Sống một mình 0 2 (1,89) 3 (1,85) Hút thuốc Không 26 (96,30) 101 (95,28) 159 (98,15) 0,402

Có 1 (3,70) 5 (4,72) 3 (1,85 )

Có 27 (100) 99 (93,4) 152 (93,83) Rối loạn lipid máu Không 0 9 (8,49) 25 (15,43) 0,032

Có 27 (100) 97 (91,51) 137 (84,57) Đái tháo đường Không 16 (59,26) 74 (69,81) 116 (71,60) 0,433

Có 11 (40,74) 32 (30,19) 46 (28,40) Bệnh thận mạn Không 27 (100) 102 (96,23) 151 (93,21) 0,247

Suy tim Không 26 (92,86) 113(96,58) 132(88) 0,03

Trang 5

Bảng 3: Các yếu tố liên quan đến suy yếu qua phân

tích hồi quy đa biến

Nhóm

tuổi

65-74 tuổi 1

75-84 tuổi 3,59 <0,001 2,08 – 6,19

≥ 85 tuổi 14,83 <0,001 4,27 - 51,57

Nhóm

BMI

< 18,5 1

18,5 - 22,9 0,59 0,3 0,19 – 1,68

23 - < 25 0,43 0,147 0,14 – 1,34

≥ 25 0,19 0,009 0,054 – 0,66

BÀN LUẬN

Trong số 295 bệnh nhân tham gia nghiên

cứu, chúng tôi ghi nhận có 162 bệnh nhân được

chẩn đoán suy yếu theo tiêu chuẩn Fried chiếm

tỉ lệ 54,92%; 106 bệnh nhân thuộc nhóm tiền suy

yếu chiếm tỉ lệ 35,93% và 27 bệnh nhân không có

suy yếu chiếm tỉ lệ 9,15%

Tỉ lệ suy yếu giữa các nghiên cứu là rất khác

nhau, dao động từ 4% đến 59,1%, tùy thuộc vào

cộng đồng dân số nghiên cứu và tiêu chuẩn định

nghĩa được sử dụng(5) Các nhà khoa học ước

tính tỉ lệ suy yếu trên các bệnh nhân mắc bệnh

tim mạch là từ 10 đến 60%(1, 18) Tỉ lệ suy yếu trên

các bệnh nhân điều trị nội trú là từ 15 đến 50%(14)

Như vậy tỉ lệ suy yếu trong nghiên cứu của

chúng tôi cũng không quá khác biệt so với các

nghiên cứu khác trên thế giới

Nghiên cứu của chúng tôi có tỉ lệ suy yếu

(54,92%) cao hơn so với nghiên cứu của tác giả

Purser và cộng sự thực hiện năm 2006 với tỉ lệ

suy yếu là 27% Tác giả Singh và cộng sự thực

hiện nghiên cứu năm 2011 báo cáo tỉ lệ suy yếu

trên bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh ĐMV là

21%(16), nghiên cứu của tác giả Gharacholou và

cộng sự(6) thực hiện năm 2012 cũng đã báo cáo tỉ

lệ suy yếu là 19% Sự khác biệt này có thể là do

hầu hết bệnh nhân tham gia vào các nghiên cứu

trên đã được chụp và điều trị tái thông ĐMV qua

da (PCI) qua đó điều trị và kiểm soát tốt bệnh

ĐMV, góp phần làm giảm nguy cơ xuất hiện các

biến cố bất lợi về sức khỏe

Trong các tiêu chí thành phần của suy yếu

theo tiêu chuẩn của Fried thì giảm sức cơ (đo

bằng lực bóp bàn tay) và chậm chạp là 02 tiêu chí

thường gặp nhất, xuất hiện ở 220 bệnh nhân chiếm tỉ lệ 74,58% và 204 bệnh nhân chiếm tỉ lệ 69,15%, hoạt động thể lực kém chiếm tỉ lệ 67,12% xuất hiện ở 198 bệnh nhân Trong nghiên cứu của chúng tôi chỉ có 23 bệnh nhân (7,8%) thỏa tiêu chí sụt cân không tự chủ

Tiêu chí chậm chạp và giảm sức cơ (đo bằng lực bóp bàn tay) cũng là tiêu chí thường gặp nhất

và là yếu tố có khả năng dự báo tỉ lệ tử vong trong nghiên cứu của Singh và cộng sự năm 2011 thực hiện trên 629 bệnh nhân bệnh ĐMV, tại Hoa Kỳ, với tỉ lệ lần lượt là 41% và 33%(16) Thống kê của tác giả Nguyễn Xuân Thanh năm 2015 thực hiện trên 461 bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại Bệnh viện Lão Khoa Trung Ương cũng chỉ ra sự chậm chạp (thông qua test

