Rất nhiều những cây bút đã sử dụng yếu tố tự truyện như một thủpháp nghệ thuật để cách tân, làm mới tiểu thuyết.Như vậy, có thể nói, dù chưa thực sự trở thành “thương hiệu” cụ thể củamột
Trang 1ĐẠI HỌC HUẾ TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN VĂN TỔNG
ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT CÓ TÍNH CHẤT
TỰ TRUYỆN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
THẾ KỶ XX
LUẬN ÁN TIẾN SĨ VĂN HỌC VIỆT NAM
Trang 2HUẾ - 2019
Trang 3ĐẠI HỌC HUẾ
TRƯỜNG ĐẠI HỌC KHOA HỌC
NGUYỄN VĂN TỔNG
ĐẶC ĐIỂM TIỂU THUYẾT CÓ TÍNH CHẤT
TỰ TRUYỆN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM
Trang 4Người hướng dẫn khoa học:
TS TÔN THẤT DỤNG
TS HÀ NGỌC HÒA
HUẾ, 2019 LỜI CẢM ƠN
Xin chân thành cảm ơn TS Tôn Thất Dụng và TS Hà Ngọc Hòa - nhữngngười Thầy đã tận tâm giúp đỡ, dẫn dắt tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài
Vô cùng biết ơn quý Thầy Cô khoa Ngữ văn trường Đại học Khoa học,Đại học Huế và Viện Văn học đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ tôi trong học tập,nghiên cứu
Trân trọng cảm ơn Lãnh đạo trường Đại học Khoa học, Đại học Huế; PhòngĐào tạo Sau đại học trường Đại học Khoa học Huế; Lãnh đạo Sở Giáo dục và Đàotạo Phú Yên; Lãnh đạo Trường THPT Nguyễn Trường Tộ đã động viên, tạo điềukiện thuận lợi cho tôi trong thời gian qua
Xin cảm tạ cha mẹ, những người thân trong gia đình, đồng nghiệp, bạn bè…
đã chia sẻ cùng tôi suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành đề tài
Trang 5Nguyễn Văn Tổng
Trang 6LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu nêu trong luận án là trung thực, chưa từng được công bố trong bất kỳ một công trình nào khác.
Nguyễn Văn Tổng
Trang 8MỤC LỤC
Trang
Trang phụ bìa i
Lời cảm ơn ii
Lời cam đoan iii
Mục lục iv
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu 3
2.1 Mục tiêu 3
2.2 Nhiệm vụ 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2 Phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 5
4.1 Phương pháp tiểu sử 5
4.2 Phương pháp thống kê, phân loại 5
4.3 Phương pháp liên ngành 5
4.4 Phương pháp so sánh, đối chiếu 5
5 Đóng góp của luận án 5
6 Cấu trúc luận án 6
CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 7
1.1 Những nghiên cứu về tự truyện trên thế giới được giới thiệu ở Việt Nam 7 1.2 Những nghiên cứu về tự truyện và tiểu thuyết có tính chất tự truyện ở Việt Nam 8 1.3 Nhận xét và đánh giá về các tác phẩm cụ thể 16
1.3.1 Giai đoạn trước 1945 16
1.3.2 Giai đoạn từ 1945 đến 1975 20
Trang 91.3.3 Giai đoạn từ 1975 đến hết thế kỷ XX 24
1.4 Đánh giá về tình hình nghiên cứu và hướng triển khai đề tài 28
1.4.1 Đánh giá về tình hình nghiên cứu 28
1.4.2 Hướng triển khai đề tài 29
CHƯƠNG 2 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ DIỆN MẠO TIỂU THUYẾT CÓ TÍNH CHẤT TỰ TRUYỆN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XX 31
2.1 Giới thuyết về thể loại 31
2.1.1 Tiểu thuyết có tính chất tự truyện 31
2.1.2 Quan niệm về tự truyện 35
2.1.3 Quan niệm về tiểu thuyết tự truyện 37
2.1.4 Tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong mối quan hệ với các thể loại tương cận
392.1.5 Cơ sở hình thành tiểu thuyết có tính chất tự truyện 43
2.2 Diện mạo của tiểu thuyết có tính chất tự truyện thế kỷ XX 48
2.2.1 Giai đoạn từ đầu thế kỷ XX đến 1945 48
2.2.2 Giai đoạn từ 1945 đến 1975 52
2.2.3 Giai đoạn từ 1975 đến hết thế kỷ XX 55
CHƯƠNG 3 TIỂU THUYẾT CÓ TÍNH CHẤT TỰ TRUYỆN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XX - NHÌN TỪ CẢM QUAN HIỆN THỰC VÀ CON NGƯỜI 58
3.1 Hiện thực cuộc đời qua chiêm cảm của người trong cuộc 58
3.1.1 Hiện thực được tái hiện theo dòng hoài niệm59
3.1.2 Hiện thực qua cái nhìn hồi cố, chiêm nghiệm 64
3.1.3 Hiện thực qua góc nhìn phản tư 69
3.2 Từ nguyên mẫu nhà văn đến nhân vật 75
3.2.1 Từ con người thực đến nhân vật tự trình bày 75
3.2.2 Từ con người thực đến nhân vật hồi cố, chiêm nghiệm 79
3.2.3 Từ con người thực đến nhân vật phản tư 87
Trang 10CHƯƠNG 4 TIỂU THUYẾT CÓ TÍNH CHẤT TỰ TRUYỆN TRONG VĂN HỌC VIỆT NAM THẾ KỶ XX - NHÌN TỪ PHƯƠNG THỨC THỂ HIỆN
96
4.1 Người kể chuyện và điểm nhìn trần thuật 96
4.1.1 Người kể chuyện ở ngôi thứ nhất với điểm nhìn bên trong và sự thay đổi
điểm nhìn 96
4.1.2 Người kể chuyện ở ngôi thứ ba với điểm nhìn bên trong 103
4.2 Ngôn ngữ của tiểu thuyết có tính chất tự truyện 111
4.2.1 Ngôn ngữ kể và sự hòa phối giữa kể - tả - bình luận111
4.2.2 Ngôn ngữ gián tiếp tự do (lời nửa trực tiếp) 116
4.3 Giọng điệu trần thuật 119
4.3.1 Giọng trữ tình, hoài niệm 120
4.3.2 Giọng triết lý, chiêm nghiệm 126
4.3.3 Giọng tự trào, giễu nhại129
KẾT LUẬN 136
CÁC CÔNG TRÌNH KHOA HỌC ĐÃ CÔNG BỐ 140
TÀI LIỆU THAM KHẢO 141
PHỤ LỤC
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
1.1 Thuật ngữ tiểu thuyết tự truyện (tiếng Pháp gọi là autofiction, tiếng Anh/
Mỹ gọi là autobiographical novel), đến nay không còn quá xa lạ trong đời sống vănhọc Thuật ngữ này được biết đến lần đầu tiên vào năm 1977, khi Serge Doubrovsky
“đã sáng chế thuật ngữ ghép hai từ auto (chính mình) và fiction (hư cấu) dính liềnvới nhau” [20, tr.34] Trên thế giới, tiểu thuyết tự truyện bắt đầu nở rộ từ thế kỷ XX,
gắn liền với những tên tuổi lớn như: Ch Dickens (với David Copperfil), M Gorki (Thời thơ ấu, Kiếm sống, Những trường đại học của tôi), L Tolstoy (Thời thơ ấu,
Thời niên thiếu, Thời thanh niên), Aragon (Gã dân quê), Claude Simon (Điền viên, Cây keo), M Duas (Người tình) Tuy nhiên, điều đó không có nghĩa là nó đã trở
nên quen thuộc với mọi đối tượng độc giả cũng như được mọi người trong giớinghiên cứu, phê bình văn học thừa nhận Vì, ngay trong cách định nghĩa về thể loại,giới nghiên cứu, phê bình cũng không đồng nhất: có tài liệu thì định nghĩa tiểu
thuyết tự truyện là tự truyện viết dưới dạng trần thuật qua bút pháp hư cấu; có tài liệu thì định nghĩa tiểu thuyết tự truyện là Truyện trong đó tác giả vừa là người kể
vừa là nhân vật, họ cùng chia sẻ chung một danh hiệu với nhau, còn tên gọi thì chứng tỏ đó là tiểu thuyết …[20, tr 34 - 35] Ở Việt Nam, đến nay, tiểu thuyết tự
truyện vẫn chưa có được một danh xưng thể loại cụ thể Tuy nhiên, trong hành trình
Trang 12sáng tạo nghệ thuật, rất nhiều nhà văn đã sử dụng yếu tố tự truyện làm chất liệutrong tiểu thuyết Từ những thử bút ban đầu của các nhà văn ở chặng đường nửađầu thế kỷ XX như Tản Đà, Nguyên Hồng, Mạnh Phú Tư, Lan Khai cho đếnnhững cây bút sáng tác ở đô thị miền Nam: Thanh Tâm Tuyền, Mai Thảo, DuyênAnh, Võ Hồng, Túy Hồng… Đặc biệt, từ sau thời kỳ đổi mới, con số những tiểuthuyết có tính chất tự truyện xuất hiện khá đầy đặn trên văn đàn, tạo thành một dòngchảy mạnh mẽ Rất nhiều những cây bút đã sử dụng yếu tố tự truyện như một thủpháp nghệ thuật để cách tân, làm mới tiểu thuyết.
Như vậy, có thể nói, dù chưa thực sự trở thành “thương hiệu” cụ thể củamột nhà văn nào, và trong sự nghiệp sáng tác của từng nhà văn, tiểu thuyết có tínhchất tự truyện cũng xuất hiện khá khiêm tốn, con số những tác phẩm được xếp vàohàng kết tinh nghệ thuật cũng chưa thể sánh bằng với sự lớn mạnh của tiểu thuyết.Song, tiểu thuyết có tính chất tự truyện thực sự là một thực thể đang hiện hữutrong đời sống văn học Việt Nam Sự hiện diện của nó với tư cách là một tiểu loạitiểu thuyết là điều hoàn toàn không thể phủ nhận
Mặc dù đã hiện diện từ lâu trong đời sống văn học và nó vắt mình qua hai thế
kỷ, nhưng vẫn còn đó tâm lý nghi ngại: liệu ở Việt Nam đã có tiểu loại tiểu thuyết
có tính chất tự truyện? Đây cũng là vấn đề tạo không ít áp lực cho người nghiêncứu, nhưng đồng thời cũng kích thích sự hứng khởi khi đến với tiểu loại tiểu thuyếtnày Bởi, chúng tôi đang khảo sát và nghiên cứu một tiểu loại “rồi đây sẽ phát triểnthế nào, biến hóa ra sao? Chỉ có thời gian mới trả lời được câu hỏi này” [20, tr 40]
1.2 Những thập niên gần đây, tiểu thuyết có tính chất tự truyện ra đời ngày
một nhiều Cùng với đó là những nghiên cứu về tiểu thuyết có tính chất tự truyệncũng nhiều hơn Song, dù có thu hút được sự chú ý của giới nghiên cứu, phê bình
Trang 13nhưng xung quanh nó vẫn còn ngổn ngang nhiều vấn đề: từ cách định danh, tiêu chínhận diện đến đặc điểm tiểu loại vẫn còn là vấn đề chưa được giới nghiên cứu điđến sự thống nhất Ra đời vào những thập niên đầu thế kỷ XX, nhưng rõ ràng trong
hệ thống thể loại tiểu thuyết Việt Nam, nó vẫn là “đứa con sinh sau”, và nhịp lưuchuyển của nó vẫn còn trong quá trình vận động không ngừng, huống hồ nó cũng chỉmới được lưu tâm nhiều ở những năm gần đây Những bài báo, tham luận, nhữngnghiên cứu trực tiếp về tiểu loại, cùng với một số luận văn, luận án đi vào nghiên cứumột giai đoạn cụ thể nào đó vẫn chưa thể khái quát được toàn diện về tiểu loại này.Đây cũng là trở ngại lớn cho những người yêu thích tiểu thuyết có tính chất tự truyện.Đọc một tác phẩm mà trong công trình nghiên cứu này thì xếp vào hàng tự truyện,hoặc tiểu thuyết, còn ở công trình kia thì lại cho là “tự truyện bất thành”, hoặc mộthồi ký, giả tự truyện khiến người đọc không khỏi phân vân
Nhìn trên phương diện lý thuyết về tiểu loại cũng như thực tế sáng tác, tiểuthuyết có tính chất tự truyện ở Việt Nam hiện nay vẫn còn nhiều vấn đề đang bỏngỏ, đòi hỏi cần phải có một sự tiếp tục Đây cũng chính là lý do để chúng tôi chọn
“Đặc điểm tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam thế kỷ XX” làm
đề tài nghiên cứu nhằm tìm ra sự vận động, quá trình phát triển cũng như nhữngthành tựu đạt được cả về nội dung lẫn hình thức nghệ thuật, góp phần làm rõ hơndiện mạo của tiểu thuyết có tính chất tự truyện, một tiểu loại khá giàu tiềm năngđang trong quá trình vận động
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục tiêu
Với đề tài Đặc điểm tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt
Nam thế kỷ XX, tác giả luận án đặt mục tiêu nhận diện, lý giải những đặc điểm
Trang 14của tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam suốt chiều dài củathế kỷ XX.
Mục tiêu cụ thể
- Thông qua khảo sát tư liệu, nhận diện quá trình vận động và phát triển củatiểu thuyết có tính chất tự truyện, bước đầu xác lập cơ sở lý thuyết về tiểu loại tiểuthuyết này
- Phân tích, lý giải đặc điểm tiểu thuyết có tính chất tự truyện dựa trên nhữngnét đặc trưng cơ bản: từ nguyên mẫu nhà văn - đề tài - nhân vật, mối quan hệ giữa
sự thật và hư cấu trong tác phẩm
- Phân tích, lý giải những đặc trưng cơ bản của tiểu thuyết có tính chất tự truyệndựa trên những phương thức thể hiện: người kể chuyện, ngôn ngữ, giọng điệu Trên cơ
sở đó, làm rõ hơn gương mặt tiểu loại cũng như những đóng góp của tiểu thuyết có tínhchất tự truyện trong việc làm mới nghệ thuật tiểu thuyết
2.2 Nhiệm vụ
- Hệ thống hóa các hướng nghiên cứu, tiếp cận tiểu thuyết có tính chất tựtruyện đã có, phân tích, lý giải nhằm làm rõ hơn những chỗ còn bỏ ngỏ và xác địnhhướng nghiên cứu cụ thể
- Xác định rõ tiền đề cơ sở cho sự phát triển của tiểu thuyết có tính chất
tự truyện
- Khái quát một cách thật ngắn gọn về đối tượng nghiên cứu trong mối tươngquan tổng thể đời sống văn học Việt Nam và các lý thuyết vận dụng trong quá trìnhnghiên cứu
- Phân tích quá trình hình thành, phát triển của tiểu thuyết có tính chất tựtruyện dựa trên mối quan hệ giữa hiện thực cuộc đời tác giả và thế giới nghệ thuật
Trang 15trong tác phẩm qua các chặng đường khác nhau nhằm tìm ra quy luật vận động vànhững đặc điểm cơ bản trong nội dung phản ánh và nghệ thuật thể hiện của tiểuthuyết có tính chất tự truyện ở Việt Nam thế kỷ XX
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng khảo sát của luận án là những tiểu thuyết có tính chất tự truyệntrong văn học Việt Nam thế kỷ XX Đặc biệt, luận án sẽ đi vào khảo sát những tiểuthuyết có tính chất tự truyện hiện lên khá rõ nét Cụ thể là những tác phẩm tiêu biểu
sau: Giấc mộng lớn (Tản Đà), Những ngày thơ ấu (Nguyên Hồng), Dã tràng (Thiết Can), Bốc đồng (Đỗ Đức Thu), Chiếc cáng xanh (Lưu Trọng Lư), Ngậm miệng, Hai
người điên giữa kinh thành Hà Nội (Nguyễn Bính), Mực mài nước mắt (Lan Khai), Sống nhờ (Mạnh Phú Tư), Sống mòn (Nam Cao), Hoa bươm bướm và Người về đầu non (Võ Hồng), Trường cũ (Duyên Anh), Bếp lửa (Thanh Tâm Tuyền), Tôi nhìn tôi trên vách (Túy Hồng), Vòng tay học trò (Nguyễn Thị Hoàng), Thời xa vắng (Lê
Lựu), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán), Miền thơ ấu (Vũ Thư Hiên), Chuyện kể năm
2000 (Bùi Ngọc Tấn), Nỗi buồn chiến tranh (Bảo Ninh).
Luận án tập trung nghiên cứu tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn họcViệt Nam thế kỷ XX trên các phương diện cơ bản: Cách định danh tiểu loại; tiền đề
Trang 16cơ sở hình thành; sự vận động của tiểu thuyết có tính chất tự truyện qua các chặngđường khác nhau; các phương thức thể hiện của tiểu loại tiểu thuyết này.
Trên cơ sở đó, chúng tôi tổng hợp, đánh giá một cách khách quan những vấn
đề chung, liên quan đến lý thuyết về tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn họcViệt Nam Đồng thời, trong quá trình thực hiện đề tài, chúng tôi chú trọng đến đặcđiểm nổi bật nhất của tiểu loại tiểu thuyết này trong mối quan hệ với các thể loạivăn học khác
4 Phương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp tiểu sử
Chúng tôi vận dụng phương pháp tiểu sử nhằm tìm hiểu tác phẩm thông quamối quan hệ giữa tác giả và văn bản nghệ thuật do nhà văn sáng tạo nên Đây là mộttrong những phương pháp quan trọng giúp cho luận án có thêm cơ sở để tìm hiểudấu ấn tự truyện cũng như mối quan hệ giữa sự thật và hư cấu trong tiểu thuyết
4.2 Phương pháp thống kê, phân loại
Chúng tôi chọn lựa phương pháp này để tiếp cận đối tượng nghiên cứu nhằmthống kê, phân loại, hệ thống hóa và chọn lựa tài liệu
4.3 Phương pháp liên ngành
Nhằm để có một góc nhìn sâu hơn về tính chất tự truyện trong tiểu thuyếtViệt Nam thế kỷ XX, chúng tôi sẽ vận dụng một số lí thuyết về văn hóa học, thipháp học và tự sự học
4.4 Phương pháp so sánh, đối chiếu
Với phương pháp này, luận án hướng đến “giải mã” những đặc trưng của tínhchất tự truyện trong tiểu thuyết và khu biệt giữa tự truyện trong tiểu thuyết với cácloại hình tiểu thuyết khác Qua đó, luận án chỉ ra những nét đặc sắc của đặc điểm tự
Trang 17truyện trong tiểu thuyết Việt Nam thế kỷ XX.
5 Đóng góp của luận án
- Từ việc hệ thống hóa lý luận về tiểu thuyết có tính chất tự truyện, luận ánđưa ra những kiến giải có tính thực tiễn nghiên cứu để khái quát một số khái niệmmang tính đặc trưng của tiểu thuyết có tính chất tự truyện
- Định rõ những đặc trưng về mặt lý luận của tiểu thuyết có tính chất tựtruyện, lấy đó làm nền tảng cơ sở để soi rọi vào tác phẩm nhằm thấy được nhữngnét đặc trưng của tiểu thuyết có tính chất tự truyện
- Là một công trình nghiên cứu chuyên biệt, hệ thống về tiểu loại tiểu thuyết
có tính chất tự truyện nhằm hướng đến tái hiện toàn bộ gương mặt của tiểu loại nàytrong cả hành trình một thế kỷ (thế kỷ XX)
- Khẳng định rõ vai trò, vị trí của tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong quátrình vận động và phát triển của tiểu thuyết hiện đại Việt Nam
6 Cấu trúc luận án
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phụ lục, nội dung chínhcủa Luận án sẽ được triển khai thành các chương cụ thể sau:
- Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu
- Chương 2: Cơ sở lý luận và diện mạo tiểu thuyết có tính chất tự truyệntrong văn học Việt Nam thế kỷ XX
- Chương 3: Tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam thế
kỷ XX - Nhìn từ cảm quan hiện thực và con người
- Chương 4: Tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam thế kỷ
XX - Nhìn từ phương thức thể hiện
Trang 18CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU
1.1 Những nghiên cứu về tự truyện trên thế giới được giới thiệu ở Việt Nam
Tự truyện trong nguyên ngữ Hy Lạp là autos (chính mình), bios (cuộc đời),
và graphein (viết), nghĩa là “viết về chính cuộc đời mình” Cách kết hợp ba thành tốnày tạo thành autobiography trong tiếng Anh và sau đó được sử dụng trong tiếngPháp autobiographie, nhưng cách viết này trở thành một thuật ngữ thông dụng ởChâu Âu từ giữa thế kỷ XIX
Những tác phẩm tự truyện đầu tiên trên thế giới bắt đầu xuất hiện từ thời cậnđại ở Tây Âu Tuy nhiên, danh từ tự truyện chính thức được sử dụng phải đợi đếncuối thế kỷ XVIII, khi mà thể loại này bắt đầu nở rộ ở Châu Âu và Bắc Mỹ Nhữngtài liệu nghiên cứu đầu tiên về thể loại tự truyện xuất hiện vào khoảng đầu thế kỷ
XX với những chuyên khảo của Anna Robson Burr (1909), Wayne Shumaker(1926), A.M.Clark (1935) Dần về sau này, mặc dù tự truyện chưa tạo được sự lưutâm của giới phê bình nhưng nó vẫn tồn tại với tư cách một thể loại độc lập và nhiềunhà nghiên cứu cũng đã phác thảo được những nét cơ bản, xem nó như một thể loại
riêng biệt Trong số đó, phải kể đến Những điều kiện và giới hạn của Tự truyện (1956) của Georges Gurdorf, Tự thú và Tự truyện (1955) của Stephen Spendes Ở
hai công trình này, nhà phê bình đã chú ý đến sự tồn tại độc lập của tự truyện vớivai trò là một thể tài đứng bên cạnh những thể loại văn học khác Nhưng phải đợi
đến năm 1960, khi chuyên luận Phác thảo và Sự thật trong Tự truyện (Design and
Truth in Auubiography) của Roy Pascal ra đời thì tự truyện mới bắt đầu đượcnghiên cứu như “một hoạt động sáng tạo” Trong chuyên luận này, Pascal đã đặt
ra vấn đề: khởi điểm một tự truyện, tác giả tự truyện liệu có đi theo đúng sự thật
Trang 19mà mình đã trải qua? Có hay không cái gọi là phác thảo trong trải nghiệm của conngười nếu đây không phải là một sự áp đặt vô lí cho sự thật [164] Đến thập niên
70, nhà phê bình văn học người Mỹ James Olney trong một công trình nghiên cứu
về tự truyện của mình đã viết: “Chính sự chuyển hướng sang cái “tôi” khi đã cóđược nhận thức về sự tồn tại của nó sẽ định hình và quyết định bản chất của tựtruyện và trong quá trình ấy sẽ vừa khám phá vừa sáng tạo lại mình - đã khởi đầucho chủ đề tự truyện trong những cuộc tranh luận” [163] Từ những nghiên cứu vềcái tôi trong tự truyện ấy, những năm về sau, đặc biệt là khoảng ba thập niên cuốicủa thế kỷ XX, thể loại tự truyện được giới phê bình chú ý nhiều và thể loại nàygần như trở thành một trong những thể loại trung tâm, được soi chiếu dưới nhiềugóc độ khác nhau
Trong ba thập niên cuối của thế kỷ XX, cùng với sự nở rộ của thể loại tựtruyện, các nhà nghiên cứu, phê bình văn học không còn xem tự truyện thuộc hàng
“ngoại biên” nữa mà soi ngắm nó qua nhiều chiều kích khác nhau trong vai trò củamột thể loại văn học Chính nhờ thế mà cả một hệ thống lí luận thể loại cũng được
định hình một cách rõ nét Và một trong số đó phải kể đến Hiệp ước Tự thuật (Le Pacte Autobiographique) (1975) của Philippe Lejeune Hiệp ước này ra đời mang
theo một định nghĩa về thể loại, kèm theo đó là những ranh giới và bảng biểu, sơ đồ
cụ thể để phân biệt tự truyện với những thể loại khác Tuy nhiên, cũng trong nhữngnăm cuối của thập niên 70, cùng với “sự tuyên xưng cái chết của tiểu thuyết”, và khiMichael Sprinker tuyên bố “sự chấm dứt của tự truyện” thì các nhà hậu cấu trúcluận khẳng định “văn bản của tự truyện có đời sống riêng của nó, thoát ly khỏi tínhquy chiếu và khi đó cái tôi chỉ còn là vấn đề của văn bản” [64, tr 23] Nhưng trongkhoảng hai thập niên cuối thế kỷ XX, khi thể tự truyện ngày một thêm phong phú,
Trang 20vấn đề nghiên cứu về tự truyện lại được xuất hiện trở lại khá đầy đặn mà xem chừng
như những lí thuyết về tự truyện từ trước đó và cả Hiệp ước tự thuật của Philippe
Lejeune gần như không thể theo kịp đà phát triển đa dạng của thể tự truyện Nhiềunhà nghiên cứu tập trung đi vào khám phá thế giới tự truyện từ lĩnh vực tâm lí sángtạo và dân tộc học, từ văn hóa và tâm lí học nghệ thuật…
1.2 Những nghiên cứu về tự truyện và tiểu thuyết có tính chất tự truyện ở Việt Nam
Ở Việt Nam, ngay từ những ngày đầu, khi trang tiểu thuyết mang bóng dáng
tự truyện xuất hiện với gương mặt đầy lạ lẫm, thì giới học thuật của Việt Nam đã
bắt đầu chú ý đến bước đi của nó Trong số các công trình nghiên cứu, Nhà văn
hiện đại của Vũ Ngọc Phan có lẽ là công trình đầu tiên nghiên cứu về tự truyện
dưới góc nhìn thể loại Từ hướng tiếp cận này, Vũ Ngọc Phan đã có những pháthiện khá ấn tượng: “Tự truyện là một loại văn tuy không mới ở nước người, nhưngrất mới ở nước ta Gần đây có mấy nhà văn đem những việc của mình ra viết, nhưng
họ chưa có can đảm đề là tự truyện, họ “tiểu thuyết hóa” ít nhiều cuộc đời của họ và
đề là tiểu thuyết” [103, tr 95] Dần về sau, đặc biệt là chặng đường sau năm 1986,khi mà quan niệm và tư duy nghệ thuật thay đổi, tạo điều kiện cho sự xuất hiện củakhuynh hướng tự truyện ngày một nhiều đã thu hút được sự chú ý của các nhànghiên cứu, phê bình văn học Có lẽ vì thế nên những công trình nghiên cứu vềkhuynh hướng này cũng ngày một nở rộ
Theo Phong Lê, “Để nhớ về một quá khứ chưa xa, về một vùng hiện thựckhuất nẻo, khó có ai biết, nhưng đã được viết với tư cách người trong cuộc, nên khó
có ai viết thay, là Chuyện kể năm 2000, 2 tập (2000) của Bùi Ngọc Tấn, trong nối dài về trước với Tuổi thơ im lặng (1987) của Duy Khán, Cát bụi chân ai (1992) và
Trang 21Chiều chiều (1999) của Tô Hoài… Cũng có thể xếp vào đây Thượng đế thì cười
(2003) của Nguyễn Khải - một tiểu thuyết gần như tự truyện Với Tô Hoài, NguyễnKhải - những tên tuổi quan trọng của văn học hiện đại, thì điều quan trọng khôngchỉ là chuyện được kể, mà còn là giọng kể, cách kể” [66, tr 52] Cùng chung quan
điểm với Phong Lê, Nguyễn Văn Long trong Đổi mới của văn học Việt Nam từ sau
1975 cho rằng, xuất phát từ tinh thần đổi mới tư duy và nhìn thẳng vào sự thật của
văn học những năm cuối 80, đầu những năm 90 trong văn học Việt Nam đã pháttriển mạnh mẽ khuynh hướng nhận thức lại hiện thực Đây chính là lúc văn học trở
về với đời sống thường nhật và vĩnh hằng, vì thế, “Trong văn xuôi những năm 90 vàvài năm lại đây… Hồi kí - tự truyện lên ngôi…” [73]
Nghiên cứu về truyện và tự truyện của Phan Bội Châu, khi luận bàn về sựphát triển của thể tự truyện, Hoàng Đức Khoa nhận thấy trong bối cảnh văn hóatrung đại vốn nặng quan phương, khép kín nên khả năng con người tự ý thức vềmình và hướng tới khám phá, thể hiện từng số phận thực sự không dễ Chính nhữngthay đổi trong đời sống xã hội Việt Nam thời kỳ thực dân nửa phong kiến, cùng vớiquá trình tư sản hóa những năm nửa đầu thế kỷ XX đã tác động mạnh mẽ đến đờisống văn học Đây chính là bối cảnh ra đời tự truyện của Phan Bội Châu Theo tácgiả, tự truyện là truyện do các nhà văn viết về cuộc đời mình nhằm những mục đíchkhác nhau… Cũng chính trong thể loại này, tất cả những biến cố, sự việc, nhân vật
… đều được lấy từ cuộc đời thực của tác giả, không có sự hư cấu thêm, hoặc nóicách khác là không có sự hư cấu tự do [61, tr 119 - tr 128]
Sự lưu tâm một cách nồng nhiệt cho thể tự truyện ngày một đậm đặc hơntrong những năm về sau, đặc biệt là khi thể tự truyện ngày một lấn sâu vào đời sốngvăn học từ sau 1986 Tiếp cận tiểu thuyết Việt Nam thời kỳ đổi mới, nhà nghiên cứu
Trang 22Bích Thu đã trình bày ý kiến của mình về tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện.Với Bích Thu thì người đọc hôm nay muốn “được tiếp xúc với những tiểu thuyếttâm lý mà ở đó, nhân vật tự bộc lộ tư tưởng, chính kiến qua dòng chảy của nhậnthức, mọi hành vi, ứng xử và lời thoại ẩn sâu trong tâm trạng nhân vật và các tầngnghĩa Hoặc các tiểu thuyết mang tính tự truyện, vừa thể hiện cái “tôi” lại vừa hưcấu, vừa mang tính tiểu sử lại vừa được nghệ thuật hóa, tiểu thuyết hóa, một đặctrưng của tiểu thuyết hiện đại, có khả năng khai thác tiềm thức qua kỹ thuật dòng ýthức” [134, tr 6] Ở bài viết này, Bích Thu thực sự chú ý đến nét đặc trưng mangtính khu biệt của tiểu thuyết mang tính tự truyện, đó là người đọc dễ dàng nhận thấy
ở tiểu thuyết mang tính tự truyện vừa thể hiện cái “tôi” lại vừa hư cấu Có thể nói,chính cuộc sống thực tại của con người Việt Nam sau 1986 đã mang lại cho nhànghệ sĩ những quan niệm nghệ thuật về hiện thực với những khám phá mới Và ởđây, Bích Thu rất có lí khi cho rằng một trong những nguyên nhân làm cho tiểuthuyết có tính tự truyện ngày một xuất hiện nhiều trong văn học những năm trở lạiđây là bởi xã hội hiện đại đề cao vai trò của cá nhân và thúc đẩy sự thức tỉnh của ýthức cá nhân Cái tôi trỗi dậy đòi hỏi được quan tâm đúng mức Tiểu thuyết trở vềvới con người, thay đổi quan niệm nghệ thuật về con người, bảo tồn giá trị của conngười trước sự lãng quên của xã hội
Khi nghiên cứu về văn xuôi Việt Nam từ 1975 đến 1995, Nguyễn Thị Bình
cũng nhận ra “những tác phẩm mang dáng dấp tự truyện như Miền thơ ấu (Vũ Thư Hiên), Tuổi thơ dữ dội (Phùng Quán), Chuyện làng ngày ấy (Võ Văn Trực), Cát bụi
chân ai (Tô Hoài)… Với những tác phẩm này, cái tôi của người viết hiện diện rất
sắc nét qua cảm hứng nhận thức, đánh giá lại những gì đã trải nghiệm bằng điểmnhìn hiện tại” Từ những phát hiện ấy, Nguyễn Thị Bình đã lần tìm được dấu vết để
Trang 23làm nên phần cốt lõi của các tác phẩm mang bóng dáng tự truyện đó chính là “cáitôi” của người viết luôn gắn liền với cảm hứng nhận thức, đánh giá lại những gì màchính người viết đã từng trải nghiệm trong thực tiễn cuộc sống của mình [10].Trong một công trình nghiên cứu khác, khi khảo sát một số khuynh hướng tiểuthuyết ở nước ta từ thời điểm đổi mới cho đến nay, căn cứ vào cách thức xử lí chấtliệu hiện thực trong tác phẩm, Nguyễn Thị Bình cũng nhận ra được bên cạnh nhữngtiểu thuyết theo phong cách lịch sử hóa, tiểu thuyết tư liệu - báo chí, tiểu thuyết hiệnthực kiểu truyền thống, tiểu thuyết theo phong cách hiện thực còn có khuynh hướngtiểu thuyết theo phong cách tự thuật Đây có thể được xem là một trong nhữngkhuynh hướng tiểu thuyết chính trong dòng văn học đương đại Việt Nam.
Có thể nói, chính thời kì đổi mới của đất nước từ sau năm 1986 đã làm chovăn học Việt Nam thực sự có được sức sống mới Gần như cảm hứng ngợi ca củanhững trang văn mang đậm khuynh hướng sử thi không còn là mảnh đất lí tưởng
để các nhà văn hướng đến Vì vậy, khi nhìn vào hiện thực của văn học chặngđường sau năm 1986, nhà nghiên cứu Lã Nguyên xem đây là cả một bước “chuyểnmình” thật sự của văn học để tiến tới “phá cái khoanh vùng hết sức hình thức của
đề tài văn học trước kia” Và văn học hôm nay đang hướng tới những gì đang hiệnhữu giữa cuộc sống đời thường “Nhà văn hôm nay đang nêu tấm gương về sựdám nghĩ, dám nói, dám thẳng thắn bày tỏ lập trường công dân của mình Ta hiểu
vì sao văn học trong những năm gần đây dám bất chấp cả những điều cấm kỵ xưanay và phạm vi những vấn đề xã hội mà nó quan tâm lại rộng lớn đến như thế”[87] Nếu như trước năm 1975, vận mệnh sống còn của Tổ quốc luôn là lựa chọnđầu tiên của người cầm bút, thì chặng đường sau 1975, sự thức tỉnh của ý thức cánhân đã chiếm thế thượng phong trên bàn cân bút lực người viết: “Việc nhận thức
Trang 24đúng đắn vị trí của nhân dân trong đời sống xã hội, buộc nhà văn tìm đến chỗđứng phát ngôn bình đẳng với công chúng bạn đọc của mình Đó là cơ sở nảy sinhhình thức văn học của ý thức đối thoại thấm nhuần tinh thần dân chủ” [87] Nhàvăn, nhân vật trần thuật của văn học hôm nay không mấy khi xuất hiện trong tácphẩm ở ngôi thứ ba như con người tuy vô hình nhưng đầy quyền uy, biết hết, thấytất, mà thường giấu mình sau hình thức tự thú, hình thức người kể chuyện ở ngôithứ nhất - đó là một biểu hiện của ý thức đối thoại Nhìn thẳng vào thực tại, tỉnhtáo nhận ra mình, nói hết sự thật với người đọc, dù sự thật đó có xót xa, đau lòngđến bao nhiêu cũng không bưng bít, giấu giếm - đó cũng là một biểu hiện của ýthức đối thoại… Con người với tư cách là cá nhân thường bị bỏ rơi trong thế giớicủa sử thi là vì thế Sau 1975, nền văn học của chúng ta đã nhanh chóng chuyển từthế giới vĩ mô sang thế giới vi mô, từ thế giới của cộng đồng, dân tộc và lịch sửđến những câu chuyện về thế sự và đời tư con người Cho nên, cá nhân con người
“đang từng bước, từng bước tiến vào vị trí trung tâm của văn học hôm nay Cánhân con người vừa là đối tượng nhận thức trung tâm, vừa là điểm xuất phát đểvăn học hôm nay nhìn ra thế giới Nó soi ngắm thế giới và định giá lịch sử qualăng kính và mực thước của cá nhân con người” [87]
Quan sát văn học và nền kinh tế thị trường trong mười năm cuối thế kỷ XX,Nguyễn Phượng nhận thấy các giá trị từng một thời là niềm tin mãnh liệt của conngười Việt Nam giờ đây đứng trước thời kì đổi mới, nó đang thực sự bị lung lay dữdội - Điều này thể hiện rất rõ ở sự thay đổi về nhận thức về các giá trị… “cái thiêngliêng cao cả, cái lí tưởng mặc dù nó vẫn còn sức hấp dẫn nhưng nó không phải làđối tượng duy nhất mà người cầm bút hôm nay hướng tới” Từ hướng tiếp cận kháiquát văn học Việt Nam khoảng 10 năm cuối thế kỷ XX, trong xu hướng “giải ảo”,
Trang 25“giải thiêng” - nảy sinh từ cái nhìn “tỉnh táo”, “duy thực” đầy can đảm của các nhàvăn trong hoàn cảnh đất nước trở lại nhịp sống đời thường, con người trở về vớicuộc sống thường nhật hằng ngày, Nguyễn Phượng đã thấy được “thể loại hồi ký, tựtruyện và tiểu thuyết tự truyện lại gần như chiếm thế thượng phong trong giai đoạnnày Công chúng dành một sự quan tâm khá đặc biệt với một số tiểu thuyết tự
truyện và hồi ký xuất hiện trong giai đoạn này như Cát bụi chân ai (1992 ) và Chiều
chiều (1999 ) của Tô Hoài, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn…” [110].
Đánh giá về tiểu thuyết trong văn học thời kì đổi mới, Mai Hải Oanh đãkhông ngần ngại khi đưa ra nhận định: “Ra đời trong không khí dân chủ, tiểu thuyết
tự thuật thời kì đổi mới khá đa dạng Có loại đậm chất giễu nhại như Thượng đế thì
cười, Ba người khác; có loại nói về những chua chát đời người (Chuyện kể năm 2000), có loại nói đến những cảm nhận cá nhân về điều đã trải nghiệm trong đó có
những đoạn gần với nhật kí (Chuyện của thiên tài)’’ [100, tr 112] Cách định dạng,
gọi tên tiểu thuyết tự thuật thời kì đổi mới của Mai Hải Oanh cần phải bàn luậnthêm, nhưng trong nhận định này người viết đã có một cái nhìn khá chuẩn xác khicho rằng chính thời kì đổi mới đã mang đến cho thể tiểu thuyết những diện mạomới, đầy sức hấp dẫn
Trong cuộc Hội thảo Đổi mới tư duy tiểu thuyết (2002), Ma Văn Kháng đã
từng nói: “Cùng với tiểu thuyết tư liệu, tiểu thuyết tự thuật sẽ là một thể loại đượcphát triển” Đây phải chăng là sự tiên liệu thể hiện góc nhìn đầy lạc quan của một
“người trong cuộc”? Người mà gần như hành trình viết của ông ở chặng đường từ
sau thời kì đổi mới, từ Mùa lá rụng trong vườn, đến Ngược dòng nước lũ hay Một
mình một ngựa… người đọc đều có thể nhận thấy đâu đó chất liệu đời tư của ông
gần như ngồn ngộn trên trang tiểu thuyết [57, tr 67]
Trang 26Nghiên cứu về sự vận động của các thể loại văn xuôi trong văn học thời kìđổi mới, Lý Hoài Thu cũng có quan điểm tương đồng với nhà văn Ma Văn Khángkhi cho rằng: “Nhìn vào sự vận động và phát triển của hệ thống thể loại trong vănhọc thời kì đổi mới… sự thâm nhập của thể ký vào “lãnh địa” của tiểu thuyết đã tạonên một dòng tiểu thuyết tự truyện có sức hút lớn trong đời sống văn học đương đại.Chính từ những vùng này, các thể loại cũ đã có thêm nhiều tố chất mới” [136].
Trong Thế kỷ tiểu thuyết, khi bàn về hiện tượng tự truyện, Nguyễn Vy Khanh
đã viết: “Ngay từ đầu thế kỷ XX đã có tự truyện với cuốn đầu tiên là Chồn cáo tự
sự của Michel Tính xuất bản năm 1910 tại Sài Gòn Sau đó là Nguyên Hồng với Những ngày thơ ấu (1938) và Thiết Can với Dã Tràng (1939)…” Trong bài viết
này, Nguyễn Vy Khanh viết: “Thế kỷ XX, ít tác giả đưa cái Tôi thật vào vănchương, có chăng cũng phải văn chương hóa, tiểu thuyết hóa… Vào giai đoạn cuốithế kỷ mới thật sự bành trướng thể loại tự truyện nhưng vẫn tương đối ít tác phẩmlớn vì đa phần chỉ là những hồi ký nhẹ tính văn chương” [56]
Sự đầy đặn của tiểu thuyết có tính tự truyện ngày thêm bồi đắp trong vănhọc Việt Nam đương đại đã tạo thành một khuynh hướng Nhờ thế nên tiểu thuyết
Việt Nam mang nhiều hương sắc mới Trong bài viết Khuynh hướng tự truyện
trong tiểu thuyết Việt Nam đương đại, Đỗ Hải Ninh cho rằng nền văn học Việt
Nam bắt đầu từ sau thời kì đổi mới đã thực sự có những bước tiến đáng kể, đặcbiệt là sự thay đổi trong quan niệm về hiện thực và con người, quan niệm về nhàvăn trong mối quan hệ với tác phẩm, với công chúng và với chính mình Đâychính là tiền đề cơ sở để khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết Việt Namđương đại trở nên khá phổ biến so với văn học giai đoạn 1945 - 1975 Theo ĐỗHải Ninh, “Khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết giúp người đọc không chỉ
Trang 27giải mã con người tác giả và thời đại qua những chi tiết gắn với tiểu sử, cuộc đờithật mà qua những trải nghiệm sống và sự tự thú chân thành” [97] Với Đỗ HảiNinh thì mỗi nhà văn khi cầm bút đều xuất phát từ nhu cầu giải phóng tư tưởng vàbộc lộ cái tôi cá nhân Vì vậy, có thể tìm thấy ở mỗi trang viết những trải nghiệm,suy ngẫm và cái tôi rất riêng Và mục đích của tự truyện là tìm hiểu một con người
có thật với lịch sử hình thành nhân cách, còn tiểu thuyết, mặc dù cũng sử dụngnhân vật, cốt truyện đó nhưng được hư cấu hóa, hoặc được cấp cho một lớp vỏ hưcấu Căn cứ từ thực tiễn ấy, Đỗ Hải Ninh khẳng định: “Văn học Việt Nam từ sauđổi mới đã có những thay đổi đáng kể trong quan niệm về hiện thực và con người,quan niệm về nhà văn trong mối quan hệ với tác phẩm, với công chúng và vớichính mình Đó chính là cơ sở để khuynh hướng tự truyện trong tiểu thuyết ViệtNam đương đại trở nên khá phổ biến” [97] Trong một bài viết khác, khi đi sâuvào khai thác mối quan hệ giữa tự truyện - tiểu thuyết và một số dạng tự thuậttrong văn học Việt Nam đương đại, dù biết rằng quy luật giao thoa thể loại vànhững nỗ lực cách tân nghệ thuật khiến cho việc phân biệt tự truyện và tiểu thuyết
tự thuật ngày càng trở nên khó khăn hơn, nhưng Đỗ Hải Ninh cũng đã cố gắngluận giải vấn đề này một cách rành mạch: “Trong tự truyện, cuộc đời tác giả vàbức chân dung tinh thần của ông ta trở thành đối tượng chính, tham gia trực tiếpvào tác phẩm như một bộ phận hữu cơ Còn ở tiểu thuyết tự truyện, những chi tiếttiểu sử được nhào nặn lại, câu chuyện cuộc đời được cấu trúc và sắp xếp lại, tức làtác giả tách khỏi những yếu tố đời tư để thể hiện với một độ gián cách nhất định”[99] Vì nếu như tự truyện là dạng văn bản có tính quy chiếu, thì những tiểu thuyết
tự thuật là những hư cấu nghệ thuật dựa trên nền tiểu sử tác giả, chính đời tư củatác giả là nguồn chất liệu cơ bản để giúp tác giả viết thành những trang tiểu thuyết
Trang 28Khi tiến hành khảo sát văn xuôi Việt Nam trong chặng đường từ sau 1990 để
lý giải về hiện tượng tự thuật trong sáng tác văn xuôi của các tác giả nữ, Hồ KhánhVân đã chỉ ra nguyên nhân khiến cho khuynh hướng viết tự truyện ngày một xuấthiện nhiều trong văn học Việt Nam, đặc biệt là trong sáng tác của những cây bút nữ
là vì “tự thuật vừa là điểm nhìn, là vị trí mà từ đây, các cây bút khái quát hóa và táihiện đời sống hiện thực, là cảm hứng sáng tác hình thành nên thế giới của tác phẩm
từ khuynh hướng tư tưởng, nội dung phản ánh cho đến bút pháp nghệ thuật, là hệsinh thể hình tượng hiện hữu trên bề mặt tác phẩm” [160] Theo Hồ Khánh Vân, cáctác phẩm viết theo lối tự truyện có “mật độ tự thuật dày đặc, gần như là một “bảndập” của cuộc đời nhà văn Ở đó, không khí của tác phẩm, cốt truyện, nhân vật, tìnhtiết, đều sát với cuộc đời thực của tác giả và người đọc có thể nhận ra, kiểm chứngđược Ở đó, bóng dáng nhà văn và nhân vật trung tâm như hai vòng tròn đồng tâm
và có cùng bán kính” [160]
Cùng chung hướng tiếp cận của Hồ Khánh Vân, nhưng Trần Huyền Sâm lạitiếp cận những tác phẩm tiểu thuyết nữ Việt Nam đương đại dưới góc nhìn nữquyền Ở góc tiếp cận này, Trần Huyền Sâm đã có những kiến giải khá thỏa đángkhi cho rằng: “Tự thuật không phải là đặc tính riêng của nữ giới, nhưng đây là nét
ưu trội nhất làm nên bản mặt của văn phong nữ giới Tự thuật vừa là phương tiệnvừa là đối tượng phân tích trong sáng tác nữ giới” [116] Trần Huyền Sâm cũngkhẳng định: “Đó là phương thức để nữ giới thể hiện sự nếm trải giới tính, đồng thời
là mục đích để giải phóng những kìm hãm của bản thân” [116]
Tự truyện và tiểu thuyết có tính chất tự truyện ở nước ta đã có cả một chuỗithời gian dài hình thành và phát triển Tuy nhiên, cho đến nay, so với các thể loạikhác dường như nó vẫn chưa được nhiều sự ưu ái của các nhà nghiên cứu, phê bình
Trang 29văn học Theo khảo sát của chúng tôi, đã có một số tác giả chú ý khảo sát các tácphẩm tự truyện và tiểu thuyết có tính chất tự truyện nhưng nhìn chung chỉ dừng lại
ở việc kết hợp trong nhận định, đánh giá Hoặc nếu có thì cũng chỉ dừng lại ở mức
khảo sát một chặng đường ngắn (Tiểu thuyết có khuynh hướng tự truyện trong văn
học Việt Nam đương đại của Đỗ Hải Ninh), chưa có một công trình thật sự chuyên
sâu nào đi vào nghiên cứu về tự truyện và tính chất tự truyện trong tiểu thuyết ViệtNam thế kỷ XX
1.3 Nhận xét và đánh giá về các tác phẩm cụ thể
1.3.1 Giai đoạn trước 1945
Khảo sát chặng đường một thế kỷ, từ lúc những dấu vết ban đầu của tiểuthuyết có tính tự truyện xuất hiện cho đến khi tiểu loại này hợp vào dòng chủ lưucủa tiểu thuyết Việt Nam, chúng tôi nhận thấy sự tồn tại của tiểu thuyết có tính chất
tự truyện là nhờ “sự đọc” của công chúng độc giả qua mọi thời đại, trong đó có sựgóp mặt của những siêu độc giả, những người gần như là nhịp cầu nối để đưa tiểuloại này đến gần hơn với công chúng
Sau đây, chúng tôi điểm lược những bài viết, những công trình nghiên cứu vềtiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Nam giai đoạn trước 1945
Từ những năm đầu thế kỷ XX, khi Nguyên Hồng viết cuốn Những ngày thơ
ấu, Thạch Lam, một trong những cây bút chủ lực của nhóm bút Tự lực văn đoàn đã
không ngần ngại hạ bút đánh giá về Những ngày thơ ấu như sau: “nó là sự rung
động cực điểm của một linh hồn trẻ dại lạc loài trong những lề lối khắc nghiệt của
một gia đình sắp tàn” [62] Và khi chọn đưa Nguyên Hồng vào Nhà văn hiện đại,
trong phần nhận xét về Nguyên Hồng, Vũ Ngọc Phan cũng đã quả quyết rằngNguyên Hồng chính là “người Việt Nam thứ nhất dám kể về gia đình mình” bằng
Trang 30những dòng tự bạch chân thành: “Thầy tôi làm nghề cai ngục, mẹ tôi con nhà buôn
bán…” Ông viết: “Trong Những ngày thơ ấu, Nguyên Hồng đã cho ta biết rõ hẳn
một quãng đời quá khứ của ông Lối tự truyện này, ở Anh, ở Mỹ, ở Nga, rất thịnhhành; nhưng ở Việt Nam ta, viết được, tôi cho là can đảm lắm” [104, tr 126] Đánhgiá về tác phẩm này, chủ yếu Vũ Ngọc Phan bàn về tính tự truyện như là “bản chất”thể loại của tác phẩm qua góc nhìn so sánh Và Vũ Ngọc Phan, một người khá thậntrọng cũng phải thốt lên: “Mới đọc tập tự truyện của Nguyên Hồng, tôi đã tưởng códưới mắt một quyển sách của một nhà văn Anh hay một nhà văn Nga.” [104, tr 126].Phải chăng Vũ Ngọc Phan đang muốn nói đến sự dũng cảm của một con người dámthành thật trong việc tự thú “trần trụi” về cuộc đời mình? Cho đến những năm về
sau, và cả đến hôm nay, Những ngày thơ ấu của Nguyên Hồng vẫn được công
chúng độc giả luôn quan tâm bằng cả niềm trân trọng
Phan Cự Đệ, một chuyên gia nghiên cứu về Nguyên Hồng, trong phần giới
thiệu về Tuyển tập Nguyên Hồng từng bộc bạch: “Tôi nhớ lúc còn ngồi trên ghế nhà trường trung học, một lần phải dịch ra Pháp văn một đoạn trong Những ngày
thơ ấu, cái đoạn nói về tiếng kèn Đã bao năm qua rồi mà tôi vẫn không thể quên
được cái tiếng kèn náo nức, dồn dập, rung vang đó” [21, tr 2] Và khi đánh giá về
ngòi bút Nguyên Hồng trong Những ngày thơ ấu, Phan Cự Đệ đã đặc biệt chú ý
đến văn phong, yếu tố làm nên nét đặc trưng của ngòi bút Nguyên Hồng trong
Những ngày thơ ấu, đó là lối miêu tả không những tinh tế mà còn có khả năng làm
thức dậy mọi giác quan của người đọc “Trong tập tiểu thuyết - tự truyện rất xúcđộng này, Nguyên Hồng đã lắng nghe được những âm vang sâu lắng của tâm hồn,ghi nhận được những cảm giác tinh tế tự bên trong, miêu tả một thiên nhiên đầythanh sắc và tất cả đều được thể hiện qua màu sắc chủ quan của cái tôi trữ tình hồn
Trang 31nhiên, trong sáng…” [21, tr 2].
Nhà phê bình Nguyễn Ngọc Thiện lại có một cách nhìn nhận khác Ông
cho rằng Những ngày thơ ấu là một cuốn “Hồi kí tự truyện” đặc sắc Ông viết:
“Nếu như trong văn học thế giới, người ta ghi nhận J.J.Rutxô với Những lời bộc
bạch mở đầu cho thể tài tự truyện, thì trong văn học Việt Nam hiện đại, phải
chăng chúng ta cần ghi nhận Nguyên Hồng với Những ngày thơ ấu đã mở đầu cho thể tài hồi ký - tự truyện” Về phần định danh Những ngày thơ ấu là cuốn
“hồi kí tự truyện” của Nguyễn Ngọc Thiện cần phải bàn luận thêm Tuy nhiên,
bài viết đã chạm đến phần cốt lõi, phần làm nên sức sống vững bền của Những
ngày thơ ấu trong lòng độc giả chính là: “Giá trị hiện thực, giá trị nhân đạo trong
tư tưởng và bút pháp nghệ thuật của tác phẩm đã khiến tác phẩm tồn tại bềnvững qua thử thách của thời gian” [132]
Tiểu thuyết Dã tràng của Thiết Can tuy không tạo nên “làn sóng” bất ngờ
trong đời sống văn học đương thời, nhưng nó cũng được Vũ Ngọc Phan lưu tâm
đến Theo như Vũ Ngọc Phan, trong Dã tràng, “Thiết Can cũng cho ta biết cái phần
đời đầy tội lỗi nhỏ nhen của ông ta, nhưng ông cho biết một cách kín đáo ở tên
Đông, trong tập Dã tràng, một tập văn chưa dám mang rõ hẳn cái danh là tự
truyện” [103, tr 96]
Cùng thời với Dã tràng của Thiết Can, còn có tiểu thuyết Bốc đồng của nhà
văn Đỗ Đức Thu Đây cũng là một trong những tác phẩm mà tính chất tự truyện
nhuốm tràn lên cả trang tiểu thuyết Khi đánh giá về Bốc đồng của Đỗ Đức Thu,
Vũ Ngọc Phan viết: “Bốc đồng mà đặt vào loại tiểu thuyết thì chỉ là một tiểu
thuyết rất tầm thường Tác giả dựng truyện đã bừa bãi, rặt những chuyện con con,nối với nhau một cách sơ sài, kết cấu cũng lại không được khéo”[104, tr 172] Đi
Trang 32vào khám phá tác phẩm Bốc đồng, Vũ Ngọc Phan cũng nhận ra được những hạn
chế nhất định của cuốn tiểu thuyết này và dường như nhà văn Vũ Ngọc Phan
không mấy có “thiện cảm” với lối viết của Đỗ Đức Thu trong Bốc đồng Có lẽ vì thế nên Vũ Ngọc Phan mới viết những dòng như sau: “Đọc xong Bốc đồng, người
ta có cái cảm tưởng như vừa mới duyệt qua một nhóm người đứng lộn xộn, mộtbọn người trông không rõ hình thù, hầu hết đứng thập thò, không nhận hẳn được
vẻ mặt một ai” [104, tr 172]
Cùng chung trong dòng chảy của văn học hiện thực, sự xuất hiện của Mạnh
Phú Tư với những trang tiểu thuyết có tính cách “đặc Việt Nam” của ông qua Sống
nhờ vẫn kịp lưu lại dấu ấn trong lòng công chúng Ở tác phẩm này, Vũ Ngọc Phan
nhận thấy một Mạnh Phú Tư “tiến bộ một cách lạ” Phải chăng sự tiến bộ ấy nảysinh từ “những điều quan sát tỉ mỉ, những sự xét nhận tinh tế và ở cả giọng thành
thật” mà nhà phê bình nhìn thấy trong Sống nhờ [103, tr.74].
Bùi Huy Phồn với bài Sống nhờ của Mạnh Phú Tư đã đi vào phân tích khá
tỉ mỉ những giá trị về nội dung và nghệ thuật của tác phẩm, để rồi từ đó, ông điđến khẳng định những thành công và giá trị của tác phẩm là ở chỗ: thông qua tácphẩm này, Mạnh Phú Tư đã lột tả được “bộ mặt trái của xã hội cũ ở nông thônViệt Nam thối nát, lọc lừa, kèn cựa tàn nhẫn với cái luân lí vô đạo đức không cònchút gì nhân đạo” [107]
Năm 1983, khi nhà xuất bản Văn học cho tái bản lại tác phẩm Sống nhờ, trong phần giới thiệu về tác phẩm, có đoạn viết: “Sống nhờ khai thác những mâu
thuẫn dai dẳng bên trong những gia đình nông dân do chế độ tư hữu và tâm lí cổ hũ
của người sản xuất nhỏ gây ra Qua Sống nhờ, một vấn đề khác đang nổi lên khá
đậm là tình cảm người phụ nữ đày ải bởi những hủ tục phong kiến” [152]
Trang 33Trong các tiểu thuyết có tính chất tự truyện của văn học Việt Nam nửa đầu
thế kỷ XX, Mực mài nước mắt của Lan Khai cũng là một trong những hiện tượng
văn học tạo sự chú ý đáng kể trong công chúng độc giả thời bấy giờ Bàn về tác
phẩm Mực mài nước mắt của Lan Khai, nhà văn Vũ Ngọc Phan nhận xét: “Mực mài
nước mắt tuy là một tiểu thuyết mà kỳ thật như một chuyện tâm sự, người đọc phải
ngờ tác giả đã trút bỏ một phần của mình để tạo nên Khải, vai chính trong truyện, vìtác giả đã không ngần ngại đem cả Vũ Trọng Phụng, người bạn của mình vào” [103,
tr 221] Đi sâu vào tìm hiểu tác phẩm này, Vũ Ngọc Phan cũng tìm ra được nhữngmảng hiện thực của người nghệ sĩ “sống về nghề văn ở đất nước Việt Nam là sốngmột cảnh khổ nhục, tinh thần không những phải làm nô lệ vì những cái vật chất, màrồi những cái cao cả mà nhà văn muốn đi tới cũng phải tàn tạ với những cảnh khốn
cùng” Theo Vũ Ngọc Phan, Mực mài nước mắt của Lan Khai thuộc loại “tiểu
thuyết tâm tưởng” Ông viết: “Ở nước ta, đến nay loại tiểu thuyết tâm tưởng chưa cómấy người viết Loại ấy là loại khó, vì hơi hờ hững về động tác, giọng văn đã ngả
về bút kí ngay” [103, tr 221]
So với những cây bút trong dòng văn học hiện thực phê phán, sự xuất hiệncủa Nam Cao có vẻ như là “người đến sau”, nhưng bằng những tác phẩm của mình,ông cũng đã kịp góp mặt vào dòng văn học hiện thực đương thời những trang văn
có thể được xếp vào hàng tuyệt bút Trong số những trang văn ấy phải kể đến Sống
mòn Đến với Sống mòn, người đọc như chạm vào cả một hiện thực “đời tàn trong
ngõ hẹp” của người trí thức nghèo trước Cách mạng Tháng 8 Đỗ Đức Hiểu từng
xem tiểu thuyết Sống mòn là một quyển tiểu thuyết “kiểu tự thuật, khi viết ở ngôi
thứ ba, nó như một độc thoại dài, với những dằn vặt, day dứt, với những câu hỏi lớn
về cuộc sống, gợi đến “Sống hay không sống”; từ chương này đến chương khác,
Trang 34Thứ, nhân vật trung tâm, khao khát sống cho ra sống, lùi lại, hèn nhát, lại ước mơ,
hi vọng một cuộc đời có ý nghĩa” [39, tr 337] Dõi theo từng dòng, từng trang trongsuốt chiều dài 20 chương của truyện, Đỗ Đức Hiểu cũng đã thấy được một NamCao “có cái nhìn thấu suốt vào con người, vào những uẩn khúc rối ren của một tìnhcảm, một hành động và biểu đạt cái nhìn ấy bằng một văn phong điềm đạm, trở đi,trở lại nhiều lần một vấn đề, bằng cấu trúc truyện khi lan tỏa, khi tập trung, tất cảxoay quanh một quãng đời day dứt, ngày càng xuống cấp” [39, tr 337]
Phong Lê khi đánh giá về Sống mòn của Nam Cao cũng đã từng xem Sống
mòn như một kiểu tự truyện của Nam Cao Với Phong Lê, Sống mòn tựa như tấm
gương phản chiếu hiện thực đời tư của Nam Cao: “đó là một tiểu thuyết có thể đọcnhiều lần Đọc lại rồi lại đọc Đọc để hiểu Nam Cao, hiểu một thế hệ trí thức kiểuNam Cao và hiểu một thời thanh niên Nam Cao đã sống Đồng thời cũng như mộtcách tự soi lại con người mình, thế hệ mình” [67, tr 343] Ông cũng quả quyết: “có
lẽ Nam Cao là người đầu tiên, và cũng là người cuối cùng của văn học hiện thựcViệt Nam cho ta cảm nhận được một cách đầy đủ hơn bất cứ ai cái dư vị nhạt phèo
Có thể những nghiên cứu về tiểu thuyết có tính chất tự truyện ra đời trong
Trang 35chặng đường trước 1945 được viết ở những thời điểm khác nhau Nhưng nhìnchung, những nghiên cứu này thường thiên về tính khái quát, hoặc chỉ đi vào khaithác những nét đơn lẻ của tác phẩm cả trên phương diện nội dung lẫn nghệ thuật.Tuy nhiên, đây cũng là những dầu hiệu cho thấy sự lưu tâm của các nhà nghiên cứu
về tiểu loại này bắt đầu ngay từ khi nó được hình thành
1.3.2 Giai đoạn từ 1945 đến 1975
Bẵng đi một thời gian, từ 1945 đến 1954, tiểu thuyết có tính chất tự truyệngần như không xuất hiện trên văn đàn Đến những năm sau 1954, dòng tiểu thuyếtnày mới trở lại trong lòng đô thị miền Nam và cả ở vùng kháng chiến, với các tác
phẩm như: Vòng tay học trò của Nguyễn Thị Hoàng, Bếp lửa của Thanh Tâm Tuyền, Tôi nhìn tôi trên vách của Túy Hồng, Người về đầu non và Hoa bươm bướm
của Võ Hồng… Sự xuất hiện của các tác phẩm này có thể được xem là những thànhtựu đáng ghi nhận của tiểu thuyết có tính chất tự truyện trong văn học Việt Namchặng đường từ sau 1954 đến 1975
Tuy nhiên, việc nghiên cứu tiểu thuyết có tính chất tự truyện ở giai đoạn nàycòn khá khiêm tốn, chưa có những công trình chuyên sâu Phần lớn các tiểu thuyếtnày, được các nhà nghiên cứu nhìn nhận và đánh giá trên phương diện tổng thể
trong việc nghiên cứu về thể loại tiểu thuyết đương thời như: Tiểu thuyết năm 1961 của Cô Phương Thảo đăng trên Bách khoa (121) ngày 15/1/1962; Nhận định về tiểu
thuyết hiện đại của Nguyễn Ngu Í, đăng trên Bách khoa số 136, ngày 1/9/1962; Tình hình tiểu thuyết trong năm 1964 của Thu Thủy (Tin sách tháng 2/1965); Sinh hoạt tiểu thuyết một năm qua của Nhật Tiến đăng trên Bách Khoa số 265 - 266
(15/1/1968)… Những nghiên cứu này đã có cái nhìn tổng thể về tiểu thuyết của cáctác giả ở đô thị miền Nam từ những thành công cũng như hạn chế trong từng tác giả
Trang 36qua các tác phẩm cụ thể.
Nghiên cứu về văn học đô thị miền Nam, khi nói về tác phẩm Người về đầu
non, tác giả Trần Xuân An viết: “Đó là chuyện kể về cuộc đời ông bác ruột của
nhân vật “tôi”… Suốt cả một trăm trang sách, cuộc đời ông bác được nhân vật “tôi”hồi ức, viết lại với giọng văn biết bao là trìu mến, nhưng không vì thế mà chất hiệnthực của câu chuyện bị mờ lấp… câu chuyện chứa đựng biết bao chi tiết của mộtthôn làng thuộc tỉnh Phú Yên được ghi nhận, tái hiện sinh động, với một giọng văn
trong sáng, đôn hậu và giàu chất hoài niệm, khiến Người về đầu non trở thành một
truyện vừa cứ mãi mời gọi tìm về một thời quá khứ của nông thôn Nam Trung bộxưa, vừa cứ mãi ngân nga trong lòng người đọc” [1] Trong bài viết này, tuy tác giảkhông trực tiếp xác định đây là một tiểu thuyết có tính chất tự truyện, nhưng bài viếtcũng đã phát hiện được “chất hiện thực của câu chuyện bị mờ lấp”, cùng những chitiết đời thực thấp thoáng ẩn hiện trong lớp ngôn từ của chuyện Chính những chi tiếtnày đã tạo nên sức hấp dẫn cho tác phẩm
Trong một bài viết khác của tác giả Nguyễn Vy Khanh, khi bàn về Người về
đầu non của Võ Hồng trong Văn học miền Nam, Nguyễn Vy Khanh cũng có cách
nhìn về tác phẩm này khá tương đồng so với Trần Xuân An: “Người về đầu non kể
chuyện quê hương thời thơ ấu, thời học trò và người bác trong thực tế là cha nuôi Từthời thuộc Pháp những biến cố kháng chiến, tổng động viên, thuế nông nghiệp Ðờisống dân dã mộc mạc, trong cách đặt tên, khai sinh theo “ngày tháng An-Nam” Cảnh
đi coi gặt lúa vào ngày mùa Hình ảnh học đường ngày xưa Bao trùm là những tiếcnuối và đau thương về người thân” [56]
Trong di sản văn xuôi mà Võ Hồng để lại cho đời, có nhiều tác phẩm đượctác giả xây dựng dựa trên chất liệu lấy từ mảnh đất quê hương nơi ông sinh ra, hoặc
Trang 37lấy từ những chi tiết từng diễn ra trong đời của bản thân mình để viết thành truyện.
Ngoài tác phẩm Người về đầu non thì Hoa Bươm Bướm cũng được Võ Hồng tái
hiện dựa trên đoạn đời thực mà ông đã từng trải qua trong những năm Pháp thuộc.Đánh giá về tác phẩm này, nhà nghiên cứu Nguyễn Vy Khanh viết: “khởi từ thờiPháp thuộc, thời Nhật chiếm, đến thời kháng chiến, Võ Hồng muốn qua bộ truyệnnày vẽ lại một giai đoạn hào hùng và những nếp sống đã qua đi… Viết về chiếntranh, Võ Hồng đã nói lên tiếng nói phẫn nộ của một người công dân bình thường,bất lực trước chiến tranh và thảm cảnh…” [55] Vấn đề mà Nguyễn Vy Khanh bànluận đến khi nói về tác phẩm Võ Hồng có lẽ đây cũng là một trong những tiếng nóichung được viết lên từ nỗi đau thân phận của những con người đang từng ngày,từng giờ chứng kiến cảnh quê hương bị bom đạn chiến tranh cày xới và tàn phá
Ra đời trong thập niên 60 (thế kỷ XX), Vòng tay học trò của nữ văn sĩ
Nguyễn Thị Hoàng được đăng nhiều kỳ trên tạp chí Bách Khoa nhanh chóng tạonên một làn sóng dư luận khá lớn Mối tình phi chính thống, thậm chí có phần lệchchuẩn giữa cô giáo và cậu học trò trong tác phẩm được Nguyễn Vy Khanh đánh giámang đậm chất “hiện sinh”, đồng thời đây cũng là “một trong những tác phẩm gâytranh cãi nhất thời kỳ này” Điều gây “tranh cãi” ở đây phải chăng xuất phát từ mốitình cô - trò mà gần như trong truyền thống văn hóa của người Việt xem là tối kỵ
Từ góc nhìn nữ quyền luận, Nguyễn Thị Hải Hà đánh giá tác phẩm “Vòng tay
học trò là một trong những tác phẩm có ý thức nữ quyền có thể nói là đầu tiên ở Việt
Nam khi chủ nghĩa nữ quyền chưa được biết đến một cách sâu rộng.” [33]
Mặc dù dư luận đương thời đôi khi không đồng tình ủng hộ những gì màNguyễn Thị Hoàng đã viết ra trong tác phẩm, tuy nhiên, sự ra đời của tác phẩm
Trang 38tựa như tiếng nói góp phần làm đổi mới tư duy và quan niệm về lối viết nữ trongviệc thể hiện cái tôi cá nhân mình một cách mạnh mẽ, đầy táo bạo qua lối viết “tự
ăn mình” Đặc biệt, trong những năm gần đây, khi văn học đã thực sự được “cởitrói”, một số luận văn, luận án đã mạnh dạn lấy văn học đô thị miền Nam làm đốitượng nghiên cứu trên nhiều góc độ khác nhau, góp phần minh định lại những giátrị đích thực của văn học miền Nam từ 1954 - 1975 Trong một luận án tiến sĩ gần
đây của Nguyễn Thị Việt Nga, khi đánh giá về tiểu thuyết Vòng tay học trò dưới góc nhìn đổi mới thi pháp thể loại, tác giả luận án viết: “Tiểu thuyết Vòng tay học
trò của Nguyễn Thị Hoàng tuy viết về chuyện tình éo le nhưng tác giả cũng không
chú ý khai thác những chi tiết, những diễn biến ly kỳ mà chỉ có những rung cảmrất tinh vi của cả hai người” [85, tr 142] Điều này cho thấy, trải qua một khoảngthời gian nhất định, độ lùi về thời gian cũng như sự thay đổi trong quan niệm nghệthuật đã tạo điều kiện cho người làm nghiên cứu có cách nhìn, cách đánh giá cóphần cởi mở, công bằng hơn đối với những tác phẩm văn học ở đô thị miền Nam
Ra đời cùng thời với Vòng tay học trò, tác phẩm Tôi nhìn tôi trên vách của Túy Hồng tuy không lắm “ồn ào” khen chê như Vòng tay học trò nhưng đây cũng là một
trong những tác phẩm tạo nên hiệu ứng khá mạnh mẽ trong công chúng độc giả đương
thời Trong Mười khuôn mặt văn nghệ hôm nay, ở phần viết về tác phẩm Tôi nhìn tôi
trên vách, Tạ Tỵ nhận định: “Tôi nhìn tôi trên vách, tác phẩm dài đầu tay của Tuý
Hồng Trong cuốn sách, tuy nhà văn dùng ngôi thứ nhất, nhưng ngụy trang dưới tênKhanh để giữ tính cách riêng của nhân vật, sự thực, nó chính là một đoạn đời khi giã từtuổi con gái của tác giả” [156] Có thể nói, tác giả của bài viết đã thấy được dấu ấn đậmnét nhất để làm nên chất liệu cho tác phẩm đó chính là hiện thực từ cuộc đời của TúyHồng Mặc dù nhà văn Túy Hồng cố tình tạo ra khoảng cách nhằm đánh lạc hướng
Trang 39người đọc qua lớp ngụy trang của nhân vật “tôi” dưới cái tên được đặt lại (Khanh)nhưng đâu đó trong tác phẩm vẫn hiện lên rất rõ nét “đoạn đời khi giã từ tuổi con gái”của chính tác giả.
Ở một bài viết khác của tác giả Liễu Trương, khi đánh giá về tác phẩm dưới
góc nhìn hiện thực, tác giả bài viết đã nhận xét: “Tôi nhìn tôi trên vách không chỉ
đơn thuần là truyện của một người phụ nữ trước những thất vọng về tình cảm đã
xảy đến cho đời mình, Tôi nhìn tôi trên vách còn là bức họa của xã hội miền Nam
sau Tết Mậu Thân, một xã hội đã biến đổi sâu xa, trong đó con người cũng đã biếnđổi sâu xa.” [147]
Với nguồn tư liệu còn khá khiêm tốn, có thể khảo sát của chúng tôi chưa thực
sự đầy đủ về những nghiên cứu xoay quanh các tác phẩm tiểu thuyết có tính chất tựtruyện ra đời ở chặng đường này, nhưng với những gì đã khảo sát được cũng là cơ sởgợi dẫn, giúp chúng tôi nhận diện rõ hơn các mặt tích cực, hạn chế của tiểu loại tiểuthuyết này trong giai đoạn 1945 đến 1975
1.3.3 Giai đoạn từ 1975 đến hết thế kỷ XX
Sau 1975, khi đất nước dần hồi sinh đó cũng là lúc những tiểu thuyết có tính
chất tự truyện ngày thêm nảy nở, trong số đó phải kể đến những tiểu thuyết: Thời xa
vắng của Lê Lựu, Nỗi buồn chiến tranh của Bảo Ninh, Tuổi thơ dữ dội của Phùng
Quán, Miền thơ ấu của Vũ Thư Hiên, Chuyện kể năm 2000 của Bùi Ngọc Tấn và
một số tác phẩm khác của nhà văn Ma Văn Kháng…
Đánh giá về Những bước phát triển của văn xuôi Việt Nam sau 1975, khi
nhận xét về những tác phẩm văn xuôi tiêu biểu của giai đoạn này, Lê Tiến Dũng
Trang 40đã viết: “Thời xa vắng của Lê Lựu cũng được bạn đọc đón nhận một cách nồng
nhiệt Có lẽ trước hết là vấn đề mà ông nêu ra: “nhận thức lại một thời mới đâythôi mà tưởng như đã xa vắng tự thuở nào Ấy là cái thời con người chỉ tưởng cólạc quan, chỉ là anh hùng mà không được biết đến bi kịch, nỗi đau riêng tư” [17]
Lê Tiến Dũng đã nhận ra được những khía cạnh đời sống thực mà Thời xa vắng
mang đến cho người đọc Một Giang Minh Sài đã làm nên bao chiến công vangdội, nhưng chính cuộc đời anh lại phải trải qua bao cay đắng Điều mà tác giảquan tâm không phải là những chiến công, ở sự ngưỡng vọng mà chính là nỗi đau
nhân thế của người anh hùng và “thành công của Thời xa vắng về phương diện
tiểu thuyết” chính là ở điểm này [17]
Với Thái Thị Mỹ Bình thì Thời xa vắng của Lê Lựu gắn liền với tiến trình đổi mới của văn xuôi Việt Nam sau 1975 và tác giả nhận ra “Sự trình làng của Thời
xa vắng… đã làm khuấy động bầu không khí văn học nước nhà” [13] Quả thật, sự
ra đời của Thời xa vắng thực sự trở thành một hiện tượng văn học, làm tốn không ít bút lực của giới phê bình, nghiên cứu văn học Chính Thời xa vắng đã giúp cho nhà
văn Lê Lựu khẳng định chắc chắn vị thế của mình trong hàng ngũ những nhà văn
tiêu biểu của thời kì đổi mới Trong bài Lê Lựu và giọng điệu trần thuật trong Thời
xa vắng của Nguyễn Như Trang - Ngô Thu Thủy có đoạn viết: “Thời xa vắng là tác
phẩm tiêu biểu, đánh dấu tên tuổi của Lê Lựu trong làng văn học Việt Nam hiện đại,
mở đầu cho khuynh hướng nhận thức lại hiện thực văn học Việt Nam sau 1975 Vớicái nhìn thế sự, nhà văn đã phản ánh chân thực hình ảnh của người lính trong haiđời sống: chiến tranh và hòa bình, với tất cả những vênh lệch của số phận, tình yêu,hạnh phúc” [144]