1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận án tiến sĩ Sinh học: Nghiên cứu phân loại các loài dơi thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus (Chiroptera: Vespertilionidae) ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam dựa trên đặc điểm hình

190 52 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 190
Dung lượng 5,75 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Mục đích cơ bản của luận án này là cung cấp đặc điểm hình thái nhận diện của các loài dơi thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus ở một số tỉnh thuộc miền Bắc Việt Nam. Cung cấp dẫn liệu về tiếng kêu siêu âm và di truyền phân tử của một số loài dơi thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus ghi nhận đƣợc ở khu vực nghiên cứu trong thời gian thực hiện đề tài.

Trang 1

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

- -

NGUYỄN VĂN VIẾT

NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI CÁC LOÀI DƠI

THUỘC GIỐNG MYOTIS VÀ GIỐNG PIPISTRELLUS

(CHIROPTERA: VESPERTILIONIDAE) Ở MỘT SỐ TỈNH MIỀN BẮC VIỆT NAM DỰA TRÊN ĐẶC ĐIỂM HÌNH THÁI,

TIẾNG KÊU SIÊU ÂM VÀ DI TRUYỀN PHÂN TỬ

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

Hà Nội - 2019

Trang 2

VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM

VIỆN SINH THÁI VÀ TÀI NGUYÊN SINH VẬT

- -

NGUYỄN VĂN VIẾT

NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI CÁC LOÀI DƠI THUỘC GIỐNG MYOTIS

VÀ GIỐNG PIPISTRELLUS (CHIROPTERA: VESPERTILIONIDAE) Ở

MỘT SỐ TỈNH MIỀN BẮC VIỆT NAM DỰA TRÊN ĐẶC ĐIỂM HÌNH

THÁI, TIẾNG KÊU SIÊU ÂM VÀ DI TRUYỀN PHÂN TỬ

Chuyên ngành: Động vật học

Mã số: 9 42 01 03

LUẬN ÁN TIẾN SĨ SINH HỌC

Người hướng dẫn khoa học 1 : GS.TS Lê Vũ Khôi Người hướng dẫn khoa học 2: PGS.TS Vũ Đình Thống

Hà Nội - 2019

Trang 3

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của tôi Các kết quả trình bày trong luận án là trung thực, chưa sử dụng trong bất kì luận văn hoặc luận án nào khác

Tác giả

Nguyễn Văn Viết

Trang 4

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới GS.TS Lê Vũ Khôi và PGS.TS Vũ Đình Thống, những người thầy đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành luận án này

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc tới PGS TS Vũ Đình Thống,

TS Nguyễn Trường Sơn, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; ThS Đào Nhân Lợi, khoa Nông Lâm, Trường Đại học Tây Bắc đã chia sẻ mẫu cho nghiên cứu này

Tôi xin chân thành cảm ơn tới Ban Giám hiệu, cán bộ phòng Đào tạo và đồng nghiệp Trường Cao đẳng Hải Dương; Ban lãnh đạo Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật; cán bộ Phòng Bảo tàng Động vật, Phòng Động vật có xương sống, Phòng Động vật đất, Phòng Hành chính - Tổng hợp, bộ phận Đào tạo thuộc Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam

đã tạo điều kiện và giúp đỡ tôi trong thời gian nghiên cứu

Tôi xin cảm ơn lãnh đạo và cán bộ phòng Hệ thống phân tử và Di truyền bảo tồn, Viện Sinh thái và Tài nguyên sinh vật; Tổ Hệ gen học miễn dịch thuộc phòng

Hệ gen học người thuộc Viện nghiên cứu Hệ gen, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam; Phòng thí nghiệm Di truyền học và Phòng Sinh học phân tử-Tế bào, Khoa Sinh học và Bảo tàng Sinh học, Trường Đại học Khoa học Tự nhiên, Đại học Quốc Gia Hà Nội trong việc giải trình tự ADN và chia sẻ các mẫu nghiên cứu Tôi xin cảm ơn lãnh đạo và cán bộ chi cục Kiểm lâm các Tỉnh Hải Dương, Hải Phòng, Quảng Ninh, Bắc Giang, Sơn La, Lai Châu, Điện Biên, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Lạng Sơn, Phú Thọ, Hòa Bình, Ninh Bình đã tạo điều kiện trong quá trình điều tra thực địa

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn đến gia đình: Bố, mẹ, vợ, các con, anh chị em… đã luôn ủng hộ, động viên, giúp đỡ tôi trong suốt quá trình thực hiện luận án

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

Lý do chọn đề tài 1

Mục tiêu của đề tài luận án 2

Nội dung nghiên cứu của đề tài luận án 3

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án 3

Những đóng góp mới của đề tài luận án 3

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 5

1.1 Khái quát nghiên cứu phân loại dơi trên thế giới 5

1.1.1 Phân loại bộ Dơi (Chiroptera) 5

1.1.2 Phân loại giống Myotis và giống Pipistrellus 12

1.2 Khái quát nghiên cứu dơi ở Việt Nam 20

1.2.1 Lược sử nghiên cứu 20

1.2.2 Tình hình nghiên cứu tiếng kêu siêu âm và di truyền phân tử của các loài dơi ở Việt Nam 23

1.2.3 Nghiên cứu phân loại giống Myotis 25

1.2.4 Nghiên cứu phân loại giống Pipistrellus 29

CHƯƠNG II ĐỊA ĐIỂM, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 32

2.1 Địa điểm và thời gian nghiên cứu 32

2.2 Dụng cụ, hóa chất và vật liệu nghiên cứu 33

2.3 Phương pháp nghiên cứu 34

2.3.1 Phương pháp thu mẫu 34

2.3.2 Phương pháp xử lí mẫu 35

2.3.3 Phương pháp ghi và phân tích tiếng kêu siêu âm 39

2.3.4 Phương pháp phân tích ADN 40

CHƯƠNG III KẾT QUẢ VÀ BÀN LUẬN 41

3.1 Thành phần loài dơi thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus ở khu vực nghiên cứu 41

3.2 Những loài dơi ghi nhận mới cho khu vực nghiên cứu và Việt Nam 42

3.2.1 Loài Myotis altarium Thomas, 1911 42

3.2.2 Dạng loài Myotis cf montivagus 47

3.2.3 Dạng loài Myotis cf laniger 54

3.3 Đặc điểm hình thái nhận dạng các loài thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus thuộc vùng nghiên cứu 59

3.3.1 Đặc điểm hình thái ngoài 59

Trang 6

3.3.2 Đặc điểm hình thái sọ và răng 68

3.3.3 Đặc điểm sụn ngọc hành 77

3.4 Đặc điểm tiếng kêu siêu âm của một số loài thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus ghi nhận đƣợc trong quá trình nghiên cứu 79

3.4.1 Giống Myotis 79

3.4.2 Giống Pipistrellus 81

3.5 Đặc điểm di truyền phân tử 83

3.6 Đặc điểm nhận dạng của các loài dơi thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam 85

3.6.1 Myotis chinensis Tomes, 1857 85

3.6.2 Myotis pilosus Peters, 1869 88

3.6.3 Myotis montivagus Dobson, 1874 91

3.6.4 Myotis indochinensis Nguyen et al, 2013 94

3.6.5 Myotis annectans Dobson, 1871 96

3.6.6 Myotis muricola Gray, 1846 99

3.6.7 Myotis siligorensis Horsfield, 1855 102

3.6.8 Myotis laniger Peters, 1870 105

3.6.9 Myotis annamiticus Kruskop, Tsytsulina, 2001 107

3.6.10 Myotis horsfieldii Temminck, 1840 109

3.6.11 Myotis hasseltii Temminck, 1840 111

3.6.12 Pipistrellus paterculus Thomas, 1915 113

3.6.13 Pipistrellus abramus Temminck, 1840 115

3.6.14 Pipistrellus tenuis Temminck, 1840 118

3.6.15 Pipistrellus coromandra Gray, 1838 120

3.6.16 Pipistrellus javanicus Gray, 1838 122

3.7 Khóa định loại các loài thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus ở miền Bắc Việt Nam 125

3.7.1 Giống Myotis 125

3.7.2 Giống Pipistrellus 127

KẾT LUẬN 128

KIẾN NGHỊ 129

TÀI LIỆU THAM KHẢO 130

Trang 7

DANH MỤC BẢNG

Bảng 1.1 Số loài dơi ghi nhận ở Việt Nam trong một số nghiên cứu trước 22

Bảng 1.2 Các loài dơi mới đối với khu hệ dơi Việt Nam được ghi nhận từ năm

2006 đến nay 23

Bảng 1.3 Thành phần loài dơi thuộc giống Myotis ở Việt Nam trong một số nghiên

cứu trước 26

Bảng 1.4 Thông số về tiếng kêu siêu âm của một số loài thuộc giống Myotis ở Việt

Nam trong một số nghiên cứu trước 28

Bảng 1.5 Thành phần loài dơi thuộc giống Pipistrellus ở Việt Nam trong một số

nghiên cứu trước 30

Bảng 1.6 Thông số về tiếng kêu siêu âm của một số loài thuộc giống Pipistrellus ở

Việt Nam trong một số nghiên cứu trước 31 Bảng 2.1: Các cặp mồi được sử dụng trong phân tích ADN 40

Bảng 3.1 Thành phần loài dơi thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus ghi nhận

được ở khu vực nghiên cứu 41

Bảng 3.2 Một số thông số của loài M altarium trong nghiên cứu này và một số

nghiên cứu trước 43

Bảng 3.3 Kết quả so sánh trình tự của gen COI thuộc loài M altarium trong nghiên

cứu này với trình tự của một số gen COI trên ngân hàng gen 45

Bảng 3.4 Một số chỉ số hình thái ngoài, hình thái sọ, răng của loài Myotis cf

montivagus và loài M montivagus 51

Bảng 3.5 Kết quả so sánh trình tự của gen COI thuộc loài M cf montivagus trong

nghiên cứu này với trình tự của một số gen COI trên ngân hàng gen 53

Bảng 3.6 Kết quả so sánh trình tự của gen COI thuộc loài M cf laniger trong

nghiên cứu này với trình tự của một số gen COI trên ngân hàng gen 58

Bảng 3.7 Các chỉ số FA, E, Cr và HF của 5 loài thuộc giống Pipistrellus trong

nghiên cứu này 59

Trang 8

Bảng 3.8 Các chỉ số FA, E, Cr và HF của 14 loài và dạng loài thuộc giống Myotis

trong nghiên cứu này 60

Bảng 3.9: Vị trí tương đối chiều dài cẳng tay so với mút mõm và mút tai của một số

loài thuộc giống Myotis trong nghiên cứu này 63

Bảng 3.10 Vị trí tương đối giữa chiều dài tai so với mút mõm của một số loài thuộc

giống Myotis 66

Bảng 3.11 Một số chỉ số hộp sọ của 14 loài và dạng loài thuộc giống Myotis trong

nghiên cứu này 69

Bảng 3.12 Một số chỉ số về hộp sọ của 5 loài thuộc giống Pipistrellus trong nghiên

cứu này 70

Bảng 3.13 Một số chỉ số về răng thuộc giống Myotis trong nghiên cứu này 74 Bảng 3.14 Một số chỉ số về răng thuộc giống Pipistrellus trong nghiên cứu này 75

Bảng 3.15 Tương quan về chiều cao giữa các răng thuộc hàm trên, hàm dưới ở các

loài thuộc giống Myotis trong nghiên cứu này 76

Bảng 3.16 Tương quan về chiều cao giữa các răng thuộc hàm trên, hàm dưới ở các

loài thuộc giống Pipistrellus trong nghiên cứu này 76

Bảng 3.17 Một số thông số tiếng kêu siêu âm của các loài M pilosus, M chinensis, M

siligorensis và M muricola ghi nhận được trong quá trình nghiên cứu 80

Bảng 3.18 Một số thông số siêu âm của các loài P javanicus, P abramus và P

coromandra ghi nhận được trong nghiên cứu này 81

Bảng 3.19 Kết quả so sánh trình tự gen COI và gen 16S ở các loài thuộc giống

Myotis và giống Pipistrellus trong nghiên cứu này với trình tự các gen tương ứng

trên ngân hàng gen 84

Bảng 3.20 Kết quả so sánh trình tự của gen COI thuộc loài M chinensis trong

nghiên cứu này với trình tự của một số gen COI trên ngân hàng gen 86

Bảng 3.21 Kết quả so sánh trình tự của gen COI thuộc loài M pilosus trong nghiên

cứu này với trình tự của một số gen COI trên ngân hàng gen 89

Trang 9

Bảng 3.22 Kết quả so sánh trình tự của gen COI thuộc loài M montivagus trong

nghiên cứu này với trình tự của một số gen COI trên ngân hàng gen 92

Bảng 3.23 Kết quả so sánh trình tự của gen COI thuộc loài M annectans trong

nghiên cứu này với trình tự của một số gen COI trên ngân hàng gen 97

Bảng 3.24 Kết quả so sánh trình tự của gen COI thuộc loài M muricola trong

nghiên cứu này với trình tự của một số gen COI trên ngân hàng gen 100

Bảng 3.25 Kết quả so sánh trình tự của gen COI thuộc loài M siligorensis trong

nghiên cứu này với trình tự một số gen COI trên ngân hàng gen 103

Bảng 3.26 Kết quả so sánh trình tự gen 16S của loài P abramus trong nghiên cứu

này với trình tự của một số gen 16S trên ngân hàng gen 116

Bảng 3.27 Kết quả so sánh trình tự của gen COI thuộc loài P tenuis trong nghiên

cứu này với một số trình tự của gen COI trên ngân hàng gen 119

Bảng 3.28 Kết quả so sánh trình tự gen COI của loài P javanicus trong nghiên cứu

này với trình tự của một số gen COI trên ngân hàng gen 123

Trang 10

DANH MỤC HÌNH

Hình 1.1 Các kiểu tín hiệu siêu âm chính ở dơi (theo Hill & Smith, 1984) [107] 10

