1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ý thức phái tính trong thơ nữ việt nam đương đại

69 68 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 69
Dung lượng 884 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Trần Hoàng Thiên Kim có một số bài báo về thơ nữ đương đại: “Thơ nữ trẻ đương đại quan niệm, thể nghiệm và xu hướng”, 2012, Báo Văn nghệ quân đội; “Thơ nữ Việt Nam đương đại: Những giá t

Trang 1

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM HÀ NỘI 2

KHOA NGỮ VĂN

*****************

NGUYỄN THỊ THUẬN

Ý THỨC PHÁI TÍNH TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG

ĐẠI

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

HÀ NỘI – 2018

Trang 2

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên ngành: Văn học Việt Nam

Người hướng dẫn khoa học

TS NGUYỄN THỊ TUYẾT MINH

HÀ NỘI – 2018

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ của các thầy, cô giáo trong khoa Ngữ văn, đặc biệt là sự quan tâm, giúp đỡ thường xuyên, tận tình của TS Nguyễn Thị Tuyết Minh – người hướng dẫn trực tiếp.

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và xin gửi lời cảm ơn chân thành nhất đến các thầy, cô!

Hà Nội, tháng 5 năm 2018Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Thuận

Trang 4

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan khóa luận tốt nghiệp Ý thức phái tính trong thơ nữ Việt

Nam đương đại là kết quả nghiên cứu của riêng tôi Các kết quả nghiên cứu trong

khóa luận là trung thực và chưa từng được công bố trong bất cứ công trình nào.

Hà Nội, tháng 5 năm 2018Tác giả khóa luận

Nguyễn Thị Thuận

Trang 5

MỤC LỤC

MỞ ĐẦU 1

1.Lí do chọn đề tài 1

2.Lịch sử nghiên cứu vấn đề 1

3 Mục đích nghiên cứu 3

4 Đối tượng nghiên cứu 3

5 Phạm vi nghiên cứu 3

6 Phương pháp nghiên cứu 3

7 Đóng góp của khóa luận 3

8 Bố cục của khóa luận 4

NỘI DUNG 5

Chương 1: KHÁI QUÁT VẤN ĐỀ Ý THỨC PHÁI TÍNH TRONG THƠ VIỆT NAM TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI 5

1.1 Khái niệm ý thức phái tính 5

1.2 Ý thức phái tính trong thơ ca Việt Nam truyền thống 6

1.2.1.Ý thức phái tính trong ca dao 6

1.2.2.Ý thức phái tính trong thơ Hồ Xuân Hương 9

1.3 Ý thức phái tính trong thơ Việt Nam hiện đại 13

1.3.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, tư tưởng Việt Nam thời hiện đại 13

1.3.2 Sự xuất hiện của lực lượng sáng tác nữ trên thi đàn sau 1975 15

1.3.3 Ý thức khẳng định bản ngã phái tính của thơ nữ sau 1975 16

Chương 2: Ý THỨC PHÁI TÍNH TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NỘI DUNG 18

2.1 Khái khao tình yêu và hạnh phúc 18

2.2 Khát khao tính dục 22

2.3 Khát khao thiên chức 27

2.4 Khát khao bình đẳng, bình quyền về giới 33

Chương 3: Ý THỨC PHÁI TÍNH TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI – NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NGHỆ THUẬT 39

3.1 Thể thơ 39

Trang 6

3.2 Hình ảnh 42

3.3 Ngôn ngữ 45

3.4 Giọng điệu 48

KẾT LUẬN 53

Trang 7

kìm kẹp của những tư tưởng cổ hủ: “tam tòng, tứ đức”, “nhất nam viết hữu, thập nữ

viết vô”… Có người cam chịu, có người dám mạnh mẽ đấu tranh Khi chế độ phong

kiến sụp đổ, lịch sử bước sang trang mới, tư tưởng xã hội thay đổi, người phụ nữ đãphần nào được cởi trói nhưng bình đẳng, hạnh phúc vẫn chưa đến bên những thânphận mỏng manh Ngày nay, những ước vọng của phái nữ vẫn chưa được đáp ứngmột cách trọn vẹn nên cuộc đấu tranh vẫn diễn ra Văn học đã và đang góp phần vàocuộc đấu tranh đó

Trên thi đàn hiện nay, tiếng nói phái tính trở nên mạnh mẽ hơn bao giờ hết bởi

sự xuất hiện của nhiều cây bút nữ Những nhà thơ nữ đã dùng thơ ca để thể hiệnkhát khao của giới mình - những ước mong đầy nữ tính, thật mãnh liệt của ngườiphụ nữ Họ không ngại ngần đưa cả những điều thầm kín nhất vào thơ Họ dùng thơnhư một vũ khí sắc bén để đòi quyền bình đẳng, hạnh phúc cho giới mình Tiếng nóiphái tính chưa bao giờ mãnh liệt như giai đoạn hiện nay

Vì những lí do trên chúng tôi quyết định chọn nghiên cứu đề tài: “Ý thức phái

tính trong thơ nữ Việt Nam đương đại”.

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Năm 2006, Hội thảo Quốc tế: “Văn học Việt Nam trong bối cảnh giao lưu

văn hóa khu vực và quốc tế” có một số tham luận: Đọc lại vấn đề giới trong “Hồn

bướm mơ tiên” của Khái Hưng của Ben Tran; Vấn đề phái tính và âm hưởng nữ quyền trong

văn học Việt Nam đương đại của PGS.TS Nguyễn Đăng Điệp Các tham luận này đã

bàn đến vấn đề phái tính trong văn học Việt Nam

Một số luận án, luận văn chọn nghiên cứu về ý thức phái tính trong thơ, tiêu biểunhư:

Trang 8

Luận văn thạc sĩ “Về một đặc điểm tư duy thơ nữ gần đây: Ý thức phái tính”

(Qua Phan Huyền Thư, Ly Hoàng Ly, Vi Thùy Linh) của tác giả Nguyễn Thị HồngGiang, Năm 2009, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Nguyễn ThịHồng Giang đã chỉ ra những đặc điểm trong thơ nữ qua tác phẩm của ba nhà thơ mà

cô chọn để khảo sát, đó là vấn đề bản thể và những khát khao giải phóng của phái

nữ được thể hiện qua hệ biểu tượng và ngôn ngữ thi ca đặc trưng

Luận án tiến sĩ “Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay những đổi

mới căn bản” của tác giả Đặng Thu Thủy, Năm 2009, Trường Đại học Sư phạm Hà

Nội Đặng Thu Thủy đã phát hiện, phân tích rõ những đổi mới căn bản trong thơ caViệt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay: Đổi mới quan niệm, cảm hứng và một sốphương diện hình thức nghệ thuật

Luận văn thạc sĩ “Ý thức phái tính trong thơ nữ đương đại” (Khảo sát qua hai

tác giả Tuyết Nga và Phạm Thị Ngọc Liên) của tác giả Nguyễn Thị Thu Hằng, Năm

2016, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn Trên cơ sở lí thuyết về pháitính và nữ quyền, luận văn đi sâu vào tìm hiểu các sáng tác của hai tác giả Tuyết Nga

và Phạm Thị Ngọc Liên Đây là hai tác giả có phong cách khác nhau nhưng đều thểmột cái tôi mang thiên tính nữ với những khát khao mãnh liệt

Trần Hoàng Thiên Kim có một số bài báo về thơ nữ đương đại: “Thơ nữ trẻ

đương đại quan niệm, thể nghiệm và xu hướng”, 2012, Báo Văn nghệ quân đội;

“Thơ nữ Việt Nam đương đại: Những giá trị vĩnh cửu”, 2015, Tạp chí điện tử Văn

hiến Việt Nam; “Thơ nữ trẻ đương đại và hành trình tìm kiếm cái tôi mới”, 2015,

Báo Văn nghệ quân đội… Trần Hoàng Thiên Kim đã lí giải những khát khao hạnh

phúc và nỗi cô đơn của người phụ nữ trong xã hội đương đại Ngoài ra còn có một sốbài báo nhỏ, lẻ khác bàn về thơ nữ đương đại…

Nhìn chung, những công trình nghiên cứu trên đã ít nhiều bàn về ý thức pháitính trong thơ nữ, nhưng chưa có một công trình nào nghiên cứu về vấn đề ý thứcphái tính trong thơ nữ đương đại ở phạm vi các tác giả mà chúng tôi lựa chọn Đó làkhoảng trống của đề tài khóa luận, là lí do chúng tôi đi sâu nghiên cứu

Trang 9

3 Mục đích nghiên cứu

- Làm rõ những biểu hiện của ý thức phái tính trong thơ nữ Việt Nam đương đại

ở phương diện nội dung và hình thức

- Thấy được đóng góp của các cây bút nữ đối với thi đàn Việt Nam đương đại

- Bước đầu tập rượt nghiên cứu khoa học nhằm rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp của bản thân người viết

4 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của khóa luận là Ý thức phái tính trong thơ nữ Việt

Nam

đương đại.

thôi.

5 Phạm vi nghiên cứu

Chúng tôi tập trung vào các tác giả, tác phẩm sau đây:

- Vi Thùy Linh với 3 tập thơ: Khát, Đồng Tử, Linh

- Bình Nguyên Trang với tập thơ Những người đàn bà trở về

- Ngô Thị Hạnh với tập thơ Nắng từ những ngón chân

- Phạm Thị Ngọc Thanh với tập thơ Khi mình đi qua nhau

- Lai Ka với hai tập thơ Trái tim có nắng và Anh ấy đến rồi em ngừng nhớ anh

6 Phương pháp nghiên cứu

Phương pháp hệ thống

Phương pháp so sánh

Phương pháp liên ngành

Phương pháp phân tích – tổng hợp

7 Đóng góp của khóa luận

- Về mặt lí luận: Làm sáng tỏ những biểu hiện của ý thức phái tính trong thơ nữViệt Nam đương đại

- Về mặt thực tiễn: Góp phần làm phong phú thêm nguồn tư liệu giúp cho việc tìm hiểu, nghiên cứu thơ Việt Nam đương đại

Trang 10

8 Bố cục của khóa luận

Ngoài phần Mở đầu và Kết luận, khóa luận gồm 3 chương chính:

Chương 1: Khái quát vấn đề ý thức phái tính trong thơ Việt Nam từ truyền

Trang 11

NỘI DUNG Chương 1 KHÁI QUÁT VẤN ĐỀ Ý THỨC PHÁI TÍNH TRONG THƠ VIỆT NAM

TỪ TRUYỀN THỐNG ĐẾN HIỆN ĐẠI1.1 Khái niệm ý thức phái tính

Phái tính = phái (gender) + giống/giới/giới tính (sex) Theo John J Macionis

trong cuốn Xã hội học: “Giống phái ám chỉ sự phân chia con người thành những

nhóm sinh học gồm nam và nữ” [13, 384] Phái tính có thể hiểu là giới tính (sex) chỉ

ra sự khác biệt về sinh lí giữa nam và nữ, giữa giống đực và giống cái Từ góc độsinh học, ta biết một đứa trẻ được sinh ra do sự kết hợp giữa tinh trùng của bố vàtrứng của mẹ Trứng của người mẹ mang một nhiễm sắc thể quy định giới tính duynhất là X, tinh trùng của người bố có hai loại (mang nhiễm sắc thể giới tính X và Y)

Sự kết hợp của tinh trùng và trứng sẽ tạo nên cặp nhiễm sắc thể XX (con gái), và

XY (con trai) Các cặp nhiễm sắc thể này là sự quy định về giới tính - nguồn gốccủa phái tính Khi đứa trẻ đến tuổi dậy thì những biểu hiện về giới tính sẽ dần xuấthiện, nam nữ phân biệt rõ ràng hơn

Phái tính còn là sự ý thức của chính chủ thể Đó là sự tự ý thức về bản thânmình, về giới tính của mình Điều này bị ảnh hưởng, chi phối bởi xã hội, môitrường sống, các điều kiện về kinh tế, chính trị, đặc biệt là giáo dục Những điều đólàm cho mỗi người ý thức rõ hơn về mình Và ý thức về giới cũng từ đó hình thành

và phát triển theo thời gian

Ở ý thức cao hơn, phái tính còn chứa đựng cả những yếu tố trội để xác địnhquyền bình đẳng giới Trong các lĩnh vực khác nhau, người ta khẳng định quyềnbình đẳng giới theo những cách khác nhau Đối với văn chương nghệ thuật, tácphẩm chính là nơi để tác giả thể hiện tiếng nói về giới của mình

Ý thức, theo triết học Mac-Lênin, là hình ảnh chủ quan của thế giới kháchquan, phản ánh vào bộ óc con người thông qua quá trình lao động, trải nghiệm,ngôn ngữ và các quan hệ xã hội, là một hiện tượng xã hội Như vậy, ý thức pháitính là quá trình con người tự nhận thức về giới của mình, từ đó xác lập quyền bìnhđẳng giới

Trang 12

Trong mối quan hệ với giới tính, khái niệm phái tính mang nội hàm rộng hơn, baoquát hơn, xét về một góc độ nào đó, nó gần với khái niệm “giới” của xã hội học.Trong nhiều nghiên cứu gần đây, khái niệm phái tính thường được gắn liền với ýthức nữ quyền.

Nhìn chung vấn đề ý thức phái tính được xác lập từ bình diện cá nhân, sau đónâng lên thành ý thức nữ quyền của toàn thể giới nữ Trong thơ ca Việt Nam đươngđại, vấn đề ý thức phái tính ngày càng nổi rõ như một dòng chảy mạnh mẽ, ấntượng trong các sáng tác của các nhà thơ nữ

1.2 Ý thức phái tính trong thơ ca Việt Nam truyền thống

1.2.1 Ý thức phái tính trong ca dao

Ca dao là những lời ca đa sắc xuất phát từ đáy lòng sâu thẳm, từ đời sống laođộng, sinh hoạt hằng ngày của người bình dân trong xã hội xưa Trong bao nhiêukhắc khoải, than thân, trách thận, vui buồn của những lời ca dao ấy, ta thấy hiện lên

ý thức về phái tính của người phụ nữ Những người phụ xưa đã mượn lời ca mộcmạc, bình dị để nói lên ý thức về thân phận mình, những ước mong, khát vọng củamình

Trước hết, ta thấy hiện lên trong ca dao là sự tự ý thức về thân phận của nhữngngười phụ nữ Họ ý thức được giá trị, nhan sắc, nhân phẩm của mình, đồng thời họcũng ý thức rõ ràng rằng, phận mình bị lệ thuộc vào lễ giáo phong kiến, vào những

hủ tục, vào cha mẹ, vào những người đàn ông Lễ giáo phong kiến với những quyđịnh ngặt nghèo buộc người phụ nữ phải tuân theo Phụ nữ không được tự quyếtđịnh hạnh phúc của mình Vì thế những lời ca than thân cứ ai oán bao đời:

“Thân em như tấm lụa đào Phất phơ giữa chợ biết vào tay ai”

“Thân em như củ ấu gai Ruột trong thì trắng, vỏ ngoài thì đen

Ai ơi nếm thử mà xem Nếm ra mới biết rằng em ngọt bùi”

Hay:

“Thân em như giếng giữa đàng

Trang 13

Người khôn rửa mặt, người phàm rửa chân”

Mỗi lần hai tiếng “thân em” được thốt lên là mỗi lần nỗi đau thân phận nhói lên trong trái tim những người phụ nữ Họ ý thức được mình có nhan sắc “như tấm

lụa đào” mềm mại, tươi trẻ tuổi xuân; có nhân phẩm, vẻ đẹp cốt cách bên trong

“ruột trong thì trắng”, “ngọt bùi”; có sự tươi mát, trong sáng như “giếng giữa

đàng”… Nhưng dù thế, thân phận họ vẫn là thân phận phụ thuộc Hạnh phúc của họ

chênh vênh, vô định, giống như “tấm lụa đào” kia “phất phơ giữa chợ” chẳng biết rồi sẽ “vào tay ai” Cuộc đời họ may ra thì được sung sướng như giếng được “người

khôn rửa mặt”, nếu gặp phải “người phàm rửa chân” chắc cũng âm thầm chịu đựng

bế tắc mà thôi

Tiếng nói thân phận còn hiện lên ở những lời ca nói về việc bị ép duyên, ngườiphụ nữ lấy chồng phải theo ý mẹ cha:

“Mẹ em tham thúng xôi rền Tham con lợn béo, tham tiền Cảnh Hưng

Em đã bảo mẹ rằng đừng

Mẹ hấm, mẹ hứ mẹ bưng ngay vào Bây giờ chồng thấp vợ cao Như đôi đũa lệch so sao cho bằng”

Lấy chồng là chuyện cả đời Hôn nhân chỉ hạnh phúc khi hai bên đến với nhau

vì tình yêu, vì sự thấu hiểu lẫn nhau, có ước nguyện sống cùng nhau Nhưng cuộchôn nhân hiện lên trong bài ca dao trên, rõ ràng là một cuộc hôn nhân sắp đặt, hônnhân trên cơ sở của tiền bạc, vật chất Vậy liệu rằng người con gái được gả đi cóhạnh phúc không? Tiền bạc, của cải liệu có mang lại cho họ một cuộc sống gia đìnhtrọn vẹn không? Lịch sử đã trả lời rất rõ ràng về điều đó Hơn nữa, cũng chính sốphận phụ thuộc mà người phụ nữ trong ca dao đôi khi phải rơi vào kiếp chungchồng:

“Gió đưa bụi chuối sau hè Anh mê vợ bé bỏ bè con thơ Con thơ tay ẵm tay bồng Tay dắt mẹ chồng, đầu đội thúng bông”

Trang 14

Người phụ nữ phải chịu cảnh chung chồng bao tủi khổ, tình cảm phải sẻ chia,phải một mình chăm lo con cái Nhưng đau đớn hơn cả là kiếp làm lẽ Chẳng ai cóthể thấu hết những đau đớn, tủi nhục của kiếp lẽ mọn bằng chính người phụ nữmang phận vợ lẽ Họ chỉ còn biết dùng ca dao để tỏ bày nỗi lòng mình:

“Thân em làm lẽ chẳng nề Đâu như chánh thất mà lê lên giường Tối tối chị giữ mất chồng Chị cho manh chiếu nằm suông chuồng bò”

Người phụ nữ trong ca dao không chỉ ý thức về thân phận mình mà còn lêntiếng đấu tranh Tuy sự đấu tranh của họ chưa đủ mạnh mẽ, sự phản kháng còn yếu

ớt nhưng đó thực sự là điều đáng quý, đáng trân trọng Những người phụ nữ nhắnnhủ

Cùng với việc tự ý thức về phận mình và đấu tranh cho hạnh phúc, nhữngngười phụ nữ còn gửi gắm vào ca dao bao sự khát khao: khát khao tình yêu, khátvọng được sống tự chủ, bình quyền Những khát khao này là hệ quả tất yếu của sự ýthức và đấu tranh ở trên

Trang 15

1.2.2 Ý thức phái tính trong thơ Hồ Xuân Hương

Xuân Diệu đã từng viết: “Trong văn học Việt Nam có một nhà thơ kể về độc

đáo thì đứng vào bậc nhất, mà lại hai lần độc đáo, vì đó là một phụ nữ sống dưới chế độ phong kiến xưa Tên người ấy là Hồ Xuân Hương “Ví đây đổi phận làm trai được”, thực sự là nàng đã làm trai rồi, ngay trong chế độ cũ Hương ngát của mùa xuân; tên đẹp của nàng không sai chút nào cả; một cái tên kì diệu, sừng sững trong làng thơ Việt Nam xưa nay” [18, 91].

Thật vậy, Hồ Xuân Hương thực sự là nữ thi sĩ độc đáo của thời đại phong kiến

Đó là thời đại nhiều hủ tục lạc hậu, phụ nữ bị coi thường, không được học hành,không có tiếng nói, bị lệ thuộc vào đủ điều như “tam tòng, tứ đức”, “công, dung,ngôn, hạnh”… Tất cả đã khiến họ quẩn quanh, bế tắc, bao khát khao bị vùi chôn đi

Hồ Xuân Hương không chấp nhận sống cuộc đời bị kìm kẹp ấy mà có ý thức rõ ràng

về phận mình, có những khát khao và phản kháng mãnh liệt Đó chính là ý thức pháitính được thể hiện cụ thể qua những vần thơ sắc sảo, đặc biệt là mảng thơ Nôm.Thơ Hồ Xuân Hương đã thể hiện được ý thức phái tính của những người phụ

nữ trong xã hội xưa Trước hết, đó là sự ý thức, đồng thời ngợi ca vẻ đẹp ngoại hình,nhân phẩm của người phụ nữ Bà sớm nhận thức được vẻ đẹp của mình và của giớimình:

“Thân em vừa trắng lại vừa tròn, Bảy nổi ba chìm với nước non

Rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,

Mà em vẫn giữ tấm lòng son.”

(Bánh trôi nước)

Bài thơ đã vẽ lên một bức tranh trọn vẹn về người phụ nữ với cả vẻ đẹp ngoại

hình và nhân cách Người phụ nữ “vừa trắng lại vừa tròn”, đó là vẻ đẹp đầy đặn, làn

da trắng quyến rũ Người phụ nữ ấy lại có cả “tấm lòng son” vững bền dù cuộc đời

nhiều chìm nổi

Ở một bài thơ khác, Xuân Hương cũng cho ta thấy người thiếu nữ hiện lên thậtquyến rũ:

Trang 16

Đôi gò Bồng đảo sương còn ngậm, Một lạch Đào nguyên nước chửa thông.”

(Thiếu nữ ngủ ngày)

Chỉ với hai câu thơ, Hồ Xuân Hương đã làm hiện lên trước mắt ta là thân thể

người con gái thanh tân, tươi mới “Đôi gò Bồng đảo”, “một lạch Đào nguyên” kia

đều còn trinh nguyên, đều rất đẹp Bức tranh này làm ta liên tưởng đến bức tranhcủa Nguyễn Du miêu tả cảnh Thúy Kiều tắm:

“Buồng the phải buổi thong dong Thang lan rủ bức trướng hồng tẩm hoa

Rõ ràng trong ngọc, trắng ngà Dày dày sẵn đúc một tòa thiên nhiên”

(Truyện Kiều – Nguyễn Du)

Nhưng nếu Nguyễn Du còn phải bày biện ra một buổi tắm, ở đó thân thể ThúyKiều hiện lên sau bức mành, thì Xuân Hương không cần che đậy gì hết Bà tả vẻ đẹp

cơ thể người phụ nữ giữa ban ngày, vào một buổi trưa hè gió mát và “Thiếu nữ nằm

chơi quá giấc nồng”.

Xuân Hương còn ngợi ca vẻ đẹp của người phụ nữ ở nhiều bài thơ khác Đặcbiệt bà sẵn sàng phô bày những nét thanh tân trên cơ thể người thiếu nữ vì theo quanniệm của bà, cơ thể người phụ nữ chính là cái đẹp Không dừng lại ở đó, những vầnthơ của Xuân Hương còn cho thấy sự ý thức về những nỗi khổ của người phụ nữxưa từ đó lên án xã hội phong kiến đã chà đạp lên người phụ nữ, coi thường phụ nữ.Trong xã hội cũ, con người phải chịu bao nỗi khổ, mà khổ nhất vẫn là ngườiphụ nữ Nguyễn Du, một nhà thơ nam viết về số phận người phụ nữ đã hơn một lầnthốt lên rằng:

“Đau đớn thay phận đàn bà”

Ở Văn chiêu hồn, Nguyễn Du kêu lên:

“Đau đớn thay phận đàn bà Kiếp sinh ra thế biết là tại đâu”

Trong Truyện Kiều, tiếng lòng đau nhói lại vang lên lần nữa:

Trang 17

“Đau đớn thay phận đàn bà Lời rằng bạc mệnh cũng là lời chung”

Bản thân Hồ Xuân Hương là một phụ nữ, cuộc đời đã phải chịu biết bao thiệtthòi, cay đắng Hơn ai hết, bà ý thức một cách rõ ràng về nỗi khổ của những ngườiphụ nữ và lên tiếng đấu tranh mạnh mẽ trước những oan nghiệt của số phận HồXuân Hương đã đay nghiến kiếp chung chồng:

“Kẻ đắp chăn bông kẻ lạnh lùng Chém cha cái kiếp lấy chồng chung”

(Làm lẽ - Hồ Xuân Hương) Hình tượng thơ gợi đến chuyện chăn gối, hạnh phúc lứa đôi “Kẻ đắp chăn

bông” ấm bao nhiêu thì kẻ “nằm suông nhà ngoài” lạnh bấy nhiêu Cái lạnh ở đây

không còn là cái lạnh của thể xác nữa mà đã trở thành nỗi lạnh của tinh thần, “lạnh

lùng” Hồ Xuân Hương đã lên án chế độ đa thê trong xã hội phong kiến “chém cha cái kiếp lấy chồng chung”.

Không chỉ khổ ở việc chung chồng, người phụ nữ còn khổ ở sự “dở dang”:

“Cả nể cho nên sự dở dang Nỗi niềm chàng có biết chăng chàng Duyên thiên chưa thấy nhô đầu dọc Phận liễu sao đà nảy nét ngang”

(Không chồng mà chửa)

Bài thơ nói về người phụ nữ không có chồng nhưng lại có thai Bào thai ấy làkết quả tưởng như ngọt ngào của tình yêu, nhưng thực ra lại hết sức cay đắng bởichàng trai đã phủi bỏ trách nhiệm, đã “quất ngựa truy phong” để lại cô gái một mìnhmang tủi khổ Cái thai của cô không được xã hội phong kiến chấp nhận Miệng đờicay nghiệt, thế gian khôn cùng trút lên cô bao khinh thị, xem thường, ghét bỏ XuânHương đứng về phía cô gái ấy, lên tiếng bênh vực cho người phụ nữ:

“Quản bao miệng thế lời chênh lệch Không có nhưng mà có mới ngoan” [18, 24]

Trang 18

Từ việc ý thức rõ về số phận của người phụ nữ, Hồ Xuân Hương đã nói lênnhững khát khao của họ Đó là những khát khao về tình yêu, hạnh phúc và cả nhữngkhát khao dục tính, bản năng:

“Thân em như quả mít trên cây

Vỏ nó xù xì, múi nó dày Quân tử có thương thì đóng cọc Xin đừng mân mó nhựa ra tay”

(Quả mít)

Hồ Xuân Hương ví phụ nữ như “quả mít” với vẻ ngoài xấu xí nhưng bên trong

lại thơm ngon, ngọt ngào Ấy là những người phụ nữ xấu người đẹp nết, phẩm hạnh

cao quý Họ mong muốn người “quân tử” đừng xem phụ nữ như một trò chơi, như

gió thoảng hoa bay bên đường, đừng đùa dỡn rồi nhanh chóng lãng quên, mà hãytrao cho họ tình yêu, sự quan tâm chân thành nhất

Ở một bài thơ khác:

“Bác mẹ sinh ra phận ốc nhồi Đêm ngày lăn lóc đám cỏ hôi Quân tử có thương thì bóc yếm Xin đừng ngó ngoáy lỗ trôn tôi”

(Ốc nhồi) Xuân Hương ví thân phận người phụ nữ như “phận ốc nhồi”, suốt cuộc đời phải chịu bao vất vả, thiệt thòi Người “quân tử” hãy yêu thương, san sẻ những nhọc

nhằn cùng họ Dù sử dụng những hình ảnh khác nhau, nhưng cuối cùng nhà thơ đềuhướng đến thân phận và khát khao của người phụ nữ xưa

Khát khao dục tính là điều thường thấy trong thơ Hồ Xuân Hương Có nhiều ýkiến tranh cãi thơ Hồ Xương là dâm hay không Thực ra, việc tranh cãi là không cầnthiết Mỗi bài thơ của bà đều ẩn chứa nhiều tầng nghĩa, hiểu như thế nào là do ngườiđọc “Tính dục” là yếu tố bản năng của con người, không đánh giá nó là dâm haykhông Hồ Xuân Hương, qua thơ mình, đã nói một cách sâu sắc những khát khaothầm kín của người phụ nữ

Trang 19

Thơ Xuân Hương còn thể hiện khát khao bình quyền:

“Ví đây đổi phận làm trai được Thì sự anh hùng há bấy nhiêu”

(Đề đền Sầm Nghi Đống)

Sầm Nghi Đống là một võ tướng của nhà Thanh, cùng Tôn Sĩ Nghị mang 29vạn quân sang xâm lược nước ta Chúng bị vua Quang Trung đánh cho bại trận SầmNghi Đống thất trận, cùng kế phải thắt cổ tự tử Hắn được Hoa kiều lập đền thờ ởmột hẻm thuộc Thăng Long Nếu như hai câu thơ đầu nữ sĩ tả ngôi đền và nói lên sựkhinh miệt của mình thì hai câu cuối, bà nêu lên một giả định so sánh để bình giá

cái “sự anh hùng”, cái nhân cách quá tầm thường của tên tướng Thiên triều bại trận.

Ý thơ còn biểu lộ một khát vọng về quyền nam nữ bình đẳng của người đàn bà nướcNam

Xã hội phong kiến rất coi thường phụ nữ, thế mà Xuân Hương lại dám đem

mình ra so sánh với quan Thái thú phương Bắc Câu hỏi tu từ với ba tiếng “há bấy

nhiêu” cho thấy bà đã bĩu môi châm biếm nhân cách tầm thường, cách ứng xử đê

hèn của một viên tướng trong vòng tên đạn, gươm giáo Hai câu thơ phản ánh mộttâm thế đàng hoàng, tự tin về tài năng, phẩm hạnh của người phụ nữ Việt Nam.Như vậy, Hồ Xuân Hương đã thể hiện được những khát khao phái tính của giới

nữ “Cái tích cực nhất, giá trị của Xuân Hương là đả kích xã hội thối nát với tất cả

uất giận của mình, bằng tất cả tài năng của mình Sức mạnh của sự phản ứng có nguyên do trong sức mạnh của sự áp bức, và giới phụ nữ bị áp bức nhiều nhất thì khi họ vùng lên càng không thể “mực thước” [18, 160] Xuân Hương đã nói được

tiếng nói của nhiều người phụ nữ

1.3 Ý thức phái tính trong thơ Việt Nam hiện đại

1.3.1 Bối cảnh lịch sử, xã hội, văn hóa, tư tưởng Việt Nam thời hiện đại

Bước sang thời hiện đại, bối cảnh lịch sử xã hội Việt Nam đã có nhiều thayđổi Với sự xâm lược của thực dân Pháp vào năm 1858, nước ta trở thành một nướcthuộc địa nửa phong kiến Các phong trào đấu tranh chống Pháp diễn ra quyết liệt.Theo đó, như một sự tất yếu của lịch sử, Đảng cộng sản Việt Nam đã ra đời năm

Trang 20

1930, trực tiếp lãnh đạo cách mạng Quân và dân ta đã làm nên cuộc cách mạngtháng Tám năm

Trang 21

1945 lẫy lừng mang lại độc lập tự do cho dân tộc Cách mạng tháng Tám cũng đồngthời xóa bỏ hoàn toàn chế độ phong kiến tồn tại hơn mười thế kỉ ở nước ta Sau đó,đất nước thân yêu hình chữ S lại tiếp tục 30 năm kháng chiến trường kì chống lại hai

kẻ thù rất mạnh là thực dân Pháp và đế quốc Mĩ Cuối cùng, đại thắng mùa xuânnăm

1975 đã mang đến hòa bình, độc lập, thống nhất cho toàn dân tộc, Bắc- Nam thu vềmột mối

Cùng với sự thay đổi về bối cảnh lịch sử xã hội là sự thay đổi về văn hóa tưtưởng Văn hóa phương Tây ảnh hưởng ngày càng mạnh mẽ ở nước ta Chữ Hán vàchữ Nho mất dần vị thế, thay vào đó là sự ra đời và lên ngôi của chữ Quốc ngữ.Trong xã hội ấy, những xung đột giữa cái “cũ” và cái “mới” trong tư tưởng, nếpnghĩ, lối sống diễn ra gay gắt và cái “mới” đã thắng thế Hệ tư tưởng phong kiến mànòng cốt là tư tưởng Nho giáo mất dần địa vị thống trị Hệ tư tưởng phương Tây dunhập và ngày càng có ảnh hưởng rộng rãi trong các tầng lớp trí thức và thị dân Hệ

tư tưởng vô sản được truyền bá rộng rãi trong quần chúng lao động và trở thànhngọn cờ tư tưởng của phong trào cách mạng dưới sự lãnh đạo của Đảng cộng sản.Trên hết là chủ nghĩa yêu nước, một truyền thống văn hóa lâu đời của dân tộc ViệtNam vẫn tiếp tục phát triển, quy tụ mọi tư tưởng tiến bộ để giải phóng đất nước.Như vậy, đất nước đã thay đổi, hệ tư tưởng phong kiến lỗi thời lạc hậu đượcxóa bỏ và người phụ nữ đã phần nào được cởi trói Người phụ nữ trong xã hội ViệtNam thời hiện đại không còn phải chịu những áp bức, bị coi thường như thời phongkiến nữa Phụ nữ dần dần được tôn trọng hơn, được bình đẳng hơn, được sống làchính mình

Sự thay đổi về bối cảnh lịch sử xã hội văn hóa tư tưởng đã tác động mạnh mẽđến nội dung và hình thức phản ánh của văn học Thơ mới, tiểu thuyết Tự lực vănđoàn đã có nói lên những tiếng nói bênh vực phụ nữ Tiếp đó là các cây bút nữ nhưXuân Quỳnh, Ý Nhi, Phan Thị Thanh Nhàn, Đoàn Thị Lam Luyến, Nguyễn ThịHồng Ngát, Lâm Thị Mỹ Dạ, Thúy Bắc, Lê Thị Mây Thu Nguyệt, Tuyết Nga, LêThị Kim, Đỗ Bạch Mai, Thảo Phương, Phi Tuyết Ba, Nguyễn Thị Thúy Quỳnh,Đoàn

Trang 22

Ngọc Thu, Đặng Thị Thanh Hương đã có nhiều vần thơ thể hiện sâu sắc những khát vọng tình yêu, hạnh phúc của người phụ nữ.

Giai đoạn sau 1975, đất nước đã hòa bình thống nhất, văn học được tự do thểhiện Văn học sau 1975 nói chung và thơ ca nói riêng đã có những bước đột phá, đisâu vào các mảng hiện thực đời sống, phản ánh con người đa diện nhiều chiều hơn,con người trở về với cuộc sống đời thường với nhiều lo toan, với những khát vọng

về hạnh phúc và những sự trăn trở về cách sống Các nhà thơ nữ (Xuân Quỳnh, LâmThị Mỹ Dạ, Ý Nhi ) lại càng trăn trở, lo âu trên con đường kiếm tìm hạnh phúc:

“Em lo âu trước xa tắp đời mình Trái tim đập bao điều không thể nói Trái tim đập cồn cào cơn đói

Ngọn lửa nào le lói giữa cô đơn”

(Tự hát - Xuân Quỳnh)

Từ sau 1986 với công cuộc đổi mới đất nước, thơ ca có những đổi mới mạnh

mẽ hơn Tinh thần dân chủ và ý thức cá nhân xuất hiện nhiều trong văn học Thơthời kì này thể hiện khát vọng đào sâu vào bản ngã, những góc khuất sâu kín trongtâm hồn con người, những khát khao bản năng Quan niệm thơ có nhiều biến đổi vànhững cách tân ngày càng mạnh mẽ Sự thay đổi này đã gây ra những phản ứng,những tranh cãi trong giới sáng tác, công chúng và dư luận Nhưng dù thế, nhữngtìm tòi đổi mới này cũng đã mang đến những ý nghĩa tích cực, đưa đến những quanniệm mới về thơ, kích thích sự đổi mới và góp phần vào sự thay đổi xã hội

1.3.2 Sự xuất hiện của lực lượng sáng tác nữ trên thi đàn sau 1975

Trên thi đàn sau 1975, cùng với sự đổi mới về quan niệm sáng tác là sự xuấthiện của các nữ sĩ có học thức sâu rộng, biết phát huy các giá trị truyền thống, đồngthời tiếp thu văn hóa Đông – Tây Các nhà thơ nữ sau 1975 như Vi Thùy Linh, LyHoàng Ly, Phan Huyền Thư, Trần Hoàng Thiên Kim, Bình Nguyên Trang, Dạ ThảoPhương, Đường Hải Yến, Nguyễn Thúy Hằng, Trương Quế Chi, Phạm Vân Anh,Ngô Thị Hạnh, Ngô Thanh Vân, Lynh Bacardy, Nguyệt Phạm, Thanh Xuân,Phương Lan, Khương Hà, Lê Mỹ Ý, Trần Lê Sơn Ý, Trương Gia Hòa, Tú Trinh, LaiKa tiếp tục

Trang 23

khai thác hướng đề tài nói về phụ nữ, tình yêu, lòng thủy chung son sắt, tình mẹ con,bầu bạn, và khám phá những đề tài mới đầy biến động của đời sống, tìm tòi nhữngcái mới, những chân trời lạ lẫm, đi sâu vào cái tôi cá nhân bí ẩn và đầy bất trắc.Tiếng thơ của họ xuất hiện một cảm hứng mới rất hiện đại: tính nhục cảm Các nữ

sĩ “đã mang lại những phát hiện mới, có giá trị khắc hoạ bằng ngôn ngữ của thơ,

nỗi đau của những phận người - cái mà chỉ ít năm trước đây, không ít người làm thơ còn né tránh Họ đã chạm được vào cõi sâu của tâm hồn, không chỉ bằng sự phá vỡ sắc cạnh của lý trí mà còn bằng cảm xúc của trái tim, điều đó làm cho người đọc thấy gần gũi

và đồng cảm với nhà thơ, khi độc giả không bị áp đặt bởi một chủ thể ngôn ngữ có ý định mà được tham dự cùng tác giả vào những cảm xúc được tái hiện từ cái chất liệu đời thường còn rớm máu và khó nhọc này Sự dồn nén, bức xúc của tâm trạng bật dậy trong họ những câu thơ không chịu bằng phẳng và sự chuyển tải của những nỗi niềm, những ẩn ức đang còn khuất lấp trong tâm hồn thi sĩ đã tự tìm cho mình một hình thể mới, một nhịp vận động riêng trong cách tổ chức câu chữ và những bài thơ đổi mới của họ ra đời” (Mai Văn Phấn).

Nữ sĩ đương đại chịu ảnh hưởng của nhiều luồng văn học trên thế giới, cónhững nét phá cách và có nhiều thể nghiệm mới mẻ Cùng với hành trình tìm chomình những phong cách thơ mới định hình, thơ nữ trẻ đang có những cựa quậy,những đột phá mới, táo bạo Bên cạnh đó, họ vẫn hướng tới những giá trị, những vẻđẹp vĩnh cửu của người phụ nữ Việt Nam

1.3.3 Ý thức khẳng định bản ngã phái tính của thơ nữ sau 1975

Cùng với sự xuất hiện của lực lượng sáng tác nữ sau 1975 là ý thức khẳng địnhbản ngã phái tính của họ Chính từ sự tác động của hoàn cảnh sống, ảnh hưởng củanền giáo dục xã hội chủ nghĩa, những tư tưởng đổi mới đã khiến các nữ sĩ đương đạihình thành tư duy thơ mới, mang đến những vần thơ sáng tạo, phản ánh thế giới nộitâm và cách nhìn đời thông qua lăng kính và trái tim người đàn bà

Trước hết, ý thức khẳng định bản ngã phái tính hiện lên ở nội dung thơ Cáccây bút nữ thể hiện sự am hiểu về giới mình, dám đấu tranh với những bất công

Trang 24

ngang trái, nói lên những khát khao, thậm chí là những khát khao thầm kín nhất:khát khao

Trang 25

tình dục Họ mạnh bạo khẳng định sự bình đẳng về mọi phương diện kể cả tình dụcvới đàn ông Con người trong thơ của những cây bút nữ phá cách, chịu sự chi phốirất mạnh của đời sống cá nhân, đề cao đời sống cá nhân, dám sống thật với chínhmình và có thể coi đây là tiếng nói mạnh mẽ về giải phóng phụ nữ trong thơ ca.Thứ hai, về mặt hình thức, các bài thơ được viết bằng những ngôn từ táo bạo.Ngôn ngữ trong tác phẩm của các cây bút nữ quyết liệt, mạnh mẽ không kém gì namgiới, thậm chí, nhiều cây bút có ý thức gây hấn và gây shock bằng sức mạnh củangôn từ Trước đây, người đọc chỉ quen nhìn thấy trong sáng tác của các nhà thơ nữ

sự dịu dàng, thơ mộng, nhưng giờ đây, họ đã cố gắng tạo ra thứ ngôn ngữ góc cạnh,đầy cá tính Thậm chí, đã bắt đầu manh nha lối “viết bằng thân thể”, dùng ngôn ngữ

để biểu hiện nhịp điệu của suy nghĩ Ngoài ra, các bài thơ còn được viết bằng nhiềuthể thơ khác nhau mà nổi lên là thơ tự do và thơ văn xuôi, với cấu trúc tác phẩmđầy phức tạp Tuy vậy, cuối cùng họ vẫn là phụ nữ, điều hiện lên âm thầm mà xuyênsuốt trong các tác phẩm của họ ngoài những khát khao bùng nổ mãnh liệt là hơi ấm

nữ tính, là những câu chuyện giản dị đời thường lặng lẽ đi vào văn học

Những điều trên cho thấy sự cởi trói trong sáng tác, văn học trở về với đúngbản chất của nó là một hình thức nghệ thuật thuần túy lấy cảm hứng từ đời sống vàtrở lại phục vụ đời sống; sự đổi mới mạnh mẽ trong tư duy của các tác giả và cảbạn đọc; tính dân chủ của thời đại; sự tôn trọng phụ nữ, giải phóng phụ nữ

Những tìm tòi phá cách của thơ nữ đương đại đã tạo nên một sự cách tân trongthơ Việt Nam đầu thế kỉ XXI Ý thức khẳng định bản ngã phái tính là điều nổi bậttrong thơ nữ Dưới ngòi bút của các nữ sĩ những câu chữ từ cuộc đời đầy giông bão

cứ thế tuôn tràn, mỗi từ là một nhịp thở gấp gáp, mỗi câu là một khát vọng mãnhliệt Chưa bao giờ trên thi đàn Việt Nam tiếng nói phái tính lại mạnh mẽ đến thế.Thời đại đã thay đổi, văn học đang chuyển mình, các nữ sĩ cháy hết mình cho thơ,cho đời

Trang 26

Chương 2

Ý THỨC PHÁI TÍNH TRONG THƠ NỮ VIỆT NAM ĐƯƠNG ĐẠI –

NHÌN TỪ GÓC ĐỘ NỘI DUNG2.1 Khái khao tình yêu và hạnh phúc

Tình yêu là thứ tình cảm hấp dẫn số một của con người Khi hai tâm hồn gặp

gỡ, rung động, nhung nhớ là khi tình yêu từ mũi tên của thần Eros đã xuyên vào tráitim làm rung lên những khúc nhạc tình, làm tỏa lan hương sắc của hồng hoa Tìnhyêu với sự phức tạp từ chính bên trong, không chỉ mang đến cho nhân loại sự lãngmạn, ngọt ngào mà còn gieo bao đau khổ, mũi tên kia làm bao giọt lệ tuôn tràn.Nhưng dù có bao nhiêu trái ngang, bao giông bão, con người trong nhân gian vẫnkhát khao yêu nồng cháy

Từ điển tiếng Việt định nghĩa: “Hạnh phúc là trạng thái sung sướng vì cảm thấy hoàn toàn đạt được ý nguyện” [14, 423] Tuy nhiên, mỗi người mang trong

mình một định nghĩa khác nhau về hạnh phúc Theo triết lí của nhà Phật khi conngười biết đủ sẽ tự thấy hạnh phúc Biết thế nào là đủ? Khao khát hạnh phúc vì vậymãi tồn tại cùng với sự tồn tại của kiếp nhân sinh

Khát khao tình yêu và hạnh phúc luôn song hành cùng nhau, ở mọi nơi, trongmọi người Trải qua bao thời gian, bao kiếp người sinh – tử, khát khao ấy vẫn luônrực cháy Thơ ca thực sự là mảnh đất an lạc cho những khát khao kia vươn mầm.Các nữ sĩ đương đại chính là người cần mẫn, tận tâm gieo trồng, chăm bón nhữngmầm cây ấy Phụ nữ và thơ ca có sự đồng điệu diệu kì nên dễ dàng hiểu và soi sángtâm hồn nhau, thể hiện những khát khao của nhau

Nếu ví khát khao tình yêu, hạnh phúc trong thơ nữ đương đại như một khuvườn ngàn hoa khoe sắc thì nổi bật ở đó là hai sắc hoa: sắc hồng của ước mongnhận được tình yêu, quan tâm, chăm sóc và sắc tím của khát vọng dâng hiến, hysinh một cách thủy chung, trọn vẹn Hai sắc hoa ấy lấp lánh, rực rỡ, nồng nàn, mêhoặc bất kì ai nhìn thấy hoặc chỉ vô tình hít nhẹ hương thơm

Sắc hồng của ước mong nhận được tình yêu, sự quan tâm, chăm sóc, chở che làsắc màu lãng mạn, dịu nhẹ, ngọt ngào trong trái tim mọi phụ nữ Mỗi vần thơ đương

Trang 27

đại như một cánh hoa đầy hương sắc Mỗi thi sĩ lại có riêng cho mình một nhành hoa.

Đó là “em” trong thơ Vi Thùy Linh:

“Anh yêu của em

Em yêu anh cuồng điên

….

Về đi anh!

Cài then tóc em bằng đôi môi anh

Đưa em vào giấc ngủ nồng nàn, quên đi những đêm chập chờn, trĩu nặng

xa xưa được nghe từ thuở bé thơ, có cô gái ngồi đan chiếc khăn mà bao ngày vẫn

không xong vì ngày đan đêm lại tháo ra Chiếc khăn ấy chẳng thể xong vì lòng “em

chờ anh mãi…”

Cùng với Người dệt tầm gai, nhiều bài thơ khác cũng thể hiện ước ao cháy bỏng của người phụ nữ mong một ngày tình yêu đến “gõ cửa trái tim, xin em được

vào”:

Điều anh biết, Liên tưởng, Nói với anh, Tỉnh giấc… Và rồi khi anh đã đến thì tình

yêu nảy nở và những cảm xúc bắt đầu xuất hiện Đó là sự hờn ghen:

“Môi chạm môi là thực Yêu anh sở hữu bản năng hờn ghen ích kỉ đàn bà yêu?”

(Nóng chảy mặt nạ em - Ngô Thị Hạnh)

Ghen là một biểu hiện của tình yêu Ai yêu mà chưa một lần ghen? Phụ nữ,

với tâm hồn nhạy cảm, dễ tổn thương thì lại càng dễ “hờn ghen ích kỉ”, luôn muốn

“anh” “chỉ yêu mình em thôi” dù “em không xinh đẹp/ chẳng có chi hơn người”.

Tình yêu là nhung nhớ:

Trang 28

“Giá em đủ mạnh mẽ để nói cùng anh

Về tận cùng em, tận cùng nỗi nhớ…

Sương phủ trắng mặt hồ như nỗi nhớ về anh đêm nay”

(Sương phủ trắng mặt hồ - Bình Nguyên Trang)

Một trong muôn vàn xúc cảm của tình yêu là nỗi nhớ Nếu yêu là vị ngọt củamật ong thì nhớ chính là hương thơm của giọt mật ấy Nỗi nhớ tỏa lan, thấm sâu vàotừng mạch máu của đôi lứa yêu nhau Nhớ nhung như sợi dây kết nối hai trái tim,khiến người ta luôn hướng về nhau dù có đi tận góc bể, chân trời

Tình yêu là hoài nghi:

“Tình rất thật mà ta luôn sợ mất”

(Đồng dao cho một hoài nghi – Bình Nguyên Trang)

Rồi cũng có khi hai người yêu nhau nhưng cô gái vẫn cảm thấy đôi lúc cô đơn,muốn được quan tâm nhiều hơn nữa:

“Chỉ muốn nói rằng người đừng có vô tâm

Vì từ lâu đã thầm thương trộm nhớ Muốn được cùng người qua những ngày mưa đổ

Cả ngày nắng lên, cả ngày gió yên bình”

(Chỉ muốn cùng người ngắm hết những bình minh – Lai Ka)

Tuổi tác chưa bao giờ là giới hạn của tình yêu Ai bảo chỉ những cô gái, chàngtrai tuổi trăng tròn hay tuổi 20 căng tràn sức trẻ mới biết yêu? Những phụ nữ 30 vẫn

“thèm” yêu nhiều lắm:

“Tuổi ba mươi như ly café đắng không đường Thèm một chút nồng nàn của ngày đã cũ Thèm một bản nhạc du dương của thời thiếu nữ Những ngọt ngào thương nhớ đã đi qua”

(Tuổi ba mươi – Phạm Thị Ngọc Thanh) Người ta nói “Trai ba mươi tuổi đương xoan/ Gái ba mươi tuổi đã toan về

già” Có phải chính người phụ nữ cũng nghĩ về mình như vậy nên mới thấy mình

như “ly café đắng không đường”? Người phụ nữ bước sang tuổi ba mươi dù thanh

xuân đã

Trang 29

có chút phai nhạt nhưng khao khát yêu chưa bao giờ lụi tắt Họ vẫn thèm “một bản

nhạc du dương của thời thiếu nữ”, thèm “những ngọt ngào” đã qua Tuổi trẻ đẹp

nhất, tình yêu thời ấy cũng đáng nhớ nhất để khi đi qua người ta cứ mãi hoài niệm.Những thiếu phụ cô đơn cũng luôn mong có một người ở bên, quan tâm, chămsóc:

“Người đàn bà sống một mình, vừa muốn quên, vừa mong ngóng

(Thiếu phụ và con đường - Vi Thùy Linh)

Quả thực, khi được yêu người ta thay đổi, người ta hạnh phúc:

“Sau nụ hôn cả vùng trời biến mất Phía trước em một chân trời khác Khi anh ôm em thật lạ kì

Trong em có điều gì như vừa ruồng bỏ”

(Từ lúc anh đến và nhìn em - Bình Nguyên Trang)

“Anh” đến mang theo hơi ấm của tình yêu, xóa đi mùa đông băng giá, nụ hôn của “anh” làm tan biến mọi nỗi đau Cuộc đời “em” tươi đẹp hơn từ giây phút ấy Đó

là sự diệu kì của tình yêu

Cùng với sắc hồng, vườn hoa của khát khao tình yêu hạnh phúc còn ngập trànsắc tím của sự dâng hiến, hy sinh, thủy chung, trọn vẹn Trong trái tim người phụ nữnhững khao khát cũng thật công bằng, muốn nhận nhiều và cũng muốn cho đi rấtnhiều Cho đi chính là nền tảng để nhận lại, khi nhận được người ta sẽ muốn cho đi.Tất cả tạo thành một vòng tuần hoàn nối tiếp nhau Người phụ nữ yêu hết mình:

“Em sẵn sàng chết vì anh, nhưng không phải là cái chết đau đớn

Em dâng anh thế giới nhỏ của mình”

(Không thanh thản – Vi Thùy Linh)

Tình yêu chỉ thực sự trọn vẹn, viên mãn khi hai trái tim yêu hết mình, khi mọicánh cửa của mê cung bí mật trong tâm hồn hé mở, thế giới của người này cũng sẽ

là của người kia, hai người hòa quyện vào nhau, đan cài vào nhau “Em” muốn nói

ra tất cả lòng mình:

Trang 30

“Em muốn nổ khối chữ trong mình Thành lời: Em yêu anh!”

(Em - bí mật – Vi Thùy Linh)

Nơi ẩn chứa sức mạnh bí ẩn, có sức công phá mãnh liệt nhất có lẽ là trái timđang yêu của phụ nữ Tâm hồn phụ nữ muôn đời nguyện cho đi:

“Nơi đây em đã hết lòng trao về anh tất cả

Em bênh vực trái tim mình dù không phân biệt được vui buồn thật giả Chỉ biết cho mà không nhận bao giờ”

(Đừng dập tắt ngọn lửa trong tim người đàn bà – Phạm Thị Ngọc Thanh)

Trái tim có những lí lẽ riêng mà lí trí không thể nào hiểu được Khát khao tìnhyêu và hạnh phúc luôn cuộn chảy trong tâm hồn phụ nữ có khi âm thầm, có khimãnh liệt Thi ca là người bạn tri kỉ để phụ nữ trút bầu tâm sự về nỗi lòng, khátvọng yêu đương

2.2 Khát khao tính dục

Theo Từ điển tiếng Việt: “Tính dục là đòi hỏi sinh lí về quan hệ tính giao” [14,

999] Đào Duy Anh đã truy từ nguồn gốc Hán Việt của từ tính dục và đưa ra định

nghĩa: “Tính dục ở trong tính người, tình dục ở trong trai gái” [1, 706].

Như vậy, tính dục là một yếu tố thuộc về bản năng, sinh lí của con người Bêncạnh đó tính dục còn gắn với phẩm chất, nhân cách, những yếu tố bên trong hoạtđộng tâm lí của con người và được thể hiện ra bên ngoài thông qua các hành động.Con người luôn tồn tại hai phần, phần Con và phần Người Tính dục thuộc về phầnCon nhưng cũng hàm chứa phần Người trong đó Tính dục là một yếu tố không thểthiếu trong đời sống Khát khao tính dục tuy thầm kín nhưng đầy mãnh liệt

Văn học đề cập đến tính dục không chỉ đơn thuần như một hoạt động sinh lícủa con người mà còn mang những ý nhĩa xã hội nhất định Đây chính là biểu hiệncủa sự giải phóng bản năng, tự do trong tư duy, tự do trong sáng tác, cởi trói trong

quan niệm, “các bạn nữ thời toàn cầu hóa quyết tháo tung cương ngựa non và kỉ

cương cũ toan ràng buộc chúng, cho chúng mặc sức tung vó, hí vang Không còn kiêng nể gì nữa, sex hay không sex, bản năng hay không bản năng, truyền thống với định kiến xã

Trang 31

hội: bất chấp tất! Họ thể hiện mình, phơi bày cái tôi chủ quan của mình, không che giấu Không cần qua trung gian ẩn dụ hay nhờ cậy sự đánh tráo của ngôn ngữ để gợi mà trực tiếp, đẩy tới, nâng cao, phóng đại Từ tâm tình, thái độ hay cả hành cử của thân xác trong sinh hoạt dục tính” [4, 96].

Các nhà thơ nữ đương đại có những vần thơ tràn đầy khát khao như thế Quakhảo sát, dục tính trong thơ nữ có thể phân ra làm hai cấp độ: cấp độ thấp đó là sựmong muốn được gần gũi, ở bên người mình yêu, có những hành động ôm hôn ngọtngào, lãng mạn; ở cấp độ cao là khát khao thân xác, mong muốn được giải phóngthân thể, được giao hòa về thể xác một cách mãnh liệt

Có ai yêu mà không mong gần gũi? Có thể nói, khao khát dục tính có mộtphần bắt nguồn từ tình yêu Không chỉ có người đàn ông mới nhiều khao khát, đàn

bà cũng đầy ham muốn:

“Những đôi môi cuống quýt vội vã nồng nàn đau đớn Những đôi môi ngậm tiếng thở gấp gáp, dặt dìu mộng du trong đêm”

(Song mã – Vi Thùy Linh)

Ôm hôn là một hành động lãng mạn, ngọt ngào của hai người yêu hoặc là đơngiản là có xúc cảm với nhau Có ai đó đã nói rằng, phụ nữ không bao giờ chạm môivới người mà mình không yêu nhưng đàn ông sẵn sàng lên giường với người mà họkhông thích Điều đó đã cho thấy thiên hướng tình cảm rất khác giữa nam và nữ Từ

đó, có thể nhận ra một điều, phụ nữ sống chân thành hơn đàn ông (xét về góc độ nàođó) Phụ nữ đậm sâu hơn đàn ông rất nhiều nên thường đau đớn khi tình yêu tan vỡ

Có nhiều khi họ muốn thốt ra thành lời:

Trang 32

Nụ hôn mang đến hơi ấm, sức sống cho “em”, mong anh hãy đặt cả trái tim vào nụ hôn, hãy “mặc thời gian” Khi hai người hôn nhau, thời gian như ngừng trôi, không còn lạnh lẽo, đau khổ, chỉ thấy nồng nàn của “đôi môi anh cháy ở môi em”,

chỉ thấy ngọt ngào trong tim Điều ấy chỉ những ai thực sự trải qua mới cảm nhận

được Vì thế người phụ nữ luôn khao khát Hình ảnh của “em” hiện lên là một người phụ nữ đã trưởng thành, muốn được cùng anh “vượt qua khắc nghiệt” Không những

“Chiếc hôn đầu của anh còn âm giai môi em”

(Pari đang yêu – Vi Thùy Linh)

Nụ hôn đầu mãi đọng trên môi, có thể chỉ là chạm nhẹ, chỉ là khoảnh khắcnhưng chẳng thể nào phai Ai đó nói rằng, với phụ nữ tình nào cũng là tình đầu, nên

nụ hôn nào có lẽ cũng đều sâu đậm như lần đầu được hôn

Khát khao dục tính đi đến đỉnh cao mãnh liệt ở mong muốn giao hòa thân xác.Các nữ sĩ không ngại ngần đưa vào thơ mình những từ ngữ thể hiện “chuyện riêngtư” một cách trần trụi, những hình ảnh thân thể được phô bày:

“Câu tụng niệm đứt quãng – hổn hển lời tình Tiếng mõ – tiếc nấc

… Hôn nhau tràn tràn

Ta tu suốt đời dưới gốc cây Bồ đề - Anh”

(Dưới cây bồ đề - Vi Thùy Linh)

Chỉ với vài từ gợi tả, thi sĩ đã vẽ lên một bức tranh sống động về chuyện lứađôi, chồng vợ Hai người đang ở bên nhau, trao cho nhau cả tâm hồn, thể xác Mỗi

cử động là một sự “đứt quãng”, “hổn hển” trong hơi thở, là “tiếng nấc” của khoái

lạc Đặt điều này sánh ngang với việc tu hành là sáng tạo táo bạo của Vi Thùy Linh

Đó phải chăng là sự bùng phá, cuồng nhiệt đến độ “ngông cuồng” của người phụ

nữ? “Tiếng mõ” là khi các nhà sư đang tụng niệm nơi thanh tịnh thì ngay đó là

Trang 33

“tiếng nấc” của ân ái Với những người theo đạo Phật thì tu hành là niềm khoái lạc,

ăn chay,

Trang 34

diệt dục là sung sướng thì với phụ nữ đời thường, ân ái với người họ yêu là thănghoa tột đỉnh, cũng linh thiêng, đáng kính trọng như người ta tu hành vậy Nhu cầuthể xác mang tính bản năng đầy tươi đẹp được Vi Thùy Linh nâng lên một tầm cao

mới thiêng liêng, để rồi người phụ nữ nguyện “tu suốt đời dưới gốc cây Bồ đề

-Anh”.

Người phụ nữ nào chẳng khát khao khao thân xác Với những vần thơ cuồng

nộ, Vi Thùy Linh tiếp tục thể hiện điều đó bằng hình ảnh “lá thư và ổ khóa”:

“Hãy siết chặt em và để hằn dấu viết, hãy nhập vào em hãy khóa và

“đánh mất chìa khóa” trong em”

(Lá thư và ổ khóa – Vi Thùy Linh)

Khát khao ấy bùng cháy vào mỗi đêm:

“Bởi vì trong đêm

Em bùng lên nỗi nhớ, khát khao và cả những điều thầm kín nhất

(Tiếng đêm – Vi Thùy Linh)

Tình yêu và kháo khao thân xác kéo con người đến với nhau, rời xa cả tínngưỡng, nhà thờ Tình yêu, khát khao trần thế mới là đẹp nhất, đáng tận hưởng nhất:

“Chúng mình hôn nhau giữa nhà thờ màu xám Khi mũ áo của Cha rơi xuống

Em ôm chặt anh không phải bằng sức lực con chiên Chúng mình bước nhẹ trong tiếng chuông đêm, trong âm hưởng thánh

ca, trong tiếng thở

Bỏ nhà thờ và kinh và những lời cầu nguyện Anh thuộc về em

Trên thân thể em, cánh tay anh thập tự…”

(Thánh ca – Vi Thùy Linh)

Ngày đăng: 11/09/2019, 11:04

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (2002), Từ điển Hán Việt, NXB Khoa học Xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển Hán Việt
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: NXB Khoa học Xã hội
Năm: 2002
3. Ngô Thị Hạnh (2010), Nắng từ những ngón chân, NXB Thanh niên, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nắng từ những ngón chân
Tác giả: Ngô Thị Hạnh
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2010
4. Inrasara (2008), Song thoại với cái mới, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Song thoại với cái mới
Tác giả: Inrasara
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 2008
5. Lai Ka (2015), Trái tim có nắng, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trái tim có nắng
Tác giả: Lai Ka
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2015
6. Lai Ka (2017), Anh ấy đến rồi em ngừng nhớ anh thôi, NXB Văn hóa dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Anh ấy đến rồi em ngừng nhớ anh thôi
Tác giả: Lai Ka
Nhà XB: NXB Văn hóa dân tộc
Năm: 2017
7. Minh Khôi tổng hợp, Phụ nữ và vai trò làm vợ, làm mẹ.http://w w w.nxbh a noi. c om.vn/ch i _tiet_ti n /tab i d/204/cate I D/4/artil c e I D/17149/la nguage/vi - VN/De f ault . asp x Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phụ nữ và vai trò làm vợ, làm mẹ
Nhà XB: nxbh a noi. c om.vn/ch i _tiet_ti n /tab i d/204/cate I D/4/artil c e I D/17149/language/vi - VN/De f ault . asp x
9. Vi Thùy Linh (1999), Khat, NXB Hội Nhà văn, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khat
Tác giả: Vi Thùy Linh
Nhà XB: NXB Hội Nhà văn
Năm: 1999
10. Vi Thùy Linh (2000), Linh, NXB Thanh niên, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Linh
Tác giả: Vi Thùy Linh
Nhà XB: NXB Thanh niên
Năm: 2000
11. Vi Thùy Linh (2005), Đồng tử, NXB Văn nghệ, Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đồng tử
Tác giả: Vi Thùy Linh
Nhà XB: NXB Văn nghệ
Năm: 2005
12. Nhiều tác giả (1998), Thơ tự do, NXB Trẻ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ tự do
Tác giả: Nhiều tác giả
Nhà XB: NXB Trẻ
Năm: 1998
13. John J Macionis (2003), Xã hội học, Trung tâm dịch thuật, NXB Thống kê, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học
Tác giả: John J Macionis
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2003
14. Hoàng Phê (2003), Từ điển tiếng Việt, NXB Đà Nẵng, Đà Nẵng Sách, tạp chí
Tiêu đề: Từ điển tiếng Việt
Tác giả: Hoàng Phê
Nhà XB: NXB Đà Nẵng
Năm: 2003
15. Phạm Thị Ngọc Thanh (2015), Khi mình đi qua nhau, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khi mình đi qua nhau
Tác giả: Phạm Thị Ngọc Thanh
Nhà XB: NXB Văn học
Năm: 2015
16. Đặng Thu Thủy (2011), Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay những đổi mới cơ bản, NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thơ trữ tình Việt Nam từ giữa thập kỉ 80 đến nay nhữngđổi mới cơ bản
Tác giả: Đặng Thu Thủy
Nhà XB: NXB Đại học Sư phạm
Năm: 2011
17. Bình Nguyên Trang (2016), Những người đàn bà trở về, NXB Phụ nữ, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Những người đàn bà trở về
Tác giả: Bình Nguyên Trang
Nhà XB: NXB Phụ nữ
Năm: 2016
18. Tuấn Thành - Anh Vũ (2015), Hồ Xuân Hương tác phẩm và lời bình, NXB Văn học, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hồ Xuân Hương tác phẩm và lời bình
Tác giả: Tuấn Thành - Anh Vũ
Nhà XB: NXB Vănhọc
Năm: 2015

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w