Điều trị thiếu máu trở thành một trong những mục tiêu cơ bản và quan trọng ở bệnh thận mạn giai đoạn cuối. Nghiên cứu tiến hành với mục tiêu khảo sát một số yếu tố liên quan với tình trạng hemoglobin ở bệnh nhân lọc màng bụng liên tục.
Trang 1MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN VỚI TÌNH TRẠNG HEMOGLOBIN
Ở BỆNH NHÂN LỌC MÀNG BỤNG LIÊN TỤC
Vương Tuyết Mai * , Nguyễn Duy Hưng * , Đỗ Gia Tuyển **
TÓM TẮT
Mục tiêu: Điều trị thiếu máu trở thành một trong những mục tiêu cơ bản và quan trọng ở bệnh thận mạn
giai đoạn cuối Nghiên cứu tiến hành với mục tiêukhảo sát một số yếu tố liên quan với tình trạng hemoglobin ở bệnh nhân lọc màng bụng liên tục
Phương pháp: Nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt bệnh được thực hiện trên bệnh nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú tại Khoa Thận-Tiết niệu Bệnh viện Bạch Mai Số liệu được thu thập trong 12 tháng đầu khi bệnh
nhân bắt đầu phương pháp lọc màng bụng liên tục ngoại trú
Kết quả: Nghiên cứu của chúng tôi trên 70 bệnh nhân điều trị CAPD cho thấy nồng độ Hb đã
được điều chỉnh để đạt được đích điều trị Nhóm bệnh nhân có nồng độ Hb trung bình dưới đích, nồng độ Hb trung bình tăng từ 88,40 ± 8,44 g/l lên 96,23 ± 13,96 g/l, nhóm bệnh nhân có nồng độ Hb vượt đích, nồng độ Hb trung bình giảm từ 129,88 ± 9,66 g/l xuống còn 110,40 ± 18,43 g/l, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,05 Có mối tương quan nghịch giữa ure và creatinin với nồng độ Hb (r lần lượt bằng -0,401 và -0,443, p<0,05) Có mối tương quan thuận giữa albumin và protein với nồng độ Hb (r lần lượt bằng 0,349 và 0,319, p<0,05) Liều EPO được điều chỉnh theo đáp ứng của bệnh nhân dựa trên chỉ số Hb (r=-0,657, p<0,05)
Kết luận: Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy có mối tương quan nghịch giữa ure và creatinin
với nồng độ Hb (r lần lượt bằng -0,401 và -0,443, p<0,05) Có mối tương quan thuận giữa albumin và protein với
Hb (r lần lượt bằng 0,349 và 0,319, p<0,05) Liều EPO được điều chỉnh theo đáp ứng của bệnh nhân dựa trên chỉ
số Hb (r=-0,657, p<0,05)
Từ khoá: Hemoglobin (Hb), lọc màng bụng liên tục ngoại trú (CAPD)
ABSTRACT
THE ASSOCIATION OF SEVERAL FACTORS WITH THE HEMOGLOBIN LEVELS IN CONTINUOUS
AMBULATORY PERITONEAL DIALYSIS PATIENTS
Vuong Tuyet Mai, Nguyen Duy Hung, Do Gia Tuyen
* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Vol 21 - No 3 - 2017: 50 – 55
Objectives: The treatment of anemia becomes one of the important objectives in end-stage chronic kidney
disease Therefore, we conducted this study with the aim was to find out the association of several factors with the hemoglobin levels in continuous ambulatory peritoneal dialysis (CAPD) patients
Methods: One retrospective studywasperformed on continuous ambulatory peritoneal dialysis patients who were treatedin Nephro-Urology Department, Bach Mai hospital The parameters of patients were collected during 12 months from patients performing continuous ambulatory peritoneal dialysis
Results: The study was included 70 CAPD patients; the treatment in the all patients was adjusted to achieve Hb target Patients with Hb levels below the Hb target, the Hb concentration increased from
* Đơn Nguyên Thận nhân tạo, Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn
Trang 288.40±8.44 g/l to 96.23±13.96 g/l The CAPD patients with Hb levels that were higher than Hb target, the Hb concentration decreased from 129.88±9.66 g/l to 110.40±18.43 g/l, the difference was statistically significant with p <0.05 There were negative correlation between s-urea and s-creatinine with Hb levels (r=-0.401 and -0.443, respectively, p <0.05) There were positive correlation between the protein and albumin levels and hemoglobin levels (r=0.349 and 0.319, respectively, p<0.05) The dose of EPO was adjusted according to the patient's response that was based on Hb levels (r=0.657, p<0.05).
Conclusions: Our resultssuggested thatthere were negative correlation between urea and s-creatinine with Hb levels and positive correlation between the protein and albumin levels and hemoglobin levels The dose of EPO was adjusted according to the patient's response that was based on
Hb levels.
Keywords: Hemoglobin (Hb), continuous ambulatory peritoneal dialysis (CAPD)
MỞ ĐẦU
Lọc màng bụng là phương pháp lọc máu
qua màng bụng, đây là màng sinh học có tác
dụng chuyển hóa trao đổi qua lại giữa máu
của bệnh nhân và dịch lọc Phương pháp lọc
màng bụng đang ngày càng được chú ý, đặc
biệt tại các nước đang phát triển Theo báo cáo
dữ liệu hàng năm của Hoa Kỳ năm 2012, tính
đến năm 2010 Hong Kong có tới 75,6% bệnh
nhân lọc máu lựa chọn lọc màng bụng, và ở
Thái Lan, tỉ lệ bệnh nhân lọc máu bằng
phương pháp lọc màng bụng tăng từ 7,6%
năm 2006 lên 10,4% năm 2010 Tại Việt Nam, tỉ
lệ bệnh nhân lọc màng bụng cũng ngày càng
tăng Tính đến năm 2006 có khoảng 461 bệnh
nhân lọc màng bụng ở các trung tâm tại thành
phố Hồ Chí Minh và Hà Nội(1) Đến năm 2011,
tổng số bệnh nhân lọc màng bụng ước tính
khoảng 1100 bệnh nhân Một trong các vấn đề
cần quan tâm của bệnh nhân bệnh thận mạn
nói chung và bệnh nhân điều trị bằng phương
pháp lọc màng bụng liên tục ngoại trú (CAPD)
nói riêng là tình trạng thiếu máu Khi bệnh
nhân mắc bệnh thận mạn, thận giảm hoặc
không còn sản xuất erythropoietin Đây là
nguyên nhân chính dẫn đến thiếu máu ở
những bệnh nhân này Thiếu máu có thể làm
giảm đáng kể chất lượng cuộc sống, tăng nguy
cơ tim mạch cũng như giảm tuổi thọ của bệnh
nhân, điều trị thiếu máu trở thành một trong
những mục tiêu cơ bản và quan trọng ở bất kỳ
giai đoạn nào của bệnh thận mạn(4) Do vấn đề
có ý nghĩa thực tiễn lâm sàng, vì vậy chúng tôi tiến hành nghiên cứu nhằm mục tiêu: khảo sát tình trạng hemoglobin và một số yếu tố liên quan ở bệnh nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú
ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Nghiên cứu hồi cứu mô tả loạt bệnh được thực hiện trên bệnh nhân được chẩn đoán bệnh thận mạn giai đoạn cuối đang được điều trị thay thế thận bằng phương pháp lọc màng bụng liên tục ngoại trú tại Khoa Thận-Tiết niệu bệnh viện Bạch Mai Loại trừ những bệnh nhân mắc các bệnh cấp tính trong khoảng thời gian theo dõi như: nhiễm trùng cấp, nhồi máu cơ tim, xơ gan, suy giáp, cường giáp, chấn thương, phẫu thuật, có các bệnh lý ác tính
Các chỉ số lâm sàng và cận lâm sàng được lấy tại thời điểm bệnh nhân bắt đầu được điều trị lọc màng bụng liên tục ngoại trú và các thời điểm sau mỗi 6 tháng, trong vòng 1 năm với qui ước: + T0: là thời điểm bắt đầu được lọc màng bụng
+ T1: là thời điểm lọc màng bụng ngoại trú chu kỳ tháng thứ 6
+ T2: là thời điểm lọc màng bụng ngoại trú chu kỳ tháng thứ 12
Mức độ thiếu máu của các bệnh nhân được phân loại dựa trên tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới (WHO)(8)
Trang 3Mức độ thiếu máu Tiêu chí Hb
Nam Nữ
Thiếu máu trung bình 80 – 109 80 – 109
Thiếu máu nhẹ 110 – 129 110 – 119
Nồng độ Hb mục tiêu khi điều trị thiếu máu
ở bệnh nhân bệnh thận mạn bằng EPO theo Hội
Thận học Việt Nam (4):
Dưới đích điều trị: Hb <100 g/l
Đạt đích điều trị: Hb từ 100 đến 115 g/l
Vượt quá đích điều trị: Hb >115 g/l
Xử lý số liệu: Test Pearson Chi-square
và/hoặc test Fisher’s Exact được sử dụng cho so
sánh tỷ lệ phần trăm tùy thuộc là so sánh hai hay
nhiều tỷ lệ với nhau Mann-Whitney hoặc
Kruskal-Wallis tests được sử dụng khi so sánh
các mức độ khác nhau Sự khác biệt có ý nghĩa
thống kê sử dụng theo p<0,05 hoặc tính theo
khoảng tin cậy 95% (95% CI) Các phân tích được
thực hiện bằng SPSS statistics 17.0 software
KẾT QUẢ
Chúng tôi tiến hành nghiên cứu trên 70 bệnh
nhân lọc màng bụng liên tục ngoại trú tại khoa Thận-Tiết niệu bệnh viện Bạch Mai với thời gian điều trị 12 tháng Tỷ lệ bệnh nhân nam giới là 60%, nữ giới là 40% Tuổi trung bình là 50,17±12,76, trong đó tuổi thấp nhất là 26 tuổi, cao nhất là 83 tuổi
Bảng 1 Phân loại thiếu máu và Hb mục tiêu
Phân loại thiếu máu
T0 T1 T2
Không TM 11 (15,7%) 3 (4,3%) 5 (7,1%)
TM nhẹ 18 (25,7%) 26 (37,1) 13 (18,6%)
TM vừa 37 (52,9%) 34 (48,6) 48 (68,6%)
Mục tiêu Hb
Hb <100 g/l 28 (40%) 31 (44,3%) 31 (44,3%)
100 ≤ Hb ≤ 115 g/l
25 (35,7%) 28 (40%) 28 (40%)
Hb >115 g/l 17 (24,3%) 11 (15,7%) 11 (15,7%)
Nhận xét: Số bệnh nhân thiếu máu vừa chiếm tỷ lệ cao nhất, dao động từ 48,6-68,6% Số bệnh nhân thiếu máu nặng chiếm tỷ lệ thấp khoảng 5,7-10% Số bệnh nhân đạt được Hb đích chiếm từ 35,7-40% Số bệnh nhân không đạt đích
Hb chiếm tỷ lệ40-44,3% Số bệnh nhân vượt đích
Hb chiếm 24,3% tại T0, có xu hướng giảm dần
Bảng 2 Sự thay đổi nồng độ Hb của bệnh nhân CAPD
Nhận xét: Nhóm bệnh nhân có Hb dưới đích
tại T0 có nồng độ Hb trung bình tăng từ 88,40 ±
8,44 g/l lên 96,23 ± 13,96 g/l tại thời điểm T2, sự
khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,05 Nhóm
bệnh nhân có Hb đạt đích tại T0 trung bình Hb
có giảm, tuy nhiên sự khác biệt không có ý nghĩa thống kê, p>0,05 Nhóm bệnh nhân có Hb vượt đích tại T0, trung bình Hb giảm từ 129,88 ± 9,66 g/l xuống còn 110,40 ± 18,43 g/l tại T2, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,05
Bảng 3 Thay đổi HC, Hct, MCV, MCH và MCHC của bệnh nhân CAPD
Nhận xét: Trung bình hồng cầu, hematocrit tại thời điểm T0 lần lượt là 3,72 ± 0,71 T/l và 31,6
± 5,6 l/l, có thay đổi trong quá trình điều trị, tuy
Trang 4nhiên sự khác biệt là không có ý nghĩa thống kê,
p>0,05 Trung bình của MCV, MCH và MCHC
đều trong giới hạn bình thường và không có sự
tăng giảm nào có ý nghĩa thống kê, p>0,05
Bảng 4 Liên quan giữa Hb với một số chỉ số lâm
sàng và cận lâm sàng
Ure Pearson Correlation = -0,401 p<0,05
Cre Pearson Correlation = -0,443 p<0,05
Alb Pearson Correlation = 0,349 p<0,05
Pro Pearson Correlation = 0,319 p<0,05
EPO Pearson Correlation = -0,657 p<0,05
Nhận xét: Có mối tương quan nghịch mức
độ vừa giữa nồng độ Ure và Creatinin huyết thanh với Hb trong máu, với hệ số r lần lượt là -0,401 và -0,443, p<0,05 Có mối tương quan thuận mức độ vừa giữa albumin và protein huyết thanh với Hb, hệ số r lần lượt là 0,349 và 0,319, p<0,05 Có mối tương quan nghịch mức độ vừa giữa liều EPO với Hb trước khi dùng thuốc, r=-0,657, p<0,05
Bảng 5 Tình trạng sắt, ferritin huyết thanh theo phân loại tình trạng thiếu máu
12,4 ± 5,7
Nhận xét: Trung bình sắt huyết thanh ở các
bệnh nhân thiếu máu là 12,4 ± 5,7 µmol/l Không
có sự khác biệt về sắt và Ferritin huyết thanhở 3
nhóm bệnh nhân thiếu máu, p>0,05 Tỷ lệ bệnh
nhân có nồng độ Ferritin huyết thanh ≥ 200µg/l
là 71,4%
BÀN LUẬN
Kết quả nghiên cứu cho thấy, tại thời điểm
bắt đầu điều trị CAPD có 84,3%bệnh nhân thiếu
máu Các bệnh nhân thiếu máu nhẹ và trung
bình là chủ yếu, số bệnh nhân thiếu máu nặng
chiếm tỷ lệ thấp (5,7%) Tỷ lệ thiếu máu cao là do
tính chất thiếu máu của bệnh thận mạn là rất từ
từ và mạn tính, bệnh nhân thường có khả năng
thích nghi cao do đó thường điều trị muộn Theo
Nguyễn Thị Hoa, 100% bệnh nhân suy thận mạn
đều có biểu hiện thiếu máu Về mức độ nặng của
thiếu máu, nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoa trên
bệnh nhân bệnh thận mạn đều cho thấy đa số
bệnh nhân thiếu máu trung bình và thiếu máu
nặng(8)
Nghiên cứu đặc điểm thiếu máu tại thời
điểm bắt đầu nghiên cứu, giá trị MCV, MCH,
MCHC đều trong giới hạn bình thường, từ thời
điểm T0 đến T2, giá trị trung bình của MCV,
MCH và MCHC thay đổi nhưng không có ý
nghĩa thống kê, p>0,05 Điều này cho thấy thiếu máu trong suy thận mạn là thiếu máu bình sắc
HC bình thường Điều này phù hợp với cơ chế bệnh sinh của thiếu máu trong suy thận mạn là
do thiếu EPO nội sinh nên tủy xương không tổng hợp đủ lượng HC cần thiết cho nhu cầu của
cơ thể Tương tự như vậy những số liệu về MCV, MCH, MCHC trong nghiên cứu của Nguyễn Thị Hoa về đặc điểm thiếu máu ở bệnh nhân suy thận mạn cũng cho thấy một tình trạng thiếu máu bình sắc HC bình thường(8)
Nhiều nghiên cứu cho thấy việc sử dụng EPO nhằm đưa Hb của bệnh nhân bệnh thận mạn vào khoảng 100 – 120 g/l giúp cải thiện thể chất của bệnh nhân.Theo hướng dẫn của Hội Tiết niệu Thận học Việt Nam trên bệnh nhân bệnh thận mạn, nồng độ Hb không nên quá 115g/l(4) Do đó, chúng tôi lựa chọn khoảng nồng
độ Hb mục tiêu là từ 100 – 115 g/l Kết quả nghiên cứu cho thấy ở nhóm bệnh nhân có Hb dưới đích tại T0, trung bình Hb tăng từ 88,40 ± 8,44 g/l lên 96,23 ± 13,96 g/l tại thời điểm T2, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,05 Điều đó cho thấy trong quá trình điều trị CAPD kết hợp thuốc tăng hồng cầu EPO đã giúp cải thiện tình trạng Hb cho bệnh nhân, đưa trung bình Hb đến gần giới hạn dưới của mục tiêu điều trị thiếu
Trang 5máu Theo khuyến cáo của Hội Tiết niệu Thận
học Việt Nam, cần sử dụng EPO để nâng nồng
độ Hb của bệnh nhân lên đến mức mục tiêu,
tránh để Hb dưới 90 g/l nhằm giảm thiểu nguy
cơ cần truyền máu(4) Ở nhóm bệnh nhân có Hb
đạt đích tại thời điểm T0, trung bình Hb là 107,88
± 4,94 g/l,giảm xuống còn 103,64 ± 10,81 g/l tại
thời điểm T2, nhưng sự khác biệt là không có ý
nghĩa thống kê, p>0,05 Trung bình Hb của
nhóm bệnh nhân này luôn nằm trong khoảng
đích của Hb Ở nhóm bệnh nhân có Hb vượt
dích tại T0, trung bình Hb giảm từ 129,88 ± 9,66
g/l xuống còn 110,40 ± 18,43 g/l tại T2, sự khác
biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,05
Việc đưa nồng độ Hb của bệnh nhân về lại
đích điều trị là rất cần thiết Nhiều nghiên cứu
cho thấy rằng việc sử dụng EPO để nâng Hb lên
càng cao có nhiều nguy cơ hơn là lợi ích, bao
gồm đột quỵ, THA và huyết khối KDIGO 2012
cũng khuyến cáo mạnh mẽ không được để nồng
độ Hb vượt quá 130 g/l trên tất cả các bệnh nhân
bệnh thận mạn người lớn(5) Kết quả nghiên cứu
cũng cho thấy, trong 12 tháng, số bệnh nhân có
Hb dưới đích luôn chiếm tỷ lệ cao nhất, (dao
động từ 40 đến 44,3 %) Số bệnh nhân có Hb đạt
đích (100 – 115 g/l) có xu hướng tăng từ 35,7%
lên 40% Tất cả các thời điểm đều có bệnh nhân
có nồng độ Hb ở trên đích (>115 g/l), tuy nhiên
xu hướng giảm dần (từ 24,3% xuống còn
15,7%).Nghiên cứu của chúng tôi cho thấy số
bệnh nhân đạt mức Hb mục tiêu thấp hơn nhiều
so với các nghiên cứu khác Nghiên cứu của Bùi
Thị Tâm cho thấy sau 6 tháng điều trị bằng EPO,
tỷ lệ bệnh nhân có nồng độ Hb đạt đích từ 60,9
đến 80%(2) Nghiên cứu của Adam E và cộng sự
trên bệnh nhân bệnh thận mạn giai đoạn cuối,
sau 12 tháng có 61,9% bệnh nhân ở nhóm không
hiệu chỉnh liều và 72,5% số bệnh nhân ở nhóm
được hiệu chỉnh liều EPO có Hb đạt đích
điều trị(5).
Tỷ lệ bệnh nhân thiếu máu trong nghiên cứu
của chúng tôi có gia tăng theo thời gian, từ 84,3%
tại thời điểm bắt đầu điều trị lọc màng bụng lên
92,9% tại tháng điều trị thứ 12, trong đó thiếu
máu vừa và nhẹ chiếm tỷ lệ cao nhất Điều này là
do chúng tôi lựa chọn cách phân loại bệnh nhân thiếu máu dựa trên nồng độ hemoglobin theo tiêu chuẩn của WHO: không thiếu máu ở nam là trên 130 g/l, ở nữ là trên 120 g/l Trong khi mục tiêu điều trị thiếu máu bằng EPO ở các bệnh nhân bệnh thận mạn là duy trì nồng độ Hb trong khoảng từ 100 – 115 g/l Điều này giải thích cho việc tỷ lệ bệnh nhân thiếu máu nhẹ và vừa lại chiếm đa số trong nghiên cứu của chúng tôi Kết quả nghiên cứu cho thấy có mối tương quan nghịch giữa nồng độ Ure và Creatinin với
Hb trong máu, với hệ số r lần lượt là 0,401 và -0,443, p<0,05 Kết quả này phù hợp với một trong các cơ chế thiếu máu trong bệnh thận mạn Ở những bệnh nhân này, môi trường chuyển hóa ure máu cao là yếu tố không thuận lợi đối với đời sống của hồng cầu Đời sống hồng cầu ở bệnh nhân suy thận mạn thường giảm từ 120 ngày xuống còn 70-80 ngày Nhiều nghiên cứu
đã cho thấy, HC của bệnh nhân suy thận mạn có đời sống bình thường khi được truyền vào cơ thể khỏe mạnh Trong khi HC bình thường lại có đời sống ngắn hơn khi được truyền vào bệnh nhân suy thận mạn Điều này đã gợi ý rằng có sự tồn tại của một hoặc nhiều chất hòa tan trong huyết thanh bệnh nhân suy thận mạn làm rút ngắn đời sống HC Một số nghiên cứu cho thấy đời sống
HC trở về bình thường khi bệnh nhân suy thận mạn được lọc máu tích cực Như vậy môi trường chuyển hóa ở bệnh nhân có ure máu cao là yếu
tố không thuận lợi đối với đời sống của HC(1) Kết quả nghiên cứu của chúng tôi cho thấy
có mối tương quan thuận giữa hàm lượng protein, albumin với Hb trong máu (r lần lượt bằng 0,349 và 0,319, p<0,05) Ở các bệnh nhân điều trị CAPD, tình trạng mất albumin và protein qua dịch lọc luôn luôn xảy ra Trung bình lượng protein mất đi trong dịch lọc từ 5 – 12g/24h, trong đó albumin chiếm 2/3 lượng protein mất đi(9) Thiếu albumin và các acid amin,
cơ thể sẽ thiếu nguyên liệu để tổng hợp Hb làm nặng thêm tình trạng thiếu máu
Việc điều chỉnh liều EPO sẽ dựa vào sự đáp
Trang 6ứng của chỉ số Hb đối với từng bệnh nhân
CAPD là vấn đề quan trọng trong quá trình điều
trị ở bệnh nhân.Trong nghiên cứu của chúng tôi,
liều EPO có mối tương quan nghịch với Hb, mức
độ tương quan khá chặt với hệ số r=-0,657,
p<0,05 Những bệnh nhân điều trị bằng phương
pháp CAPD được khám định kì 1 tháng/lần để
đánh giá các chỉ số lâm sàng, cận lâm sàng, nhận
dịch lọc và điều chỉnh liều EPO ở tháng tiếp
theo Những bệnh nhân không có sự gia tăng
đáng kể hàm lượng Hb (10g/l/tháng) sẽ được
tăng liều EPO, mục tiêu là duy trì hàm lượng Hb
≥ 100g/l Ngược lại, những bệnh nhân có hàm
lượng Hb >120g/l sẽ được xem xét giảm liều để
tránh các biến chứng nhất là về tim mạch Kết
quả nghiên cứu cho thấy việc điều chỉnh liều
EPO có mỗi liên quan chặt chẽ với đáp ứng điều
trị của bệnh nhân dựa trên chỉ số Hb
Không có sự khác biệt về nồng độ sắt huyết
thanh và ferritin giữa 3 nhóm bệnh nhân thiếu
máu nhẹ, vừa và nặng, (p>0,05) Số bệnh nhân
đạt được nồng độ ferritin mục tiêu ≥ 200 µg/l
theo khuyến cáo về bổ sung sắt của Hội thảo về
EPO châu Âu tháng 11/1994 chiếm 71,4% Nhiều
nghiên cứu của Việt Nam và trên thế giới cho
thấy, tình trạng dự trữ sắt huyết thanh có ảnh
hưởng đến khả năng tạo máu của cơ thể
Nguyên nhân của sự khác biệt này có thể do
trong nghiên cứu của chúng tôi, nồng độ sắt và
ferritin huyết thanh có sự khác biệt lớn giữa các
bệnh nhân, trong khi cỡ mẫu lại nhỏ, không đủ
để phát hiện ra sự khác biệt
KẾT LUẬN
Kết quả nghiên cứu của chúng tôi ở 70
bệnh nhân điều trị CAPD cho thấy nồng độ
Hb đã được điều chỉnh để đạt được đích
điều trị, nhóm bệnh nhân có Hb dưới đích nồng
độ Hb trung bình tăng từ 88,40 ± 8,44 g/l lên
96,23 ± 13,96 g/l, nhóm bệnh nhân có nồng độ Hb
vượt đích, nồng độ Hb trung bình giảm từ 129,88
± 9,66 g/l xuống còn 110,40 ± 18,43 g/l, sự khác biệt có ý nghĩa thống kê, p<0,05 Có mối tương quan nghịch giữa ure và creatinin với nồng độ
Hb (r lần lượt bằng -0,401 và -0,443, p<0,05) Có mối tương quan thuận giữa albumin và protein với Hb (r lần lượt bằng 0,349 và 0,319, p<0,05) Liều EPO được điều chỉnh theo đáp ứng của bệnh nhân dựa trên chỉ số Hb (r=-0,657, p<0,05)
Lời cảm ơn: Chúng tôi xin chân thành cảm ơn ban chủ nhiệm, các
bác sỹ và điều dưỡng khoa Thận-Tiết niệu, Bệnh viện Bạch Mai đã tạo điều kiện cho chúng tôi trong quá trình nghiên cứu
TÀI LIỆU THAM KHẢO
Kidney Disease”, Clinical Dialysis, pp 691-723
bằng Erythropoietin trên bệnh nhân suy thận mạn đang được lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Điện Biên” Luận
án Dược sĩ chuyên khoa II Đại học Dược Hà Nội
400-4
thiếu máu trong bệnh thận mạn”
“Individualized anemia management reduces hemoglobin
variability in hemodialysis patients”, J Am Soc Nephrol 25(1),
pp 159-166
Work Group (2013), “KDIGO 2012 Clinical Practice Guideline for the Evaluation and Managerment of Chronic Kidney
Disease”, Kidney international, pp 1 -150
Kidney Disease Comprehensive clinical nephrology 5 th
bệnh nhân suy thận mạn chưa điều trị Erythropoietin” Luận
văn thạc sỹ Y học
Nhà xuất bản Y học Hà Nội pp 218-231
concentrations for the diagnosis of anemia and assessment of severity
Ngày phản biện nhận xét bài báo: 14/04/2017 Ngày bài báo được đăng: 15/05/2017