Hình 1.2 Hình thái cơ bản của tai và bề mặt răng hàm hàm dưới bên trái ở giống Myotis (A,C) và giống Pipistrellus (B,D) (Theo Kruskop, 2013) [137] 14

Hình 2.1 Sơ đồ các điểm tiến hành điều tra khảo sát thực địa thu mẫu dơi 32

Hình 2.2: Thu mẫu dơi bằng lưới mờ 34

Hình 2.3: Thu mẫu dơi bằng bẫy thụ cầm 35

Hình 2.4: Cách đo một số chỉ số hình thái ngoài của dơi 36

Hình 2.5: Cách đo một số chỉ số về sọ và răng của dơi 37

Hình 3.1 Kết quả phân tích sự sai khác về kích thước (I), hình dạng (II) của loài M altarium (x), M annectans (o), M montivagus (□), M indochinensis (∆) bằng phương pháp PCA theo 5 chỉ số 44

Hình 3.2 Kết quả phân tích mức độ đóng góp của 5 chỉ số về kích thước (I) và hình dạng (II) vào sự khác biệt của 4 loài M altarium, M annectans, M indochinensis và M montivagus 44

Hình 3.3 Hình thái hộp sọ, răng (A), hình thái ngoài (C), cấu trúc tiếng kêu siêu âm (D) và vùng phân bố (B) loài M altarium ở Việt Nam 46

Hình 3.4 Hình thái sọ, răng của các loài M cf montivagus (A) và M montivagus (B) 49

Hình 3.5 Kết quả phân tích sự sai khác về kích thước (I), hình dạng (II) giữa loài M cf montivagus (□) với loài M montivagus (∆), M muricola (o) bằng phân tích PCA theo 5 chỉ số FA, E, HF, Cr và HB 52

Hình 3.6 Kết quả phân tích mức độ đóng góp của 5 chỉ số về kích thước (I) và hình dạng (II) vào sự sai khác của 3 loài M cf montivagus, M montivagus và M muricola.52 Hình 3.7 Hình thái hộp sọ và răng của loài M cf laniger (A) và loài M laniger (B) 56

Hình 3.8 Kết quả phân tích sự khác biệt về kích thước (I), hình dạng (II) giữa loài M cf laniger (□) và loài M laniger (o) bằng phân tích PCA theo 5 chỉ số 57

Hình 3.9 Kết quả phân tích mức độ đóng góp vào sự sai khác giữa loài M cf montivagus và loài M laniger theo 5 chỉ số về kích thước (I) và hình dạng (II) 57

Hình 3.10 Cách đo vị trí tương đối của cẳng tay so với mút mõm, mút tai 62

Hình 3.11 Các kiểu hình thái tai cơ bản ở các loài thuộc giống Myotis 64

Hình 3.12 Các kiểu hình thái mấu tai ở các loài thuộc giống Pipistrellus trong nghiên cứu này 67

Hình 3.13 Các kiểu hình thái xương gò má ở các loài thuộc giống Myotis trong nghiên cứu này 71

Hình 3.14 Các kiểu hình thái đường gân giữa hộp sọ ở các loài thuộc giống Myotis trong nghiên cứu này 71

Hình 3.15 Hình thái mặt trên hộp sọ ở các loài thuộc giống Pipistrellus 73

Hình 3.16 Hình thái sụn ngọc hành của các loài P abramus (A), P paterculus (B), P javanicus (C), P tenuis và P coromandra (D) 78

Trang 11

Hình 3.17 Đồ thị tiếng kêu siêu âm của loài M chinensis (A), M siligorensis (B), M pilosus (C, D), và M muricola (E, F) ghi nhận được trong quá trình nghiên cứu 79 Hình 3.18 Đồ thị tiếng kêu siêu âm của các loài P javanicus (A), P abramus (B) và P

coromandra (C) ghi nhận được trong nghiên cứu này 82

Hình 3.19 Hình thái thân (A,B), sọ, răng (C) và vùng phân bố (D) của loài M chinensis

ghi nhận ở Việt Nam 87Hình 3.20 Hình thái thân (A) [246], kiểu gắn màng bay vào chân (B), sọ và răng (C) và

vùng phân bố (D) của loài M pilosus ghi nhận ở Việt Nam 90 Hình 3.21 Hình thái thân (A) [257] sọ và răng (B) và vùng phân bố (C) của loài M

montivagus ghi nhận ở Việt Nam 93

Hình 3.22 Hình thái thân (A) [247] sọ và răng (B), vùng phân bố (C) của loài M

indochinensis ghi nhận được ở Việt Nam 95

Hình 3.23 Hình thái thân (A) [248], sọ và răng (B) và vùng phân bố (C) của loài M

annectans ghi nhận được ở Việt Nam 98

Hình 3.24 Hình thái thân (A), sọ và răng (B) và vùng phân bố (C) của loài M muricola ghi

nhận ở Việt Nam 101

Hình 3.25 Hình thái thân (A) [249], sọ và răng (B) và vùng phân bố (C) của loài M

siligorensis ghi nhận ở Việt Nam 104

Hình 3.26 Hình thái thân (A) [250], vị trí gắn màng bay vào bàn chân (B), hình thái sọ và

răng (C) và vùng phân bố (D) của loài M laniger ghi nhận ở Việt Nam 106

Hình 3.27 Hình thái thân (A) [251], vị trí tương đối của cẳng tay so với mút mõm (B), sọ và

răng (C) và vùng phân bố (D) của loài M annamiticus ghi nhận ở Việt Nam 108

Hình 3.28 Hình thái thân (A) [252], vị trí gắn của màng bay vào xương bàn chân (B), sọ và răng

(C) và vùng phân bố (D) của loài M horsfieldii ghi nhận ở Việt Nam 110

Hình 3.29 Hình thái thân (A) [258], vị trí gắn của màng bay vào bàn chân (B), sọ và răng

(C) và vùng phân bố (D) của loài M hassetii ghi nhận ở Việt Nam 112 Hình 3.30 Hình thái thân (A) [253], sọ và răng (B) và vùng phân bố (C) của loài P

parterculus ghi nhận ở Việt Nam 114

Hình 3.31 Hình thái ngoài (A) [254], sọ và răng (B) và vùng phân bố (C) của loài P

abramus ghi nhận ở Việt Nam 117

Hình 3.32 Hình thái thân (A) [255], sọ và răng (B) và vùng phân bố (C) của loài P

tenuis ghi nhận ở Việt Nam 119

Hình 3.33 Hình thái thân (A) [256], sọ và răng (B) và vùng phân bố (C) của loài P

coromandra ghi nhận ở Việt Nam 121

Hình 3.34 Hình thái thân (A), sọ và răng (B) và vùng phân bố (C) của loài P javanicus

ghi nhận ở Việt Nam 124

Trang 12

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

Trang 13

MỞ ĐẦU

Lý do chọn đề tài

Bộ dơi (Chiroptera) gồm những loài thú duy nhất có khả năng bay thực sự,

sử dụng tiếng kêu siêu âm trong hoạt động bay lượn và bắt mồi Dơi có nhiều đặc điểm chung với thú ăn sâu bọ và đã từng được coi là một nhánh của thú ăn sâu bọ thích nghi với đời sống bay lượn [12, 29, 32, 151] Chính khả năng bay đã tạo ra tính đa dạng cao và vùng phân bố rộng lớn của bộ Dơi Dơi có số loài lớn thứ hai trong lớp Thú (Mammalia), chỉ sau bộ Gặm nhấm (Rodentia) [53, 185], chiếm khoảng 1/3 số loài thú trên thế giới [2], khoảng 39% số loài thú khu vực Trung và Nam Mỹ [98] và khoảng 30% số loài thú ở khu vực Châu Á [52]

Dơi đóng vai trò quan trọng trong các hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp Chúng tham gia vào quá trình thụ phấn và phát tán thực vật, ăn côn trùng gây hại [4, 14, 77, 84, 97, 107, 118, 120, 190, 229] Phân dơi rất giàu chất dinh dưỡng, được dùng làm phân bón rất có giá trị trong nông nghiệp, đặc biệt là với cây ăn quả và cây công nghiệp [4, 121] Ngoài ra, dơi còn là một trong những động vật có tiềm năng phục vụ nghiên cứu về: thụ tinh nhân tạo [241]; tuổi thọ và hiện tượng lão hóa [30, 31, 61]; bào chế thuốc làm tan máu đông [120, 162, 177]; phương pháp chữa các bệnh về tim, đặc biệt là bệnh đột quỵ [131]; phương pháp phòng và chữa các bệnh liên quan đến vi rút Hendra, HIV, Ebola… [51, 62] Nghiên cứu về siêu âm của dơi tạo cơ sở cho một số phát minh về các thiết bị siêu

âm trong lĩnh vực y sinh học, hàng hải, hàng không và một số lĩnh vực khác [120] Ngoài ra, dơi cũng có giá trị trong lĩnh vực giáo dục và du lịch [120]

Ở nhiều nơi trên thế giới, đặc biệt là ở các nước phát triển, hình thái, giải phẫu, sinh lý, sinh hóa, di truyền phân tử, tiếng kêu siêu âm, phân loại của dơi được nghiên cứu rất kĩ Tuy vậy, số lượng các loài dơi mới được phát hiện vẫn không ngừng tăng lên, nhiều vấn đề về hệ thống phân loại và sự phát sinh loài vẫn còn đang tranh luận, chưa thống nhất giữa các nhà khoa học [46, 137]

So với các họ khác trong bộ Dơi, họ Dơi muỗi (Vespertilionidae) có độ đa dạng cao nhất, vùng phân bố rộng nhất với nhiều khác biệt lớn về khu vực kiếm ăn

và cư trú [46, 53, 137] Giống Myotis và giống Pipistrellus thuộc họ này gồm các

loài ăn côn trùng, phân bố rộng, cả ở đồng bằng và rừng núi, vì vậy, chúng là những loài có ích cho các hệ sinh thái tự nhiên và hệ sinh thái nông nghiệp Một số loài thuộc hai giống này có kích thước trung bình và nhỏ, vùng phân bố trùng nhau, đặc điểm hình thái rất giống nhau, khó phân biệt [46, 137] Mặt khác, một số loài có khả năng sử dụng tiếng kêu siêu âm rất phát triển, khó thu mẫu trong điều tra thực địa Chính những đặc điểm trên làm cho việc nghiên cứu hệ thống phân loại các loài dơi

Trang 14

thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus phức tạp nhất trong họ Dơi muỗi nói riêng

và trong bộ Dơi nói chung

Theo thống kê gần đây, ở Việt Nam đã ghi nhận đƣợc 17 loài thuộc giống

Myotis, 6 loài thuộc giống Pipistrellus [4, 56, 136, 137, 228] Những nghiên cứu

phân loại các loài thuộc hai giống dơi này không nhiều, chủ yếu dựa vào đặc điểm hình thái, trong khi đó các nghiên cứu về tiếng kêu siêu âm và di truyền phân tử còn

hạn chế Mặt khác, vị trí phân loại của một số loài nhƣ Myotis laniger, Myotis montivagus vẫn chƣa thống nhất giữa các nhà khoa học Vì vậy, việc nghiên cứu phân loại học của giống Myotis và giống Pipistrellus là rất cần thiết Thực tế, cho

đến nay, chƣa có nghiên cứu riêng nào về hệ thống phân loại của 2 giống dơi này đƣợc thực hiện

Miền Bắc Việt Nam có diện tích rộng, địa hình đa dạng, phức tạp Điều đó dẫn đến sự đa dạng cao về thành phần loài sinh vật nói chung và các loài trong bộ

