1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Tỉ lệ sa sút trí tuệ và các yếu tố liên quan ở bệnh nhân cao tuổi tại khoa lão Bệnh viện Nhân dân Gia Định

5 103 2

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 5
Dung lượng 305,37 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bài viết khảo sát tỉ lệ hiện mắc SSTT ở bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại khoa Lão, xác định các yếu tố liên quan như tuổi, giới, trình độ học vấn, nguyên nhân nhập viện, thời gian nằm viện.

Trang 1

TỈ LỆ SA SÚT TRÍ TUỆ VÀ CÁC YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở BỆNH NHÂN CAO TUỔI TẠI KHOA LÃO BỆNH VIỆN NHÂN DÂN GIA ĐỊNH

Trần Thị Thanh Thảo * , Nguyễn Trần Tố Trân ** , Nguyễn Văn Trí**, Nguyễn Minh Phụng ***

TÓM TẮT

Đặt vấn đề: Sa sút trí tuệ (SSTT) là bệnh lý thường gặp ở bệnh nhân cao tuổi nằm viện tại khoa Lão Tuy

nhiên, hiện chưa có nghiên cứu xác định tỉ lệ hiện mắc SSTT tại khoa Lão bệnh viện Nhân Dân Gia Định

Mục tiêu nghiên cứu: Khảo sát tỉ lệ hiện mắc SSTT ở bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại khoa Lão, xác

định các yếu tố liên quan như tuổi, giới, trình độ học vấn, nguyên nhân nhập viện, thời gian nằm viện

Phương pháp nghiên cứu: cắt ngang mô tả gồm 433 bệnh nhân từ 60 tuổi trở lên nhâp khoa Lão bệnh viện

Nhân Dân Gia Định từ tháng 9/2015 đến tháng 5/2016 Chẩn đoán SSTT theo tiêu chuẩn DSM-V

Kết quả: Tỉ lệ hiện mắc SSTT tại Khoa Lão là 36,3% SSTT có mối liên quan với tuổi, trình độ học vấn, thời

gian nằm viện, nhâp viện vì viêm phổi, rối loạn nước và điện giải

Kết luận: Bệnh nhân cao tuổi tại khoa Lão có tỉ lệ mắc SSTT rất cao SSTT liên quan với nhập viện vì viêm

phổi, rối loạn nước và điện giải

Từ khoá: sa sút trí tuệ, khoa Lão, DSM-V

ABSTRACT

PREVALENCE OF DEMENTIA AND RELATED FACTORS AMONG ELDERLY PAITENTS IN

GERIATRIC DEPARTMENT AT GIA DINH HOSPITAL

Tran Thi Thanh Thao, Nguyen Tran To Tran, Nguyen Van Tri, Nguyen Minh Phung

* Y Hoc TP Ho Chi Minh * Supplement of Vol 21 - No 2 - 2017: 184 - 188

Background: Dementia is prevalent in elderly patients, especially in geriatric departments However, few studies addressed the prevalence of dementia at geriatric department in Vietnam Hence, it

is necessary to elucidate this issue

Objectives: To determine the prevalence of dementia in elderly patients in geriatric department at

Gia Dinh hospital, and its related factors such as: age, sex, education, causes of hospital admission and hospital length of stay

Methods: A cross sectional study included 433 elderly patients in geriatric department from

September 2015 to May 2016 Diagnosis of dementia was undertaken using DSM-V criteria

Results: the prevalence of dementia was 36.3% Age, education were significantly associated with

dementia Patients with dementia had longer hospital length of stay than patients without the condition The most common causes of hospitalization among them were pneumonia, dehydration and electrolyte disorders

Conclusions: The prevalence of dementia in geriatric department was high The patients with

dementia had high risk of hospitalization due to pneumonia, dehydration and electrolyte disorders

* Học viên cao học Lão khoa- đại học Y Dược TPHCM, ** Bộ môn Lão khoa- đại học Y Dược TPHCM,

Trang 2

Keywords: dementia, geriatric department, DSM-V

ĐẶT VẤN ĐỀ

Việt Nam chính thức bước vào giai đoạn già

hoá dân số vào năm 2011, với tỉ lệ người từ 60

tuổi trở lên chiếm 10,1% Đây là thách thức cho

nền y tế với sự thay đổi mô hình bệnh tật, nổi bật

là sự gia tăng các bệnh mạn tính và thoái hoá,

điển hình là SSTT Đây là một trong những

nguyên nhân chính gây tàn phế, giảm chất

lượng sống ở NCT SSTT làm tăng nguy cơ nhập

viện lên 3,6 lần(4), góp phần kéo dài thời gian

nằm viện, điều này giải thích cho lí do tại sao tỉ

lệ mắc SSTT trong bệnh viện lại cao hơn rất

nhiều tại cộng đồng Nghiên cứu của tác giả

Mukadam tổng hợp các nghiên cứu về SSTT tại

bệnh viện tại khoa Cấp Cứu, khoa Nội, Khoa

Ngoại, khoa Lão…cho thấy tỉ lệ SSTT là từ 19

đến 63%, trong đó, tác giả nhận định tỉ lệ này ở

khoa Lão và các đơn vị Lão Khoa chiếm tỉ lệ cao

nhất(6) Tuy nhiên, tại nước ta, các nghiên cứu về

mô hình bệnh tật ở NCT nằm viện tại khoa Lão

lại ghi nhận một tỉ lệ rất thấp bệnh nhân cao tuổi

được chẩn đoán là SSTT, điều này cho thấy lĩnh

vực này chưa được quan tâm nhiều(11).Vì vậy,

chúng tôi tiến hành nghiên cứu xác định tỉ lệ

hiện mắc SSTT và các yếu tố liên quan trên bệnh

nhân cao tuổi tại khoa Lão bệnh viện Nhân Dân

Gia Định nhằm mục đích nâng cao nhận thức về

bệnh lý này ở các bác sĩ Lão Khoa, góp phần

chẩn đoán sớm và điều trị SSTT một cách hiệu

quả hơn

Mục tiêu nghiên cứu

Xác định tỉ lệ SSTT ở bệnh nhân cao tuổi tại

khoa Lão bệnh viện Nhân Dân Gia Định

Xác định mối liên quan của SSTT với một số

yếu tố: tuổi, giới, trình độ học vấn, nguyên nhân

nhập viện, thời gian nằm viện

ĐỐI TƯỢNG - PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

Đối tượng nghiên cứu

Bệnh nhân cao tuổi điều trị nội trú tại khoa

Lão từ tháng 9/2015 đến 5/2016

Tiêu chẩn nhận vào

Các bệnh nhân ≥ 60 tuổi đang điều trị hoặc mới nhập vào khoa, tự nguyện tham gia và hợp tác trong quá trình khám lâm sàng và làm trắc nghiệm thần kinh tâm lý

Tiêu chuẩn loại trừ

Có tình trạng bệnh lý nội khoa nặng như phải đặt sonde dạ dày, mở khí quản…

Bệnh nhân bị thất ngôn, khiếm khuyết về thị lực, thính lực và không hợp tác đầy đủ

Bệnh nhân bị sảng, đột quị cấp, trầm cảm nặng, tâm thần phân liệt

Phương pháp nghiên cứu

Thiết kế nghiên cứu

Mô tả, cắt ngang

Cỡ mẫu

Công thức tính cỡ mẫu N= Z1- /2 2 p(1-p)/ d2 Với: Z1- /2 = 1,96 (độ tin cậy 95%)

p = tỉ lệ bệnh trong dân số, ước lượng 0,5, d = sai số = 0,05

Tính được n = 384 người từ 60 tuổi trở lên Chúng tôi thu thập kết quả của 433 người

Quy trình tiến hành

Bệnh nhân thỏa tiêu chí chọn mẫu sẽ được đánh giá chức năng nhận thức bằng thang tầm soát tâm thần thu gọn MMSE(5) (Mini Mental Statement Examination), được xem là bất thường khi MMSE <24 điểm (bệnh nhân biết chữ)(7), hoặc

< 18 điểm (bệnh nhân mù chữ)(1,3) và bảng đánh giá khả năng độc lập trong cuộc sống hằng ngày IADL (instrumental activities of daily living) với hạn chế từ 1 hoạt động IADL được xem là bất thường(2,4)

Chẩn đoán sa sút trí tuệ theo tiêu chuẩn DSM-V

Xử lý số liệu

Số liệu thu thập được sẽ được xử lý bằng phần mềm SPSS phiên bản 20.0

Trang 3

Dùng phép kiểm T-test, phép kiểm χ² để tìm

mối liên quan giữa SSTT với các yếu tố: tuổi,

giới, học vấn, thời gian nằm viện, nguyên nhân

nhập viện

Giá trị p<0.05 được xem là có ý nghĩa

thống kê

KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU

Có 433 bệnh nhân tham gia nghiên cứu

Đặc điểm dân số

Tuổi trung bình là 78,06 ± 8,92 tuổi, trong đó,

nữ giới chiếm 71,4%, tỉ lệ mù chữ là 36,4% Thời

gian nằm viện trung bình là 11,86 ± 6,7 ngày Các

nguyên nhân nhập viện hàng đầu ở bệnh nhân

cao tuổi là viêm phổi (50,3%), rối loạn nước và

điện giải (11%), đau thắt ngực(7,4%), nhiễm

trùng tiểu(4,6%)

Tỉ lệ mắc SSTT

Tỉ lệ SSTT là 36,3%, trong đó, chỉ có 7% (11

trường hợp) đã được chẩn đoán và đang điều

trị SSTT

Các yếu tố liên quan đến SSTT

Bảng 1: Mối liên quan giữa SSTT và các yếu tố dịch

tễ

Nhóm tuổi SSTT n(%) Không SSTT

n(%)

p

Tuổi trung bình 82,13±7,56 tuổi 75,74± 8,91

tuổi

< 0,001 60-69(75) 10 (13,3) 65 (86,7)

70-79(164) 43(26,2) 121 (73,8)

80-89(150) 81(54) 69(46)

≥90(44) 23(52,3) 21(47,7)

Giới nam 52(41,9) 72(58,1) 0,12

Nữ 105(33,9) 204(66,1)

Trình độ

học vấn

Biết

chữ

70(25,5) 204(74,5) < 0,001

chữ

87(54,7) 72(45,2) Tuổi càng cao thì tỉ lệ mắc SSTT càng tăng

Bệnh nhân từ 80 tuổi trở lên có tỉ lệ mắc SSTT

trên 50% Tỉ lệ mắc SSTT ở nam (41,9%) cao hơn

ở nữ (33,9%), sự khác biệt không có ý nghĩa

thống kê (p > 0,05) Bệnh nhân mù chữ mắc SSTT

Bảng 2: Mối liên quan giữa SSTT và nguyên nhân

nhập viện

Nguyên nhân nhập viện

SSTT (157)

Không SSTT (276)

Viêm phổi 79(50,3) 98(35,5) 0,003 1,84(1,24-2,74) Rối loạn nước và

điện giải 16 (10,2) 14 (5,07) 0,043 2,1 (1,04-4,62) Đau thắt ngực 10(6,4) 21(7,6) 0,631 1,20(0,58-2,47) Nhiễm trùng tiểu 8(5,1) 12(4,3) 0,722 0,85(0,36-2,04) Đau lưng 6(3,8) 21(7,6) 0,117 1,99(0,82-4,83)

Tỉ lệ nhập viện vì viêm phổi, rối loạn nước

và điện giải ở nhóm bệnh nhân SSTT cao hơn nhóm bệnh nhân không SSTT, p<0,05

Bảng 3: Mối liên quan giữa SSTT và thời gian nằm

viện

Thời gian nằm viện

SSTT (ngày) Không SSTT

(ngày)

p

Trung bình 14,21 ± 7,7 10,53 ± 5,6 <0,001 Thời gian nằm viện của nhóm bệnh nhân SSTT dài hơn nhóm bệnh nhân không SSTT là 4 ngày, p<0,001

BÀN LUẬN

Tỉ lệ SSTT

Tỉ lệ mắc SSTT ở bệnh nhân cao tuổi nằm viện là 36,3% Kết quả nghiên cứu của chúng tôi thấp hơn khi so sánh với nghiên cứu của Trần Công Thắng là 51,94%(10) Điều này có thể giải thích do đối tượng nghiên cứu của tác giả là nhóm bệnh nhân cao tuổi mắc đái tháo đường,

và phải nhập viện vì kiểm soát đường huyết không tốt, đây là một yếu tố nguy cơ của SSTT

Tỉ lệ SSTT ở bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên là 38,4%, tương tự với kết quả nghiên cứu của Marengoni tiến hành tại đơn vị chăm sóc Lão khoa tại Ý, trên đối tượng bệnh nhân từ 65 tuổi trở lên là 38,9% Tuy nhiên, nghiên cứu của chúng tôi ghi nhận chỉ có 7% trường hợp

đã được chẩn đoán SSTT trước đó, thấp hơn rất nhiều tỉ lệ 19,5% bệnh nhân đã được chẩn đoán SSTT của tác giả Điều này cho thấy SSTT hiện chưa được quan tâm đúng mức trên

Trang 4

mắc SSTT Việc chẩn đoán SSTT phụ thuộc

nhiều vào bác sĩ lâm sàng có nghi ngờ hay

không để tiến hành tầm soát

Các yếu tố dịch tễ liên quan đến SSTT

Nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy tuổi

càng cao thì tỉ lệ mắc SSTT càng tăng Cứ mỗi 10

năm, tỉ lệ này tăng lên gấp đôi, và hơn ½ bệnh

nhân bị SSTT là ở nhóm đại lão SSTT không có

mối liên quan với giới tính, nhận định này tương

tự với nghiên cứu Rottetdam, tỉ lệ mắc SSTT ở

nam và nữ khác nhau không có ý nghĩa thống

kê, RR=1, CI 95% là 0,8- 1,24 Tuy nhiên, khi phân

chia dưới nhóm SSTT như bệnh Alzheimer và

SSTT mạch máu lại cho kết quả khác nhau có ý

nghĩa thống kê Nghiên cứu của chúng tôi một

lần nữa khẳng định mối liên quan giữa SSTT và

trình độ học vấn Tỉ lệ SSTT cao ở nhóm mù chữ

có thể giài thích do dự trữ nhận thức thấp, kiểm

soát kém các yếu tố nguy cơ mạch máu, gặp khó

khăn trong quá trình đánh giá nhận thức

Mối liên quan giữa SSTT và nguyên nhân

nhập viện

Nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy bệnh

nhân SSTT nhập viện vì viêm phổi chiếm hơn

50%, cao hơn so với nhóm không SSTT là 35,5%,

p<0,05 Kết quả này tương tự với Samspon, tỉ lệ

bệnh nhân SSTT nhập viện vì viêm phổi là

23,8%, cao hơn so với 8,2% ở nhóm không SSTT,

p<0,05(8) Tương tự, nghiên cứu của Torian cho

thấy 41,1% bệnh nhân nhập viện vì viêm phổi

mắc SSTT, tỉ lệ này ở nhóm bệnh nhân không

SSTT là 13,2%, p= 0,015(9) Suy yếu hệ thống miễn

dịch làm tăng nguy cơ mắc các bệnh lý nhiễm

trùng ở NCT Đặc biệt, ở bệnh nhân SSTT, nguy

cơ này càng cao hơn Thứ nhất, bệnh nhân SSTT

tiếp xúc nhiều hơn các tác nhân do chịu ảnh

hưởng các yếu tố như giảm vận động, thiếu

nước, hạn chế hoạt động chức năng…Thứ hai,

bệnh nhân SSTT có xu hướng giảm hay trì hoãn

các hành vi tìm kiếm trợ giúp vì chậm phát hiện

các triệu chứng bệnh hay hạn chế trong kỹ năng

giao tiếp và hậu quả là, bệnh nhiễm trùng sẽ

không được chẩn đoán ở bệnh nhân SSTT cho

đến khi triệu chứng bệnh trầm trọng hoặc xảy ra các triệu chứng như mê sảng, sẽ gây nhầm lẫn cho người chăm sóc và nhân viên y tế, xem đó là một triệu chứng của bệnh SSTT hơn là đi tìm nguyên nhân thúc đẩy tình trạng này

Nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy tỉ lệ nhập viện vì rối loạn nước và điện giải (mất nước, hạ Natri, tăng Natri, tăng Kali máu) ở nhóm SSTT cao hơn ở nhóm không SSTT (10,2%

so với 5,7%), sự khác biệt có ý nghĩa thống kê Nghiên cứu của tác giả Natalwala cũng nhận định tương tự, tỉ lệ này ở nhóm SSTT là 3,08%, cao hơn nhiều nhóm không SSTT là 0,3%, p<0,001(9) Giải thích cho lí do tại sao bệnh nhân SSTT lại có nguy cơ nhập viện vì rối loạn nước

và điện giải nhiều hơn, câu trả lời có liên quan đến tình trạng thiếu dinh dưỡng Bệnh nhân SSTT giảm khả năng cảm nhận đói và khát, giảm nhạy cảm mùi vị và cần trợ giúp trong việc tự ăn uống, do đó, tăng tỉ lệ mất nước, hạ Natri Điều này đòi hỏi cần có những chương trình giáo dục dinh dưỡng cho bệnh nhân SSTT Ngược lại, rối loạn nước và điện giải làm nặng thêm tình trạng SSTT, tăng nguy cơ té ngã và nhiễm trùng Kết quả của chúng tôi chưa tìm thấy mối liên quan giữa SSTT và nhiễm trùng tiểu Trái ngược với chúng tôi, các nghiên cứu trên thế giới đều ghi nhận sự khác biệt này có ý nghĩa thống kê tỉ

lệ nhập viện vì nhiễm trùng tiểu ở nhóm bệnh nhân SSTT là cao hơn nhóm không SSTT(7,8) Sự khác biệt này có thể giải thích do trong nghiên cứu của chúng tôi, số lượng bệnh nhân nhập viện vì nhiễm trùng tiểu chiếm tỉ lệ thấp nên chưa có tính đại diện

Nghiên cứu của chúng tôi chưa tìm thấy mối liên quan giữa SSTT và các nguyên nhân nhập viện thường gặp khác như đau thắt ngưc, đau lưng Kết quả này cũng tương tự với các nghiên cứu khác(7,9)

Mối liên quan giữa SSTT và thời gian nằm viện

Nghiên cứu của chúng tôi nhận thấy SSTT làm kéo dài thời gian nằm viện, p < 0,001,

Trang 5

nhận định này tương tự nghiên cứu của

Lyketsos Samspon(3,8) Lý do của việc kéo dài

thời gian nằm viện ở bệnh nhân SSTT vẫn

chưa rõ ràng, nhiều nghiên cứu cho thấy có

mối liên quan giữa SSTT và hạn chế hoạt động

chức năng, tăng nguy cơ sảng và cần nhiều

thời gian hồi phục bệnh cấp hơn, ngoài ra,

bệnh nhân SSTT thường được trì hoãn xuất

viện vì khó khăn trong việc đánh giá thời

điểm an toàn thích hợp để xuất viện

KẾT LUẬN

SSTT là bệnh thường gặp ở bệnh nhân cao

tuổi nằm viện tại khoa Lão bệnh viện Nhân Dân

Gia Định, với tỉ lệ hiện mắc là 36,3%, tuy nhiên,

chỉ có 7% bệnh nhân đã được chẩn đoán Do đó,

cần tiến hành tầm soát SSTT ở bệnh nhân cao

tuổi điều trị nội trú tại khoa Lão. Chúng tôi tìm

thấy mối liên quan giữa SSTT với tuổi, trình độ

học vấn SSTT cũng làm kéo dài thêm thời gian

nằm viện, tăng nguy cơ nhập viện vì viêm phổi,

rối loạn nước và điện giải

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Aprahamian I, Martinelli JE, Cecato J, Yassuda MS

(2011),”Screening for Alzheimer's disease among illiterate

elderly: accuracy analysis for multiple instruments", J

Alzheimers Dis 26(2), tr 221-9

2 Lawton MP và Brody EM (1969),”Assessment of older people: self-maintaining and instrumental activities of daily living",

Gerontologist 9 (3), tr 179-86

3 Lyketsos CG, Sheppard JM và Rabins PV (2000),”Dementia in

elderly persons in a general hospital", Am J Psychiatry 157(5), tr

704-7

4 Maslow K (2004),”Dementia and serious coexisting medical

conditions: A double whammy", Nursing Clinics of North

America 39(3), tr 561-79

5 Mitchell AJ (2009),”A meta-analysis of the accuracy of the mini-mental state examination in the detection of dementia and mild

cognitive impairment.", J Psychiatr Res 43(4), tr 411-31

6 Mukadam N và Sampson EL (2011),”A systematic review of the prevalence, associations and outcomes of dementia in older

general hospital inpatients", Int Psychogeriatrics 23(3), tr 344-55

7 Natalwala A, Potluri R, Uppal H, Heun R (2008),”Reasons for Hospital Admissions in Dementia Patients in Birmingham, UK,

during 2002–2007”, Dement Geriatr Cogn Disord 26, tr 499-505

8 Sampson EL và Blanchard MR (2009),”Dementia in the acute hospital: prospective cohort study of prevalence and mortality",

Br J Psychiatry 195(1), tr 61-6

9 Torian L and et al (1992),”The effect of dementia on acute care

in a geriatric medical unit", Int Psychogeriatrics 4(2), tr 231-9

10 Trần Công Thắng và Tống Mai Trang (2011),”Khảo sát thay đổi trí nhớ và suy giảm nhận thức trên bệnh nhân đái tháo đường",

Tạp chí y học 15(2), tr 81-83

11 Võ Văn Tỵ và Trần Mạnh Hùng (2012),”Khảo sát mô hình bệnh

tật và tử vong tại bệnh viện Thống Nhất năm 2010", Nghiên cứu

Y học 16(Phụ bản của Số 1), tr 11-6

Ngày phản biện nhận xét bài báo: 15/12/2016 Ngày bài báo được đăng: 01/03/2017

Ngày đăng: 15/01/2020, 05:54

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w