1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỉ lệ rối loạn lo âu và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân mắc bệnh không lây nhiễm tại phòng khám bác sĩ gia đình

5 137 0

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 280,64 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định tỉ lệ rối loạn lo âu và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân mắc bệnh không lây nhiễm tại phòng khám bác sĩ gia đình, nơi bệnh nhân đến khám và tái khám bệnh ngoại trú thường xuyên theo lịch.

Trang 1

TỈ LỆ RỐI LOẠN LO ÂU VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN

Ở BỆNH NHÂN MẮC BỆNH KHÔNG LÂY NHIỄM

TẠI PHÒNG KHÁM BÁC SĨ GIA ĐÌNH

Đặng Thị Hiền*, Lê Thanh Toàn *

Đặt vấn đề: Rối loạn lo âu là nguyên nhân đứng thứ hai về gánh nặng bệnh tật trong nhóm bệnh không lây

nhiễm Tỉ lệ rối loạn lo âu ở những bệnh nhân mắc bệnh không lây nhiễm là rất cao, đặc biệt ở những bệnh nhân mắc bệnh tim mạch, bệnh phổi mạn tính và bệnh đái tháo đường Rối loạn lo âu đã và đang ảnh hưởng đến hiệu quả điều trị, chất lượng cuộc sống của bệnh nhân, cụ thể là bệnh nhân khám bệnh, theo dõi bệnh tại các phòng khám ngoại trú

Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm mục tiêu xác định tỉ lệ rối loạn lo âu và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân mắc

bệnh không lây nhiễm tại phòng khám bác sĩ gia đình, nơi bệnh nhân đến khám và tái khám bệnh ngoại trú thường xuyên theo lịch

Đối tượng và phương pháp nghiên cứu: Nghiêng cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên những bệnh nhân

mắc bệnh không lây nhiễm đến khám tại phòng khám bác sĩ gia đình Bệnh viện quận 2, thành phố Hồ Chí Minh

từ tháng 03 / năm 2017 đến tháng 07 /năm 2017 Những người tham gia được phỏng vấn trực tiếp thông qua bảng câu hỏi về sức khoẻ bệnh nhân, thang đo rối loạn lo âu Zung Phân tích dữ liệu được thực hiện bằng Stata/IC phiên bản 13.0

Kết quả: Trong số 238 người tham gia nghiên cứu, rối loạn lo âu (n = 110, 46,2%) Phân tích hai chiều cho

thấy có mối liên hệ có ý nghĩa thống kê (P <0,05) giữa rối loạn lo âu và các yếu tố như có mâu thuẫn (PR=1,78; KTC 95% 1,27 – 2,25; P=0,047), số bệnh mắc (PR=1,24; P=0,027; KTC 95% 1,03 – 1,51), có lo lắng về bệnh (PR=2,16; KTC 95% 1,67 – 2,80; P<0,001), sợ bênh nặng/sợ chết (PR=1,89; P<0,001; KTC 95% 1,47 – 2,43), sợ không đủ tiền chữa bệnh (PR=2,08; KTC 95% 1,66 – 2,60; P<0,001), sợ không có người chăm sóc (PR=2,23;

P=0,001; KTC 95% 1,96 – 2,62), có mất ngủ (PR=1,41; P=0,028; KTC 95% 1,02 – 1,96)

Kết luận: Tỉ lệ rối loạn lo âu ở bệnh nhân mắc bệnh không lây nhiễm đến khám tại Phòng khám Bác sĩ Gia

đình BV Quận 2 năm 2017 là 46,2% Trong đó, rối loạn lo âu mức độ nhẹ (chiếm 96,4%), rối loạn lo âu mức độ vừa (chiếm 3,6%) và không có rối loạn lo âu mức độ nặng

Từ khóa: rối loạn lo âu, bệnh không lây nhiễm, bác sĩ gia đình

ABSTRACT

RATE OF ANXIETY DISORDER AND RELATIVE FACTORS IN PATIENTS

WITH NON-COMMUNICABLE DISEASES IN FAMILY OUTPATIENT SETTING

Dang Thi Hien, Le Thanh Toan * Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement Vol 22 - No 2- 2018: 189 - 193

Background: anxiety disorder is the second cause of disease burden among non-communicable diseases The

rate of anxiety disorder in patients with non-communicable diseases are very high, especially, the patients with cardiovascular diseases, chronic pulmonary diseases and mellitus diabetes Anxiety disorder has impacted on the outcome of treatment, quality of life, especially, on patients in outpatient settings

Aims: The aims of this study were to estimate the rate of anxiety disorder and relative factors in patients with

non-communicable diseases in family outpatient settings, where patients come to get treatment and follow up their condition regularly

* Đại Học Y Dược, TP Hồ Chí Minh

Trang 2

Materials and method: We conducted cross-study and analyzed 238 patients with non-communicable

disease visiting family physicians from March 2017 to July 2017 in district hospital 2 All the participants were interviewed by questionnaire and Zung scale scoring The statistical data was analyzed by Stata/IC 13.0

Result: Of the 238 who participated in the study, anxiety disorders (n = 110, 46.2%) Bivariate analysis

showed significant negative association (P < 0.05) between anxiety disorders and factors such as conflicting (PR = 1.78; KTC 95% 1.27-2.25; P = 0.047), the number of diseases (PR = 1.24; P = 0.027; KTC 95% 1.03-1.51), worry about the disease (PR = 2.16; KTC 95% 1.67-2.80; P 0.001), become more serious /fear of death (PR = 1.89; P 0.001 <; KTC 95% 1.47-2.43), fear of not enough money (PR = 2.08; CI 95% of 1.66-2.60; P< 0.001), the fear of not having health care (PR = 2.23; P = 0.001; KTC 95% 1.96-2.62), insomnia (PR = 1.41; P = 0.028; KTC 95%

1.02-1.96)

Conclusion: The rate of anxiety disorders is 46.2% found in patients with non-communicable diseases,

visiting family outpatient setting in district hospital 2 In it, mild form - 96.4%, medium - 3.6% and serious forms were not registered

Key words: anxiety disorder, non-communicable disease, family doctor

ĐẶT VẤN ĐỀ

Theo ước tính của Tổ chức Y tế Thế Giới,

năm 2008 trong tổng số 57 triệu trường hợp tử

vong toàn cầu có 36 triệu trường hợp là do bệnh

không lây nhiễm(18) Gánh nặng bệnh không lây

nhiễm lớn nhất ở các nước thu nhập trung bình

và thấp, chiếm gần 80% số tử vong do bệnh

không lây nhiễm trên toàn cầu, đặc biệt tại khu

vực Đông Nam Á và Tây Thái Bình Dương(1) Rối

loạn lo âu là nguyên nhân đứng thứ hai về gánh

nặng bệnh tật trong nhóm bệnh không lây

nhiễm Nguy cơ rối loạn lo âu những bệnh nhân

mắc bệnh không lây nhiễm có cao hơn 19,1% so

với những người không có bệnh không lây

nhiễm(16) Hiện nay có rất ít nghiên cứu về rối

loạn lo âu được tiến hành trên bệnh nhân ngoại

trú, đặc biệt tại Việt Nam Một nghiên cứu cắt

ngang của Nianquan Sun và cộng sự tại các bệnh

viện Trung Quốc năm 2013 với 893 người từ

18-84 tuổi cho thấy tỉ lệ bệnh nhân đái tháo đường

có các triệu chứng lo âu là 43,6%(12) Một nghiên

cứu trước đó vào năm 2011 của Rajput và cộng

sự được thực hiện tại Ấn Độ với cỡ mẫu nhỏ hơn

(400 bệnh nhân) cho thấy tỉ lệ bệnh nhân đái

tháo đường có lo lắng là 27,6% cao hơn có ý

nghĩa thống kê (p=0,001) nhóm chứng là những

người khỏe mạnh (12,7%)(11)

Xuất phát từ những lý do trên, chúng tôi

thực hiện nghiên cứu này nhằm tìm hiểu về tỉ lệ

rối loạn lo âu và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân mắc bệnh không lây nhiễm đến khám tại phòng khám bác sĩ gia đình, bệnh viện quận 2, TP.HCM, năm 2017

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Nghiêng cứu mô tả cắt ngang có phân tích trên những bệnh nhân mắc bệnh không lây nhiễm đến khám tại phòng khám bác sĩ gia đình bệnh viện quận 2, thành phố Hồ Chí Minh từ tháng 03 / năm 2017 đến tháng 07 /năm 2017 Những đối tượng tham gia được phỏng vấn trực tiếp bằng bảng câu hỏi về sức khoẻ bệnh nhân

và thang đo rối loạn lo âu Zung Thời gian mắc bệnh các bệnh không lây nhiễm tối thiểu 6 tháng được chẩn đoán tại phòng khám bác sĩ gia đình hoặc có hồ sơ theo dõi sức khỏe ở cơ sở y tế khác Phân tích dữ liệu được thực hiện bằng Stata/IC phiên bản 13.0

KẾT QUẢ

Trong số 238 người tham gia nghiên cứu, rối loạn lo âu có 110 (46,2%) bệnh nhân Phân tích hai chiều cho thấy có mối liên hệ tiêu cực đáng kể (P<0,05) giữa rối loạn lo âu và các yếu

tố như có mâu thuẫn (PR=1,78; KTC 95% 1,27– 2,25; P=0,047), số bệnh mắc (PR=1,24; P=0,027; KTC 95% 1,03–1,51), có lo lắng về bệnh (PR=2,16; KTC 95% 1,67–2,80; P<0,001), sợ bênh nặng/sợ chết (PR=1,89; P<0,001; KTC 95%

Trang 3

1,47 – 2,43), sợ không đủ tiền chữa bệnh

(PR=2,08; KTC 95% 1,66 – 2,60; P<0,001), sợ

không có người chăm sóc (PR=2,23; P=0,001;

KTC 95% 1,96 – 2,62), có mất ngủ (PR=1,41;

P=0,028; KTC 95% 1,02 – 1,96)

Bảng 1 Tình trạng bệnh tật

Đặc tính mẫu Tần số Tỉ lệ (%)

Đặc tính mẫu Tần số Tỉ lệ (%)

Số bệnh mắc: 1

2

3

≥4

102

111

24

1

42,9 46,6 10,1 0,4

Bảng 2 Mối liên quan rối loạn lo âu và các yếu tố sức khỏe

Giá trị P PR (KTC 95%)

Thời gian mắc bệnh

<10 năm

≥10 năm

75 (44,9)

35 (49,3)

92 (55,1)

36 (50,7)

0,534 0,91 (0,68 – 1,22) Bệnh tim mạch

Có Không

95 (48,0)

15 (37,5)

103 (52,0)

25 (62,5)

0,225 1,28 (0,84 – 1,96) Đái tháo đường

Có Không

32 (48,5)

78 (45,3)

34 (51,5)

94 (54,7)

0,664 1,07 (0,79 – 1,44) Ung thư

Có Không

1 (100)

109 (46,0)

0 (0,0)

128 (54,0)

0,462* 2,17 (1,89 – 2,50) Bệnh đường hô hấp mạn tính

Có Không

4 (40,0)

106 (46,9)

6 (60,0)

Số bệnh mắc

1

2

3

≥4

40 (39,2)

54 (48,6)

16 (66,7)

0 (0,0)

62 (60,8)

57 (51,4)

8 (33,3)

1 (100)

0,027** 1,24 (1,03 – 1,51)

Lo lắng về bệnh: Có

Không

57 (72,2)

53 (33,3)

22 (27,8)

106 (66,7) <0,001 2,16 (1,67 – 2,80)

Bảng 3 Tỉ lệ rối loạn lo âu ở bệnh nhân mắc bệnh

không lây nhiễm

Đặc tính mẫu Tần số Tỉ lệ (%)

Mức độ lo âu(n=238)

Nhẹ

Vừa

Nặng

106

4

0

96,4 3,6 0,0

BÀN LUẬN

Từ kết quả nghiên cứu, ước tính có 46,2%

đối tượng có rối loạn lo âu theo thang đo

Zung Còn theo nghiên cứu của Vaman

Kulkarni và cộng sự tại Ấn Độ năm 2014(5), tỉ

lệ này là 19,1% theo thang đo GAD – 7, với cỡ mẫu 282 người Nguyên nhân của sự khác nhau này có thể giải thích là do địa điểm, đối tượng và phương pháp chọn mẫu khác nhau Trong nghiên cứu trước, đối tượng nghiên cứu

là những người từ 30 tuổi trở lên, còn hiện tại đối tượng chọn vào từ 18 tuổi, khoảng cách từ

18 tuổi đến 30 tuổi có thể có những tác động ảnh hưởng tâm lý khác nhau

Trong tỉ lệ có rối loạn lo âu thì rối loạn lo âu mức độ nhẹ chiếm > 96% và không có rối loạn lo

âu mức độ nặng, điều này có sự tương đồng với nghiên cứu trước đó có thể thấy rối loạn lo âu

Trang 4

tuy chiếm tỉ lệ cao, nhưng phần lớn là rối loạn lo

âu mức độ nhẹ

Trong nghiên cứu của chúng tôi tỉ lệ nam nữ

40,8% và 59,2% Điều này cũng phù hợp với xu

hướng chung về giới tính ở Việt Nam(6) Nghiên

cứu của Vaman Kulkarni và cộng sự năm 2014

tại Ấn Độ cho thấy tỉ lệ nam giới cao hơn nữ giới

Tuổi trung vị của đối tượng tham gia nghiên

cứu là 62, với khoảng tứ phân vị là 55 – 70, cao

hơn 9 tuổi so với nghiên cứu của Vaman

Kulkarni và cộng sự(5) Trong nghiên cứu này, có

55,0% tham gia nghiên cứu thuộc nhóm tuổi ≥60

Điều này phù hợp với bối cảnh Việt Nam trong

giai đoạn đầu của quá trình già hóa dân số(9),

tương tự kết quả của Vaman Kulkarni và cộng

sự tại Ấn Độ (53,3%)(5) Đa số những người tham

gia nghiên cứu được chẩn đoán bệnh tim mạch,

bệnh đái tháo đường tuýp 2, bệnh phổi mạn

tính, và một số bệnh lý thường gặp khác

Trình độ học vấn của đối tượng tham gia

nghiên cứu rất đa dạng Có đến 71 (chiếm 29,8%)

đối tượng không được đi học, hoặc chỉ có thể

biết đọc, biết viết hay thậm chí có thể mù chữ,

thấp hơn 12% so với nghiên cứu của Vaman

Kulkarni và cộng sự(5), sự khác biệt này có thể do

đối tượng nghiên cứu và địa điểm nghiên cứu

khác nhau Trong nghiên cứu của Vaman

Kulkarni và cộng sự(5), đối tượng được chọn ≥30

tuổi và được tiến hành tại một bệnh viện huyện

Mangalore, trong khi nghiên cứu chúng tôi đối

tượng được chọn vào ≥18 tuổi và nghiên cứu ở

bệnh viện quận của thành phố thuộc đô thị đặc

biệt Trình độ học vấn có thể có liên quan đến rất

nhiều yếu tố, kể cả kinh tế Nghề nghiệp trong

quá khứ của họ: người có trình độ học vấn thấp

thường có xu hướng làm những việc không có

thu nhập ổn định, hay không có thu nhập từ hưu

trí, họ cũng thường có sự hạn chế trong tiếp cận

các dịch vụ y tế

Đôi tượng nghiên cứu hầu hết có tình trạng

hôn nhân đã kết hôn Đối tượng mất đi người

bạn đời chủ yếu là nữ giới Điều này có thể giải

thích bởi tỉ suất chết thấp hơn ở nữ giới(14) Người

bạn đời có vai trò quan trọng trong cuộc sống, hỗ trợ nhau không những về đời sống vật chất mà còn cả tinh thần Mất đi người bạn đời, đồng nghĩa mất đi một nữa chỗ dựa về mặt tinh thần,

và có thể kể cả vật chất, điều này phù hợp với kết quả của nghiên cứu của Vaman Kulkarni(5) và các nghiên cứu khác(11,13,19) cũng cho thấy RLLA

có liên quan đến tình trạng hôn nhân

Trong nghiên cứu của chúng tôi có 10 đối tượng có mâu thuẫn trong gia đình xã hội, kết quả này có ý nghĩa thống kê cho thấy mối liên quan giữa rối loạn lo âu và mâu thuẫn trong gia đình xã hội Tỉ lệ rối loạn lo âu ở người có mâu thuẫn trong gia đình – xã hội cao gấp 1,78 lần so với đối tượng không có mâu thuẫn trong cuộc sống gia đình xã hội, điều này chưa được khảo sát bởi nghiên cứu trước đó của Vaman Kulkarni(5)

Sự nghèo nàn về sức khỏe có thể ảnh hưởng đến tâm lý của đối tượng Tỉ lệ đối tượng mắc nhiều hơn một bệnh ở thời điểm hiện tại trong nghiên cứu là khá cao, tương tự ở các nghiên cứu(12,19) Nhưng hầu hết các đối tượng nghiên cứu đều đang điều trị đều tại các cơ sở y tế Điều này cho thấy sự quan tâm rất lớn đến sức khỏe của bản thân Nguyên nhân lo lắng chủ yếu là sợ bệnh nặng/sợ chết, đối tượng sợ không có tiền chữa bệnh chiếm tỉ lệ không cao, điều này có thể giải thích do tác động của chương trình bảo hiểm

y tế quốc gia khiến cho sự e ngại về chi phí khi khám bệnh chiếm tỉ lệ không cao Một bộ phận nhỏ cho thấy có sự lo lắng không có người chăm sóc, điều này trở thành một gánh nặng tâm lý cho người bệnh

Mất ngủ là hiện tượng phổ biến ở BN, cũng không quá ngạc nhiên khi tỉ lệ mất ngủ trong nghiên cứu khá cao >60% và trong số đó tỉ lệ cao nhất là mất ngủ thường xuyên Mất ngủ làm ảnh hưởng sức khỏe, gây ra hàng loạt các nguy cơ tim mạch, đái tháo đường, tâm sinh lý của đối tượng Điều này tương ứng với các kết quả của nghiên cứu trước(8,12,18,19) Tần suất mất ngủ thường xuyên chiếm tỉ lệ cao, điều này có thể giải thích đối tượng mắc bệnh không lây nhiễm –

Trang 5

một bệnh có liên quan chặt chẽ đến tuổi

tác(3,7,12,15), sự hoạt động của não và các tuyến yên

yếu đi, sự duy trì giấc ngủ khó kiểm soát

Các mối liên quan giữa rối loạn lo âu và các

bệnh lý trong nghiên cứu chưa có ý nghĩa thống

kê Tuy nhiên số nhóm bệnh mắc và rối loạn lo

âu có mối liên quan có ý nghĩa thống kê và có

tính khuynh hướng, cứ tăng thêm 1 nhóm bệnh

thì tỉ lệ rối loạn lo âu tăng lên 1,24 lần Điều này

cũng tương tự nghiên cứu, có thể thấy rằng khi

mắc thêm một bệnh nói chung thì ảnh hưởng

không những tạo gánh nặng về chi phí điều trị

mà còn đến đời sống sức khỏe tâm thần và nguy

cơ biến chứng – bệnh nặng

KẾT LUẬN

Tỉ lệ rối loạn lo âu ở bệnh nhân mắc bệnh

không lây nhiễm đến khám tại Phòng khám Bác

sĩ Gia đình Bệnh viện Quận 2 năm 2017 là 46,2%

theo thang đo Zung Trong đó, rối loạn lo âu

mức độ nhẹ (chiếm 96,4%), rối loạn lo âu mức độ

vừa (chiếm 3,6%) và không có lo âu mức độ

nặng

Những đối tượng có mất ngủ, có mâu thuẫn

gia đình, có lo lắng về bệnh, nguyên nhân lo lắng

như sợ bệnh nặng/sợ chết, sợ không có tiền, sợ

không có người chăm sóc và số bệnh mất có tỉ lệ

rối loạn lo âu cao hơn nhóm đối tượng không có

các yếu tố này

TÀI LIỆU THAM KHẢO

năm 2014 Tăng cường dự phòng và kiểm soát bệnh không lây

nhiễm, tr.140

L, et al (2012), Twelve-month prevalence and correlates of

subthreshold and threshold anxiety in community-dwelling

older adults with cardiovascular diseases J Affect Disord, 136

(3), pp 724 - 732

Gánh nặng, yếu tố nguy cơ và chiến lược phòng chống,

http://www.tapchiyhocduphong.vn/tin-tuc/dien-dan-y-hoc-

du-phong/2016/01/81E21074/benh-khong-lay-nhiem-ganh-nang-yeu-to-nguy-co-va-chien-luoc-phong-chong/

engthening_prevention_and_control_of_ncds_vietnam_recom

mendations_who.pdf

M, Papanna MK (2014), Psychiatric Co-morbidities among

Patients with Select Non-communicable Diseases in a Coastal

City of South India International Journal of Preventive Medicine,

5 (9), pp 1139 - 1145

năm 2014 và 2019, Tổng cục dân số kế hoạch hóa gia đình, 02/07/2017

Sano M, et al (2017), The prevalence of poor sleep quality and its association with depression and anxiety scores in patients admitted for cardiovascular disease: A cross-sectional

designed study Int J Cardiol, 228, pp 977 - 982

burden of generalized anxiety disorder in Canada Health

Promot Chronic Dis Prev Can, 37 (2), pp 54 - 62

số và người cao tuổi ở Việt Nam- Thực trạng, dự báo và một

số khuyến nghị chính sách, tr 6

Prevalence and predictors of depression and anxiety in

patients of diabetes mellitus in a tertiary care center Indian J

Endocrinol Metab, 20 (6), pp 746 - 751

et al (2013), Association of diabetes with anxiety: a systematic

review and meta-analysis J Psychosom Res, 74 (2), pp 89 - 99

(2016), Prevalence and determinants of depressive and anxiety symptoms in adults with type 2 diabetes in China: a

cross-sectional study BMJ Open, 6 (8), e012540

http://www.wpro.who.int/vietnam/areas/noncommunicable_ diseases/fs20130311/vi/, 2/7/2017

2009, tr 65 - 73

(2017), Prevalence of anxiety disorder in patients with type 2 diabetes: a nationwide population-based study in Taiwan

2000-2010 Psychiatr Q, 88 (1), pp 75 - 91

http://nimh.gov.vn/trac-nghiem-tam-ly/28-cac-trc-nghim/142-thang-anh-gia-lo-au-zung-sas.html

strengthening Non Communication disease prevention and control in Viet Nam, p2

FQ, et al (2016), Prevalence of depression and anxiety in patients with chronic digestive system diseases: A multicenter

epidemiological study World J Gastroenterol, 22 (42), pp 9437 -

9444

19 Zhou X, Li J, Gu W, Wang J, Zhu Y, Zhang G, et al (2017), Prevalence and associated factors of anxiety and depression among patients with chronic respiratory diseases in eight general hospitals in Jiangsu Province of China: A

cross-sectional study Psychiatry Res, 251, pp 48 - 53

Ngày nhận bài báo: 16/11/2017 Ngày phản biện nhận xét bài báo: 17/11/2017 Ngày bài báo được đăng: 15/03/2018

Ngày đăng: 15/01/2020, 02:17

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w