Dơi nói riêng, trong đó có 2 giống dơi Myotis và Pipistrellus [13] Mặc dù có rất

nhiều cuộc điều tra khảo sát về dơi đƣợc thực hiện ở miền Bắc nhƣng chủ yếu tập trung ở khu vực Đông Bắc và Bắc Trung Bộ, khu vực Tây Bắc còn ít đƣợc nghiên cứu Mặt khác, một số loài đƣợc ghi nhận ở Trung Quốc, Thái Lan thuộc khu vực giáp biên giới với Việt Nam có thể phân bố ở Việt Nam vẫn chƣa đƣợc ghi nhận

Xuất phát từ những vấn đề trên, chúng tôi chọn đề tài “Nghiên cứu ph n

loại các loài dơi thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus (Chiroptera:

Vespertilionidae) ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam dựa trên đặc điểm hình thái, tiếng kêu siêu m và di truyền ph n tử nhằm xác định tính đa dạng về hình

thái phân loại, bổ sung dẫn liệu về tiếng kêu siêu âm và di truyền phân tử, làm cơ sở

cho việc định loại các loài dơi thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus ở một số

tỉnh thuộc miền Bắc Việt Nam

Mục tiêu của đề tài luận án

1 Cung cấp đặc điểm hình thái nhận diện của các loài dơi thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus ở một số tỉnh thuộc miền Bắc Việt Nam

2 Cung cấp dẫn liệu về tiếng kêu siêu âm và di truyền phân tử của một số loài dơi

thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus ghi nhận đƣợc ở khu vực nghiên cứu trong

thời gian thực hiện đề tài

3 Bổ sung dẫn liệu về phạm vi phân bố của một số loài thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus ở Việt Nam

4 Xây dựng khoá định loại các loài dơi thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus

hiện biết ở khu vực nghiên cứu dựa trên đặc điểm hình thái

Trang 15

Nội dung nghiên cứu của đề tài luận án

1 Xác định đặc điểm hình thái nhận diện của các loài dơi thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus ở khu vực nghiên cứu

2 Nghiên cứu đặc điểm tiếng kêu siêu âm và đặc điểm di truyền phân tử của một số

loài thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus ghi nhận được trong thời gian thực

hiện đề tài

3 Trên cơ sở đặc điểm hình thái khác biệt, xây dựng khóa định loại các loài dơi

thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus hiện biết ở khu vực nghiên cứu

4 Cập nhật thông tin về phạm vi phân bố các loài dơi thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus ở khu vực nghiên cứu

Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án

1 Cung cấp thông tin cập nhật và đầy đủ nhất về thành phần loài dơi thuộc giống

Myotis và giống Pipistrellus ở một số tỉnh miền Bắc Việt Nam

2 Bổ sung nhiều dẫn liệu về hình thái, tiếng kêu siêu âm, di truyền phân tử, phạm

vi phân bố của một số loài dơi thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus ghi nhận

được trong thời gian thực hiện đề tài

3 Kết quả luận án là cơ sở để định loại chuẩn xác hơn các loài dơi thuộc giống

Myotis và giống Pipistrellus dựa trên tổng hợp các đặc điểm hình thái ngoài, tiếng

kêu siêu âm và đặc điểm di truyền phân tử

4 Kết quả của luận án là cơ sở khoa học quan trọng cho công tác nghiên cứu tiếp theo về phân loại học và sinh thái học, cũng như công tác quản lý, bảo tồn đa dạng

sinh học các loài dơi thuộc giống Myotis và giống Pipistrellus ở Việt Nam

Những đóng góp mới của đề tài luận án

1 Xác định được danh sách 14 loài và dạng loài thuộc giống Myotis, 5 loài thuộc giống Pipistrellus Trong đó có 1 loài ghi nhận mới cho khu hệ dơi Việt Nam (M altarium) và 2 dạng loài (M cf montivagus và M cf laniger) khác lạ so với các mô

tả đã công bố trước đây

2 Bổ sung một số đặc điểm hình thái nhận diện trong phân loại các loài dơi thuộc

giống Myotis và giống Pipistrellus gồm: vị trí tương đối chiều dài cẳng tay so với

mút mõm, đặc điểm đường gân giữa hộp sọ và đặc điểm xương cung gò má

3 Bổ sung dẫn liệu về tiếng kêu siêu âm cho 4 loài thuộc giống Myotis (M chinensis,

M pilosus, M muricola, M siligorensis) và 3 loài thuộc giống Pipistrellus (P javanicus, P abramus, P coromandra) Trong đó, một số thông số về tiếng kêu siêu

âm của loài P coromandra, P abramus được ghi nhận mới ở Việt Nam

4 Bổ sung dẫn liệu mới về thành phần Nu của gen COI cho 9 loài và dạng loài thuộc

giống Myotis (M pilosus, M chinensis, M annectans, M altarium, M siligorensis, M

Trang 16

cf laniger, M montivagus, M cf montivagus, M muricola), 2 loài thuộc giống Pipistrellus (P javanicus, P tenuis) và gen 16S cho loài P abramus

Trang 17

CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU

1.1 Khái quát nghiên cứu ph n loại dơi trên thế giới

1.1.1 Phân loại bộ Dơi (Chiroptera)

1.1.1.1 Hình thái và phân loại bằng hình thái

1.1.1.1.1 Hình thái

Bộ dơi (Chiroptera) rất đa dạng về hình dạng và kích thước Loài dơi nhỏ nhất

là Craseonycteris thonglongyai với chiều dài thân từ 29 đến 34 mm, chiều dài sải cánh khoảng 12 cm, trọng lượng khoảng 2 g Loài dơi lớn nhất là Pteropus vampyrus

và Pteropus giganteus, khối lượng từ 1,2 đến 1,6 kg, sải cánh có thể đạt 1,7 m [162]

Các loài dơi vừa có các đặc điểm chung của lớp Thú (Mammalia), vừa có các đặc điểm riêng mà các loài thú khác không có [12, 107, 152] Bộ lông dơi gồm một lớp lông mao dày, chủ yếu là màu đen, xám, vàng, nâu Một số loài có màu sắc đặc trưng, rất dễ phân biệt Chi trước của dơi biến đổi thành cánh Cẳng tay chỉ có xương trụ, xương quay chỉ còn lại vết tích, tạo thuận lợi cho quá trình bay [162, 167] Cẳng tay và các ngón tay từ thứ 2 đến thứ 5 kéo dài và phát triển trong màng bay (trừ các loài trong phân bộ Megachiroptera có ngón thứ 2 không nằm trong màng bay) Ngón cái không nằm trong màng bay, cử động tự do so với các ngón khác để bắt mồi, treo cơ thể và leo trèo [137, 156] Màng cánh nối chi trước với thân bên, chi sau và đuôi tạo thành màng bay liền, dài, rộng Đuôi có thể không gắn với màng bay, ở dạng tự do hoặc được bao kín toàn bộ, một phần trong màng bay Màng bay có chứa mô liên kết, sợi đàn hồi, mạch máu, tế bào thần kinh, lớp biểu bì [162] Trong quá trình bay, cơ giúp cho cánh mở rộng, mạch máu ở màng bay giúp làm giảm nhiệt độ cơ thể [152], mạng lưới tế bào thần kinh cung cấp liên tục các thông tin về chuyển động dòng khí [183] Các đặc điểm trên cùng với sự thay đổi hướng của da dọc theo màng bay, hơn 20 khớp nối linh hoạt giúp cánh có thể thay đổi hướng ở mọi cấp độ, tạo ra sự tối ưu về hình học và khí động lực học trong quá trình bay, giảm tối đa sự tiêu hao năng lượng và lực cản không khí [183] Trong khi nghỉ, sợi đàn hồi giúp cánh co lại để giảm diện tích bề mặt và không tiêu tốn năng lượng [152] Một số loài có cấu trúc cựa (calcar) ở màng bay gần chỗ tiếp nối với chân Một số loài có thùy cựa (calcar lobe) là một thùy nhỏ phía trên cựa Hình thái của cánh dơi có mối liên hệ với tập tính bắt mồi và kiểu bay của chúng [167]

Đời sống bay lượn làm cho chân dơi yếu, không thể tự nâng đỡ cơ thể Bàn chân và đầu gối quay về phía sau, đóng vai trò như là bộ khung hỗ trợ màng bay trong quá trình bay [156] Tất cả các ngón chân có thể chuyển động tự do, có móng phát triển và có cấu tạo đặc biệt giúp dơi treo ngược cơ thể mà không tiêu tốn năng

Trang 18

lượng [162] Ở một số loài dơi, chân có móng vuốt dài, sắc, cong dùng để quắp côn trùng và các loài cá nhỏ ở mặt ao, hồ [190]

Bộ Dơi được phân thành 2 phân bộ: phân bộ Dơi lớn (Megachiroptera) và phân bộ Dơi nhỏ (Microchiroptera) [66] Hình thái của hai phân bộ cũng rất khác nhau Mũi của tất cả các loài thuộc phân bộ Megachiroptera và một số loài thuộc phân bộ Microchiroptera có hình dạng đơn giản Ở một số loài thuộc phân bộ Microchiroptera, một phần da xung quanh mũi phát triển thành cấu trúc dạng lá (họ Rhinolophidae) hoặc dạng nếp gấp (họ Hipposideridae) [233] Ở những loài dơi quỷ

hút máu, như Desmodus rotundus, mũi được bao quanh bởi các vết lõm (pit organ)

rất nhạy cảm với tia hồng ngoại và cho phép chúng phát hiện nguồn máu nhờ nhiệt phát ra từ con mồi [90] Cấu trúc lá mũi, nếp mũi của dơi có vai trò quan trọng trong việc định hướng âm thanh phát ra và âm thanh phản xạ lại [30, 99, 190] Mắt của hầu hết các loài thuộc phân bộ Megachiroptera có kích thước lớn, khả năng nhìn tốt, kể cả trong điều kiện ánh sáng yếu Trái lại, mắt của hầu hết các loài thuộc phân bộ Microchiroptera có kích thước nhỏ, thị lực yếu nhưng cũng có thể hỗ trợ cho việc bắt mồi Một số loài dơi trong phân bộ Microchiroptera thuộc họ Megadermatidae, Phyllostomidae, Vespertilionidae có mắt phát triển [107, 154, 233] Tai của các loài thuộc phân bộ Megachiroptera có hình thái ngoài đơn giản, không có mấu tai, mép ngoài loa tai khép kín tạo thành dạng vòng [154] Tất cả các loài thuộc phân bộ Microchiroptera đều có mấu tai và mép ngoài loa tai không khép kín [118] Mấu tai có vai trò trong việc định hướng âm thanh phản xạ lại hoặc bảo

vệ tai trước xung âm thanh có cường độ lớn [190]

Hình dạng sọ dơi có mối liên hệ mật thiết với chế độ ăn Sọ của các loài dơi

ăn mật hoa thường mỏng, mõm dài cho phép chúng dễ dàng lấy được mật Sọ các loài dơi ăn quả và côn trùng thường có mõm ngắn, xương chắc khỏe [107, 233]

Răng dơi cũng thích nghi với chế độ ăn Số lượng răng của dơi thay đổi từ 20 đến 38 chiếc tùy loài Bộ dơi có khoảng 50 công thức răng khác nhau và cũng được

sử dụng trong phân loại [156] Răng hàm của hầu hết các loài dơi ăn quả có kích thước lớn, bề mặt phẳng thích nghi với việc nhai hoa quả Những loài ăn mật hoa và hoa có răng nhỏ hơn [107]

Nghiên cứu hình thái ngoài, hình thái sụn ngọc hành, hình thái sọ và răng… của dơi là cơ sở để phân loại chúng [137, 156]

1.1.1.1.2 Phân loại bằng hình thái

Trước năm 1980, tất cả các nghiên cứu phân loại dơi đều dựa trên phân tích đặc điểm hình thái Nghiên cứu về phân loại dơi được tiến hành từ giữa thế kỉ XVII Trong cuốn sách “Systema Naturae xuất bản lần thứ 10 năm 1758 [149], Linnea

Trang 19

(1707-1778) lần đầu tiên mô tả 7 loài dơi và xếp chúng vào giống Vespertilio trong

bộ Linh trưởng (Primates) thuộc lớp Thú (Mammalia) Theo mô tả của ông, dơi là động vật có chi trước biến đổi thành cánh, có khả năng bay, hoạt động chủ yếu vào

ban đêm, nhìn chung có thị lực kém và khả năng nghe rất tốt Phân loại của ông chủ

yếu dựa trên một số đặc điểm hình thái ngoài của chi trước, chi sau, màng bay và

đuôi Năm 1780, Blumenbatch (1752-1840) đã xếp giống dơi Vespertilio của

Linnea vào bộ Chiroptera và tên gọi này được sử dụng cho đến nay [43]

Từ năm 1780 đến trước năm 1875, có nhiều tác giả nghiên cứu về phân loại dơi Những nghiên cứu trong giai đoạn này dựa trên hình thái ngoài của xương chi, tai, mũi, lưỡi, mõm và sơ bộ về hình thái răng nanh Năm 1875, trên cơ sở tổng kết các kết quả nghiên cứu trước đó, Dobson chia bộ dơi thành phân bộ Megachiroptera (phân bộ Dơi lớn) và phân bộ Microchiroptera (phân bộ Dơi nhỏ) [66] Ông cũng là người đầu tiên xây dựng khóa định loại theo nguyên tắc lưỡng phân đối lập từ họ đến loài Trong hệ thống phân loại của ông, dơi gồm 401 loài thuộc 80 giống, 16 họ,

trong đó, họ Vespertilionidae gồm 18 giống nhưng không có giống Myotis và giống Pipistrellus [66, 67]

Sau Dobson, có nhiều nghiên cứu về phân loại dơi được thực hiện Năm

1907, trên cơ sở nghiên cứu các hệ thống phân loại trước đó kết hợp với phân tích

kĩ đặc điểm hình thái ngoài, bổ sung đặc điểm phân loại mới về hộp sọ, bộ răng, đặc biệt là công thức răng, hình dạng bề mặt răng hàm, tương quan răng nanh và răng tiền hàm, Miller đã xây dựng hệ thống phân loại bộ Dơi đến giống một cách chi tiết

Hệ thống phân loại của ông cũng chia dơi thành 2 phân bộ giống như của Dobson nhưng gồm 173 giống, 36 họ và phân họ, khoảng 900 loài Trong hệ thống phân loại

này, giống Myotis và giống Pipistrellus lần đầu tiên xuất hiện, thuộc phân họ

Vespertilioninae, họ Vespertilionidae Ông cũng dự đoán có khoảng 2000 loài dơi tồn tại trong tự nhiên [155] Hệ thống phân loại của Miller được thừa nhận và sử dụng rộng rãi cho đến nay

Năm 1915, Thomas là người đầu tiên sử dụng sụn ngọc hành để phân loại

các loài dơi thuộc giống Nyctophilus [198] Năm 1928, ông tiếp tục sử dụng sụn ngọc hành để phân loại các loài thuộc giống Pipistrellus ở khu vực Đông Dương

[202, 203] Kể từ đó, sụn ngọc hành được sử dụng rộng rãi trong phân loại dơi: Hamilton (1949) [98], Krutzsch (1955) [98] và Vaughan (1955) [139] sử dụng trong phân loại các loài dơi ở khu vực Nam Mỹ; Topal (1958) [206] sử dụng trong phân loại các loài dơi ở khu vực trung tâm Châu Âu; Khajuria (1979, 1980, 1982) [122,

123, 124] sử dụng trong phân loại các loài dơi Ấn Độ; Wassif và Madkour (1972) [231] sử dụng trong phân loại dơi ở Ai Cập …

Trang 20

Ngày nay, phân loại bằng hình thái vẫn là phương pháp chính trong nghiên cứu phân loại dơi Nghiên cứu phân loại bằng hình thái kết hợp với phân loại bằng tiếng kêu siêu âm và di truyền phân tử cho kết quả chính xác hơn, số loài dơi được phát hiện ngày càng tăng: năm 1984 có 950 loài (Hill và Smith) [107]; năm 1992 có

977 loài thuộc 2 phân bộ, 18 họ, 188 giống (Cobert và Hill) [53]; năm 2005 có 1109 loài thuộc 201 giống, 18 họ (Simmons) [185]; năm 2012 có 1259 loài thuộc 18 họ (Fenton) [75]; năm 2014 có 1224 loài thuộc 20 họ (Fenton và Simmons) [71] Từ năm 2000 đến nay, có hơn 240 loài và phân loài dơi mới được phát hiện [243]

1.1.1.2 Siêu âm và phân loại bằng siêu âm

1.1.1.2.1 Siêu âm

Năm 1932, Sven Dijkgraaf chứng minh các loài dơi có khả năng tránh được các vật cản trên đường bay của chúng bằng cách sử dụng âm thanh [93] Năm 1938, Griffin tiến hành những thí nghiệm đầu tiên về siêu âm của dơi và đến năm 1944, dựa trên các kết quả thu được, ông kết luận dơi phát ra âm thanh dưới dạng sóng siêu âm và nghe được sóng siêu âm phản xạ lại Ông là người đầu tiên đưa ra thuật ngữ “Echolocation để chỉ khả năng sử dụng âm thanh phản hồi lại để định vị trong quá trình di chuyển và bắt mồi của dơi [93]

Nghiên cứu của Griffin đã đặt nền móng cho những nghiên cứu tiếp theo về tiếng kêu siêu âm của dơi Trước năm 1993, các nghiên cứu chủ yếu tập trung tìm hiểu cường độ tiếng kêu siêu âm của dơi ở trạng thái tĩnh (không bay), với một khoảng cách cố định từ dơi đến đầu thu [93, 94, 95, 157, 168, 182, 184, 189] Hình thức nghiên cứu này không phản ánh đúng mối quan hệ giữa tiếng kêu siêu âm và quá trình bay của dơi trong tự nhiên [188] Mặt khác, cường độ tiếng kêu siêu âm

đo được trong quá trình bay lớn hơn kết quả đo được ở trạng thái tĩnh [95] Để khắc phục hạn chế trên, Pye (1992) [119] và Jones (1993) [175] tiến hành cải tiến đầu thu, kết nối được với máy tính và có thể mang theo khi điều tra thực địa nhằm phân tích tiếng kêu siêu âm của dơi trong tự nhiên

Dơi phát ra tiếng kêu siêu âm dưới dạng các xung âm thanh không liên tục [29] Hầu hết các loài dơi thuộc phân bộ Megachiroptera không có khả năng phát ra

tiếng kêu siêu âm, trừ các loài thuộc giống Rousettus Các loài này phát ra tiếng kêu

siêu âm bằng cách đánh lưỡi [114, 154] Âm thanh của các loài này có tần số nằm trong khoảng 18-55 kHz, mức năng lượng cao nhất khoảng 25 dB ở tần số 30 kHz [238] Tiếng kêu của loài này kéo dài từ 50-100 ms Các loài này sử dụng siêu âm

để định hướng di chuyển, không dùng để bắt mồi [114]

Tất cả các loài thuộc phân bộ Microchiroptera đều có khả năng phát ra tiếng

kêu siêu âm Tiếng kêu siêu âm ở các loài này được phát ra từ thanh quản và thoát

Trang 21

ra ngoài qua mồm hoặc mũi [73, 96, 161] Các loài dơi không có cấu trúc lá mũi và nếp mũi có miệng mở trong lúc bay để âm thanh được phát ra ngoài Các loài dơi có cấu trúc lá mũi hoặc nếp mũi có miệng đóng lại trong quá trình bay, âm thanh được phát ra qua mũi [190] Âm thanh của các loài thuộc phân bộ Microchiroptera có tần

số từ 8-220 kHz, kéo dài từ 2-100 ms [73, 161], cường độ dao động trong khoảng 60-120 dB [29, 96] Một vài loài phát ra tiếng kêu siêu âm có cường độ lớn hơn 120

dB, hoặc nhỏ hơn 60 dB [73, 161]

Cường độ, tần số, chu kì tiếng kêu siêu âm của dơi có sự biến đổi lớn theo thời gian [73, 161] Tần số tiếng kêu siêu âm của từng loài biến đổi theo môi trường sống, giai đoạn bắt mồi, khoảng cánh với các cá thể cùng loài hoặc khác loài Các

cá thể khác nhau thuộc cùng một loài hoặc thuộc các loài khác nhau có thể phát ra tiếng kêu siêu âm giống nhau khi ở trong môi trường giống nhau [178]

Những loài dơi có kích thước lớn thường phát ra âm thanh có tần số thấp Ngược lại, những loài có kích thước nhỏ thường phát ra âm thanh có tần số cao hơn [96, 233] Hầu hết các loài dơi sử dụng sóng siêu âm có tần số lớn hơn 20 kHz vì chúng cung cấp thông tin chi tiết về con mồi tốt hơn Một vài loài dơi, chủ yếu là dơi có kích thước lớn, phát ra tiếng kêu siêu âm có tần số nhỏ hơn 20 kHz [73, 161]

Thành phần sóng siêu âm của dơi gồm có sóng FM (Frequency Modulate), sóng CF (Constant Frequency) hoặc cả hai Sóng FM có tần số biến đổi với dải tần

số rộng, có thể lớn hơn 100 kHz Sóng CF có tần số hầu như không đổi với dải tần

1.1.1.2.2 Phân loại bằng tiếng kêu siêu âm

Nghiên cứu đầu tiên về phân loại dơi bằng tiếng kêu siêu âm được thực hiện bởi Fenton và Bell (1981) [72] trên 39 loài dơi ở khu vực Bắc Mỹ và Châu Phi Từ

đó đến nay, hướng nghiên cứu này ngày càng tăng về số lượng, phạm vi và quy mô nghiên cứu

Để phân loại dơi bằng tiếng kêu siêu âm, người ta dựa vào kết quả phân tích các thông số của tiếng kêu thu được trong quá trình nghiên cứu Các thông số này sẽ được hiển thị trên màn hình máy tính dưới dạng ZCA (Zero-Crossing Analysis - đồ thị gồm các điểm không liên tục) hoặc dạng FSA (Full Spectrum Analysisa - đồ thị

là đường liên tục) [54] Một số thông số của tiếng kêu siêu âm được dùng phổ biến

Trang 22

Fmin (tần số thấp nhất của tiếng kêu - minimum frequency), Fstart (tần số khởi đầu

(tần số tại điểm có cường độ âm cao nhất - Frequency at maximum amplitude), IPI (thời gian giữa các tiếng kêu - inter-pulse interval), TBC (khoảng thời gian được tính từ lúc bắt đầu tiếng kêu cho đến thời điểm tiếng kêu sau bắt đầu xuất hiện - time between calls), DUR (thời gian kéo dài tiếng kêu - duration of a call); … [54]

Căn cứ vào thành phần sóng trong tiếng kêu siêu âm, dơi được chia thành 3 nhóm chính (hình 1.1)

Tìm kiếm Tiếp cận Kết thúc

Hình 1.1 Các kiểu tín hiệu siêu âm chính ở dơi (theo Hill & Smith, 1984) [107]

Nhóm 1 là những loài phát ra tiếng kêu siêu âm chỉ có sóng FM với đồ thị ngắn, dốc Nhóm 2 là những loài phát ra tiếng kêu siêu âm gồm cả sóng FM và sóng

CF Sóng FM xuất hiện rất ngắn ở giai đoạn đầu (initiated FM) và giai đoạn cuối (terminated FM) của tiếng kêu, sóng CF xuất hiện dài ở giai đoạn giữa của tiếng kêu với thời gian tồn tại từ 10-100 ms Những loài dơi này thường săn mồi ở môi trường phức tạp Nhóm 3 gồm những loài phát ra tiếng kêu gồm có sóng CF ở giai đoạn đầu với thời gian tồn tại ngắn, từ 8-10 ms và kết thúc bằng sóng FM [96, 243] Một vài loài thuộc nhóm 1 có thể phát ra sóng FM có tần số ít biến đổi dưới dạng sóng CF [44, 150] hoặc gần giống với sóng CF (QCF - Quasi CF) [44]

Căn cứ vào tần suất tiếng kêu siêu âm (là tỷ lệ phần trăm thời gian của tất cả các tiếng kêu siêu âm được dơi phát ra trong một đơn vị thời gian), Fenton chia các

loài trong phân bộ Microchiroptera thành 2 nhóm Nhóm có tần suất thấp (low duty

Trang 23

cycle bats) gồm những loài dơi phát ra tiếng kêu siêu âm gồm sóng FM và sóng CF/FM với tần suất nhỏ hơn 20% Tiếng kêu của những loài này không có sự chồng lấn giữa tín hiệu phát ra và tín hiệu vọng lại Các loài thuộc nhóm này có khả năng điều chỉnh thời gian từng tiếng kêu phát ra và khoảng cách thời gian giữa các tiếng kêu để phù hợp với chiến lược bắt mồi Ở giai đoạn tìm kiếm con mồi, chúng thường phát ra 10 tiếng kêu/giây với thời gian từ 5-20 ms/tiếng kêu Càng gần con mồi, tần suất càng lớn, khoảng cách thời gian giữa các tiếng kêu và thời gian tồn tại từng tiếng kêu giảm dần, có thể xuống một phần nghìn giây Nhóm có tần suất cao (hight duty cycle bats) gồm các loài phát ra tiếng kêu siêu âm có sóng CF/FM với tần suất trên 80%, DUR kéo dài từ 10-50 ms do đó có sự chồng lấn giữa tín hiệu phát ra và tín hiệu phản xạ lại Những loài này duy trì tần suất cao trong quá trình bắt mồi cho dù thời gian tồn tại của từng tiếng kêu phát ra giảm dần [74, 161] Ở những loài dơi sử dụng sóng siêu âm có tần suất cao, loa tai có cơ chế đặc biệt điều tiết tần số âm thanh để có thể kiểm soát được tín hiệu vọng lại [211]

Đồ thị tiếng kêu siêu âm của dơi cũng được sử dụng trong phân loại Gannon

và cộng sự (2004) [85] chia tiếng kêu siêu âm làm 3 phần: phần khởi đầu (initial sweep), phần thân (body sweep) và phần kết thúc (terminal sweep), trong đó phần thân được định nghĩa là phần đồ thị đi xuống, có dạng thẳng, tồn tại trong một thời gian ngắn Corcoran (2007) [54] lại chia đồ thị tiếng kêu siêu âm của dơi thành 4 phần và 5 điểm đặc trưng: phần trên (upper section), phần uốn (knee), phần thân (body), phần đuôi (tail), điểm bắt đầu (start point), điểm uốn trên (upper knee point), điểm uốn dưới (lower knee point), điểm có tần số đặc trưng (characteristic frequency point), điểm kết thúc (end point) Trên thực tế, việc phân chia đồ thị tiếng kêu siêu

âm thành càng nhiều phần thì tỷ lệ định loại các loài dơi càng chính xác

Tỷ lệ định loại các loài dơi bằng tiếng kêu siêu âm còn phụ thuộc vào loài, số lượng tiếng kêu siêu âm và phương pháp phân tích số liệu Năm 2000, Parsons và Jones [172] sử dụng tín hiệu siêu âm dạng FSA và phương pháp phân tích đa biến (Discriminant Function Analysis - DFA), phương pháp định loại bằng mạng lưới thần kinh nhân tạo (Ensemble of Artificial Neural Networks - ENNs) để phân loại

12 loài dơi với tỷ lệ định loại chính xác lần lượt là 79% và 87% Năm 2004, Gannon

và cộng sự [85] nghiên cứu phân loại các loài dơi ở phía Bắc nước Mỹ bằng việc sử dụng tín hiệu siêu âm dạng ZCA và sử dụng phương pháp DFA, cây phân loại

(Classification Tree - CT) để xử lý số liệu Kết quả thu được cho thấy loài Eptesicus fuscus có thể được định loại chính xác 100% bằng phương pháp DFA, 3 loài gồm Myotis ciliolabrum, Myotis lucifugus và Myotis yumanensis có tỷ lệ định loại chính xác lần lượt là 94%, 92%, 91% Trong khi đó, 2 loài còn lại là Myotis calofornicus

Trang 24

và Myotis volans có tỷ lệ định loại lần lượt là 80% và 75% Tỷ lệ định loại chung

cho tất cả các loài nghiên cứu là 88.4% Các tác giả cũng đưa đến kết luận: phân loại bằng phương pháp CT có thể chính xác hơn phương pháp DFA

Hiện nay, ở một số quốc gia và khu vực trên thế giới, dữ liệu tiếng kêu siêu

âm của tất cả các loài dơi được xây dựng và mô tả chi tiết: ở Anh (33 loài) [244], ở Thụy Sĩ (26 loài) [150], ở Mexico (21 loài) [178]… Việc xây dựng ngân hàng tiếng kêu siêu âm chủ yếu dùng trong nghiên cứu phân loại dơi ở quy mô lớn (mornitoring bats), có thể giám sát được dơi ở một quốc gia, một khu vực lớn, thậm chí là toàn cầu [171, 214]

1.1.1.3 Phân loại dựa vào di truyền phân tử

Sự xuất hiện kĩ thuật di truyền phân tử đã giúp cho việc định loại đến loài chính xác hơn Hiện nay, đa số những phát hiện về loài dơi mới đều kết hợp phân tích hình thái và di truyền phân tử, chủ yếu là sử dụng công nghệ mã vạch ADN (DNA barcoding) được Hebert và cộng sự phát triển năm 2003 [104] Những nghiên cứu về

di truyền phân tử chủ yếu được tiến hành trên một số gen trong tế bào chất thuộc ty thể như: COI (Mytochondrial cytochrome c oxidase subunit one), Cytochrome b

Ngoài ra, di truyền phân tử còn được dùng trong xây dựng hệ thống phân loại trên loài Những nghiên cứu dựa trên di truyền phân tử làm sáng tỏ nhiều vấn

đề mà phân loại bằng hình thái và siêu âm không giải quyết được như: nguồn gốc của dơi, mối quan hệ giữa các loài và các đơn vị phân loại trên loài Kết quả của nghiên cứu di truyền cũng làm xuất hiện nhiều quan điểm khác nhau về hệ thống phân loại của các họ, giống

Năm 2004, trên cơ sở phân tích gen trong tế bào chất của 104 loài dơi đại diện cho các khu vực địa lý, các nhóm phân loại khác nhau, Van Den Bussche và cộng sự [212] đề xuất chia bộ dơi thành 2 phân bộ khác với của Dobson, gồm Yinpterochiroptera và Yangochiroptera Trong phân bộ Yangochiroptera thì 2 họ Thyropteridae và Furipteridae nằm trong liên họ Noctilionoidea Tuy nhiên, hệ thống phân loại này không được nhiều người sử dụng

Ngoài hệ thống phân loại của Bussche và cộng sự (2004), rất nhiều hệ thống phân loại dựa trên nghiên cứu di truyền phân tử của các tác giả khác được đưa ra như Simmons (2005) [185], Teeling và cộng sự (2005) [195], Eick và cộng sự (2005) [69], Miller-Butterwood và cộng sự (2007) [158], Xiao-Ming và cộng sự (2008) [236]…

1.1.2 Ph n loại giống Myotis và giống Pipistrellus

1.1.2.1 Sơ lược phân loại họ Vespertilionidae

Họ Dơi muỗi (Vespertilionidae) là họ lớn nhất và phức tạp nhất trong bộ Dơi (Chiroptera) Họ này gồm những loài dơi ăn côn trùng, hàm trên rất phức tạp với ít

Trang 25

nhất một cặp răng cửa phát triển Những loài thuộc họ này có mũi đơn giản (không

có lá mũi và nếp mũi), đuôi dài, uốn cong về phía bụng và được bao kín trong màng

đuôi, cựa ở màng gian đùi dài, đôi khi có thùy cựa, tai có mấu tai, đối mấu tai có sự

thay đổi lớn giữa các loài [137]

Hệ thống phân loại của họ này xuất hiện đầu tiên trong nghiên cứu của Gray

(1821, 1886) [91, 92] Theo phân loại của ông, họ Vespertilionidae gồm 8 giống

(Megadermes, Rhynolophus, Nycterus, Rhynopoma, Thaphosores, Fespertilio,

Plecotus, Barhastella) thuộc bộ Ăn côn trùng (Insectivora) của lớp Dơi (Cheiroptera)

Dobson (1875) [66] chia họ Vespertilionidae thành 3 nhóm (Plecoti, Vespertiliones,

Miniopteri) và 18 giống Miller (1907) [154] chia họ này thành 6 phân họ

(Vespertilioninae, Myotinae, Kerivoulinae, Murininae, Miniopterinae, Tomopeatinae)

và 33 giống Năm 1942, Tate [193] chia họ này thành 4 nhóm gồm Plecotini,

Nycticeini, Eptesicini và Vespertilionini Những nghiên cứu tiếp theo về hình thái

học và di truyền phân tử chia họ trên thành 3 nhóm, trong đó nhóm Eptesicini được

gộp vào nhóm Nycticeini Vị trí phân loại của nhiều giống và phân giống thuộc ba

nhóm trên cũng thay đổi [102, 115] Zima và Horacek (1985) [240] đã chỉ ra rằng

việc sử dụng thuần túy các đặc điểm hình thái trong phân loại họ Vespertilionidae

không phải lúc nào cũng đạt được những kết luận đúng đắn

Cho đến nay, họ Vespertilionidae được chia thành 3 nhóm, 5 phân họ

(Vespertilioninae, Myotinae, Kerivoulinae, Murininae, Miniopterinae), 45 giống và

khoảng 350 loài phân bố rộng khắp trên thế giới Ở Việt Nam, họ này có khoảng

57-59 loài thuộc 20 giống [137]

Trong họ Vespertilionidae, giống Myotis và giống Pipistrellus lần lượt thuộc

các phân họ Myotinae và Vespertilioninae Hai giống này gồm các loài dơi có kích

thước trung bình và nhỏ, nhiều loài có hình thái rất giống nhau, khó định loại [137]

1.1.2.2 Phân loại giống Myotis

1.1.2.2.1 Hình thái và phân loại bằng hình thái

Với hơn 100 loài trên thế giới, Myotis là giống lớn nhất trong bộ Dơi và lớn

thứ 2 trong lớp Thú [185] Chúng phân bố rộng khắp trên thế giới, trừ New Zealand

Các loài thuộc giống này phân bố không đều giữa Bắc bán cầu (81%) và Nam bán

cầu (19%) Miền châu Âu-Á đa dạng nhất với 55 loài, Nearctic 24 loài, Trung và

Nam Mỹ 14 loài, 8 loài ở Ethiopia và 3 loài ở Australia [130]

Giống Myotis (mouse-eared bats) là những loài dơi có kích thước tương đối

nhỏ trong bộ Dơi Tai tương đối hẹp, chiều dài luôn lớn hơn chiều rộng Mấu tai

thẳng, hẹp và thường nhọn Loa tai ngoài không có dạng phễu, hơi gấp một chút

Trang 26

phía mép trước (hình 1.2A) Cánh được trải rộng hoặc hơi hẹp theo độ dài các ngón, ngón thứ 5 ngắn hơn ngón thứ 3 và thứ 4 một chút Kích thước chân sau và kiểu gắn

của màng bay vào chân rất khác nhau ở các loài [46, 137, 156]

chúng nằm trong hàng răng hoặc tiêu biến Răng hàm thuộc hàm dưới có cấu trúc đặc trưng kiểu myotodont [46, 137, 156] (hình 1.2C)

Sụn ngọc hành của những loài thuộc giống Myotis giống hình yên ngựa nhỏ,

phần gốc và đỉnh hơi nhô lên Mặt lưng hơi lõm, mặt bụng tạo thành một rãnh hẹp hình tam giác hoặc viên đạn Mặt trước tù hoặc đôi khi có đỉnh sắc hơn Phần gốc sụn ngọc hành chia thành hai mấu to hoặc nhỏ Mặt bụng lõm sâu, trong một vài trường hợp là căn cứ để phân biệt sự thay đổi giữa các loài và có thể là phân loài một cách rõ ràng [109]

Hình 1.2 Hình thái cơ bản của tai và bề mặt răng hàm hàm dưới bên trái ở giống

Myotis (A,C) và giống Pipistrellus (B,D) (Theo Kruskop, 2013) [137]

Mấu lồi ngoài trước

Mấu lồi ngoài sau

Trang 27

Trước năm 1980, việc phân loại các loài dơi thuộc giống này dựa hoàn toàn vào đặc điểm hình thái Tuy nhiên, các tác giả khác nhau có quan điểm định loại khác nhau và sử dụng khóa định loại khác nhau, vì vậy, kết quả định loại đôi khi không giống nhau và không chuẩn xác

Miller (1907) [156] là người đầu tiên đưa giống Myotis vào hệ thống phân

loại Hệ thống phân loại của ông dựa trên phân tích hình thái ngoài, hình thái sọ và răng Tuy nhiên, hệ thống phân loại của giống này có sự thay đổi trong những

nghiên cứu tiếp theo Tate (1941) [193] phân chia giống Myotis thành 7 phân giống gồm Selysius, Isotus, Paramyotis, Chrysopteron, Myotis, Leuconoe và Rickettia

Trên cơ sở nghiên cứu các đặc điểm hình thái ngoài, đặc điểm sọ của các loài khác

nhau, Findley (1972) [76] chia giống Myotis thành 3 phân giống gồm Selysius, Myotis và Leuconoe Trong nghiên cứu của Cobert và Hill (1992) [53], Koopman (1994) [130], giống Myotis gồm 91 loài thuộc 4 phân giống: 3 phân giống trong phân loại của Findley (1972) và phân giống Chrysopteron

Sụn ngọc hành cũng được sử dụng trong phân loại các loài thuộc giống

Myotis Genoways và Jones [86, 87] đã sử dụng sụn ngọc hành để phân loại các loài dơi rất giống nhau trong giống Myotis và các loài khác ở khu vực Bắc Mỹ Laval

(1973) [148] sử dụng sụn ngọc hành để phân biệt các loài giống nhau thuộc giống

Myotis ở khu vực Trung và Nam Mỹ… Tuy nhiên, các tác giả cho rằng việc phân loại các loài thuộc giống Myotis đôi khi không chính xác do hình thái sụn ngọc hành

của chúng giống nhau và không ổn định

Kết hợp nghiên cứu hình thái và di truyền phân tử, Simmons (2005) [185]

cho rằng không có đủ căn cứ để phân chia giống Myotis thành các phân giống Theo tác giả, giống Myotis gồm 103 loài được chia thành nhiều nhóm khác nhau, các loài

có đặc điểm hình thái giống nhau được xếp vào một nhóm Sự phân chia này được nhiều người thừa nhận và sử dụng