đi bộ 5m) là thường gặp nhất ở NCT được chẩn đoán suy yếu (55,5%)(12)

Lý thuyết liên quan đến sự mất điều hòa năng lượng trong điều kiện mất ổn định hằng định nội môi và được biểu hiện ra lâm sàng: giảm sức mạnh cơ bắp, giảm mức dung nạp với gắng sức, giảm tốc độ vận động và xa hơn làm giảm hoạt động thể chất, dễ mệt mỏi hay kiệt sức Nên chú ý rằng tình trạng mất cơ tiến triển

có thể bị che đậy bởi sự gia tăng song song khối lượng mỡ, có thể dẫn đến béo phì nhưng thực chất là thiếu cơ Về nguyên nhân, thực tế nguồn gốc mất năng lượng của suy yếu phù hợp với các bệnh lý di truyền có đột biến AND tại mô cơ và

mô tế bào thần kinh trung ương Hậu quả sự suy giảm năng lượng có thể khởi phát từ tình trạng

dị hóa và thông thường là chứng biếng ăn do tuổi, cả hai đều giảm dinh dưỡng nhập vào mà không liên quan mức độ tiêu thụ năng lượng từ hoạt động thể chất Những hoàn cảnh này, kết hợp việc mất điều hòa năng lượng như trên và thêm vào mất khối lượng cơ, sẽ biểu hiện lâm sàng là sụt cân(11)

Trong nghiên cứu của chúng tôi suy yếu có mối liên quan rõ rệt với tuổi (p < 0,001) Tuổi càng tăng thì tỉ lệ xuất hiện suy yếu càng tăng Quá trình lão hóa được định nghĩa là sự suy

Trang 6

giảm và suy thoái chức năng tại tế bào, mô và cơ

quan Điều này dẫn đến mất cân bằng nội môi

và giảm khả năng thích ứng với yếu tố căng

thẳng từ bên trong và bên ngoài, gia tăng khả

năng bị bệnh và tử vong Suy yếu là tình trạng

lâm sàng làm tăng khả năng dễ tổn thương và

giảm khả năng duy trì nội mô mà có đặc tính

chính là giảm dự trữ hệ thống chức năng sinh lý

theo tuổi(17, 19) Như vậy cả suy yếu và quá trình

lão hóa đều dẫn đến hậu quả chung là giảm cân

bằng nội môi Do vậy trong nhiều nghiên cứu đã

chỉ ra mối quan hệ mật thiết giữa suy yếu và

tuổi Kết quả của chúng tôi cũng không nằm

ngoài quy luật này, tuổi trung bình của nhóm

bệnh nhân suy yếu là cao nhất, tiếp theo là tiền

suy yếu, và không suy yếu

Trong quá trình thực hiện nghiên cứu, chúng

tôi nhận thấy suy yếu có mối liên quan với chỉ số

khối cơ thể (p = 0,002 < 0,05) NCT thường gắn

liền với những thay đổi về trọng lượng cơ thể

Trọng lượng cơ thể thường có khuynh hướng

gia tăng trong suốt tuổi thọ đến năm 70-80 tuổi,

sau đó trọng lượng cơ thể giảm dần Hơn nữa, cả

suy dinh dưỡng, thiếu cân cũng như béo phì đều

là những yếu tố nguy cơ bất lợi về sức khỏe ở

NCT Tuổi cao cũng có liên quan đến sự thay đổi

thành phần cơ thể, trong đó có mất khối lượng

cơ và tăng khối lượng chất béo Ngoài ra, giảm

khối lượng mỡ dưới da, trong khi đó tình trạng

thâm nhiễm mỡ vào gan, các nội tạng thường

tăng theo độ tuổi Sự gia tăng khối lượng chất

béo tổng thể và sự mất khối lượng cơ không phụ

thuộc vào sự thay đổi trọng lượng

Trong nghiên cứu này chúng tôi nhận thấy

có mối liên quan giữa rối loạn lipid máu với suy

yếu Kết quả này là phù hợp với y văn về bệnh

ĐMV cũng như các kết quả nghiên cứu về suy

yếu trên bệnh nhân bệnh ĐMV trên thế giới Các

bệnh nhân suy yếu có nguy cơ tử vong cao hơn 6

lần và suy yếu là một yếu tố nguy cơ tử vong độc

lập ở những người không có bệnh XVĐM lâm

sàng trước đó Nghiên cứu của tác giả Julio

Núñez và cộng sự năm 2017, nghiên cứu tác

động của suy yếu trên 270 bệnh nhân bệnh ĐMV

tại Tây Ban Nha, đã báo cáo tỉ lệ bệnh nhân có rối loạn lipd máu là 66,7%(13).

Qua nghiên cứu 295 bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh ĐMV mạn tính, chúng tôi nhận thấy

có mối liên quan giữa suy yếu và bệnh suy tim Tỉ lệ bệnh nhân suy tim ở nhóm suy yếu

là 12%, không suy yếu là 7,42% (với p=0,03) Nghiên cứu của tác giả Juan Sanchis và cộng

sự(9) năm 2015 thực hiện trên 342 bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh ĐMV tại Tây Ban Nha, báo cáo tỉ lệ suy tim ở nhóm suy yếu là 23%, không suy yếu là 11% (p=0,004)

Suy tim là một bệnh mãn tính tăng tần suất theo tuổi, vì vậy sự tương tác giữa suy tim và suy yếu là rất phức tạp và cần được quan tâm đặc biệt Nhiều nghiên cứu gần đây đã chứng minh được rằng, suy yếu là yếu tố nguy cơ độc lập, có liên quan nhiều nhất với các rối loạn chức năng tim mạch(2, 8)

Qua phân tích hồi quy đa biến, nghiên cứu của chúng tôi cho thấy tuổi cao và chỉ số khối cơ thể thấp là có khả năng dự đoán suy yếu theo tiêu chuẩn Fried một cách độc lập Tuổi thường được xem là không thể thay đổi và là nguyên nhân chính gây ra hầu hết các bệnh mạn tính và suy yếu Những tiến bộ khoa học kỹ thuật gần đây đã giúp các nhà khoa học gia tăng sự hiểu biết về quá trình lão hóa và từ đó có thể làm giảm kết cục sức khỏe bất lợi liên quan đến lão hóa Các can thiệp có thể làm chậm các nguy cơ bất lợi về sức khỏe liên quan đến tuổi và do đó làm giảm tình trạng bệnh tật ở NCT, góp phần tích cực nâng cao sức khoẻ cộng đồng Ngoài các can thiệp về thuốc, thay đổi lối sống bao gồm chế độ ăn uống và hoạt động thể chất có thể tối

ưu hóa sức khỏe và kéo dài tuổi thọ cho NCT

Về mặt lý thuyết, dinh dưỡng là một yếu tố liên quan chặt chẽ đến hội chứng suy yếu: tất cả các tiêu chí suy yếu ít nhiều bị ảnh hưởng bởi thói quen ăn uống kém, trong khi bản thân suy yếu có thể có ảnh hưởng tiêu cực đến ăn uống,

và do đó ảnh hưởng đến tình trạng dinh dưỡng Thật vậy, các dữ liệu nghiên cứu cho thấy mối

Trang 7

liên quan giữa suy yếu và các thành phần cụ thể

của chế độ ăn uống, đó là lượng protein và năng

lượng, cũng như lượng vi chất dinh dưỡng Hơn

nữa, các mô hình chế độ ăn uống lành mạnh,

chẳng hạn như chế độ ăn uống vùng Địa Trung

Hải, có liên quan đến việc phòng ngừa suy yếu

KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ

Qua nghiên cứu tình trạng suy yếu trên 295

bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh ĐMV điều trị tại

Bệnh viện Thống Nhất Thành phố Hồ Chí Minh,

chúng tôi kết luận như sau: tỉ lệ suy yếu, tiền suy

yếu, không suy yếu lần lượt là: 54,93%; 35,93%;

9,15% Tỉ lệ các tiêu chí thành phần đánh giá suy

yếu theo tiêu chuẩn Fried: yếu cơ (đo bằng lực

bóp bàn tay) 74,58%, chậm chạp (đo bằng tốc độ

đi bộ 5m) 69,15%, hoạt động thể lực kém 67,12%,

kiệt sức 57,92%, sụt cân không tự chủ 7,8% Các

yếu tố liên quan với suy yếu trên bệnh nhân cao

tuổi mắc bệnh ĐMV mạn tính bao gồm: tuổi, chỉ

số khối cơ thể (BMI), tình trạng rối loạn lipid

máu, và bệnh suy tim Trong đó tuổi cao và BMI

thấp là yếu tố nguy cơ độc lập liên quan đến sự

xuất hiện của suy yếu

Tỉ lệ suy yếu xác định bằng tiêu chuẩn của

Fried trong nghiên cứu của chúng tôi khá tương

đồng với báo cáo khác trên thế giới và y văn, do

vậy có thể sử dụng tiêu chuẩn Fried để đánh giá

suy yếu trên bệnh nhân cao tuổi mắc bệnh ĐMV

Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy

chúng ta có thể tác động vào yếu tố tinh thần,

luyện tập thể lực, phục hồi chức năng, và đặc

biệt là dinh dưỡng để phòng ngừa, cũng như

đảo ngược suy yếu Kết quả này phù hợp với xu

hướng chung hiện nay của thế giới là can thiệp

chủ yếu vào ba khía cạnh phục hồi chức năng,

dinh dưỡng, tâm lý trong phòng ngừa và điều trị

suy yếu ở NCT

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Afilalo J, et al (2014), "Frailty assessment in the cardiovascular

care of older adults" Journal of the American College of Cardiology,

63 (8), pp.747-762

2 Bellumkonda L, Tyrrell D, Hummel SL, Goldstein DR (2017),

"Pathophysiology of heart failure and frailty: a common

inflammatory origin?" Aging Cell, pp.n/a-n/a

3 Cassar A, Holmes DR, Rihal CS, Gersh BJ (2009), "Chronic

Coronary Artery Disease: Diagnosis and Management" Mayo Clinic Proceedings, 84 (12), pp.1130-1146

4 Clegg A, Young J, Iliffe S, Rikkert MO, Rockwood K (2013),

"Frailty in elderly people" The Lancet, 381 (9868), pp.752-762

5 Collard RM, Boter H, Schoevers RA, Oude Voshaar RC (2012),

"Prevalence of frailty in community-dwelling older persons: a systematic review" J Am Geriatr Soc, 60 (8), pp.1487-92

6 Gharacholou SM, et al (2012), “Comparision of frail patients versus nonfrail patients ≥ 65 years of age undergoing percutaneous coronary intervention” The American Journal of cardiology, 109(11), pp.1569-1575

7 Hamerman D (1999), "Toward an understanding of frailty" Ann Intern Med, 130 (11), pp.945-50

8 Joseph SM, Rich MW (2017), "Targeting Frailty in Heart Failure" Current Treatment Options in Cardiovascular Medicine, 19(4),pp.31

9 Juan S, et al (2015), “Usefulness of clinical data and biomakers for the identification of frailty after acute coronary syndromes” Canadian Journal of Cardiology, 31(12), pp 1462-1468

10 Murray CJ, Lopez AD (1997), "Mortality by cause for eight regions of the world: Global Burden of Disease Study" The lancet, 349 (9061), pp.1269-1276

11 Nguyễn Văn Trí, Võ Thành Nhân (2010), Hội chứng lão hóa, NXB Y Học, tr.23-47

12 Nguyễn Xuân Thanh (2015), Hội chứng dễ bị tổn thương (frailty syndrome) và các yếu tố liên quan trên bệnh nhân cao tuổi điều trị tại bệnh viện lão khoa trung ương, Luận văn Thạc sĩ Y học, Trường Đại học Y Hà Nội,

13 Núñez J, Ruiz V, Bonanad C, Miñana G, García-Blas S, Valero E, Núñez E, Sanchis J (2017), "Percutaneous coronary intervention and recurrent hospitalizations in elderly patients with non ST-segment acute coronary syndrome: The role of frailty" International Journal of Cardiology, 228, pp.456-458

14 Parker SG, Fadayevatan R, Lee SD (2006), "Acute hospital care for frail older people" Age Ageing, 35 (6), pp.551-2

15 Phạm Gia Khải (2008), Xử trí Bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính (Đau thắt ngực ổn định), Khuyến cáo về các bệnh lý Tim mạch và Chuyển hóa, Tập 1, Hội Tim mạch học Việt Nam, tr.329-351

16 Singh M, Rihal CS, Lennon RJ, Spertus JA, Nair KS, Roger VL (2011), "Influence of frailty and health status on outcomes in patients with coronary disease undergoing percutaneous revascularization" Circulation: Cardiovascular Quality and Outcomes, 4 (5), pp.496-502

17 Viña J, et al (2016), "Biology of frailty: Modulation of ageing genes and its importance to prevent age-associated loss of function" Molecular aspects of medicine,

18 von Haehling S, Anker SD, Doehner W, Morley JE, Vellas B (2013), "Frailty and heart disease" International journal of cardiology, 168 (3), pp.1745-1747

19 Wilson D, Jackson T, Sapey E, Lord JM (2017), "Frailty and sarcopenia: The potential role of an aged immune system" Ageing Res Rev, 36, pp.1-10

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 19/11/2017 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 22:03

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm