Luận án Nghiên cứu phân loại họ nhài (Oleaceae Hoffmanns. & Link) ở Việt Nam trình bày về các nội dung: tổng quan tình hình nghiên cứu họ nhài (Oleaceae Hoffmanns. & Link) trên thế giới và ở Việt Nam; đôi tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu đề tài; kết quả nghiên cứu và hướng đề xuất cho đề tài nghiên cứu. Để biết rõ hơn về nội dung chi tiết, mời các bạn cùng tham khảo.
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO VIỆN HÀN LÂM KHOA HỌC
VÀ CÔNG NGHỆ VIỆT NAM HỌC VIỆN KHOA HỌC VÀ CÔNG NGHỆ
Trang 2Công trình được hoàn thành tại: Học viện Khoa học và Công nghệ - Viện
Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam
Người hướng dẫn khoa học 1: TS Nguyễn Văn Dư
Người hướng dẫn khoa học 2: TS Trần Thị Phương Anh
Có thể tìm hiểu luận án tại:
- Thư viện Học viện Khoa học và Công nghệ
Trang 3MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài luận án
Họ Nhài (Oleaceae Hoffmanns & Link) có khoảng 25 chi với hơn 600 loài, phân bố ở hầu hết các vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới trên thế giới Ở Việt Nam,
họ thực vật này hiện này có 74 loài và 8 phân loài và 1 thứ, nhiều loài có giá trị kinh tế và khoa học Cho đến nay, phân loại thực vật được coi một trong những ngành khoa học quan trọng trong sinh học Kết quả của phân loại thực vật còn là
cơ sở khoa học cho các lĩnh vực khoa học khác nhau như Sinh thái học, Tài
nước ta mới chỉ có công trình của Gagnep (1933) là công trình phân loại một cách có hệ thống và tương đối đầy đủ về họ Nhài Nhưng cho đến nay nhiều nội dung trong tài liệu này đã không còn phù hợp, cần được bổ sung và sửa đổi Ngoài tài liệu trên, còn một số công trình nghiên cứu khác của Phạm Hoàng Hộ (1970, 2003), Võ Văn Chi (1997, 2005, 2012), Nguyễn Tiến Bân & nnk (1997, 2003, 2005) các tài liệu này chỉ mô tả ngắn gọn, dưới dạng danh lục hoặc chỉ đề cập đến giá trị sử dụng của các loài, về mặt danh pháp còn một số nhầm lẫn và thiếu nhiều thông tin Từ thực tế trên, việc nghiên cứu một cách toàn diện và có hệ thống về phân loại họ Nhài ở Việt Nam là rất cần thiết Chính vì vậy, tác giả luận
án đã lựa chọn đề tài: “NGHIÊN CỨU PHÂN LOẠI HỌ NHÀI (OLEACEAE
Hoffmanns & Link) Ở VIỆT NAM”
2 Mục đích của đề tài luận án
Hoàn thành việc phân loại họ Nhài (Oleaceae) một cách đầy đủ và có hệ thống,
làm cơ sở để biên soạn Thực vật chí về họ này ở Việt Nam
3 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài luận án
* Ý nghĩa khoa học
Kết quả của đề tài góp phần bổ sung và hoàn chỉnh kiến thức về phân loại họ Nhài
(Oleaceae) ở Việt Nam, là bước chuẩn bị quan trọng để biên soạn bộ sách “Thực
vật chí Việt Nam” về họ này
* Ý nghĩa thực tiễn
Kết quả của đề tài là cơ sở khoa học phục vụ cho các ngành ứng dụng và sản xuất như Nông-Lâm nghiệp, Dược học và trong công tác đào tạo
4 Bố cục của luận án
- Luận án gồm 160 trang, 68 hình vẽ, 11 bản đồ, 5 bảng, 73 trang ảnh màu
- Luận án gồm các phần: mở đầu (1 trang), chương 1: tổng quan tài liệu (26 trang), chương 2: đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu (9 trang), chương 3: kết quả nghiên cứu (113 trang), kết luận (1 trang), điểm mới của luận
Trang 4án (1 trang) danh mục các bảng, danh mục hình vẽ, danh mục bản đồ, danh mục các công trình công bố của tác giả (15 công trình) và 1công trình chấp nhận đăng bài, tài liệu tham khảo (123 tài liệu), bảng tra cứu tên khoa học, bảng tra cứu tên Việt Nam, phụ lục 1: danh sách mẫu hạt phấn; phụ lục 2: Ảnh mẫu type các loài (11 trang ảnh màu), phu lục 3 bản đồ phân bố của các loài trong chi (11 bản đồ), Phụ lục 4 danh sách mẫu sinh học phân tử; dữ liệu trình tự gen các loài thuộc họ
Nhài
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
I TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU HỌ NHÀI (OLEACEAE Hoffmanns & Link) TRÊN THẾ GIỚI.
1.1 Vị trí của họ Oleaceae trong ngành Ngọc Lan (Magnolyophyta)
Carl Linnaeus, năm (1753) là người đầu tiên đặt tên cho 8 chi và 18 loài sau này được xếp thuộc họ Nhài Các loài này đã được ông chia vào phân lớp 2 nhị dài với 1 vòi nhụy Năm (1809), hai tác giả Johann Centurius Hoffmannsegg và Johann H F Link mô tả 1 bậc phân loại chi của họ Nhài và được gọi là "Oleinae"
Từ thời điểm này họ Nhài (Oleaceae) được chính thức thành lập, đặt theo tên chi
Olea Từ đó đến nay, vị trí và hệ thống phân loại của taxon này được nhiều tác giả nghiên cứu và có nhiều quan điểm khác nhau
Quan điểm thứ nhất: Sắp xếp họ Oleaceae vào bộ Gentianales và có quan hệ gần gũi với các họ Apocynaceae, Asclepiadeae và Gentianeae Có đặc điểm hình thái chung là: Cây trườn, bụi, gỗ nhỏ; lá đơn mọc đối; hoa mẫu 4 hoặc 5; nhị 2-4; bầu trên; quả mọng, quả nang hoặc quả hạch Theo quan điểm này có, hai nhà thực vật học người Anh là Bentham, G và D J Hooker năm (1862) và Heywood (1996) Quan điểm thứ 2: Sắp xếp họ Oleaceae vào bộ Loganiales và có quan hệ gần gũi với họ Loganiaceae do cùng chung đặc điểm hình thái cây leo trườn; hoa mẫu 4 hoặc 5; quả nang, theo quan điểm này có Hutchinson (1959)
Quan điểm thứ 3: Sắp xếp họ Oleaceae vào bộ Scrophulariales và có quan hệ gần gũi với Gesneriaceae, Acanthaceae, Scrophulariaceae Giữa họ Oleaceae có đặc điểm chung như; hoa mẫu 4 hoặc 5; quả nang, quan điểm này không bao gồm họ Lamiaceae, theo quan điểm này có Cronquist (1968) và Thorne (1968)
Quan điểm thứ 4: Sắp xếp họ Oleaceae vào bộ Lamiales và có quan hệ gần gũi với các họ Gesneriaceae, Scrophulariaceae, Lamiaceae, Verbenaceae, có các đặc điểm hình thái giống nhau như trên, theo quan điểm này có hệ thống của P S Green chủ biên J W Kadereit (2004) và hệ thống APG III (2009)
Quan điểm thứ 5: Sắp xếp họ Oleaceae độc lập trong bộ Oleales Theo quan điểm này có Engler A, Gily E (1924), Melchior (1964), Takhtajan (1973), Dahlgren
Trang 5(1982), Takhtajan (1987, 2009), một số các quan điểm xếp họ Oleaceae là một bộ, tiêu biểu cho quan điểm này có Takhtajan trong hệ thống của mình, thuộc các năm khác nhau, đã xếp Oleaceae độc lập trong bộ Oleales và theo các tác giả này bộ Oleales có quan hệ gần gũi với các bộ Gentiales, Verbenales, Scrophulariales, có nhiều đặc điểm hình thái giống nhau
Tuy nhiên quan điểm xếp họ Oleaceae độc lập trong bộ Oleales, không được các nhà nghiên cứu hệ thống đồng tình Như vậy mỗi tác giả đều có quan điểm và cách sắp xếp khác nhau trong các taxon bậc bộ hoặc trên bộ Nhưng các nghiên cứu gần đây về sinh học phân tử cũng như hình thái các tác giả đều sắp xếp họ này thuộc phân lớp Lamiidae bộ Lamiales
1.2 Các hệ thống phân loại họ Nhài (Oleaceae Hoffmanns & Link)
Sau khi họ Nhài được thành lập năm (1809), đầu thế kỷ 19 đã có nhiều tác giả công bố hệ thống về họ này mặt khác cũng có nhiều tác giả đi sâu nghiên cứu phân loại họ Nhài ở các quốc gia và vùng lãnh thổ Qua các công trình đó, tác
giả luận án thấy rằng có hai quan điểm về hệ thống như sau:
1.2.1 Quan điểm thứ nhất: Chia họ Oleaceae thành các tông (Tribus) rồi chia
tiếp thành chi (Genus) và các bậc nhỏ hơn, dưới đây là một số hệ thống tiêu biểu cách phân chia này
De Candolle A P (1844) là người đầu tiên sử dụng các đặc điểm hình thái của qủa để phân chia họ Nhài, thành các taxon bậc dưới họ một cách có hệ thống, tác
giả chưa công nhận Jasmineae gồm 6 chi là Chondrospermum, Nyctanthes,
Bolivaria, Menodora, Balangue, Jasminum thuộc họ Oleaceae, ông để nhóm này như một họ độc lập Trong họ Oleaceae, De Candolle đã sắp xếp 21 chi thuộc họ Oleaceae vào 4 tông dựa trên đặc điểm của quả
Clarke, C B (1882) nghiên cứu hệ thực vật Ấn Độ đã công nhận Jassminae thuộc
họ Oleaceae và sắp xếp 10 chi họ Oleaceae thành 4 tông (tribe): Hệ thống này phần lớn đồng quan điểm với hệ thống của De Candolle (1844), có điểm khác là
tác giả công nhận tông Jasmineae thuộc họ Oleaceae, và nhập chi Chionanthus vào Linociera do đó không công nhận tông Chionantheae
Takhtajan, A L (1987) đã sắp xếp 30 chi họ Oleaceae vào 7 tông, trong hệ thống
này, có nhiều điểm khác như số lượng các tông đã thay đổi, so với cách sắp xếp hai hệ thống trên là De Candolle (1844) và Clarke, C B (1882).Tác giả công nhận tông Fraxineae và các tông không được công nhận là Syringeae, Oleineae,
Chionantheae Hê thống Takhtajan, A L (1987) tuy số lượng chi và vị trí sắp xếp
của các tông phần nào đã thể hiện được chiều hướng tiến hóa của các taxon trong
họ Oleaceae, nhưng vẫn tồn tại một số nhược điểm như là; tông Jasmineae có hai
Trang 6chi được xếp vào là Menodora, Jasminum, quan điểm này được nhiều tác giả
nghiên cứu sau này cho là chưa hợp lý và không đồng tình
Wallander E., & V A Albert (2000), đây có thể coi là một trong nghiên cứu tiêu biểu về hệ thống, khi áp dụng sinh học phân tử để xây dựng một hệ thống họ Oleaceae với cách sắp xếp hoàn toàn mới được đề xuất Trong công trình nghiên cứu của các tác giả, cơ sở dữ liệu trình tự gen ADN của các loài thuộc họ Oleaceae và một số loài thuộc họ khác làm đối chứng Vị trí phân loại của hai chi được khẳng định là chi Dimetra và Nyctanthes, các nghiên cứu trước đó gợi ý để thuộc về họ Verbenaceae hoặc Nyctanthaceae, tuy nhiên với kết quả nghiên cứu
này, hai chi Dimetra và Nyctanthes đã thuộc họ Nhài, được chứng minh bằng
quan hệ gần gũi với giá trị bootstrap 100% với các chi trong họ
P S Green (2004), nghiên cứu hệ thống họ Oleaceae, ông kế thừa và hoàn toàn đồng quan điểm với Wallander E., & V A Albert (2000) và trong nghiên cứu của mình ông cũng công nhận 3 phân tông mới theo hệ thống của Wallander E., & V
A Albert Nhưng có một số điểm khác về vị trí các tông và chi, khi so sánh với nhau Như vậy, Tác giả đã kế thừa và hoàn chỉnh hệ thống Wallander E., & V A Albert (2000) Từ hai nghiên cứu hệ thống trên, theo quan điểm chia họ Oleaceae thành các bậc tông và nhỏ hơn, đã giải quyết thỏa đáng vị trí phân loại của các taxon trong họ này
1.2.2 Quan điểm thứ hai: Chia họ Oleaceae thành các phân họ (Subfamilia), rồi
chia tiếp thành các tông (Tribus) và các bậc nhỏ hơn
Theo quan điểm này, Johnson, L A S (1957) khi nghiên cứu họ Oleaceae, đã sắp xếp 29 chi vào 7 tông vào hai phân họ
Hệ thống của Johnson, L A S (1957), theo tác giải luân án nhược điểm của hệ
thống này là; tách không công nhận chi Nyctanthes thuộc họ Oleaceae và còn có một số điểm sai khác như vẫn để chi Steganthus (synonym của chi Olea Wallander E., V A Albert (2000), chi Dekindtia (synonym của chi Chionanthus)
Melchior (1964), cơ bản đã dựa trên hệ thống Johnson, L A S (1957) đã sắp xếp
26 chi họ Oleaceae vào 7 tông và 2 phân họ
Heywood (1993) Trong công trình của mình ông sử dụng đặc điểm hình thái chia thành 2 phân họ; bầu 2 đến nhiều ô, thùy tràng luôn 4 hoặc không có thuộc phân
họ Oleoideae, đặc điểm bầu 1 ô hoặc 2 ô, thùy tràng 4-12 luôn luôn có thùy tràng
thuộc phân họ Jasminoideae, trong đó ông bổ sung thêm chi Noldeanthus vào tông
Schrebereae
Takhtajan (1997), (2009) khác với hệ thống của ông năm (1987) thay vì chia các taxon họ Oleacae thành các tông, tác giả đã chia họ Oleaceae thành 3 phân họ
Trang 7Xu hướng sắp xếp này được kế thừa theo quan điểm chia họ Oleaceae thành các
phân họ, cụ thể là gộp 2 chi của tông Jasmineae, nâng lên thành bậc phân họ Jasminoideae, tiếp theo gộp 2 tông Fraxineae, Oleeae nâng thành bậc phân họ là;
Oleoideae Và còn có điểm sai khác so với hệ thống trước đó của ông là; tách ra
nâng chi Nyctanthes thành phân họ Tóm lại các quan điểm phân chia họ Oleaceae
đến phân họ, rồi đến tông và chi đều có một điểm sai khác chung là; chia thành 2
phân họ và 7 tông, và không chấp nhận vị trí phân loại của chi Nyctnathes thuộc
họ Oleaceae, trừ Takhtajan (1997), (2009), như trên đã trình bày, tác giả nâng bậc
phân loại chi Nyctanthes thành phân họ riêng là chưa thỏa đáng Đa số các tác giả
nghiên cứu hệ thống hiện nay không ủng hộ quan điểm này
1.3 TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU HỌ NHÀI (OLEACEAE) Ở CÁC NƯỚC
LÂN CẬN
Ở các nước lân cận Việt Nam họ Nhài (Oleaceae) được nhiều tác giả nghiên cứu và phân loại, các nghiên cứu đáng chú ý là:
Kobuski, C E (1932) sử dụng đặc điểm cách mọc lá của các loài, chia các loài
trong chi Jasminum ở Trung Quốc thành 4 loạt (series), xây dựng khóa phân loại
cho các loài hiện biết vào thời điểm đó Backer & Bakhuizen (1965) đã mô tả kèm theo khóa định loại cho 6 chi và 24 loài thuộc họ Nhài ở đảo Java (Inđônêxia)
Wu Zheng yi (1986) khi nghiên cứu hệ thực vật tỉnh Vân Nam (Trung Quốc), mô
tả và xây dựng khóa định loại cho 10 chi và 57 loài thuộc họ này Chang chen, Qui Lian & P.S Green (1996) trong thực vật chí Trung Quốc, đã xây dựng khóa định loại cho 10 chi và 160 loài thuộc họ Nhài Qiu Xiang-Kun (1996) nghiên cứu 51 loài và 7 chi thuộc họ Oleaceae xây dựng hệ thống chia họ nhài
Mei-thành 5 tông, Yang, Yuen po and Lu, Sheng-You (1998) trong “Thực vật chí
Taiwan” đã xây dựng khóa định loại cho 5 chi (Chionanthus, Fraxinus,
Jasminum, Osmanthus, Ligustrum) và 19 loài thuộc họ này ở Đài Loan
P S Green (2000) nghiên cứu hệ thực vật Thái Lan, tác giả xây dựng khóa, mô tả
63 loài thuộc 8 chi họ Nhài Tiếp theo P S Green (2003) nghiên cứu hệ thực vật
Ấn Độ, tác giả xây dựng khóa 9 chi 82 loài thuộc họ Nhài ở Ấn Độ Qiang, Xianian-he (2009) khi điều tra hệ thực vật Hồng Kông, tác giả xây dựng khóa định loại cho 6 chi và 22 loài
Xubing-II TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU HỌ NHÀI (OLEACEAE Hoffmanns & Link) Ở VIỆT NAM
Người đầu tiên nghiên cứu về họ Nhài ở Việt Nam là Loureiro (1790)
Tác giả mô tả 5 chi, 5 loài thuộc họ này (chi Tetrapilus đã trở thành tên đồng nghĩa chi Olea) Tác giả sắp xếp theo hệ thống của Linnaeus (1753)
Trang 8Cho đến nay, nhà thực vật học người Pháp là F Gagnepain người có nhiều đóng góp nhất trong nghiên cứu phân loại họ Nhài (Oleaceae)” ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng Hai công trình nghiên cứu phân loại là: Gagnepain
(1933) trong "Flore géneral de L’ Indochine" đã xây dựng khóa định loại, mô tả
đặc điểm hình thái cho 9 chi, 60 loài và 3 thứ thuộc họ này Ông công bố 29 loài mới trong đó 28 loài phát hiện ở Việt Nam, hiên tại có đến 5 loài đặc hữu trong
họ được ông công bố vào thời điểm đó Tiếp theo trong năm (1933) "Bulletin de
la Societe Botanique de France" ông đã công bố 3 loài mới thuộc các chi
Jasminum, Chionanthus, trong đó có 1 loài phân bố ở Việt Nam P H Hộ (1970)
đã tóm tắt đặc điểm nhận biết của 9 chi 38 loài ở miền Nam Đến năm 2003 trong
tổng số loài của họ Nhài ở Việt Nam lên 67 loài, và 2 thứ Tuy nhiên, chi
Linociera sau này trở thành tên đồng nghĩa Chionanthus, đã không được tác giả
chỉnh lý danh pháp T Đ Lý (2003) đã tóm tắt các thông tin ngắn của 77 loài, thuộc 9 chi của họ Nhài ở Việt Nam Soejarto, D.D và cộng sự, (2004) đã chỉnh
lý danh pháp, 3 loài thuộc chi Linociera thành Chionanthus Ngoài các công
trình phân loại đã trình bày ở trên, còn có một số ít các công trình khác đề cập đến giá trị sử dụng của một vài loài cây trong họ Nhài như: Đỗ Tất Lợi (1995)
Đỗ Huy Bích & cộng sự (2004) Võ Văn Chi (2003-2004,2012)
CHƯƠNG 2 ĐÔI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu là các taxon của họ Nhài ở Việt Nam, bao gồm các loài mọc ngoài thiên nhiên và các mẫu khô được lưu giữ tại các phòng tiêu bản trong và ngoài nước Tổng số tiêu bản đã tiến hành nghiên cứu khoảng 540 số hiệu và 1340 mẫu vật
2.2 Nội dung nghiên cứu
- Lựa chọn hệ thống phân loại thích hợp để sắp xếp các taxon của họ Nhài ở Việt Nam
- Tìm hiểu đặc điểm hình thái của họ Nhài qua các đại diện ở Việt Nam, phục
vụ công tác phân loại như dạng thân, lá, cụm hoa, hoa, quả và hạt
- Xây dựng khóa định loại các chi của họ Nhài, các loài trong mỗi chi ở Việt Nam Mô tả các taxon trong họ Nhài
- Giá trị của họ Nhài: tổng hợp các giá trị khoa học và giá trị sử dụng của các loài thuộc họ Nhài ở Việt Nam
Để làm cơ sở minh họa cho các nội dung trên, luận án còn có hình vẽ, phân tích mối quan hệ gần gũi có thể giữa các chi của họ Nhài
Trang 92.3 Phương pháp nghiên cứu Phương pháp điều tra thu thập mẫu vật Phương
pháp hình thái so sánh, Phương pháp hình thái hạt phấn, Phương pháp đánh giá giá trị tài nguyên của họ Nhài ở Việt Nam Phương pháp đánh giá bảo tồn của họ
Nhài ở Việt Nam
CHƯƠNG 3 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 3.1 Đặc điểm hình thái họ Nhài (Oleaceae) ở Việt Nam
3.1.1 DẠNG THÂN: Cây bụi trườn hoặc dây trườn (Jasminum, Myxopurum),
cây gỗ (Fraxinus, Schrebera, Ligustrum, Olea, Chionanthus, Osmanthus,
Nyctanthes)
3.1.2 LÁ: Lá kép 3 lá chét mọc đối, hình trứng (Jasminum brevilobum,
Jasminum sinense, Jasminum lanceolaria, Jasminum mesnyi), lá kép 5-9 lá chét
(Fraxinus, Schrebera)
3.1.3 CỤM HOA: Cụm hoa mọc ở đỉnh cành hay nách lá (Jasminum, Fraxinus,
Schrebera, Ligustrum, Olea, Chionanthus, Osmanthus, Myxopurum, Nyctanthes),
hoặc trên thân (Osmanthus); gồm các kiểu chính là xim-chùy hoặc dạng tán Kiểu cụm hoa xim một ngả (Jasminum alongense), xim hai ngả (Jasminum
anodontum, Olea hainanensis, Chionanthus, Osmanthus matsumuranus)
3.1.4 LÁ BẮC: Lá bắc hình dùi, hình sợi (Jasminum), lá bắc hình dạng lá,
(Jasminum), hình tam giác (Fraxinus, Schrebera, Ligustrum, Olea, Chionanthus,
Osmanthus, Myxopurum)
3.1.5 HOA: Các đại diện của họ Nhài hoa lưỡng tính (Jasminum) hoặc đơn tính,
đối xứng, mẫu 4 (Ligustrum, Olea, Chionanthus, Osmanthus, Myxopurum) Bao
hoa phân hóa thành đài và tràng rõ ràng Hoa có đầy đủ các bộ phận (Jasminum,
Schrebera, Ligustrum, Olea, Chionanthus, Osmanthus, Myxopurum, Nyctanthes),
không có cánh tràng (Fraxinus)
a Đài: Đài hợp ở phía phía dưới tạo thành hình chuông, hình chén, ở một số loài
lớn lên cùng quả (đồng trưởng), (Jasminum microcalyx, Jasminum lang); thùy
đài 4-10, dạng sợi có lông dày, lông thưa hay không lông (Jasminum,
Nyctanthes ); thùy đài thường 4 gặp ở các đại diện chi (Ligustrum, Olea,
Chionanthus, Osmanthus, Myxopurum)
b Tràng: Thùy tràng ở họ Nhài đối xứng, gồm 2 phần ống tràng và thùy tràng rõ
ràng Ống tràng dạng ống, hình phễu, hình chuông, ở một số đại diện chi
(Jasminum) phần trên ống gần với thùy tràng dẹt, có sọc dọc (Jasminum
nervosum, Jasminum annamense subsp glabrescens); hoặc ống rất ngắn (Ligustrum sinensis, Osmanthus fragrans)
Trang 10c Bộ nhị: Bộ nhị gồm 2 nhị (Jasminum, Fraxinus, Schrebera, Ligustrum, Olea,
Chionanthus, Osmanthus, Myxopurum, Nyctanthes) Bao phấn 2 ô, đính gốc
(Jasminum) hoặc đính lưng, mở theo đường nứt dọc (Ligustrum); có trung đới kéo dài (phần phụ) (Jasminum), chỉ nhị đính ở giữa hoặc gần họng tràng
d Hạt phấn: Hạt phấn đẳng cực, đối xứng tỏa tia, hạt phấn có 3 rãnh kích thước
nhỏ, (Jasminum vietnamnese, Jasminum multiflorum, Jasminum brevilobum,
Fraxinus stylosa, Ligustrum, Olea)
e Bộ nhụy: Bầu thượng, 2 ô; mỗi ô chứa 1-2 hoặc 4-nhiều noãn trên giá noãn trụ
giữa; bầu có nhiều hình dạng như hình trống, hình trứng, vòi nhụy dài, núm nhụy
chẻ đôi hoặc chẻ nông (Jasminum, Fraxinus)
3.1.6 QUẢ: Quả mọng (Jasminum, Ligustrum), Quả hạch (Olea, Chionanthus,
Osmanthus ); quả nang (Schrebera); quả có cánh (Fraxinus)
3.1.7 HẠT: Hạt hình trứng (Jasminum), một số hình tròn (Jasminum, Olea,
Chionanthus ), hình bầu dục (Ligustrum, ) hoặc hình tam giác, có cánh hoặc không
(Schrebera, Myxopyrum)
3.2 Lựa chọn hệ thống phân loại họ Nhài (Oleaceae Hoffmanns & Link) ở Việt Nam và Kết quả phân tích dữ liệu trình tự gen xây dựng sơ đồ mối quan
hệ gần gũi có thể giữa các taxon thuộc họ Nhài
Dựa trên dữ liệu trình tự gen, để tìm hiểu mối quan hệ giữa các chi thuộc
họ Nhài qua đó có cơ sở tin cậy hơn để lựa chọn hệ thống phân loại phù hợp Mối quan hệ đó được thể hiện qua sơ đồ 3.1 Sau khi phân tích và so sánh hệ thống phân loại họ Nhài trên thế giới cũng như ở Việt Nam, trên cơ sở kết hợp dữ liệu hình thái và trình tự gen Tác giả đề tài luận án đã lựa chọn hệ thống của Wallander & Albert (2000) và P S Green (2004) để sắp xếp các taxon thuộc họ Nhài ở Việt Nam
Bảng 1.6 Hệ thống của Wallander & Albert (2000) và kết hợp của P.S Green
(2004) sử dụng cho họ Nhài ở Việt Nam
Tông - Tribus Phân tông - Tribus Chi - Genus
Trib 1 Jasmineae 1 Jasminum
Trang 11Myxopyrum smilacifolium Jasminum attenuatum Jasminum lanceolaria
J lanceolaria subsp scortechi Jasminum vietnamense Jasminum microcalyx Jasminum pierieanum Jasminum brevilobum Jasminum macrocarpum Jasminum nervosum Jasminum lang Jasminum allbicalyx Jasminum pedunculatum Jasminum rufohirtum Jasminum harmandianum
J laurifolium var bachylobum
J laurifolium
J annamense sub glabrescens Jasminum laxiflorum Jasminum nobile Jasminum scandens Jasminum elongatum
J simplicifolium Jasminum extensum
Jasmineae
Ligustrum rubustum Ligustrum sinense Ligustrum strongylophyllum
L obtusifolium subsp microphy
Ligustrinae
Chionanthus virginicus Chionalthus ramiflorus Olea salicifolia Olea neriifolia Osmanthus matsumuranus Osmanthus fragrans
99 68 99
86 80 99 95 51 54
77 100 83
100
54 51 100
73 100 77 85 71
99 94
98
0
Sơ đồ 3.1 Mối quan hệ giữa các tông, chi thuộc họ Oleaceae theo phương pháp
Paulp for window 3.3 KHÓA ĐỊNH LOẠI CÁC, CÁC TÔNG, PHÂN TÔNG, CHI THUỘC
HỌ NHÀI (OLEACEAE Hoffmanns & Link) Ở VIỆT NAM
1A Đài 4-15(20) thùy tràng 5-30 thùy; thùy tràng hình bầu dục-hình bầu dục thuôn hay hình đường, không lông, mép nguyên (Trib.1.Jasmineae) Quả mọng, mọc kép (2 phân quả) hoặc một nửa không phát triển………1.JASMINUM 1B Đài và tràng 4-8 thùy Thùy tràng hình tam giác, hình thuyền, hình trứng, hoặc
tiêu giảm, có lông hay không lông, mép thường uốn vào trong hay mép có răng cưa hoặc không Quả mọng, mọc đơn, quả hạch hoặc quả nang có cánh
2A Quả hạch, nang có cánh Vỏ quả hóa gỗ Hạt 1-2……… (Trib.2.Oleeae) 3A Lá kép lông chim.Thùy tràng có hoặc tiêu giảm Quả có cánh Hạt có cánh
4A Ống tràng ngắn, thùy tràng hình thuyền, 4 thùy hoặc không có
(Subtrib.1.Fraxiniae) Đài hình chén, 4 thùy hình tam giác Quả nang
có cánh đơn Hạt 1 hình trứng thuôn dài……… 2.FRAXINUS 4B Ống tràng dài, thùy tràng hình trứng hoặc bầu dục, 5-7 thùy
(Subtrib.2.Schreberrinae) Đài dạng chuông, thùy cụt hoặc không rõ
(tiêu giảm) Tràng 5-7 thùy Quả nang không cánh, vỏ quả hóa gỗ Hạt 2
hình tam giác, có cánh mỏng 3.SCHREBERA
3B Lá đơn mọc đối Tràng 4 thùy Quả và hạt không có cánh
5A Quả mọng (Subtrib.3.Ligustrinae) Thùy tràng bầu dục, mép thùy không uốn vào trong………… 4.LIGUSTRUM
5B Quả hạch Thùy tràng hình trứng hoặc tam giác, bầu dục thuôn hoặc
dạng túi, mép thùy uốn vào trong (Subtrib.4.Oleinae)
Trang 126A Cụm hoa dạng xim-chùy, mọc ở đầu cành hoặc nách lá Tràng không xếp lợp lên nhau ở dạng nụ
7A Thùy tràng hình tam giác hoặc hình trứng, ngắn hơn hoặc
bằng ống tràng 5.OLEA 7B Thùy tràng hình bầu dục-thuôn hiếm khi hình trứng, dài gấp 2-3 lần ống tràng 6.CHIONANTHUS
6B Cụm hoa dạng xim tụ lại thành bó, thành chùm, hiếm khi dạng chùy nhỏ, mọc ở nách lá hay trên thân Tràng xếp lợp lên nhau ở
dạng nụ 7.OSMANTHUS
2B Quả mọng, quả không có cánh, vỏ quả không hóa gỗ Hạt 1-4
(Trib.3.Myxopyreae)
8A Bụi trườn, thân có 4 cạnh thấp Tràng 4 thùy, không lông Hạt hình gần
tròn hoặc nửa hình cầu 8.MYXOPYRUM
8B Cây bụi hoặc gỗ, thân tròn không có cạnh Tràng 5-8 thùy, mặt trong có
lông Hạt hình bầu dục 9.NYCTANTHES
3.4 Khóa định loại đến nhánh, loài, dưới loài và mô tả các taxon trong họ Nhài (Oleaceae Hoffmanns & Link) Ở Việt Nam
TRIB 1 JASMINEAE (Adans.) I.am & DC.– TÔNG NHÀI
GEN.1 JASMINUM L NHÀI
L 1753 Sp Pl 1: 7 Lectotypus: Jasminum officinale L (by Hitchcock, 1929)
Khóa định loại các loài thuộc chi Jasminum ở Việt Nam
1A Lá kép 3 lá chét, mọc đối
2A Cụm hoa từ 10-nhiều hoa, hoa màu trắng (Sect.Trifoliolata)
3A Đài và bầu có lông; quả hình cầu
4A Lá bắc dài 1-2 cm 1.J brevilobum 4B Lá bắc dài 0,5-1cm 2.J sinense 3B Đài và bầu nhẵn; quả hình bầu dục 3.J lanceolaria 5A Ống tràng dài 1,7-2,5 cm; quả cỡ 8-9 x 7 mm .3a.J lanceolaria subsp lanceolaria 5B Ống tràng 1-1,5 cm; quả cỡ 20 x 12 mm .3b.J lanceolaria subsp scortechinii 2B Cụm hoa đơn độc nách lá, từ 1-3 hoa, hoa màu vàng .(Sect Primulina) 4.J mesnyi 1B Lá đơn mọc đối (Sect.Unifoliolata)
6A Lá có từ 2-3-5 gân xuất phát từ gốc
7A Đài không chia thùy………5.J anodontum
Trang 137B Đài chia thùy
8A Lá hình bầu dục-thuôn, hình trứng, hình mác
9A Cụm hoa dạng tán ở đỉnh cành……… 6.J longipetalum
9B Cụm hoa dạng xim ở nách lá hay đỉnh cành
10A Hoa dày đặc tạo hình đầu, nhiều hoa……….7.J pentaneurum
10B Hoa thưa từ 1-5 hoa
11A Ống tràng phình to ở đoạn đính chỉ nhị……8.J nervosum
13B Đài dạng chuông, thùy hình dùi, chỉ
14A Ống tràng dài 2,5-3,5 cm………11.J nobile 14B Ống tràng dài 1,4-1,9 cm………12.J laurifolium 15A Lá bắc cụm hoa dài 0,1-0,15 mm
……….12a J laurifolium var laurifolum 15B Lá bắc cụm hoa dài 0,3-0,5 cm………
……… 12b.J laurifolium var brachylobum 8B Lá hình tim……… 13.J alongense
6B Lá gân lông chim, 3-10-20 đôi
16A Gân bên từ 10-20 đôi
17A Phiến lá hình mác-mác hẹp……… 14.J duclouxii 17B Phiến lá hình trứng, hình bầu dục, mác rộng
18A Thùy đài có lông
19A Thùy đài 5-8, hình sợi dài 0,4-0,5 cm… 15.J hongshuihoense
19B Thùy đài 6, ngửa ra ngoài, hình tam giác hay hình mác rộng,
dài 0,1-0,3 cm………16.J macrocarpum 18B Thùy đài không lông………17.J lang
16B Gân bên từ 3-8 đôi
20A Lá bắc cụm hoa dạng lá
21A Ống tràng ngắn hơn hoặc bằng 1,2 cm
22A Thùy đài hình sợi, dài 8-10 mm, nhiều lông….18.J laxiflorum 22B Thùy đài hình tam giác, dài 0,5-3 mm, có lông thưa…………
……… 19.J scandens
21B Ống tràng dài hơn hoặc bằng 1,5-3 cm