1.1.2.2.2 Siêu âm và phân loại bằng siêu âm

Ở một số quốc gia trên thế giới như Mỹ, Canada, Anh, Thụy Sĩ… tiếng kêu

siêu âm của các loài dơi nói chung và các loài thuộc giống Myotis nói riêng được

nghiên cứu rất kĩ [44, 55, 81, 150, 160, 231] Tiếng kêu của các loài thuộc giống

Myotis chỉ có sóng FM, không có sóng CF thực sự [55]; số tiếng kêu trong một giây

nằm trong khoảng 11-14 lần/giây, một số loài từ 9-15 lần/giây [55]; dải tần số biến

54, 150, 160, 178]

Cũng giống như các loài dơi phát ra sóng FM khác, tiếng kêu của các loài

thuộc giống Myotis thay đổi theo môi trường, giai đoạn bắt mồi… Sóng FM ngắn,

Trang 28

dải tần rộng, được các loài dơi của giống này sử dụng trong không gian hẹp, ngắn, cần thiết cho việc phát hiện thông tin chính xác về mục tiêu, ranh giới không gian

để tránh va chạm Sóng FM dài hơn với dải tần số hẹp hơn đặc trưng cho môi

trường bay của dơi trong không gian mở, phù hợp với sự định hướng trong phạm vi rộng, cho phép phát hiện và miêu tả đặc điểm của con mồi [50, 160]

Năm 2001, Gannon và cộng sự nghiên cứu mối quan hệ giữa hình dáng, kích

thước mấu tai với siêu âm của dơi ở loài Myotis ciliolabrum và Myotis californicus

Kết quả nghiên cứu cho thấy loa tai càng lớn thì tần số càng nhỏ và ngược lại [179]

Đồ thị tiếng kêu siêu âm của các loài thuộc giống Myotis thường có dạng dấu

sổ chéo (\), một số loài có điểm uốn ở phía trên, giữa, đuôi… đặc trưng cho loài Tiếng kêu gồm 2 hoặc nhiều họa âm, họa âm thứ nhất trội hơn các họa âm còn lại [31, 150, 232] Ở pha tìm kiếm, tiếng kêu có tần số biến đổi ít nhưng kéo dài Ngược lại, ở pha săn mồi, tiếng kêu có tần số biến đổi nhiều nhưng thời gian tồn tại ngắn hơn [150] Năm 2007, trên cơ sở so sánh tiếng kêu giữa các loài thuộc giống

Myotis và không thuộc giống Myotis, Corcoran và cộng sự (2007) [54] nhận thấy thời gian tồn tại tiếng kêu của các loài thuộc giống Myotis nhỏ hơn nhưng điểm giữa đồ thị lại cao hơn các loài không thuộc giống Myotis

Tỷ lệ định loại các loài dơi thuộc giống Myotis cũng phụ thuộc vào loài, số

lượng tiếng kêu được phân tích và phương pháp xử lý số liệu Ở giống này, tiếng kêu siêu âm giữa các cá thể trong cùng một loài có mức độ thay đổi rất lớn Trong khi đó, tiếng kêu siêu âm giữa các loài trong giống lại có mức độ thay đổi rất nhỏ Điều này giải thích tỷ lệ định loại các loài dơi bằng tiếng kêu siêu âm thuộc giống

Myotis thấp hơn các loài thuộc giống khác [150]

1.1.2.2.3 Phân loại dựa trên di truyền phân tử

Cho đến nay, nghiên cứu phân loại các loài thuộc giống Myotis bằng di

truyền phân tử được thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới Nghiên cứu di truyền phân

tử thường kết hợp với nghiên cứu đặc điểm hình thái trong công bố loài mới [45,

136, 164], định loại lại các loài có vị trí phân loại chưa rõ ràng [9, 181, 228] và được dùng trong nghiên cứu sự phát sinh các loài và đơn vị trên loài

Manuel Ruedi và Frieder Mayer (2001) [180] tiến hành phân tích gen

Cytochrome b và gen nd1 ở 33 loài thuộc giống Myotis (13 loài ở phía Bắc và phía

Nam nước Mỹ, 11 loài thuộc khu vực Trung và Nam châu Mỹ, 5 loài ở khu vực Trung Quốc, Nhật Bản, 1 loài ở khu vực Châu Phi và 3 loài khu vực châu Âu), kết quả nghiên cứu cho thấy sự biến đổi về hình thái ở các loài này song hành cùng với

sự biến đổi về di truyền

Stadelmann (2004) nghiên cứu 96 mẫu Cytochrome b ở 79 loài thuộc giống

Trang 29

Myotis, kết quả nghiên cứu khẳng định các loài thuộc giống Myotis ở châu Phi hình thành từ 1 nhánh lớn thuộc giống Myotis cách đây khoảng 20-23 triệu năm, trong khi sự hình thành các loài thuộc giống Myotis chủ yếu cách đây khoảng 5-10 triệu năm Điều này giải thích vì sao giống Myotis ở châu Phi ngày nay kém đa dạng hơn

so với các khu vực khác [191] Năm 2007, Stadelmann và cộng sự tiếp tục nghiên

cứu 38 loài thuộc giống Myotis ở khu vực Châu Mỹ thông qua phân tích các gen

Cytochrome b trong tế bào chất và gen RAG2 (Recombination Activating Gene) trong nhân Các nghiên cứu của ông khẳng định quá trình hình thành các loài thuộc

giống Myotis chịu tác động mạnh của yếu tố địa lý sinh vật [191, 192]

Larsen và cộng sự (2012) [145] nghiên cứu nguồn gốc phát sinh về địa động

vật của 4 loài đặc hữu thuộc giống Myotis ở Caribe và khu vực lân cận gồm M dominicensis, M martiniquensis, M nesopolus, M nigricans Kết quả phân tích gen

Cytochrome b ở tế bào chất và gen RAG2 ở trong nhân của 4 loài này cho thấy

không thể phân biệt về mặt di truyền các loài thuộc giống Myotis ở khu vưc Caribe

và khu vực Nam Mỹ ở tất cả các cấp độ

Xiao và cộng sự (2008) [236] cho rằng giống Myotis phát sinh từ phân họ

Miniopterinae chứ không phải là từ phân họ Vespertilioninae như các nghiên cứu

trước Cũng theo tác giả, trong giống Myotis, các loài được xếp cùng bậc và 3 phân giống gồm Myotis, Selysius và Leuconoe độc lập với nhau Kết luận này củng cố thêm quan điểm của Simmons (2005) [185] về việc không nên chia giống Myotis

thành các phân giống khác nhau

1.1.2.3 Phân loại giống Pipistrellus

1.1.2.3.1 Hình thái và phân loại bằng hình thái

Giống Pipistrellus trên thế giới bao gồm 31 loài [185], phân bố ở khắp lục

địa già, từ Tây Âu và Sakhalin đến Nam Mỹ và một vài hòn đảo ở khu vực Ấn Độ - Thái Bình Dương, bao gồm phía bắc Australia [137]

Pipistrellus là giống dơi muỗi có kích thước nhỏ, tai nhỏ, không nhọn, độ dài

không lớn hơn nhiều so với độ rộng Mấu tai có nhiều hình dạng khác nhau, độ dài trung bình, đỉnh tù (hình 1.2 B) Ngón tay cái và bàn chân không có đệm thịt dày Thùy cựa khá phát triển và rất rễ nhận biết [46, 137, 156] Dương vật dài và mảnh, thường cong về một bên Sụn ngọc hành thường nở rộng một chút ở phần gốc và hẹp dần về phía đỉnh, đỉnh chẻ đôi nhẹ Kích cỡ của chúng thay đổi nhiều giữa các loài thuộc giống này [109]

3C1/1P2/2M3/3x2 = 34 Răng tiền hàm hàm trên nhỏ, không phát triển và có vị trí trong hàng răng rất khác nhau Khoảng trống giữa răng nanh và răng tiền hàm cũng rất khác nhau Ở hàm trên,

Trang 30

răng cửa phía ngoài nhỏ hơn so với răng cửa phía trong nhưng rất khác nhau Răng hàm hàm dưới có cấu trúc kiểu nyctalodont (hình 1.2D) Hộp sọ không bằng phẳng, không có đường gân nhô ở giữa [46, 137, 156]

Cũng giống như giống Myotis, giống Pipistrellus lần đầu tiên được đưa vào

hệ thống phân loại bởi Miller (1907) [156] Hệ thống phân loại của giống này có sự thay đổi trong những nghiên cứu tiếp theo Kuzyakin (1944, 1950, 1965) [144, 145,

146] đặt Pipistrellus và Eptesicus trong Vespertilio Trong khi đó, Simpson (1945) [186] lại đặt Glischropus, Scotozous, Nyctalus và Ia trong Pipistrellus, còn Rhinopterus, Hesperoptenus, Tylonycteris, Mimetillus, Philetor, Histiotus và Laephotis trong Eptesicus Koopman (1984, 1985) [127, 128] xếp Ia vào Pipistrellus….Năm 1992, Cobert và Hill [53] công bố thành phần loài dơi trên thế

giới với 977 loài thuộc 2 phân bộ, 18 họ, 188 chi và 977 loài, trong đó giống

Pipistrellus gồm khoảng 70 loài Năm 1994, Norwak [169] công bố thành phần loài

dơi trên thế giới với tổng số 924 loài thuộc 177 giống, 17 họ, 2 phân bộ trong đó

giống Pipistrellus gồm 77 loài Các tác giả trên đều chia giống Pipistrellus thành 7 phân giống gồm Pipistrellus, Vespadelus, Perimyotis, Hypsugo, Falsistrellus, Neoromicia và Arielulus

Bên cạnh việc phân loại dựa trên đặc điểm hình thái ngoài, hình thái sọ và răng thì phân loại dựa vào hình thái sụn ngọc hành cũng được sử dụng nhiều trong phân loại các loài thuộc giống này Căn cứ vào hình thái, Tate (1942) [194] và Koopman (1973, 1975) [125, 126] phân chia sụn ngọc hành của giống này thành 4 kiểu khác nhau Kiểu thứ nhất có cấu trúc kéo dài với phần gốc bị xẻ đôi Mặt bên của phần gốc có thể thẳng hàng với phần thân hoặc uốn cong ở nhiều mức độ khác nhau Phần thân mảnh, có mặt bụng lõm theo chiều ngang, mặt ngoài có hình trụ hoặc giống hình trụ Phần đầu thường bị chẻ đôi hoặc phân nhánh và có thể mở

rộng hoặc thu hẹp trực tiếp từ phần bụng Những loài có kiểu này bao gồm P abramus, P coromandra, P t coromandra và P pipistrellus Kiểu thứ hai có cấu

trúc rất nhỏ, bao gồm một gốc rộng với hai mấu Phần thân ngắn, rỗng và nhẹ Dạng

này được tìm thấy ở loài P subflavus, P circumdatus, P societatis và P cuprosus

Kiểu thứ ba có cấu trúc tương đối ngắn, thân cứng, khỏe, đôi khi mở rộng về phía gốc và đầu, trong một số trường hợp, đôi khi gốc chia thành một cặp mấu, đôi khi tạo thành một góc thẳng với thân Phần lưng xẻ rãnh nhiều hơn, có dạng hình trụ Phần đỉnh khi mở rộng đến mép trước đôi khi chia thành vài răng cưa không giống nhau và trong một số trường hợp hướng xuống dưới Dạng này được tìm thấy ở các

loài P savii, P nanus, P helios, P eisentrauti, P musciculus, P imbricatus, P pulveratus, P lophurus, P kitcheneri, P bodenheimeri, P macrotis, P joffrei, P

Trang 31

stenopterus Kiểu thứ tư có cấu trúc tương đối lớn, ngắn và khỏe, với việc mở rộng

phần ngoại biên, phần đầu không hoặc ít mở rộng Mặt lưng lõm sâu theo chiều ngang để tạo thành vòm hoặc rãnh dọc theo chiều dài thân Kiểu này gặp ở các loài

P affinis, P andpetersi Một vài trường hợp xuất hiện ở loài P pulveratus, P imbricatus, P lophurus, P kitcheneri

Hình thái răng tiền hàm cũng được sử dụng trong phân loại các loài thuộc giống này Tuy nhiên, quan điểm phân loại dựa trên hình thái răng cũng không thống nhất Wallin (1969) [230], Hill và Topal [106], Heller và Volleth (1984) [102] chứng minh rằng sự xuất hiện hay không xuất hiện của răng tiền hàm thứ 2

việc phân loại các loài thuộc giống Pipistrellus và giống Eptesicus dựa vào sự xuất

dụng đặc điểm này trong phân loại các loài thuộc giống Pipistrellus

Năm 2005, kết hợp phân loại bằng hình thái và di truyền phân tử, Simmons

đã chứng minh 6 phân giống gồm Pipistrellus, Vespadelus, Hypsugo, Falsistrellus, Neoromicia và Arielulus là những giống độc lập, chỉ còn phân giống Perimyotis thuộc giống Pipistrellus [185] Chính vì vậy, số lượng các loài thuộc giống Pipistrellus trong nghiên cứu này giảm so với các nghiên cứu trước, chỉ còn 31 loài 1.1.2.3.2 Siêu âm và phân loại bằng siêu âm

Tiếng kêu của các loài thuộc giống Pipistrellus thường gồm cả sóng FM và

sóng CF [44, 55, 70, 150, 232] Tiếng kêu của chúng bắt đầu bằng sóng FM và kết thúc bằng sóng CF; số lượng tiếng kêu ở những loài này thường lớn hơn 10

khoảng 40 đến 52 kHz; DUR thường lớn hơn 6 ms, trừ loài Pipistrellus abramus có

DUR được ghi nhận là 2,6 ms [54, 70, 150, 178] Nhịp điệu tiếng kêu của các loài

trong giống Pipistrellus thường không cố định [55]

Đồ thị về tiếng kêu siêu âm của các loài thuộc giống Pipistrellus thường có

dạng gần giống chữ “L [70, 150, 232] với phần đầu là sóng FM và phần sau là

lượng tương đối lớn so với phần có chứa sóng FM Điều chỉnh tần số đầu thu có thể

cho phép tiếp cận chính xác tần số của phần đuôi chứa sóng CF cần định loại, do

vậy, việc định loại các loài thuộc giống Pipistrellus cho tỉ lệ định loại chính xác cao hơn các loài thuộc giống Myotis [55] Tiếng kêu siêu âm của các loài thuộc giống Pipistrelllus thường gồm 2 họa âm, họa âm thứ nhất trội hơn họa âm thứ hai [150]

Các loài thuộc giống Pipistrellus có tiếng kêu siêu âm không ổn định, có thể

thay đổi thời gian, độ rộng, độ nông sâu của đuôi tín hiệu sóng FM để có dạng

Trang 32

giống sóng CF hoặc có thể chuyển hẳn sang sóng CF [29] Ví dụ, trong không gian

mở, loài P abramus sử dụng sóng FM có DUR khoảng 9,7 ms Tuy nhiên, khi phát

hiện con mồi tiềm năng hoặc khi chúng bay trong môi trường phức tạp, thời gian tiếng kêu giảm xuống còn 1,3 đến 4,7 ms với tần số sóng FM giảm từ 86,6 xuống còn 43,2 kHz [70] Dải âm thanh kéo dài với tần số thấp sẽ tăng phạm vi siêu âm, trong khi đó, dải âm thanh có thời gian tồn tại ngắn và gián đoạn có thể cho phép dơi cảm nhận được nhiều thông tin hơn trong cùng một thời điểm và tránh sự chồng chéo âm thanh phát ra và âm thanh phản xạ lại [161]

Cho đến nay, những nghiên cứu về phân loại các loài dơi thuộc giống

Pipistrellus bằng tiếng kêu siêu âm còn hạn chế, chủ yếu là mô tả đặc điểm tiếng

kêu siêu âm của một hay một số ít loài ở một khu vực nhất định

1.1.2.3.3 Phân loại dựa trên di truyền phân tử

Nghiên cứu di truyền phân tử ở các loài thuộc giống Pipistrellus cũng được thực hiện ở nhiều nơi trên thế giới, nhưng hạn chế hơn giống Myotis Những nghiên

cứu chủ yếu tập trung vào phát hiện loài mới và mối quan hệ giữa các loài Benda

và cộng sự (2004) [40] nghiên cứu di truyền phân tử của tổ hợp loài Pipistrellus pipistrellus ở khu vực châu Phi trên gen Cytochrome b chứa 402 cặp bazơ Kết quả nghiên cứu ghi nhận thêm loài mới Pipistrellus hanaki từ tổ hợp loài này với

khoảng cách di truyền khác biệt so với tổ hợp loài gốc là 3-5% Hoofer và cộng sự

(2006) [116] nghiên cứu di truyền phân tử của các loài thuộc giống Pipistrellus ở

Mỹ và ghi nhận loài mới là Pipistrellus hesperus Xiao và cộng sự (2008) [236] cho rằng 3 giống Ia, Scotomanes và Eptesicus cùng một nhánh và quan hệ chị em với giống Pipistrellus Điều này chỉ ra khả năng cao giống Ia có quan hệ gần với giống Eptesicus hơn giống Pipistrellus

1.2 Khái quát nghiên cứu dơi ở Việt Nam

1.2.1 Lược sử nghiên cứu

Lịch sử nghiên cứu dơi ở Việt Nam gắn liền với lịch sử nghiên cứu thú và có

sự biến động theo các giai đoạn phát triển lịch sử của đất nước Trong phạm vi nghiên cứu này, chúng tôi chia các giai đoạn nghiên cứu dơi theo các giai đoạn nghiên cứu thú của Đặng Huy Huỳnh và cộng sự (2008) [8]

1.2.1.1 Giai đoạn trước năm năm 1945

Trong giai đoạn này, nước ta chịu ách thống trị của thực dân Pháp và chế độ phong kiến Những nghiên cứu và ghi nhận về dơi ở Việt Nam ở giai đoạn này rất ít

và đều được thực hiện bởi các tác giả người nước ngoài Nhiều ghi nhận về các loài trong giai đoạn này có vị trí phân loại không chính xác và được định loại lại trong những nghiên cứu sau đó

Trang 33

Cuốn sách đầu tiên về dơi ở Việt Nam thuộc về Peter (1869) [174] Ông mô

tả mẫu vật thu được ở Côn Đảo là loài mới Pteropus condorensis Năm 1875, trong

cuốn sách về khu hệ động vật ở Đông Nam Á, Morice đã mô tả 8 loài dơi có mặt ở Đông Nam Á và Việt Nam [159] Từ năm 1871 đến 1880, Dobson [64, 66, 67, 68] tiến hành một số điều tra về khu hệ dơi ở khu vực Đông Nam Á, trong đó có Miền Nam Việt Nam và Côn Đảo, có 5 loài mới được ghi nhận trong đợt khảo sát này Năm 1904, Pousargues [174] tiến hành một loạt các khảo sát ở khu vực Đông Nam

Á và Thái Lan, thu được 37 loài dơi trong đó có 16 loài được ghi nhận ở Việt Nam Những ghi nhận và mô tả các loài dơi trong giai đoạn này đều dựa trên hình thái ngoài Đặc điểm về hình thái răng, hình thái sọ và sụn ngọc hành chưa được sử dụng trong những nghiên cứu này

Trên cơ sở các mẫu thu được từ các đợt điều tra thực địa năm 1925, 1926,

1929 ở Việt Nam, Lào, Cam Pu Chia của Lowe và Dalecour, Thomas [200, 201,

202, 203] đã định loại và bổ sung thêm 9 loài mới cho khu hệ dơi ở Việt Nam Trong nghiên cứu này, ngoài đặc điểm về hình thái ngoài, hình thái sọ và răng thì

sụn ngọc hành cũng được sử dụng để định loại các loài dơi thuộc giống Pipistrellus

Năm 1932, trên cơ sở tổng kết các tài liệu nghiên cứu từ năm 1920 đến 1932, Osgood [170] xuất bản cuốn sách quan trọng về dơi ở khu vực Đông Dương Theo công bố của ông, Việt Nam có hơn 30 loài dơi, hơn một nửa trong số chúng là loài mới mô tả trong giai đoạn này

Ngoài những nghiên cứu tiêu biểu trên, trong giai đoạn này còn có một số công bố về loài mới của một số tác giả khác gồm Thomas (1904) [196], Menegaux (1906) [153], Bourret (1942a, 1942b, 1944) [47, 48, 49]

1.2.1.2 Giai đoạn từ năm 1945 đến năm 1975

Trong giai đoạn này, những nghiên cứu về dơi được mở rộng hơn, nhưng do điều kiện chiến tranh nên phạm vi nghiên cứu chủ yếu được thực hiện riêng theo từng miền Nam, Bắc Năm 1969, Van Peenen và cộng sự [213] công bố thành phần loài dơi ở miền Nam Việt Nam gồm 2 phân bộ, 4 họ, 40 loài Năm 1974, Topal [207] ghi nhận 14 loài dơi ở miền Bắc Việt Nam, trong đó có ghi nhận đầu tiên về

loài Myotis hasseltii

Những nghiên cứu về dơi của các nhà khoa học Việt Nam trong giai đoạn này còn hạn chế, chủ yếu nằm trong điều tra về thành phần các loài thú Nghiên cứu của Đào Văn Tiến (1960, 1962, 1965) [58, 59, 60] ghi nhận 7 loài dơi mới cho khu

hệ dơi miền Bắc Việt Nam Năm 1981, dựa trên kết quả điều tra nguồn lợi thú miền Bắc Việt Nam từ năm 1962 đến năm 1976, Đặng Huy Huỳnh và cộng sự [5] công

Trang 34

bố 4 loài dơi có ý nghĩa kinh tế ở miền BắcViệt Nam gồm Cynopterus sphinx, Rousettus amplexicaudatus, Taphozous metanopogon và Rhinolophus affinis

1.2.1.3 Giai đoạn từ năm 1975 đến nay

Trong giai đoạn này, nhờ sự tài trợ và hợp tác của các tổ chức, cá nhân ở trong và ngoài nước, đặc biệt là sự hợp tác giữa Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật với tổ chức Frontier-Việt Nam trong điều tra về đa dạng sinh vật, nghiên cứu dơi được mở rộng và chuyên sâu hơn

Giai đoạn trước năm 1994, những nghiên cứu về dơi thường kết hợp trong các nghiên cứu về thành phần loài thú [7, 15, 17, 63, 80, 83, 88, 110, 111, 112, 113, 117,

118, 121, 204, 205, 210] Từ năm 1994 đến nay, nghiên cứu riêng về dơi ngày càng tăng về số lượng, phạm vi dẫn đến sự gia tăng số loài dơi được ghi nhận ở Việt Nam [1, 3, 10, 18, 19, 20, 21, 24, 25, 81, 110, 111, 112, 113, 140, 141 ] (bảng 1 1)

Bảng 1.1 Số loài dơi ghi nhận ở Việt Nam trong một số nghiên cứu trước

tài liệu Loài Giống Họ

2 1992 Bộ Khoa học và Công nghệ Việt Nam 64 [27]

Trang 35

Bảng 1.2 Các loài dơi mới đối với khu hệ dơi Việt Nam được ghi nhận từ năm

1.2.2 Tình hình nghiên cứu tiếng kêu siêu m và di truyền ph n tử của các loài dơi ở Việt Nam

Trước năm 2007, những nghiên cứu về phân loại dơi ở Việt Nam chỉ dựa

Trang 36

trên các đặc điểm hình thái ngoài, hình thái sọ, răng và sụn ngọc hành Từ năm

2007, song song với phân loại dựa vào hình thái, phân loại dựa vào tiếng kêu siêu

âm và di truyền phân tử ngày càng tăng, dẫn đến phân loại dơi ngày càng chính xác,

số lượng các loài mới được ghi nhận ngày càng tăng

1.2.2.1 Tình hình nghiên cứu tiếng kêu siêu âm

Năm 2007, Vũ Đình Thống và cộng sự công bố đặc điểm tiếng kêu siêu âm

của loài Rhinolophus marshalli ghi nhận được ở Cát Bà [223] Đây là nghiên cứu

đầu tiên về siêu âm của dơi ở Việt Nam [24] Những nghiên cứu về tiếng kêu siêu

âm của dơi ở Việt Nam những năm tiếp theo chủ yếu được thực hiện ở các loài thuộc họ Rhinolophidae và Hipposideridae [24, 26, 217, 218, 223, 224] Các nghiên cứu của Borisenko và cộng sự (2008) [45], Kruskop (2013) [136], Đỗ Thùy Dung (2016) [3], Nguyễn Viết Thịnh (2016) [18] chủ yếu là những ghi nhận mới về tiếng kêu siêu âm ở một loài hoặc một số loài thuộc một khu vực nhất định

Ngoài công trình nghiên cứu phân loại các loài dơi thuộc họ Rhinolophidae của Vũ Đình Thống (2011) [217] và Hoàng Trung Thành (2017) [16], nghiên cứu phân loại các loài dơi thuộc các họ khác bằng tiếng kêu siêu âm còn hạn chế Năm

2009, Furey và cộng sự [81] phân tích 382 tiếng kêu siêu âm của 31 loài dơi bằng phương pháp DFA Trong 31 loài trên, có 1 loài thuộc họ Pteropodidae, 1 loài thuộc

họ Megadermatidae, 8 loài thuộc họ Rhinolophidae, 5 loài thuộc họ Hipposideridae

và 10 loài thuộc họ Vespertilionidae Tỷ lệ định loại chính xác tất cả các loài trên bằng tiếng kêu siêu âm đạt 89,1%

1.2.2.2 Tình hình nghiên cứu di truyền phân tử

Nghiên cứu phân loại dơi bằng di truyền phân tử ở Việt Nam được tiến hành trong khoảng hơn một thập niên gần đây nên kết quả đạt được còn hạn chế Các nghiên cứu của Borisenko và cộng sự (2010) [45], Vũ Đình Thống và cộng sự (2012) [221, 222], Kruskop và cộng sự (2013) [136], Vương Tân Tú và cộng sự (2015, 2017) [226, 227] chủ yếu tập trung vào công bố các loài mới hoặc định loại lại các loài có vị trí phân loại không chính xác

Việc nghiên cứu sự phát sinh các loài dơi ở Việt Nam bằng di truyền phân tử

còn rất hạn chế Năm 2010, Francis và cộng sự (2010) [79] phân tích gen COI của

1896 mẫu thuộc 157 loài dơi khác nhau ở khu vực Nam Á (bao gồm cả Việt Nam) nhằm đánh giá vai trò của gen này trong hệ thống phân loại các họ và phân họ Năm

2017, Vương Tân Tú và cộng sự [225] nghiên cứu sự phát sinh chủng loại giống

Tylonycteris (bamboo bat) ở khu vực Đông Nam Á dựa trên nghiên cứu 2 gen trong

tế bào chất, 7 gen trong nhân kết hợp với nghiên cứu hình thái các mẫu dơi thu

được Nghiên cứu của các tác giả đã chỉ ra loài Tylonycteris pachypus phân tách

Trang 37

thành ba loài gồm Tylonycteris pachypus, Tylonycteris robustulus và Tylonycteris tonkinensis Tu, Csorba, Ruedi & Hassanin Các tác giả cũng tìm ra được thời kì phân tách giữa loài Tylonycteris pachypus và loài Tylonycteris robustulus Năm

2018, trên cơ sở phân tích gen Cytochrome b trên các mẫu có sẵn ở Việt Nam, Lào, Thái Lan, Nepal, Ruedi và cộng sự [181] công bố sự xuất hiện 1 giống mới và 1 loài

mới ở vùng Indo-Malay lần lượt là Cassistrellus và Cassistrellus yokdonensis

1.2.3 Nghiên cứu ph n loại giống Myotis

Năm 1875, trong cuốn sách về khu hệ động vật ở Đông Nam Á, Morice đã

mô tả 8 loài dơi có mặt ở Việt Nam với ghi nhận đầu tiên về loài Vespertilio adversus (=Myotis adversus) [159] Sau đó, loài này tiếp tục được ghi nhận bởi

Pousargues (1904) [174], Corbet và Hill (1992) [53], Đặng Huy Huỳnh (1994) [6], Kuznetsov và Rozhnov (1998) [140] Tuy nhiên, Bates và cộng sự (1999) [35] cho

rằng nhiều khả năng loài này bị định loại nhầm từ loài Myotis hasseltii

Năm 1878, Dobson [67] dự đoán loài dơi Vespertilio fimbriatus (=Myotis fimbriatus) có mặt ở miền Bắc Việt Nam Cho đến nay, chưa có nghiên cứu nào ghi

nhận sự có mặt của loài này

Năm 1906, Menegaux [153] tổng kết các mẫu thu được ở Miền Nam, Miền

Trung và ghi nhận lần đầu về loài Myotis chinensis ở Việt Nam

Năm 1932, loài M siligorensis alticranius và loài M longipes lần đầu được

mô tả ở Việt Nam bởi Osgood [170] Năm 1969, Van Peenen và cộng sự [212] thông

báo ở miền Nam có 2 loài thuộc giống Myotis là M mystacinus, M siligorensis

Năm 1974, Topal [208] công bố 17 loài dơi ở Việt Nam trong đó loài M hasseltii được ghi nhận lần đầu ở Việt Nam

Năm 1992, Cobert và Hill [53] ghi nhận 2 loài mới thuộc giống Myotis ở Việt Nam là M daubentonii, M muricola

Năm 1999, Bates [35] và cộng sự công bố 8 loài thuộc giống Myotis ở Việt Nam trong đó có 4 loài được ghi nhận lần đầu gồm M ater, M montivagus, M horsfieldii, M ricketti

Từ năm 2001 đến nay, nhiều phát hiện về loài mới ở Việt Nam thuộc giống

Myotis được công bố: loài M annamiticus được công bố năm 2001 bởi Kruskop và cộng sự [132]; M.annectans, M formosus lần lượt được công bố năm 2002, 2004 bởi

Vũ Đình Thống [19, 23]; M phanluongi được công bố bởi Borisenko và cộng sự năm

2008 [45]; M indochinensis được công bố bởi Nguyễn Trường Sơn và cộng sự năm

2013 [164]; M annatessae được công bố bởi Kruskop và cộng sự năm 2013 [136];

M ruforniger được công bố bởi Csorba và cộng sự năm 2014 [56] Năm 2018, trên

cơ sở phân tích gen COI ở tổ hợp loài M annatesae, Kruskop [138] công bố sự xuất

Trang 38

hiện dạng loài mới M cf annatesae

Trên cơ sở những ghi nhận trên, một loạt những thống kê về thành phần các

loài dơi Việt Nam nói chung và các loài thuộc giống Myotis nói riêng được thực

hiện từ năm 1994 đến nay (bảng 1 3)

Bảng 1.3 Thành phần loài dơi thuộc giống Myotis ở Việt Nam trong một số nghiên

cứu trước

Nguồn tài liệu

M siligorensis, M chinensis, M ater, M muricola, M

M ater, M adversus, M chinensis, M daubentonii,

M hasseltii, M horsfieldii, M laniger, M longipes,

M montivagus, M muricola, M mystacinus, M

ricketti, M siligorensis, M s alticraniatu

[9]

M chinensis, M siligorensis, M ater, M mystacinus, M

muricola, M montivagus, M longipes, M daubentonii,

M horsfieldii, M hesseltii, M adversus, M ricketti

[103]

M montivagus, M siligorensis, M muricola, M ater, M

rosetti, M annamiticus, M cf daubentonii, M horsfieldii,

M chinensis, M formosus, M siligorensis, M rosseti,

M ater, M mystacinus, M muricola, M montivagus,

M annectans, M longipes, M daubentonii, M

horsfieldii, M hesseltii, M adversus, M ricketti, M

annamiticus

[11, 22]

M adversus, M annamiticus, M annectans, M ater,

M chinensis, M daubentonii, M formosus, M

hasseltii, M horsfieldii, M laniger, M montivagus, M

muricola, M mystacinus, M ricketti, M rosseti, M

siligorensis

[2]

M chinensis, M montivagus, M annectans, M muricola,

M ater, M cf nipalensis, M rossetti, M siligorensis, M

phanluongi, M annamiticus, M horsfieldii, M hasseltii,

M laniger, M ricketti

[137]

Trang 39

Loài M daubentonii được ghi nhận bởi Bates và cộng sự (1999) [35] Tuy

nhiên, loài này phân bố chủ yếu ở khu vực châu Âu, những ghi nhận về loài này ở

Việt Nam cũng không rõ ràng Có thể loài này là loài M laniger, vì trước năm

1997, loài M laniger được coi là một phân loài hoặc một nòi của loài M daubentonii (Tale, 1941) [192]

Cũng trong năm 2013, 2 loài mới cho khu hệ dơi Việt Nam thuộc giống

Myotis được phát hiện và công bố Loài M annatesae được công bố bởi Kruskop và Borissenko [136], loài M indochinensis được công bố bởi Nguyễn Trường Sơn và

cộng sự [162] Năm 2014, trên cơ sở phân tích các mẫu thu được ở Châu Âu, Bắc Mỹ

và Châu Á thuộc phân giống Chrysopteron của giống Myotis, Csorba và cộng sự [56] công bố 6 loài thuộc phân giống này, 2 loài có mặt ở Việt Nam là M formosus và M ruforniger Loài M ruforniger lần đầu tiên được ghi nhận ở Việt Nam

Theo Bates và cộng sự (1999) [35], ghi nhận về loài M longipes không rõ ràng và chúng có thể là loài M laniger hoặc loài M annamiticus (Topal, 1997 [137], Kruskop, 2013 [209]) Tương tự, loài M mystacinus cũng có vị trí phân loại

không rõ ràng ở Việt Nam Năm 2000, Benda và Tsytsulina [35] định loại chúng là

loài M cf nipalensis Tuy nhiên, Borissenko và Kruskop (2003) [46], Kruskop (2013) [137] lại định loại chúng là loài M muricola

Những ghi nhận khác nhau, thậm chí trái ngược nhau ở trên thể hiện sự phức

tạp và chưa thống nhất trong hệ thống phân loại giống Myotis Nhiều loài thuộc 2

giống trên có đặc điểm hình thái và di truyển phức tạp cần tiếp tục được nghiên cứu

Trước năm 2008, tất cả nghiên cứu về phân loại các loài dơi thuộc giống

Myotis chỉ dựa vào hình thái ngoài (màu sắc lông, chiều dài xương cẳng tay, xương

cẳng chân, chiều dài bàn chân, chiều dài tai, kiểu gắn của màng bay vào chân, đặc điểm thùy cựa ở màng bay); hình thái sọ (GL, CCL ); hình thái răng, chủ yếu là răng nanh và răng tiền hàm Do một số đặc điểm hình thái dùng trong định loại một

số loài thuộc giống này rất giống nhau nên việc định loại gặp nhiều khó khăn Vì vậy, việc tìm ra các đặc điểm hình thái mới có thể dùng để định loại chính xác các loài thuộc giống này rất có ý nghĩa

Việc phân loại các loài dơi thuộc giống Myotis bằng tiếng kêu siêu âm ở Việt Nam còn hạn chế Năm 2008, Borisenko và cộng sự [44] mô tả loài mới M

kêu siêu âm của 5 loài thuộc giống Myotis gồm M chinensis, M siligorensis, M ater, M muricola, M ricketti với ghi nhận lần đầu về tiếng kêu siêu âm của 3 loài gồm M chinensis, M ater, M muricola Ngoại trừ loài M siligorensis có thêm

thành phần QCF và có dải tần số tương đối hẹp, tiếng kêu của 4 loài còn lại chỉ có

Trang 40

sóng FM, không có sóng CF, DUR tương đối ngắn (<5 ms) với dải tần số tương đối rộng (khoảng 45,1 kHz) Tiếng kêu của những loài này thường kết thúc ở phần đuôi

trùng hợp cao giữa các thông số của tiếng kêu siêu âm ở các loài thuộc giống Myotis

có kích thước nhỏ là M ater và M muricola Thông số của tiếng kêu siêu âm ở hai loài có kích thước cơ thể lớn là M chinensis, M ricketti khá giống nhau, chỉ khác ở tần số khởi đầu (ở loài M chinensis cao hơn, khoảng 83,6 kHz) Trong khi tỷ lệ định loại chính xác giữa loài M chinensis và M siligorensis đạt 100% thì tỷ lệ định loại chính xác hai loài M ater và M muricola chỉ đạt từ 50-75% Tỷ lệ định loại loài

M ricketti với loài Hypsugo pulveratus và loài Spizaetus ornatus đạt 60-67%

Kruskop (2013) [137] cũng đề cập đến tiếng kêu siêu âm của 5 loài thuộc

giống Myotis gồm M siligorensis, M annamiticus, M phanluongi, M hasseltii và

có sự phân tích đặc điểm tiếng kêu siêu âm của chúng và khả năng phân loại chúng bằng tiếng kêu siêu âm (bảng 1.4)

Bảng 1.4 Thông số về tiếng kêu siêu âm của một số loài thuộc giống Myotis ở Việt

Nam trong một số nghiên cứu trước

tài liệu

1 M chinensis 83,6±4,3

78-90,9

25,2±3,5 19,9-30,1

49,0±5,6 40,7-55,7

3,6±0,9 2,7-5,2

81,0±15,3 62,8-114,9 [81]

2 M siligorensis

112,4±14,3 85-129,4

72,8±2,6 69-78

78,3±2,4 75,7-83,4

3,5±0,9 2,3-5,2

67,3±27,4 37,6-149,6 [81]

45-50 [137]

95,4-110

57,5 53,7-60,1

66,7 64,3-71,3

1,4 1,0-1,7

69,6 47,7-86,6 [81]

4 M muricola 97,8

75,3-114,1

54,5 51,5-59,2

66,2 62-73,6

1,9 1,0-2,4

58,2 21,4-118,7 [81]

Ghi chú: Các thuật ngữ Fstart, Fend, FmaxE, DUR, IPI được trình bày ở mục 1.1.1.2.2 và

chương II Đơn vị đo Fstart, Fend, FmaxE là kHz, đơn vị đo DUR và IPI là ms

Ngày đăng: 16/01/2020, 11:46

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN