Không nằm ngoài quy luật ấy, các tác giả nữ củathơ đương đại Việt Nam cũng sử dụng một loạt các từ láy trong các bài thơ củamình để biểu đạt tâm trạng, tình cảm, cảm xúc, miêu tả thế giớ
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2
KHOA NGỮ VĂN -
Trang 2Hà Nội, ngày… tháng… năm 2017
Tác giả
Cao Thị Hằng
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và không trùng lặp với các đề tài khác Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi
sự giúp đỡ cho việc thực hiện khóa luận này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong khóa luận đã được chỉ rõ nguồn gốc.
Tác giả
Cao Thị Hằng
Trang 4MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Lịch sử vấn đề 2
3 Mục đích,nhiệm vụ nghiên cứu 4
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Đóng góp của khóa luận 5
7 Bố cục của khóa luận 5
NỘI DUNG 7
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT 7
1.1 Khái quát về từ láy trong tiếng Việt 7
1.1.1 Khái niệm từ láy 7
1.1.2 Phân loại từ láy 8
1.1.2.1 Từ láy đôi 10
1.1.2.2 Từ láy ba 13
1.1.2.3 Từ láy tư 13
1.1.3 Vai trò của từ láy đối với tác phẩm nghệ thuật văn chương 15
1.2 Thơ nữ Việt Nam đương đại 16
1.2.1 Khái niệm Văn chương đương đại 16
1.2.2 Một số gương mặt tiêu biểu của thơ nữ Việt Nam đương đại 17
1.2.3 Những đặc điểm nổi bật trong thơ nữ Việt Nam đương đại 20
CHƯƠNG 2 TỪ LÁY TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI 25
2.1 Vấn đề sử dụng từ láy trong thơ nữ Việt Nam đương đại 25
2.1.1 Kiểu láy 27
2.1.2 Về vị trí 28
2.2 Hiệu quả sử dụng từ láy trong thơ nữ Việt Nam đương đại 32
Trang 52.2.1 Từ láy góp phần miêu tả hành động, trạng thái tâm lý, tình cảm của conngười 322.2.2 Từ láy góp phần miêu tả thiên nhiên, âm thanh, cảnh vật 39
KẾT LUẬN 45 TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
Trang 61 Lý do chọn đề tài
MỞ ĐẦU
Trang 71.1 Từ láy là loại từ đặc biệt xuất hiện rất nhiều trong hệ thống từ vựngtiếng Việt Từ láy có khả năng biểu cảm cao, có khả năng làm cho người đọcngười nghe có thể hình dung được một cách cụ thể, tinh tế và sống động màusắc, âm thanh, hình ảnh của sự vật mà từ biểu thị Vì thế nó được sử dụng phổbiến trong nghệ thuật thi ca Không nằm ngoài quy luật ấy, các tác giả nữ củathơ đương đại Việt Nam cũng sử dụng một loạt các từ láy trong các bài thơ củamình để biểu đạt tâm trạng, tình cảm, cảm xúc, miêu tả thế giới xung quanh…
1.2 Văn học Việt Nam đương đại là một mảnh đất mới trù phú và đầytiềm năng để các nhà nghiên cứu, nhà phê bình và bạn đọc say mê khám phá.Làm nên mảnh đất màu mỡ ấy có sự đóng góp không nhỏ của thơ nữ ViệtNam đương đại
Trong chế độ phong kiến, người phụ nữ đã phải chịu nhiều thiệt thòi doquan niệm trọng nam khinh nữ, chính vì vậy họ đã tự đứng lên cất cao tiếng nóicủa mình tố cáo những bất công trong xã hội, bênh vực quyền lợi cho nhữngngười phụ nữ Bước sang thời kỳ hiện đại giới nữ tiếp tục tham gia vào hoạtđộng sáng tác thơ ca, góp phần không nhỏ tạo nên sự đa dạng và phong phúcho nền văn học nước nhà Những gương mặt tiêu biểu cho thơ nữ Việt Namđương đại có thể kể đến như: Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh, Trần Hoàng ThiênKim, Bình Nguyên Trang Thơ của họ là tiếng nói của thế hệ trẻ với nhiệthuyết say mê cống hiến và tận hưởng triệt để cuộc sống Bên cạnh những đề tàiquen thuộc như tình yêu, lòng thủy chung, thân phận người phụ nữ, tình mẫu
tử, các nhà thơ nữ trẻ còn đi sâu khai thác nhiều khía cạnh mới mẻ của đời sống
xã hội Có thể thấy thơ nữ Việt Nam đương đại đang có những cách tân đổimới về cả nội dung và hình thức để bắt kịp những vấn đề của thi ca thế giới,tuy nhiên nó vẫn giữ cho mình những nét thuần Việt vốn có Một trong nhữngcái
Trang 8Đỗ Hữu Châu trong cuốn Từ vựng ngữ nghĩa tiếng Việt cho rằng “Từ láy
là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn
bộ hay bộ phận hình thức âm tiết với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm: nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng - của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [2; 38] Ở cuốn sách
này, theo tác giả Đỗ Hữu Châu khi xem xét ý nghĩa của từ láy cần phải xem xét ý nghĩa của nó trong mối quan hệ với ý nghĩa của hình vị cơ sở Bởi từ láy được hình thành dựa vào phương thức láy tác động vào hình vị cơ sở cho nên ý nghĩa của từ láy cũng được hình thành dựa trên ý nghĩa của hình vị cơ sở
Từ điển từ láy tiếng Việt do Hoàng Văn Hành chủ biên “là công trình đầu tiên thu thập và giải thích hầu hết các từ láy được dùng trong tiếng Việt bao gồm các từ láy thường dùng, các từ láy cổ có tính chất phương ngữ và tất
cả các từ láy mới xuất hiện gần đây” [4; 6] Các tác giả trong cuốn sách này cũng cho rằng láy là phương thức tạo từ đặc sắc trong tiếng Việt “Đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình vị cơ sở theo những quy tắc nhất định Từ láy là sự hòa phối ngữ âm giữa các yếu tố tương ứng của các
âm tiết và có tác dụng biểu trưng hóa Vì thế, bên cạnh những đặc điểm vốn
có như bao từ khác, còn có những đặc điểm rất riêng” [4; 6].
Trang 9Trong cuốn Từ láy trong tiếng Việt Hoàng Văn Hành đã tổng kết những
kết quả nghiên cứu về từ láy trong tiếng Việt để đưa ra những ưu điểm cũngnhư những hạn chế, bổ sung những phần còn thiếu sót, tiếp tục nghiên cứunhững vấn đề xung quanh hiện tượng từ láy trong tiếng Việt Trong cuốn sáchnày, tác giả coi láy là một cơ chế hòa phối ngữ âm, cơ chế “đối” và “điệp” Từviệc coi láy là một cơ chế tác giả đi sâu nghiên cứu về cấu tạo của từ láy, cáckiểu cơ cấu nghĩa của từ láy từ đó rút ra hiệu quả nghệ thuật của từ láy Cácđặc điểm, phân loại và ý nghĩa của từ láy đều được tác giả trình bày một cách
có hệ thống
Trong cuốn Ngữ pháp tiếng Việt, Nguyễn Hữu Quỳnh phân tích ý nghĩa
của từ láy xét ở góc độ từ loại: danh từ, động từ, tính từ
Từ láy là một trong những loại từ mang tính biểu cảm cao nhất, chính vìvậy nó cũng được sử dụng phổ biến trong các tác phẩm văn học Cũng từ đónhiều công trình nghiên cứu về từ láy trong tác phẩm văn chương xuất hiện
Luận án tiến sĩ Ngữ văn của Nguyễn Thị Thanh Hà, 2002 nghiên cứu
về Giá trị nghệ thuật và các phương thức sử dụng hiện tượng từ láy trong thơ
Khóa luận Giá trị sử dụng từ láy trong thơ Xuân Diệu của Trương Thị
Thu Thảo - K31A Văn xem xét bức tranh thiên nhiên cùng tâm trạng củanhân vật trữ tình
Khóa luận Hiệu quả nghệ thuật của việc sử dụng từ láy trong thơ Tố Hữu của Trần Thị Hồng Tuyết - K32B Văn đã chỉ ra cho bạn đọc thấy hiệu
quả biểu đạt về nội dung tư tưởng mà từ láy đem lại
Trang 10Từ láy trong tiểu thuyết Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, khóa luận
tốt nghiệp của Vũ Thị Hoài - K36 Văn đã miêu tả hiện thực khốc liệt về chiếntranh thông qua sự biểu hiện của từ láy
Khóa luận tốt nghiệp đại học Từ láy trong văn xuôi Thạch Lam của Trần
Thị Hương - K37 Văn chứng minh hiệu quả biểu đạt thế giới nội tâmphong phú cùng bức tranh thiên nhiên sinh động trong văn văn xuôi ThạchLam
Trong khóa luận này, chúng tôi xem xét, tìm hiểu Từ láy trong thơ nữ
Việt Nam đương đại nhằm khẳng định giá trị biểu đạt của từ láy, đồng thời
định hướng tìm hiểu nội dung tư tưởng của các tác phẩm thơ nữ trẻ đương đạiViệt Nam thông qua một số tác giả, tác phẩm tiêu biểu
3 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Thực hiện đề tài này chúng tôi hướng đến việc làm rõ bản chất của từláy và giá trị sử dụng của từ láy trong các tác phẩm của một số nhà thơ nữđương đại Việt Nam Trên cơ sở đó tìm ra được những nét đặc sắc trong cáchthể hiện thế giới quan của một số nhà thơ nữ Việt Nam đương đại
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nắm được những cơ sở lý thuyết về từ láy Khảo sát từ láy trong 150bài thơ nữ của ba nhà thơ nữ Việt Nam đương đại là Bình Nguyên Trang,Phan Huyền Thư và Trần Hoàng Thiên Kim Phát hiện việc tạo từ láy mớitrong thơ nữ Việt Nam đương đại Tìm hiểu hiệu quả sử dụng từ láy trong cácbài thơ của ba nhà thơ nữ Việt Nam là Bình Nguyên Trang, Phan Huyền Thư
và Trần Hoàng Thiên Kim
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
4.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là từ láy trong thơ nữ Việt Nam đươngđại
Trang 114.2 Phạm vi nghiên cứu
Với đề tài này, chúng tôi khảo sát từ láy qua một số bài thơ của ba tácgiả thơ nữ Việt Nam đương đại là Bình Nguyên Trang, Phan Huyền Thư,Trần Hoàng Thiên Kim Đây là ba nữ tác giả tiêu biểu của thơ nữ đương đạiViệt Nam với số lượng tác phẩm phong phú và đa dạng Bằng nhiệt huyết, sựsay mê cống hiến cho nghệ thuật họ đã đạt được khá nhiều những thành tựutrong lĩnh vực văn chương nghệ thuật Thơ của họ có sự cách tân, thể nghiệm,phá vỡ thi pháp tạo ra sự độc đáo mới lạ trong nội dung và cả ngôn ngữ thơ.Tài năng và chất lượng tác phẩm của họ đã được kiểm nghiệm bởi nhiều nhànghiên cứu và chính bạn đọc Chính vì vậy, trong khóa luận này chúng tôiquyết định khảo sát một số bài thơ của họ để thấy được hiệu quả sử dụng từláy trong thơ nữ Việt Nam đương đại
5 Phương pháp nghiên cứu
Đề tài sử dụng phối hợp các phương pháp nghiên cứu sau đây:
- Phương pháp miêu tả
- Phương pháp thống kê
- Phương pháp phân tích ngôn ngữ
- Thủ pháp đối chiếu, so sánh
6 Đóng góp của khóa luận
- Về mặt lí luận, đề tài làm rõ bản chất của từ láy tiếng Việt cũng như
từ láy trong các sáng tác thơ nữ Việt Nam đương đại
- Về mặt thực tiễn, thông qua hệ thống các từ láy trong các sáng tácthơ nữ Việt Nam đương đại, đề tài giúp người đọc thấy được giá trị nghệ thuậtcủa các sáng tác thơ nữ Việt Nam đương đại Từ đó định hướng cho ngườiđọc về nội dung tư tưởng của của các tác phẩm này
Trang 127 Cấu trúc của khóa luận
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phầnphụ lục, khóa luận được cấu trúc làm hai chương:
Chương 1: Cơ sở lý thuyết
Chương 2: Từ láy trong thơ nữ Việt Nam đương đại
Trang 13NỘI DUNG CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT
1.1 Khái quát về từ láy trong tiếng Việt
1.1.1 Khái niệm từ láy
Láy là một phương thức tạo từ đặc sắc trong tiếng Việt Từ láy chiếmmột số lượng khá lớn trong từ loại tiếng Việt Tính tới thời điểm hiện tại đã córất nhiều công trình nghiên cứu về từ láy trong tiếng Việt của các tác giả trong
và ngoài nước Các công trình này đã đề cập tới nhiều khía cạnh khác nhaucủa từ láy và đều đem lại những ý nghĩa thiết thực Tuy nhiên, xoay quanhvấn đề này vẫn còn những ý kiến chưa thống nhất
Một số nhà nghiên cứu cho rằng láy là ghép Nguyễn Thiện Giáp quanniệm láy là một hiện tượng ghép đặc biệt, một đơn vị được ghép với chính nó
để tạo ra một đơn vị mới Cùng quan điểm với Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Tài Cẩn cho rằng: “Từ láy âm là loại từ ghép trong đó, theo con mắt nhìn của người Việt hiện nay, các thành tố kết hợp lại với nhau theo quan hệ ngữ âm Quan hệ ngữ âm được thể hiện ra ở chỗ là các thành tố trực tiếp phải có sự tương ứng với nhau về hai mặt: mặt yếu tố siêu âm đoạn tính (thanh điệu) và mặt yếu tố âm đoạn tính (phụ âm đầu, âm chính giữa vần và âm cuối vần) [1;
109] Với cách nhìn nhận này chúng ta không thấy được sự độc đáo về mặtngữ nghĩa của kiểu cấu tạo từ láy, không thấy được sự sáng tạo từ ngữ củanhân dân ta
Một số nhà nghiên cứu khác lại quan niệm láy là sự hòa phối ngữ âm.Quan niệm này được nhiều nhà nghiên cứu tán đồng Hoàng Văn Hành cho
rằng: “Từ láy là từ đa tiết (thường gồm hai âm tiết) được tạo ra bằng phương thức hòa phối ngữ âm giữa các âm tiết với hiệu ứng tạo ra nghĩa biểu trưng”,
“Đối với từ láy, việc các thành tố (các tiếng) tạo nên nó tự thân có nghĩa hay
vô nghĩa không quan trọng Cái quan trọng là hình thức ngữ âm đặc thù cho
Trang 14sự cho sự hòa phối âm thanh giữa các tiếng, cái quyết định cái diện mạo của
từ láy Hơn nữa, ý nghĩa của từ láy là ý nghĩa biểu trưng do sự hòa phối ngữ
âm tạo ra chứ không phải là phép cộng giản đơn nghĩa của từng thành tố có nghĩa tự thân và có khả năng hoạt động độc lập như một từ” Đỗ Hữu Châu cũng tán thành quan điểm này, ông cho rằng “Từ láy là những từ được cấu tạo theo phương thức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết với thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức là quy tắc thanh điệu biến đổi theo hai nhóm: nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanh ngang và nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng - của một hình vị hay đơn vị có nghĩa” [2;38] Ở trong phạm vi khóa luận này
chúng tôi lựa chọn quan điểm coi láy là sự hòa phối ngữ âm của Đỗ HữuChâu
1.1.2 Phân loại từ láy
Có nhiều cách phân loại từ láy trong tiếng Việt tùy theo cách nhìn nhậncủa mỗi tác giả Mỗi cách phân loại lại có những ưu, nhược điểm của riêng nó.Hiện nay người ta thường phân loại từ láy dựa vào sự đồng nhất hay khác biệttrong thành phần cấu tạo của các thành tố trong từ láy do cách phối hợp ngữ
âm tạo nên và dựa vào số lượng âm tiết trong từ láy Theo Đỗ Hữu Châu:
“Các từ láy có thể phân thành từng kiểu khác nhau căn cứ vào cách hòa phối ngữ âm có thể phân biệt hai kiểu từ láy: từ láy bộ phận (chúm chím, đủng đỉnh, bập bồng), từ láy toàn bộ (oe oe, ầm ầm, lăm lăm) Từ láy bộ phận chia làm hai loại: lặp lại phụ âm đầu (chắc chắn, chí chóe, mát mẻ), lặp lại phần vần (lênh đênh, chót vót, lè tè) Căn cứ vào số lần tác động của phương thức
từ láy có thể phân biệt thành các kiểu từ láy: từ láy đôi hay từ láy 2 âm tiết (gọn gàng, vững vàng, vuông vắn), từ láy 3 hay từ láy 3 âm tiết (sạch sành sanh, tẻo tèo teo, dửng dừng dưng), từ láy bốn hay từ láy bốn âm tiết (nhí nha nhí nhảnh, vội vội vàng vàng, lam nham lở nhở, tẩn ngẩn tần ngần)”.
Phương thức láy tác động lần đầu vào một hình vị gốc một âm tiết sẽcho các từ láy hai âm tiết
Trang 15Phương thức láy tác động lần thứ hai vào một từ láy đôi để cho ta các
từ láy bốn âm tiết
Ví dụ: Khểnh → khấp khểnh → khấp kha khấp khểnh
Nham → lam nham → lam nham lở nhởLẩn → lẩn thẩn → lẩn thà lẩn thẩnPhương thức láy cũng có thể tác động một lần vào một hình vị âm tiếtcho ta một từ láy ba âm tiết
Ví dụ: Sát → sát sàn sạt
Dưng → dửng dừng dưngPhương thức láy cũng có thể tác động một lần vào một đơn vị âm tiếtcho ra các từ láy tư Nhưng các từ láy tư này khác các từ láy tư nói trên ở chỗ
nó chỉ chịu tác động láy một lần
Ví dụ: Nhà cửa → nhà nhà cửa cửa
Quần áo → quần quần áo áoNgày tháng → ngày ngày tháng tháng
Để phân chia các từ láy đôi trước hết dựa vào cái được giữ lại của hình
vị cơ sở: nếu toàn bộ âm tiết được giữ nguyên thì ta có láy toàn bộ
Ví dụ: Trắng → trắng trắng
Xanh → xanh xanhTím → tím tímNếu bộ phận âm tiết được giữ lại thì ta có từ láy bộ phận Từ láy bộphận có thể là từ láy âm tức là láy mà phụ âm đầu được giữ lại, còn vần thìkhác
Ví dụ: Rung → rung rinh
Vỗ → vỗ về
Trang 17a Từ láy toàn bộ (từ láy hoàn toàn)
Từ láy hoàn toàn giữa hai tiếng giống nhau về cấu tạo, chỉ khác nhau vềtrọng âm thể hiện ở độ nhấn và độ kéo dài khi phát âm (còn gọi là từ điệp âm,điệp thanh, điệp vần)
Ví dụ: nao nao, xanh xanh, vàng vàng, ầm ầm, đỏ đỏ, mờ mờ, ảo ảo…Các từ láy trên đều được nhấn ở âm tiết thứ hai của từ láy và so với từ
tố gốc nghĩa của từ tố thứ hai giảm về mức độ
Từ láy hoàn toàn giữa từ tố có sự khác nhau về thanh điệu hay còn gọi
là từ láy điệp âm, điệp vần, khác thanh
Ví dụ: văng vẳng, châu chấu, dửng dưng, tàm tạm, cỏn con, trăng trắng,
đo đỏ…
Sự khác biệt về thanh điệu giữa hai tiếng được dựa trên hai đặc trưng:bằng - trắc (thanh bằng gồm có thanh huyền và thanh ngang; thanh trắc gồm
Trang 18thanh sắc, thanh hỏi, thanh ngã và thanh nặng), âm vực cao - âm vực thấp (âmvực cao là thanh ngang, thanh hỏi thanh sắc; âm vực thấp là thanh ngã, thanhhuyền, thanh nặng)
Ví dụ: tí tì tị → tí tị
rát ràn rạt → rát rạt lép lèm lẹp → lép lẹp mướt mườn mượt → mướt mượt
Từ láy hoàn toàn có sự khác biệt nhau về phụ âm cuối: Tiếng độc lậpcủa phụ âm cuối tận cùng là phụ âm tắc-vô thanh sẽ biến thành phụ âm mũihữu thanh ở tiếng không độc lập Dạng biến đổi này bị chi phối bởi quy luật
dị hóa, xảy ra trong trường hợp các tiếng gốc có phụ âm cuối là: /-p/, /-t/, /-c/
Phụ âm tắc - vô thanh: p/t/k
Phụ âm mũi - hữu thanh: m/n/ŋ
Phụ âm tắc - vô thanh có âm /k/ gồm: “ch” và “c”
Trang 19Phụ âm mũi - hữu thanh có âm /ŋ/ gồm: “nh” và “ng”
ngâm, lang thang, gian nan, bơ vơ…
Sự khác biệt về phụ âm đầu, về cấu tạo rất đa dạng, phải phù hợp với
luật cùng âm vực, và cặp phụ âm đầu có “l” đi trước, “l” có thể kết hợp với
hầu hết các phụ âm khác trong kiểu láy này
Trang 20Ví dụ: Nhí nhảnh → Nhí nha nhí nhảnh
1.1.2.2 Từ láy ba
Từ láy ba là từ gồm ba âm tiết có sự hòa phối ngữ âm với nhau Trong
hệ thống từ tiếng Việt, từ láy ba không nhiều, có nhiều từ láy ba khi bỏ âmtiết ở giữa sẽ cho một từ láy đôi tương ứng Quy tắc biến đổi thanh điệuthường gặp như sau:
Từ láy ba có âm tiết thứ hai thường mang thanh bằng
Ví dụ: Sốt sình sịch
Rát ràn rạtTất tần tật
Từ láy ba có âm tiết thứ nhất và âm tiết thứ ba đối lập nhau về bằng trắc hoặc đối lập nhau về âm vực cao - thấp
-Ví dụ: Sát sàn sạt
Sạch sành sanhTỏng tòng tong
Từ láy ba dạng láy bộ phận chiếm số lượng rất ít
Ví dụ: Liêu tiêu xiêu
Lơ tơ mơ
Lù tù mù
1.1.2.3 Từ láy tư
Từ láy tư là từ láy chứa bốn âm tiết trong thành phần cấu tạo của nó.Phần lớn từ láy tư dựa trên cơ sở từ láy đôi, còn lại một số ít có phần gốc là từghép Có thể phân từ láy tư làm hai loại:
a Từ láy tư được tạo thành trên cơ sở láy đôi bộ phận
Lặp lại hai lần từ láy đôi cơ sở, kết hợp đổi vần của âm tiết thứ hai chophù hợp với thanh điệu và âm vực vần bị thay thế
Trang 21Ví dụ: Xăng xít → Lăng xăng lít xít
Nhồm nhoàm → Lồm nhồm loàm nhoàm
Hỉ hả → Hi hỉ ha hảLặp lại toàn bộ từ láy đôi cơ sở, kết hợp biến đổi thanh điệu sao cho hai
âm tiết đầu mang thanh điệu thuộc âm vực cao, hai âm tiết sau mang thanhđiệu thuộc âm vực thấp
Ví dụ: Bổi hổi bồi hồi
Cảu nhảu càu nhàu Lảm nhảm làm nhàmBẳn hẳn bằn hằnLáy trực tiếp từng tiếng một của từ láy đôi cơ sở theo đúng thứ tự trong
từ cơ sở
Ví dụ: Rộn ràng → Rộn rộn ràng rang
Ríu rít → Ríu ríu rít rítVội vàng → Vội vội vàng vàngHùng hổ → Hùng hùng hổ hổ Hối hả → Hối hối hả hảLầm lì → Lầm lầm lì lì
b Từ láy tư được tạo thành không trên cơ sở láy đôi bộ phận
Kiểu abac
Trang 22Trong kiểu láy này, a là một từ đơn có nghĩa, bc là một khuôn láy Khi
ab, ac đứng riêng lẻ thường thì không có nghĩa, nhưng khi abac kết hợplại với nhau tạo thành nghĩa riêng biệt Trong đó, a có nghĩa còn b và c gópphần tạo nên sắc thái về nghĩa
Ví dụ: Xanh → Xanh ngơ xanh ngắt
Khuya → Khuya lơ khuya lắcBuồn → Buồn thỉu buồn thui
Xa → Xa lắc xa lơKiểu abab
Trong kiểu láy này, ab là một từ ghép hoặc một tổ hợp
từ Ví dụ: Quần áo → Quần quần áo áo
Từng lớp → Từng từng lớp lớp Cườinói → Cười cười nói nói Trùng điệp
→ Trùng trùng điệp điệp
1.1.3 Vai trò của từ láy đối với tác phẩm nghệ thuật văn chương
Nghệ thuật nói chung đều bắt nguồn từ đời sống để phản ánh hiệnthực cuộc sống Mỗi loại hình nghệ thuật khác nhau lại sử dụng phương tện,chất liệu thể hiện riêng Hội họa sử dụng màu sắc, đường nét làm phươngtiện thể hiện Điêu khắc sử dụng phương tiện là hình khối Văn chương lànghệ thuật ngôn từ Không giống như những loại hình nghệ thuật khác, vănhọc sử dụng chất liệu ngôn từ nên nó không thể tái hiện sự vật, sự việc,hiện tượng một cách đồng thời nhưng nó có khả năng tái hiện sự vật, sựviệc, hiện tượng trong toàn bộ quá trình của nó Ngôn từ cũng có khả năng
đi sâu vào miêu tả những trạng thái tnh chất, những diễn biến tinh vi nhấttrong đời sống nội tâm của con người Văn chương sử dụng chất liệungôn từ, phản ánh hiện thực cuộc sống thông qua lăng kính chủ quan của
Trang 23người nghệ sĩ bằng cách xây dựng những hình tượng nghệ thuật Ngôn từnghệ thuật trong tác phẩm
Trang 24văn chương, bản thân nó mang tính hình tượng Tính hình tượng trong tácphẩm văn chương được biểu hiện qua nhiều phương diện, một trong số đó
là việc sử dụng các từ láy
Từ láy được xem là chất liệu để xây dựng văn bản nghệ thuật, làmphương tiện cho tư duy nghệ thuật Sở dĩ như thế vì từ láy là lớp từ giàugiá trị biểu cảm Các văn bản nghệ thuật bao giờ cũng rất cần những phươngtiện ngôn ngữ như thế để xây dựng các hình tượng độc đáo Vì thế trong cáctác phẩm của mình, các nhà văn, nhà thơ rất chú ý sử dụng từ láy
Theo Đỗ Hữu Châu: “láy là một phương thức cấu tạo từ đặc sắc của tếng Việt Mỗi từ láy là một “nốt nhạc” về âm thanh, chứa đựng trong một
“bức tranh” cụ thể của giác quan: thị giác, thính giác, xúc giác, vị giác khứu giác… và kèm theo những ấn tượng về sự cảm thụ chủ quan của những cách đánh giá, những thái độ của người nói trước sự việc, hiện tượng, đủ sức thông qua các giác quan hướng ngoại và hướng nội của người nghe, người đọc mà tác động mạnh mẽ đến họ Cho nên các từ láy là những công
cụ tạo hình rất đắc lực của nghệ thuật văn học nhất là của thơ ca” [2; 51].
1.2 Thơ nữ Việt Nam đương đại
1.2.1 Khái niệm văn chương đương
đại
Nói tới thơ nữ Việt Nam đương đại trước hết chúng ta cần phải biết
tới khái niệm văn chương đương đại Cụm từ đương đại bản thân nó không
chặt chẽ, chỉ cái đang diễn ra của văn học, chủ yếu dùng để phân biệt với cái
đã diễn ra (quá khứ của văn học) Văn học đương đại là đối tượng chủ yếucủa Phê bình văn học, văn học quá khứ là đối tượng chủ yếu của Lịch sử vănhọc Cụm từ đương đại luôn dịch chuyển Trước là mốc sau 1975; hiệnthường dùng với mốc từ sau 1986
Thơ nữ được hiểu là thơ của người phụ nữ, thơ viết về phụ nữ Ngườiphụ nữ tự cảm nhận và tự làm thơ về giới của mình Thơ nữ đương đại hiểu
Trang 25một cách đơn giản là thế hệ phụ nữ đương đại làm thơ về giới của mình.Chỉ
Trang 26có người phụ nữ mới có thể viết một cách trung thực nhất, chân thành nhấtvề
thế giới nội tâm của chính mình
1.2.2 Một số gương mặt tiêu biểu của thơ nữ Việt Nam đương
đại
Các gương mặt têu biểu cho thơ nữ Việt Nam đương đại phải kể đếnnhư: Vi Thùy Linh, Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Trần Hoàng Thiên Kim, BìnhNguyên Trang… Trong phạm vi khóa luận này chúng tôi xin phép chỉ khảo sátthơ của ba nhà thơ nữ tiêu biểu là Bình Nguyên Trang, Trần Hoàng Thiên Kim,Phan Huyền Thư
Phan Huyền Thư sinh năm 1972, tại Hà Nội Tốt nghiệp đại học Tổnghợp khoa Văn năm 1993, Phan Huyền Thư được biết đến với tư cách là
nhà thơ trẻ có các tập thơ hay như Nằm nghiêng (2002), Rỗng ngực (2005).
Bên cạnh sáng tác thơ, Phan Huyền Thư còn được biết đến với vai trò nhàbáo, biên kịch tài năng Hiện Phan Huyền Thư là nhà biên kịch của hãng phimtài liệu và khoa học trung ương Chị cũng rất thành công khi đảm nhận vai
trò đạo diễn phim tài liệu Chương trình Một phút có trong sự thật của chị
nhận
được sự phản hồi tốt đẹp từ phía dư luận Thơ Phan Huyền Thư nhiềutriết luận về những bức bối thời cuộc, cưỡng lại sự giả dối, hời hợt, dung tụcnảy sinh trong quá trình đô thị hóa vật chất và “đô thị hóa tâm hồn” Có lẽchính vì vậy mà thơ chị sử dụng ngôn ngữ đời sống một cách đầy chủ ý, bỏqua sự mài giũa, quyết liệt từ chối sự đèm đẹp của ngôn từ Chị đã tạo ranhững cấu trúc lạ, để rồi sáng tạo ra những câu thơ độc đáo, bất ngờ Sự táchbiệt hẳn thơ chị với những nhà thơ đương thời trên một góc độ nào đó còn
là sự giễu nhại, giễu nhại truyền thống, giễu nhại những cái đã sáng tạotrước chị, khiến câu thơ thường hay đặt bẫy người đọc, nhịp thơ có vẻ rời
Trang 27rạc, rất khó nắm bắt Thêm nữa, thơ Phan Huyền Thư có chút gì đó rấttáo bạo, công khai nói những điều mà các thế hệ trước hoặc không dámhoặc chỉ làm lén lút Người đàn bà trong thơ Phan Huyền Thư đầy nữ tính,thứ nữ tính có chút hoang dại,
Trang 28vừa ra lệnh đồng thời vừa hạ mình, cất giấu từ những dịu ngọt nhất cho tới liều độc dược mạnh nhất Phan Huyền Thư là một gương mặt ấn tượng trong
thơ nữ đương đại
Ngày mười chín tháng hai năm nhâm tý
tôi được độc lập với mẹ
bằng sợi dây rốn
cắt đứt cơ thể vết
sẹo làm người.
Vết sẹo tôi cái rốn độc lập Phan Huyền
…Thơ
(Sẹo độc lập - Phan Huyền Thư)
Bình Nguyên Trang tên thật là Vũ Thị Quỳnh Trang, sinh ngày17/5/1977 tại Phú Thọ, quê gốc ở Hải Hậu, Nam Định Tốt nghiệp Học viện
Trang 29Báo chí - Tuyên truyền Hà Nội, hiện chị đang làm việc tại chuyên đề Vănnghệ công an của báo Công an nhân dân ở Hà Nội Chị từng là một thành viêntrong hội bút Hương đầu mùa của báo Hoa học trò Chị là hội viên Hội nhà
Trang 30văn Việt Nam năm 2013 Bình Nguyên Trang được biết tới với vai trò là một
nhà báo, nhà văn, nhưng có lẽ thành công nhất vẫn là thơ với các tập: Lối về (1995), Những bông hoa đang thiền (2012), Những người đàn bà trở về (2016) Chị từng đạt giải nhất tác phẩm Tuổi xanh báo Tiền phong năm 1997,
giải A của liên hiệp các Hội văn hóa nghệ thuật Việt Nam năm 2012 cho tập
thơ Những bông hoa đang thiền Bình Nguyên Trang được bạn đọc nhớ đến
bởi chị đã làm thơ từ thưở còn ngồi trên ghế nhà trường Ban đầu thơ chị lànhững tình cảm tuổi học trò, những đớn đau thuở tnh yêu chớm nở và cảnhững hoài niệm tuổi thơ, những tnh cảm thắm thiết với quê hương với giađình Bình Nguyên Trang ngay từ đầu đã có giọng thơ riêng, thủ thỉ, tâm tình,chân chất, hài hòa giữa cảm xúc và lý tưởng
Ta ngỡ lòng đã quên Chút tình xưa khờ dại Thế mà dằng dặc đêm Thế mà lòng tê tái
Thế mà chân đi mãi Không qua mối tình đầu.
(Mối tình đầu - Bình Nguyên Trang)
Sau quãng lùi của thời gian, Bình Nguyên Trang trở lại với sự từng trảitrong từng câu chữ, xác lập một tư duy thơ mới cho mình, với giọng thơđiềm tĩnh, những ý nghĩ sâu sắc, tinh tế trong từng cảm nhận, từng hình ảnh
Và buổi sáng Chính là bắt đầu từ buổi tối Giấc mơ đêm qua
Thực ra đã mơ từ rất lâu rồi
(Buổi sáng - Bình Nguyên Trang)
Trang 31Trần Hoàng Thiên Kim sinh ngày 04/3/1981 ở Đô Lương, Nghệ An.Chị tốt nghiệp khóa 6 trường viết văn Nguyễn Du ở Hà Nội Chị bắt đầu sáng
Trang 32tác từ thuở học sinh Hiện chị đang là phóng viên ban chuyên đề Văn nghệcông an báo Nhân dân tại Hà Nội Năm 2011, chị trở thành hội viên Hội nhàvăn Việt Nam Trần Hoàng Thiên Kim vừa là phóng viên vừa là nhà văn nhà
thơ Thơ của chị hiện có các tập đã được xuất bản: Vọng mùa (2001), Những trò đùa có lỗi (2004), Mưa tượng hình (2011) Chị nhận được một số giải
thưởng thơ: giải thưởng thơ Tầm nhìn thế kỉ do báo Tiền phong tổ chứcnăm
2001, giải thưởng Hồ Xuân Hương năm 2001, giải thưởng thơ tạp chí VănNghệ Quân Đội năm 2004 Chị là một cây bút trẻ triển vọng và đầy nhiệthuyết với thơ ca Chị từng chia sẻ “Một vài người trẻ coi văn chương chỉ làchiếc áo màu mè, khoác lên như một cái mốt thời thượng, còn lại, những ai
đã trót mang nặng như đó là cái nghiệp của đời mình thì có muốn cũngkhông dễ dàng giũ bỏ được.”
Đây là một thế hệ thơ táo bạo và đầy tài năng Điểm nổi bật nhấttrong những sáng tạo của họ là ở sự trẻ trung, tươi mới và giàu chất trí tuệ.Trong sáng tác của các nhà thơ nữ, cảm hứng tìm về với đời sống cá nhân,nhu cầu khắc họa chân dung tinh thần cái tôi là một nhu cầu rất mạnh mẽ.Chính nhu cầu thẩm mỹ này đã tạo nên trong thơ họ chân dung một cái tôivới rất nhiều sắc thái thẩm mỹ riêng biệt, độc đáo
1.2.3 Những đặc điểm nổi bật trong thơ nữ Việt Nam đương
đại
Tiếp nối mạnh nguồn truyền thống, thơ nữ Việt Nam đương đạivẫn tếp tục khai thác những đề tài cũ: quê hương, đất nước, gia đình, tìnhyêu,… nhưng đã được thổi vào đó cái nhìn mới mẻ cùng ngôn từ mới lạ độcđáo làm nổi bật lên những nét riêng của thơ nữ Việt Nam đương đại
Thơ nữ Việt Nam đương đại nổi bật lên ở sự khát khao khẳng định nữquyền Nếu như người phụ nữ trong chế độ phong kiến hoàn toàn bị lệ thuộc
Trang 33vào đàn ông, thì trong xã hội dân chủ ngày nay họ đã có quyền đứng lêngiành lại quyền lợi cho chính mình Cùng với những thay đổi lớn lao trongđời sống
Trang 34tư tưởng của nhân loại, Phê bình nữ quyền, với tư cách là một trường pháiphê bình chính trị, xã hội, đã xuất hiện, mở rộng, chia thành nhiều nhánh vàmang nhiều sắc thái khác nhau Cũng từ đó, âm hưởng nữ quyền ngấm sâuvào văn học, tạo thành một tiếng nói, một bản sắc độc đáo trong văn họchiện đại và hậu hiện đại Sự phát triển mạnh mẽ của đất nước và những nỗlực tạo nên sự bình đẳng về giới kể từ 1986 đến nay đã tạo nên những tiền
đề cơ bản để giúp
người đàn bà thoát khỏi sự áp chế của đàn ông, khiến cho họ có khả năngtồn tại độc lập và có khả năng tự quyết định số phận của mình Người đàn bàkhông còn quanh quẩn nơi xó bếp mà đã tham gia nhiều hơn vào cáchoạt động xã hội Quan trọng hơn, ý thức về giới, một cách tự giác, đã ăn sâuvào tâm thức của đội ngũ cầm bút và tạo nên âm hưởng nữ quyền trong vănhọc, buộc nam giới phải thừa nhận tài năng của họ Khát khao khẳngđịnh nữ quyền cũng là khát khao khẳng định một cái tôi tự do không camchịu không chấp nhận sự gò bó, áp đặt Ý thức nữ quyền trong thơ là ýthức của người phụ nữ về chính bản thân mình như một sự sống có ýnghĩa Vì lẽ đó, trong thơ nữ đương đại có thể dễ dàng bắt gặp niềm khaokhát được sống trọn vẹn với thiên tính và phẩm giá của mình, trung thực vớinhững khát khao, ham muốn của những người phụ nữ
Nhiều khi đơn độc muốn thức dậy ở cõi khác hình dung một nụ cười đưa sợi tóc lên ngậm miệng cũng đỡ nhớ niềm vui
(Buổi sáng - Phan Huyền Thư)
Trang 35Công khai chống lại sự lệ thuộc vào nam giới, những người phụ nữ làmthơ thế hệ mới không ngần ngại hướng ngòi bút vào những vùng nhạy cảm,cấm kỵ ví như vấn đề tính dục trong thơ.
Trang 36Nằm nghiêng ở trần thương kiếp nàng Bân ngón tay rỉ máu Nằm nghiêng khe cửa ùa ra một dòng ấm
cô đơn Nằm nghiêng cùng sương triền đê đôi
bờ ỡm ờ nước lũ.
Nằm nghiêng lạnh hơi lạnh cũ Ngoài đường khô tiếng tiếng ngáy Nằm nghiêng Mùa đông
nằm nghiêng trên thảm gió mùa Nằm nghiêng nứt nẻ khóe môi
đã lâu không vồ vập răng lưỡi.
(Nằm nghiêng - Phan Huyền Thư)
Đi cùng khát khao khẳng định nữ quyền là sự khẳng định quyền đượcriêng trong sáng tạo nghệ thuật Xã hội hiện đại, cùng với sự thay đổi tưduy và sự mở rộng của tinh thần dân chủ xã khiến cho nữ giới có điều kiệncất cao tếng nói của mình với tư cách là chủ thể độc lập Bản thân nữgiới đã có những thay đổi lớn về nhận thức, học vấn, điều kiện tự chủ vềkinh tế, khả năng am hiểu luật pháp… tức là có đủ các yếu tố để trở thànhmột chủ thể độc lập, thoát khỏi tình trạng bị “nó, anh ấy, ông ấy hóa”.Trong thực tế, với những đặc điểm riêng về giới, có nhiều lĩnh vực phụ nữ
có thể làm tốt hơn đàn ông Đó là những cơ sở vững chắc để người phụ nữ
có thể tự tn khẳng định quyền được riêng trong sáng tạo nghệ thuật Từ vịtrí ngoại biên, người phụ nữ lặng lẽ chiếm một khoảng trời riêng trong sángtạo nghệ thuật, không bị bó buộc trong bất cứ khuôn khổ nào Những nhàthơ nữ đương đại đã cho thấy “quyền lực riêng” của giới nữ Họ tự do khai
Trang 37phá các kênh hình của đời sống, tự do thể hiện những cách cảm nhận riêngbiệt.
Trang 38Trong đêm đen con kiến đen lang thang đen phiến huyền cẩm thạch
Khi thức dậy Thượng đế nhìn con kiến Phiến cẩm thạch thấy Người con kiến thấy đêm
(Danh ngôn - Phan Huyền Thư)
Thơ nữ đương đại tràn ngập cảm hứng đối thoại Thơ vốn là tếngvọng sâu thẳm từ tâm hồn con người, được nuôi lớn trong mỗi con ngườiqua năm tháng cuộc đời để rồi thoát thai với nhu cầu được cảm thông, chia
sẻ Vì lẽ đó, bản thân câu thơ ra đời đã hàm chứa tư duy và tinh thần đốithoại Đối thoại trong thơ, trước hết là đối thoại với chính mình, là sự thểhiện những tâm tư với khát khao được giải tỏa Khát khao ấy là nỗi niềmmuôn thuở của con
người nhưng không phải lúc nào cũng có cơ hội được bày tỏ Nay trong thơ
nữ đương đại cảm hứng đối thoại được mở rộng mạnh mẽ Đối thoại với
người, với đời và với chính mình
Này chị em ơi!
Yêu đương thì phải giữ gìn Vào sau cửa buồng vần vũ mười lăm phút ra đường đoan trang chớp mắt thướt tha yêu không được đánh mất mình
chỉ ăn cắp người ta…
Đấy chị em ơi!
Trang 39(Thị Mầu 97 - Phan Huyền Thư)
Mặc dù có thêm những mặt nội dung mới lạ, cách thể hiện tư tưởng, sắp xếp câu chữ có nhiều điểm độc đáo, khác thường xong thơ nữ đương đại
Trang 40cũng không thể thiếu đi những yếu tố ngôn ngữ truyền thống Biểu hiện củayếu tố ngôn ngữ truyền thống trong thơ nữ đương đại chính là ở hệ thống từláy được sử dụng Thơ nữ đương đại có rất nhiều những sự cách tân vàđổi mới xong việc sử dụng từ láy trong thơ là không thể thiếu để xây dựnghình
tượng và tạo ra nhạc tính cho lời thơ Ở khóa luận này chúng tôi khảo sátsố
lượng từ láy trong 150 bài thơ của ba tác giả Phan Huyền Thư, Bình NguyênTrang và Trần Hoàng Thiên Kim để làm rõ phần nào hiệu quả của việc sửdụng từ láy trong thơ nữ đương đại Việt Nam