1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Đổi mới PPDH - Bỗi dưỡng cán bộ cốt cán

117 363 1
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Đổi mới phương pháp dạy học trung học phổ thông môn Địa lí
Tác giả TS. Lương Thị Vân, ThS. Dương Văn Thành
Trường học Trường Đại Học Quy Nhơn
Chuyên ngành Địa lý
Thể loại Tài liệu bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo viên
Năm xuất bản 2006
Thành phố Qui Nhơn
Định dạng
Số trang 117
Dung lượng 1,77 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đổi mới về mục đích, mục tiêu: Mục đích đặt ra hiện nay đối với dạy học địa lí ở trường trung học phổthông là phải góp phần hoàn thiện học vấn phổ thông cho học sinh, đồng thời tạođiều

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC QUI NHƠN

TS Lương Thị Vân – ThS Dương Văn Thành

ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

MÔN: ĐỊA LÍ

TÀI LIỆU BỒI DƯỠNG NÂNG CAO NĂNG LỰC

GIÁO VIÊN CỐT CÁN TRƯỜNG THPT

Qui Nhơn, tháng 2 năm 2006

LỜI NÓI ĐẦU

Trang 2

Tài liệu Đổi mới phương pháp dạy học địa lí trung học phổ thông được biênsoạn để triển khai thực hiện Dự án phát triển giáo dục THPT, nhằm bồi dưỡngnâng cao năng lực cho giáo viên cốt cán các trường THPT ở 22 tỉnh, thành trên địabàn cả nước, trong đó có 4 tỉnh Tây Nguyên là Gia Lai, Kon Tum, Đak Lak và ĐakNông.

Tài liệu trình bày một số vấn đề cơ bản về việc đổi mới dạy học địa lí ởtrường trung học phổ thông Cấu trúc tài liệu được chia thành 4 chương với sựphân công biên soạn như sau:

Chương 1: Đổi mới phương pháp dạy học địa lí ở trường trung học phổ thông(ThS Dương Văn Thành)

Chương 2: Tăng cường sử dụng các phương pháp dạy học tích cực trong mônĐịa lí trung học phổ thông (ThS Dương Văn Thành, TS Lương Thị Vân – Phươngpháp đóng vai)

Chương 3: Nâng cao hiệu quả việc khai thác và sử dụng kênh hình trong dạyhọc địa lí ở trường trung học phổ thông (Th.S Dương Văn Thành)

Chương 4: Đổi mới kiểm tra, đánh giá kết quả học tập môn Địa lí của học sinhtrung học phổ thông ( TS Lương Thị Vân)

Tài liệu này được sử dụng để triển khai các lớp tập huấn bồi dưỡng cho giáoviên cốt cán dạy môn Địa lí ở 4 tỉnh Tây Nguyên nói trên, làm chỗ dựa thiết thực

và cụ thể cho giáo viên địa lí THPT trong việc thực hiện đổi mới phương pháp dạyhọc tại cơ sở giáo dục mà mình đang công tác Tuy nhiên, các cán bộ quản lý, chỉđạo chuyên môn ở các Sở Giáo dục và Đào tạo, ở các trường phổ thông, giảng viêncác trường đại học, giáo viên dạy môn Địa lí các trường THPT khác và những aiquan tâm đến vấn đề đổi mới dạy học địa lí ở trường phổ thông đều có thể thamkhảo, sử dụng tài liệu này

Trong quá trình biên soạn, chúng tôi đã cố gắng lựa chọn và tham khảo, sửdụng nhiều nguồn thông tin tư liệu, tài liệu của nhiều tác giả, nhưng do hạn chếnhiều mặt - nhất là về mặt thời gian, nên chắc chắn tài liệu sẽ không tránh khỏinhững thiếu sót Chúng tôi rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báucủa các cán bộ quản lý, chỉ đạo công tác chuyên môn và các bạn đồng nghiệp

NHÓM BIÊN SOẠN

Trang 3

CHƯƠNG 1 ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA VIỆC ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG.

1.1.1 Thực trạng dạy học địa lí ở trường phổ thông và sự cần thiết phải đổi mới phương pháp dạy học

Chúng ta đang sống trong một thời kỳ trên thế giới đang diễn ra một cáchmạnh mẽ cuộc Cách mạng khoa học kỹ thuật hiện đại hay còn gọi là cuộc Cáchmạng công nghiệp lần thứ ba Đây là giai đoạn mới về chất trong sự phát triển củakhoa học và kỹ thuật, trong đó các phương tiện và đối tượng lao động, các nguồnlao động, công nghệ, các phương thức tổ chức và quản lý sản xuất xã hội đã biếnđổi về căn bản Và tất nhiên nhu cầu của nền sản xuất xã hội đối với nguồn nhânlực, một lực lượng sản xuất chủ yếu và quan trọng nhất cũng đòi hỏi phải có nhiềubiến đổi về chất để thích ứng

Ở nước ta trong vài thập kỷ gần đây, cùng với việc đổi mới kinh tế - xã hội,xóa bỏ nền kinh tế tập trung quan liêu bao cấp để chuyển sang phát triển nền kinh

tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đẩy mạnh quá trình công nghiệphóa và hiện đại hóa, chúng ta đã thực hiện mở cửa, tăng cường và mở rộng quan hệhợp tác với các nước trong nhiều lĩnh vực như kinh tế, văn hóa, chính trị, khoa học

kỹ thuật từng bước tiến hành hội nhập kinh tế, tham gia vào sự phân công laođộng quốc tế trong khu vực và trên quy mô toàn cầu Nhờ đó nền kinh tế - xã hộinước ta đã có những biến đổi căn bản về mọi mặt Công cuộc đổi mới này đòi hỏiphải có những con người “lao động tự chủ, năng động và sáng tạo, có năng lực giảiquyết những vấn đề do thực tiễn đặt ra, tự lo liệu được việc làm, lập nghiệp vàthăng tiến trong cuộc sống, qua đó góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hộicông bằng và văn minh”

Để đáp ứng những yêu cầu của quá trình xây dựng và phát triển ở nước tatrong tình hình mới hiện nay, nhiệm vụ của nhà trường phổ thông là phải hìnhthành cho những thế hệ học sinh những cơ sở ban đầu rất quan trọng của con ngườiViệt Nam mới mà Đảng và Nhà nước đã nhấn mạnh “ cần phải có ý thức và đạođức xã hội chủ nghĩa, có trình độ văn hóa phổ thông, có hiểu biết kỹ thuật, có kỹnăng lao động cần thiết, có óc thẩm mỹ và kiến thức tốt ” để kế tục sự nghiệpcách mạng, xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Nhiệm vụ nêu trên được Luật giáo dụcnước ta cụ thể hóa bằng mục tiêu của giáo dục phổ thông là: “giúp học sinh pháttriển toàn diện về đạo đức, trí tuệ, thể chất, thẩm mỹ và các kỹ năng cơ bản nhằmhình thành nhân cách con người Việt nam xã hội chủ nghĩa, xây dựng tư cách vàtrách nhiệm công dân, chuẩn bị cho học sinh tiếp tục học lên hoặc đi vào cuộc sốnglao động, tham gia xây dựng và bảo vệ tổ quốc” Với nhiều biến đổi đang diễn ranhanh chóng trên phạm vi toàn cầu, khu vực cũng như ở trong nước, một lần nữamục tiêu của nền giáo dục nước ta lại được khẳng định trong Dự thảo báo cáochính trị tại Đại hội lần thứ X của Đảng Cộng sản Việt Nam sẽ diễn ra vào đầu quý

Trang 4

II năm 2006 như sau: “Giáo dục phải nhằm đào tạo những con người Việt Nam có

lý tưởng độc lập và chủ nghĩa xã hội, có phẩm chất tốt đẹp của dân tộc, có nănglực, bản lĩnh để thích ứng với những biến đổi của xã hội trong kinh tế thị trường,những yêu cầu mới của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”

Trong hệ thống các môn học ở trường phổ thông, do đặc điểm về nội dungmôn học, môn Địa lí có nhiều khả năng bồi dưỡng cho học sinh một khối lượng trithức phong phú cả về khoa học tự nhiên và khoa học xã hội và nhân văn, cả những

kỹ năng kỹ xảo hết sức cần thiết trong cuộc sống, cũng như có khả năng to lớntrong việc bồi dưỡng cho học sinh thế giới quan khoa học và những quan điểmnhận thức đúng đắn

Ngoài ra, cùng với các môn học khác, môn Địa lí còn góp phần hình thànhcho học sinh nhân cách con người mới trong xã hội, ý thức trách nhiệm, tình yêuthiên nhiên, tình yêu con người, yêu quê hương và đất nước; phát triển ở học sinhnăng lực tư duy, lòng ham hiểu biết khoa học Chính vì vậy, Địa lí là một mônhọc không thể thiếu được trong hệ thống các môn học ở nhà trường phổ thông, đểthực hiện được mục tiêu giáo dục phổ thông như đã nêu trên

Từ những năm 80 và tiếp đến là những năm 90 của thế kỷ trước, nhằm đápứng những đòi hỏi của thời đại và của thực tiễn nước ta, từ sau các lần cải cáchgiáo dục, tại các trường phổ thông đã dấy lên phong trào cải tiến phương pháp dạyhọc nhằm phát huy tính tích cực, chủ động trong học tập của học sinh Cũng nhưcác môn học khác ở nhà trường phổ thông, việc cải tiến và đổi mới phương phápdạy học môn Địa lí cũng diễn ra khá sôi nổi Tuy nhiên, điều đáng tiếc cho đếnnay, việc đổi mới phương pháp dạy học địa lí diễn ra còn chậm chạp, chưa đáp ứngnhững yêu cầu của cải cách giáo dục và làm cho chất lượng dạy học địa lí vẫn chưađược nâng cao một cách đáng kể Bức tranh chung về dạy học địa lí ở trường trunghọc phổ thông hiện nay thể hiện như sau:

- Phổ biến trong cách dạy hiện nay tại các trường phổ thông vẫn là chú trọngcác phương pháp dạy học truyền thống, nặng về thuyết trình, giảng giải để truyềnthụ kiến thức theo kiểu thông báo hay mô tả, liệt kê kiến thức, có xen kẽ hỏi đáp;nhẹ về phát huy tính tích cực và phát triển tư duy ở học sinh Vì thế trong các giờhọc địa lí chủ yếu là thầy giảng, thầy nói, còn trò nghe và ghi Học sinh có rất íthoặc hầu như không có những cơ hội thảo luận, trao đổi để xây dựng nên kiến thứccủa mình

- Nhiều giáo viên lên lớp thường “dạy chay”, rất ít khi hoặc không sử dụng

đồ dùng và thiết bị dạy học, ngay cả khi có đồ dùng và thiết bị dạy học khá đầy đủtrong các tiết học có nội dung về địa lí khu vực, quốc gia và địa phương Do đóquá trình rèn luyện một số kỹ năng cơ bản cho học sinh (kỹ năng bản đồ - lược đồ,

kỹ năng biểu đồ, kỹ năng sử dụng và phân tích số liệu thống kê ), cũng như việctạo động cơ, gây hứng thú, để kích thích và phát huy tính tích cực, chủ động tronghọc tập của học sinh không được giáo viên quan tâm một cách thích đáng Một sốgiáo viên khi chuẩn bị bài dạy địa lí, giáo án được thiết kế để lên lớp là giáo áncứng, không có sự phân nhánh để phù hợp với sự phân hóa của từng nhóm họcsinh có trình độ nhận thức khác nhau trong một lớp học, vì thế dẫn đến tình trạngquá sức, chán nản đối với những học sinh yếu kém khi gặp những câu hỏi và bài

Trang 5

tập quá khó hoặc nhàm chán ở những học sinh khá giỏi khi gặp những câu hỏi vàbài tập quá dễ.

- Hình thức tổ chức dạy học còn đơn điệu, dạy học theo lớp vẫn là hình thứcphổ biến Các hình thức dạy học khác như dạy học cá nhân, dạy học theo nhóm,dạy học ngoài lớp còn ít được sử dụng hoặc chưa thực hiện và hiệu quả chưa cao

- Xuất phát từ những hạn chế nêu trên, dẫn đến một thực tế cho thấy nhiềuhọc sinh tỏ ra không quan tâm đến nội dung bài học trong các giờ học địa lí, ít chịutrách nhiệm về việc học của bản thân mình và trở thành nguời học thụ động Trongsuy nghĩ của nhiều học sinh, môn Địa lí là môn học phụ, môn học của trí nhớ, mônhọc thuộc lòng, chứ không phải là môn học của tư duy

Có thể nói, cách dạy và học địa lí như vậy đã làm hạn chế việc phát triển trítuệ của học sinh, làm cho học sinh mất hứng thú khi học môn Địa lí Cho nên việcdạy và học địa lí có khi trở thành gánh nặng của cả thầy và trò Nguyên nhân sâu

xa của tình trạng trên một phần do một bộ phận không nhỏ giáo viên địa lí chưathực sự thấm nhuần bản chất, hướng và cách thức đổi mới phương pháp dạy họcđịa lí; hiểu biết về cơ sở lý luận và thực tiễn của việc đối mới phương pháp dạy họccòn chưa sâu sắc Mặt khác các điều kiện tạo nên tiền đề cho quá trình đổi mớiphương pháp dạy học cũng còn phần nào chưa thực sự chín muồi và thiếu đồng bộ

Từ thực tiễn nêu trên của hoạt động dạy học địa lí ở trường phổ thông, việctiếp tục đổi mới mạnh mẽ và có hiệu quả các phương pháp dạy học địa lí đang nổilên như một vấn đề quan trọng và cấp bách nhất mà cải cách giáo dục bộ môn Địa

lí ở trường phổ thông phải được quan tâm giải quyết thỏa đáng

1.1.2 Những tiền đề cơ bản đối với việc đối mới phương pháp dạy học địa lí

Đến nay không còn ai nghi ngờ về sự cần thiết phải nhanh chóng đổi mớiphương pháp dạy học địa lí Chúng ta có thể khẳng định trong điều kiện hiện nayhòan toàn có thể thực hiện có kết quả quá trình đổi mới phương pháp dạy học địa lí

ở trường phổ thông, bởi vì những tiền đề hết sức cơ bản cho việc đổi mới phươngpháp dạy học đã được tạo lập Dưới đây, xin được trình bày một cách kháI quátnhững tiền đề cơ bản đó:

1.1.2.1 Mục đích, nội dung chương trình và sách giáo khoa đã có sự đổi mới:

* Đổi mới về mục đích, mục tiêu:

Mục đích đặt ra hiện nay đối với dạy học địa lí ở trường trung học phổthông là phải góp phần hoàn thiện học vấn phổ thông cho học sinh, đồng thời tạođiều kiện cho học sinh có thể tiếp tục học lên bậc cao hơn; củng cố và tiếp tục pháttriển một số năng lực chủ yếu của học sinh đã được hình thành ở cấp Trung học cơ

sở (năng lực hành động có hiệu quả trên cơ sở những kiến thức, kỹ năng và phẩmchất cá nhân; năng lực hợp tác và phối hợp hành động trong học tập và đời sống;năng lực sáng tạo và thích ứng với những thay đổi trong cuộc sống; năng lực tựkhẳng định bản thân), đáp ứng mục tiêu phát triển con người Việt Nam trong thời

kỳ công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước

Để đạt được mục đích như trên, nếu như trước đây mục tiêu chủ yếu củamôn Địa lí là nhằm vào việc cung cấp kiến thức thức khoa học cho học sinh một

Trang 6

cách có hệ thống, chặt chẽ thì giờ dây mục tiêu của bộ môn còn nhằm vào việchình thành và rèn luyện cho học sinh năng lực cần thiết của người lao động mới, đểcho học sinh nếu không có điều kiện học lên cao thì các em có thể đi vào cuộcsống lao động, tham gia có hiệu quả vào việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vì vậyphương pháp dạy học cũng cần phải đổi mới cho phù hợp để thực hiện được mụctiêu dạy học nêu trên.

* Đổi mới về nội dung chương trình môn học Địa lí trung học phổ thông:

Sự thay đổi mục tiêu đã định hướng cho việc lựa chọn nội dung chươngtrình dạy học của môn Chương trình bộ môn Địa lí ở bậc trung học phổ thôngđược đổi mới thể hiện ở ba khía cạnh: số tuần học và số tiết học tăng lên, nội dungcủa các mảng kiến thức (địa lí tự nhiên, địa lí kinh tế - xã hội, địa lí đại cương, địa

lí cụ thể của Tổ quốc và các nước) được bổ sung, các thành phần trong hệ thống trithức cũng thay đổi

- Toàn bộ chương trình môn Địa lí bậc trung học phổ thông được phânphối giảng dạy trong 105 tuần, tăng 6 tuần so với chương trình hiện hành có 99tuần Vì thế số tiết học của môn Địa lí tăng lên đáng kể Kể cả số tiết học môn Địa

lí ở Ban khoa học tự nhiên cũng tăng lên so với chương trình hiện hành Qua thống

kê và phân tích số liệu, ta thấy chương trình mới so với chương trình hiện hành thì

số tuần học của cả cấp Trung học phổ thông tăng thêm 6,06%, số tiết học môn Địa

lí của Ban Khoa học xã hội và Nhân văn (Ban C) tăng thêm 45,5%, còn số tiết họcmôn này ở Ban khoa học tự nhiên (Ban A) tăng thêm 5,3%

trình mới ở bậc trung học phổ thông cũng khác nhiều so với chương trình hiệnhành, nhất là ở lớp 10 và lớp 12 Nếu như trước đây trong các cấu trúc chươngtrình môn Địa lí bậc THPT dành toàn bộ cho mảng kiến thức địa lí kinh tế - xã hội(lớp 10 địa lí kinh tế - xã hội đại cương, lớp 11 địa lí kinh tế - xã hội thế giới vàcác nước, lớp 12 là những vấn đề địa lí kinh tế - xã hội Việt Nam), thì ở chươngtrình mới này có cả mảng kiến thức địa lí tự nhiên (một phần địa lí tự nhiên đạicương ở lớp 10, một phần địa lí tự nhiên Việt Nam ở lớp 12) Xét ở một khía cạnhkhác, ba mảng kiến thức sẽ là: địa lí đại cương (lớp 10), địa lí thế giới (lớp 11), địa

lí Việt Nam (lớp 12) Nếu tính toàn bộ chương trình thì số tiết của mảng kiến thứcđịa lí tự nhiên chiếm khoảng 25% với 48 tiết ở Ban khoa học và xã hội và nhânvăn, 24,5% với 34 tiết ở Ban khoa học tự nhiên Với cấu trúc như vậy của chươngtrình mới, rõ ràng nội dung của chương trình môn học được cân đối và hoàn thiệnhơn Điều đó làm cho các khối kiến thức hỗ trợ cho nhau và gắn chặt với nhau hơn,việc tiếp thu kiến thức bộ môn của học sinh ở các khối lớp cũng thuận lợi hơn

năng - kỹ xảo địa lí) được cấu tạo ở bậc Trung học phổ thông cũng có những thayđổi theo hướng tăng cường và chú trọng nhiều hơn đến phần kỹ năng - kỹ xảo địa

lí Vì thế số tiết được dành cho phần thực hành trong tổng số tiết thực học của mônhọc ở các lớp đều nhiều hơn và tăng lên đáng kể Nếu ở chương trình hiện hành sốtiết thực hành của cả cấp học chỉ có 19/110 (chiếm 17,3%), thì ở chương trình mới

số tiết thực hành đối với Ban khoa học xã hội và nhân văn tăng lên 41/166 tiết(chiếm 24,7%), đối với Ban khoa học tự nhiên là 25/117 tiết (chiếm 21,4%) Cùngvới việc tăng thêm số tiết cho phần thực hành trong chương trình, các loại kỹ năng

Trang 7

địa lí được đưa vào chương trình thông qua các bài thực hành cũng nhiều hơn, yêucầu việc giảng dạy và rèn luyện đối với từng loại kỹ năng địa lí cũng ở mức độ caohơn so với chương trình cũ.

* Đổi mới sách giáo khoa địa lí:

Sách giáo khoa là tài liệu thể hiện chương trình, là sự cụ thể hóa những quiđịnh của chương trình về mục tiêu môn học, về phạm vi, số lượng và mức độ củacác đơn vị nội dung kiến thức Quan niệm về dạy học như thế nào thì sẽ có địnhhướng về phương pháp dạy học và có tài liệu giáo khoa tương ứng

Hiện nay theo quan niệm hiện đại coi dạy học là quá trình phát triển củabản thân học sinh; quá trình học tập không chỉ là quá trình lĩnh hội các kiến thức

có sẵn mà còn là quá trình học sinh tự khám phá, tự phát hiện, tự tìm đến vớinhững kiến thức mới nhờ sự hướng dẫn, giúp đỡ và tổ chức của giáo viên Nếu nhưtrước đây sách giáo khoa được coi là tài liệu chủ yếu phục vụ cho việc giảng dạy

và học tập ở trường phổ thông, trình bày các kiến thức có sẵn để học sinh dựa vào

đó mà trả lời các câu hỏi giáo viên nêu ra trên lớp, để ghi nhớ kiến thức phục vụcho kiểm tra, thi cử Hiện nay quan niệm sách giáo khoa còn có chức năng làphương tiện đắc lực cho việc tổ chức hoạt động dạy học tích cực, nên được biênsoạn theo những định hướng đổi mới nhằm tạo điều kiện cho giáo viên tổ chức chohọc sinh học tập một cách chủ động, tự giác, tích cực và độc lập Bên cạnh việccung cấp kiến thức, sách giáo khoa mới còn chú trọng thể hiện quá trình dẫn dắtđến kiến thức, cách thức làm việc, các hình thức hoạt động để tự khám phá, lĩnhhội các kiến thức đó Những ý tưởng như vậy đã được thể hiện trong viết sách giáokhoa ở một số mặt chủ yếu sau đây:

giảm thiểu kênh chữ, tăng cường kênh hình Trong tương quan giữa phần kênhhình và kênh chữ, ở các sách giáo khoa hiện hành thì phần kênh chữ là chủ yếu,còn kênh hình chưa được coi trong đúng mức Kênh hình được đưa vào sách giáokhoa với mục đích chủ yếu nhằm minh họa một cách đơn thuần cho phần kiến thức

ở kênh chữ Trong sách giáo khoa hiện hành, phần kênh chữ được viết theo dạng

mô tả, nội dung kiến thức từng bài được trình bày quá đầy đủ khiến cho giáo viênkhông cần phải chuẩn bị trước, thậm chí giáo viên không có chuyên môn (giáoviên môn khác) cũng vẫn có thể dạy được Ngược lại trong sách giáo khoa mới,phần kênh hình như bản đồ, lược đồ, biểu đồ, tranh ảnh và sơ đồ được đưa vào khánhiều và tương đối phong phú đa dạng

Trong sách giáo khoa mới, nội dung từng bài được trình bày bằng cáchcung cấp thông tin qua cả kênh chữ và kênh hình Vì thế phần kênh hình khôngphải là các hình ảnh minh họa đơn thuần, mà chính là những phần nội dung khôngthể thiếu có chứa đựng tri thức trong đó được quyện chặt với kênh chữ Nhờ kênhhình, một mặt học sinh khai thác được tri thức và nắm chắc hơn các sự vật, hiệntượng địa lí, mặt khác có thể rèn luyện được kỹ năng tư duy và kỹ năng địa lí Vớivai trò của kênh hình như vậy, nên số lượng các bản đồ, lược đồ, biểu đồ, tranh ảnh

và sơ đồ được đưa vào sách giáo khoa mới khá nhiều so với sách giáo khoa trướcđây

các tác giả viết sách đã đưa một số lượng lớn các câu hỏi và bài tập xen kẽ vào

Trang 8

giữa bài, nhiều hơn so với dạng bài tập và câu hỏi ở cuối mỗi bài Chẳng hạn tươngquan này ở sách giáo khoa lớp 10 Ban khoa học xã hội và nhân văn là 147/107, ởsách giáo khoa lớp 11 Ban khoa học tự nhiên là 93/53, ở sách giáo khoa lớp 12Ban khoa học xã hội và nhân văn là 151/141

hỏi nhằm hướng dẫn, gợi ý học sinh cách đạt tới kết quả trong hoạt động tự họccủa cá nhân hay của nhóm, có câu hỏi nhằm mở rộng thêm vốn kiến thức của cánhân học sinh trên nền tảng những kiến thức đã có, có câu hỏi tạo điều kiện chohọc sinh gắn kết kiến thức đã được học trong nhà trường với thực tiễn cuộc sốngđang diễn ra ngoài đời, có câu hỏi chỉ nhằm gợi ý hoặc là các “lệnh” yêu cầu họcsinh phải thực hiện một chuỗi các thao tác tư duy kế tiếp nhau như quan sát, sosánh, tính toán, phân tích để qua các hoạt động cụ thể , học sinh có thể tự tìm tòi,khám phá và tìm cách giải thích các hiện tượng, sự vật địa lí Còn các câu hỏi vàbài tập ở cuối mỗi bài cũng được trình bày dưới những dạng khác nhau, có tácdụng giúp cho học sinh củng cố và hệ thống hóa kiến thức, cũng như để phát triển

tư duy và rèn luyện kỹ năng địa lí Như vậy, cũng như phần kênh hình, các câu hỏi

và bài tập, nhất là những câu hỏi và bài tập được đưa xen kẽ vào giữa bài cũng làmột bộ phận hữu cơ cấu trúc nên sách giáo khoa mới

cũng được các tác giả viết sách cố gắng thể hiện Sách giáo khoa mới bên cạnhviệc đảm bảo tính kế thừa và phát triển, tính phổ thông, cơ bản và đặc trưng của bộmôn Địa lí, nội dung sách giáo khoa còn thể hiện tính hiện đại và cập nhật củakhoa học địa lí, thực hiện tích hợp một số yêu cầu của giáo dục mang tính xã hộivào các bài học địa lí

Tóm lại, cùng với những đổi mới về chương trình bộ môn, sách giáo khoamới được trình bày theo tinh thần tạo ra nhiều tình huống, thông tin đã được lựachọn kỹ để giáo viên có thể tổ chức, hướng dẫn học sinh tập phân tích, xử lýchúng, tạo điều kiện cho học sinh trong quá trình học tập, vừa tiếp nhận kiến thứcvừa rèn luyện kỹ năng Sách giáo khoa địa lí THPT mới là sách giáo khoa “mở”,nhiều nội dung của bài không được trình bày một cách trọn vẹn mà còn nhữngphần để trống, dành cho sự tham gia bổ sung trực tiếp của học sinh thông qua cáchoạt động học tập đa dạng dưới sự hướng dẫn của giáo viên Do đó, buộc học sinhphải suy nghĩ, phải làm việc thực sự, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đổi mớiphương pháp dạy học Có thể nói, việc đổi mới nội dung và cách thể hiện nội dungcủa sách giáo khoa mới, một mặt yêu cầu đòi hỏi phải đổi mới phương pháp dạyhọc địa lí, mặt khác lại định hướng cho việc đổi mới phương pháp dạy học và gópphần để giáo viên thực hiện thành công quá trình đổi mới này

1.1.2.2 Những thay đổi căn bản trong nhận thức, năng lực của giáo viên và họcsinh:

Hiện nay một động lực cực kỳ quan trọng đối với việc đổi mới phương phápdạy học địa lí là đại đa số giáo viên đã nhận thức được tầm quan trọng và ý nghĩasống còn của việc đổi mới này Họ đều thấy rằng, một khi mục tiêu, nội dungchương trình và sách giáo khoa đã đổi thì việc đổi mới phương pháp dạy học làmột tất yếu và là nhân tố quan trọng nhất, quyết định đến sự thành bại của quá

Trang 9

trình đổi mới Bởi vì mặc dù mục tiêu, nội dung chương trình và sách giáo khoa đãđổi mới, nhưng việc dạy và học vẫn theo kiểu cũ thì không thể nói đến việc nângcao chất lượng và hiệu quả của việc học địa lí.

Cùng với nhiều thay đổi trong nhận thức, năng lực và trình độ nghiệp vụ củađội ngũ giáo viên địa lí cũng từng bước được nâng cao Trong những năm qua, nhờcác chương trình bồi dưỡng, tập huấn giáo viên phục vụ cho cải cách giáo dục,công tác bồi dưỡng thường xuyên đối với giáo viên cũng được tiến hành liên tục(đã trải qua 3 chu kỳ), không những đã góp phần nâng cao đáng kể về nhận thức vàtrình độ lý luận dạy học cho đội ngũ giáo viên mà còn có tác dụng tăng cường nănglực thực thi các phương pháp dạy học tiên tiến của giáo viên địa lí trong thực tiễndạy học ở các trường trung học phổ thông

So với trước đây cũng như so với học sinh trung học cơ sở, các đặc điểmtâm sinh lý và năng lực học tập của học sinh ở bậc Trung học phổ thông đã cónhững thay đổi về chất Do năng lực quan sát sâu sắc, nhạy bén hơn và khả năng tưduy trừu tượng cao hơn, đặc biệt là khả năng phân tích, tổng hợp, so sánh, trừutượng hóa và khái quát hóa ngày càng được phát triển, nên các em học sinh ở lứatuổi này không thích chấp nhận một cách đơn giản những áp đặt của giáo viên Các

em thích tranh luận, bày tỏ những suy nghĩ và ý kiến riêng của cá nhân mình vềnhững vấn đề lý thuyết và thực tiễn Đây là một thuận lợi rất cơ bản cho việc thựchiện đổi mới phương pháp dạy học địa lí theo hướng phát huy tính tích cực chủđộng học tập của học sinh

1.1.2.3 Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho việc dạy và học địa lí ở trường phổthông đã được tăng cường:

So với trước đây, điều kiện vật chất phục vụ cho việc dạy học địa lí ở cáctrường trung học phổ thông hiện nay đã được cải thiện một cách đáng kể Trongcác giờ học địa lí, hầu hết học sinh đều có sách giáo khoa Hệ thống bản đồ treotường đã phát triển và được tăng cường cả về số lượng và chất lượng Một số tậpbản đồ, atlát và hệ thống vở bài tập địa lí phù hợp với nội dung môn học từng khốilớp đã được biên soạn và xuất bản Hàng loạt sách giáo viên và sách tham khảonhằm hướng dẫn phương pháp dạy học và mở rộng nội dung kiến thức trong sáchgiáo khoa dành cho giáo viên được biên soạn Một số băng hình phục vụ bồi dưỡnggiáo viên và phục vụ dạy học địa lí đã được xây dựng Các thiết bị kỹ thuật hiệnđại ngày càng được sử dụng nhiều hơn trong dạy học địa lí (như máy chiếuoverhead, máy vi tính, phần mềm dùng trong địa lí như Power Point, MapInfor,

PC Fact )

1.1.2.4 Thế giới hiện đại đang biến đổi mạnh mẽ:

Ngoài những tiền đề chủ quan nêu trên, chúng ta còn có những yếu tố kháchquan từ bên ngoài cũng tạo thuận lợi cho đổi mới phương pháp dạy học địa lí Đó

là thế giới hiện đại đang biến đổi một cách mạnh mẽ Trong thời đại của sự “bùng

nổ thông tin”, làm cho kiến thức của nhân loại tăng lên nhanh chóng (một sốchuyên gia ước tính hiện nay cứ 7 năm tổng số kiến thức mà chúng ta có thể tiếpnhận sẽ tăng lên gấp đôi) Thông tin không những ngày một nhiều hơn mà ngàycàng dễ tiếp cận nhờ có các phương tiện thông tin đại chúng và các mạng tin học

Trang 10

(như mạng internet, xa lộ thông tin ) Trong điều kiện như vậy, nhà trường khôngthể tiếp tục duy trì chức năng ưu tiên là truyền đạt kiến thức và thông tin, mà phảitạo ra những cơ hội để phát triển ở học sinh khả năng tìm kiếm thông tin, quản lýthông tin, tổ chức thông tin và kiến thức của mình Điều đó vừa là một trong nhữngyêu cầu tất yếu đặt ra đối với sự đổi mới phương pháp dạy học địa lí, nhưng lại vừa

là những điều kiện thuận lợi tạo nên vận hội mới cho giáo dục địa lí ở trường trunghọc phổ thông thực hiện đổi mới phương pháp dạy học

1.2 NHỮNG ĐỊNH HƯỚNG CƠ BẢN VỀ ĐỔI MỚI PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC ĐỊA LÍ

VÀ BIỆN PHÁP THỰC HIỆN ĐỔI MỚI

1.2.1 Định hướng chung và quan niệm về đổi mới phương pháp dạy học địa lí

Có thể nói định hướng xuyên suốt của việc đổi mới phương pháp dạy học làhướng tới hoạt động học tập chủ động, tích cực, chống lại thói quen học tập thụđộng của học sinh, “tạo bước chuyển biến cơ bản về mặt chất lượng giáo dục theohướng tiếp cận với trình độ tiên tiến của thế giới, phù hợp với thực tiễn của ViệtNam, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội của đất nước.Phấn đấu đưa nền giáo dục của nước ta thoát khỏi tình trạng tụt hậu trên một sốlĩnh vực so với các nước phát triển trong khu vực” Định hướng này đã được ghitrong nhiều văn bản pháp qui của Đảng và Nhà nước ta

Nghị quyết T.Ư 2 khóa VIII (12/1996) nêu rõ: “Đổi mới mạnh mẽ phươngpháp giáo dục và đào tạo, khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện nếp tư duysáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp tiên tiến và phươngtiện hiện đại vào trong quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tựnghiên cứu cho học sinh, nhất là sinh viên đại học”

Từ tinh thần nghị quyết của Đảng đã được thể chế hóa trong Luật Giáo dục.Tại điều 24.2 Luật giáo dục có ghi: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải pháthuy tính tích cực, tự giác, chủ động của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từnglớp học, từng môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kỹ năng vậndụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thúhọc tập cho học sinh”

Định hướng đổi mới phương pháp dạy học được nêu trong nghị quyết củaĐảng và Luật Giáo dục được cụ thể hóa vào chiến lược phát triển giáo dục giaiđoạn 2001 - 2010 (ban hành theo Quyết định số 201/2001/QĐ - TTg ngày 28 tháng

12 năm 2001 của Thủ tướng chính phủ) như sau: “Đổi mới và hiện đại hóa phươngpháp dạy học Chuyển từ việc truyền thụ tri thức thụ động, thầy giảng, trò ghi sanghướng dẫn người học chủ động tư duy trong quá trình tiếp cận tri thức; dạy chongười học phương pháp tự học; tự thu nhận thông tin một cách có hệ thống và có

tư duy phân tích tổng hợp; phát triển năng lực của mỗi cá nhân; tăng cường tínhchủ động, tính tự chủ của học sinh, sinh viên trong quá trình học tập ”

Như vậy, quan niệm về đổi mới phương pháp dạy học địa lí sẽ là: đổi mới

và hiện đại hóa phương pháp dạy học, làm cho phương pháp dạy học địa lí tácđộng mạnh mẽ đến học sinh, phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động và tưduy sáng tạo của người học; bồi dưỡng cho người học năng lực tự học, kỹ năng

Trang 11

vận dụng kiến thức vào thực tiễn, lòng say mê học tập và ý chí vươn lên, như tinhthần của Luật Giáo dục đã nêu.

Thấm nhuần về quan niệm đổi mới như trên, một mặt quá trình đổi mớiphương pháp dạy học địa lí chỉ thành công nếu chúng ta đẩy mạnh hiện đại hóaphương pháp dạy học địa lí, tổ chức dạy học địa lí theo kiểu mới trên cơ sở tăngcường áp dụng các phương pháp, phương tiện và hình thức tổ chức dạy học hiệnđại, kết hợp với việc cải tiến các phương pháp dạy học truyền thống theo nhữngđịnh hướng mới nhằm nâng cao chất lượng và hiệu quả của việc dạy học địa lí, làmcho môn địa lí có một vị trí xứng đáng trong hệ thống các môn học ở trường trunghọc phổ thông Mặt khác việc đổi mới phương pháp dạy học địa lí ở trường trunghọc phổ thông cần tập trung vào 4 hướng sau:

- Phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động và tư duy sáng tạo của học sinh

- Bồi dưỡng phương pháp tự học

- Rèn luyện kỹ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn

- Tác động đến tình cảm, đem lại niềm tin và hứng thú học tập cho họcsinh

Trong đó hướng phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động và tư duy sáng tạocủa học sinh là cơ bản và chủ yếu nhất, nó sẽ chi phối đến 3 hướng sau:

1.2.2 Những định hướng cơ bản

Đổi mới phương pháp dạy học cũng có nghĩa là tổ chức dạy học theo lốimới, tạo lập cho quá trình dạy học những điều kiện, mối quan hệ và những giá trịmới Để làm được điều đó, quá trình đổi mới phương pháp dạy học địa lí phải tuânthủ theo những định hướng cơ bản sau:

1.2.2.1 Tạo cho học sinh một vị thế mới và những tiền đề, những điều kiện thuậnlợi để hoạt động:

Cụ thể của định hướng này là: người học phải trở thành chủ thể hành động,hoạt động một cách tích cực, tự giác, chủ động và sáng tạo để kiến tạo tri thức, rènluyện kỹ năng và hình thành thái độ; tạo ra và duy trì ở học sinh những động lựchọc tập mạnh mẽ để tham gia tích cực vào quá trình dạy học, đó chính là động cơ,hứng thú và niềm lạc quan của học sinh trong quá trình học tập; học sinh cần đượcnuôi dưỡng và phát triển ý thức trách nhiệm và khả năng tự đánh giá kết quả họctập của mình

1.2.2.2 Xác lập, khẳng định vai trò, chức năng mới của người thầy trong quá trìnhdạy học:

Cụ thể là: người thầy phải là người tổ chức, chỉ đạo, điều khiển các hoạtđộng học tập tự giác, chủ động và sáng tạo của học sinh; người thầy không còn lànguồn cung cấp thông tin duy nhất, không phải là người hoạt động chủ yếu tronggiờ học như trước đây, mà thầy giáo phải là người tổ chức, chỉ đạo và điều khiểnquá trình học tập của học sinh bằng việc thể hiện tốt vai trò thiết kế, ủy thác, điềukhiển và thể chế hóa trong hoạt động dạy học của mình Trong đó:

- Thiết kế là lập kế hoạch cho quá trình dạy học về cả mục đích, nội dung,phương pháp, phương tiện và hình thức dạy học Thông qua đó nêu ra được những

Trang 12

tình huống thích hợp để kích thích và tạo điều kiện cho học sinh chủ động, tự giác

và hợp tác trong hoạt động nhận thức

- Uỷ thác là thông qua đặt vấn đề nhận thức, tạo động cơ hứng thú biến ý

đồ dạy của mình thành nhiệm vụ học tập tự nguyện, tự giác của trò và chuyển giaocho trò những tình huống để trò hoạt động và thích nghi

- Điều khiển quá trình hoạt động học tập của học sinh trên cơ sở thực hiệnmột hệ thống mệnh lệnh, chỉ dẫn, trợ giúp, đánh giá (bao gồm cả sự động viên)

- Thể chế hóa tức là xác nhận, định vị kiến thức mới trong hệ thống trithức đã có, đồng nhất hóa kiến thức riêng lẻ của học sinh thành tri thức khoa học

xã hội, hướng dẫn vận dụng và ghi nhớ

1.2.2.3 Xây dựng môi trường dạy học thích hợp:

Môi trường dạy học ảnh hưởng đến phương pháp dạy học và giữa chúng lại

có tác động tương hỗ lẫn nhau Người dạy và người học đương nhiên bị ảnh hưởngbởi một tập hợp các yếu tố của môi trường Nhưng mặt khác người học và ngườidạy phải tự thích nghi với môi trường dạy học Ảnh hưởng và thích nghi chính là

hệ quả của phương pháp sư phạm tương tác liên quan đến môi trường Chúng ta cóthể hình dung mối quan hệ tác động qua lại giữa các yếu tố của môi trường dạy họccũng như sự ảnh hưởng và thích nghi giữa người dạy và người học đối với môitrường qua sơ đồ dưới đây:

Hình 1: Mô hình dạy học theo quan điểm đổi mới

1.2.2.4 Sử dụng các phương pháp và hình thức tổ chức dạy học:

- Về phương pháp dạy học, trong quá trình lên lớp giáo viên cần vận dụngmọi phương pháp dạy học hiện có một cách linh hoạt, từng bước vận dụng cácphương pháp dạy học hiện đại như phương pháp dạy học hợp tác, phương phápdạy học nêu và giải quyết vấn đề nhằm giúp học sinh biết cách tự học, biết cáchhợp tác trong tự học; tích cực, chủ động, sáng tạo trong việc phát hiện và giảiquyết vấn đề để vừa có được những kiến thức cần thiết, vừa rèn luyện được cácnăng lực hành động

CHẤT LƯỢNG VÀ HIỆU QUẢ DẠY

Chủ thể nhận thức

Ò

MÔI TRƯỜNG Ảnh hưởng & thích nghi

Trang 13

- Về tổ chức dạy học, cũng nên áp dụng các hình thức tổ chức dạyhọc một cách linh hoạt, tùy theo nội dung bài học và đối tượng học sinh mà có sựphối hợp giữa các hình thức dạy học một cách hợp lý

1.2.2.5 Đảm bảo điều kiện vật chật, thiết bị đồ dùng dạy học:

Điều kiện vật chất, các thiết bị đồ dùng dạy học không những là điều kiện, làthiết bị đồ dùng dạy học mà còn là phương tiện và nguồn tri thức quan trọng khôngthể thiếu được trong quá trình dạy học theo hướng tích cực và quá trình học tập củahọc sinh Thông qua hoạt động với các phương tiện, thiết bị đồ dùng dạy học, họcsinh được tiếp cận với những hình ảnh mô phỏng thực tế, có tác dụng rèn luyện kỹnăng quan sát, thu thập và xử lý thông tin, hướng tới việc hình thành những nănglực cần thiết của người lao động mới, là điều rất cần để các em học sinh bước vàođời sống sản xuất khi ra trường

Tuy nhiên các phương tiện, thiết bị đồ dùng dạy học phải phù hợp với nộidung, phương pháp của chương trình và sách giáo khoa, có như vậy mới đem lạihiệu quả khi sử dụng Các thiết bị đồ dùng dạy học địa lí được sử dụng nhiều baogồm: các loại mẫu vật, mô hình, bản đồ giáo khoa treo tường, átlát, sơ đồ, bảngbiểu, tranh ảnh; các thiết bị nghe nhìn; các sách bài tập, tài liệu tham khảo

1.2.2.6 Đổi mới về đánh giá kết quả học tập của học sinh:

Để đổi mới đánh giá kết quả học tập của học sinh, làm cho khâu đánh giácũng có tác dụng kích thích tính chủ động sáng tạo trong học tập và phát huy nănglực tư duy ở học sinh, việc đánh giá cần đảm bảo các yêu cầu sau:

thời có tác dụng điều chỉnh hoạt động dạy và học, động viên và khuyến khích được

sự cố gắng học tập của học sinh

cả về kiến thức, kỹ năng và các phẩm chất nhân cách khác Tuy nhiên cần tập trungtrọng tâm vào đánh giá về mặt kiến thức và kỹ năng, bằng cách bố trí hai yêu cầunày trong tất cả các lần thi và kiểm tra

cũng như từng bước loại dần việc kiểm tra kiến thức theo kiểu ghi nhớ máy móc,cần xây dựng hệ thống chuẩn về kiến thức và kỹ năng của bộ môn để làm cơ sởcho việc đánh giá

làm sao để học sinh bộc lộ được các năng lực như: năng lực xử lý thông tin, nănglực giải quyết vấn đề, năng lực sáng tạo qua đó phân hóa được học sinh

nghiệm tự luận, trắc nghiệm khách quan

Trang 14

1.2.3 Biện pháp đổi mới phương pháp dạy học địa lí ở trường trung học phổ thông

1.2.3.1 Đổi mới một cách toàn diện và đồng bộ giữa các yếu tố, các bộ phận cấuthành quá trình dạy học:

Như phần đầu đã trình bày, từ mấy thập kỷ trước đây chúng ta đã tiến hànhđổi mới phương pháp dạy học địa lí Nhưng thực chất chỉ mới dừng lại ở phongtrào cải tiến một số phương pháp truyền thống và tiếp cận với một số xu hướng dạyhọc hiện đại Sự thay đổi về chất trong phương pháp dạy học đã không thể diễn ramột cách sâu sắc, chất lượng dạy học địa lí chưa được nâng lên đáng kể Bởi vìnhững tiền đề cơ bản cho sự thay đổi phương pháp dạy học như sự thay đổi về mụctiêu, nội dung chương trình, sách giáo khoa cũng như những phương pháp dạy họccần thiết cho sự đổi mới đã không xuất hiện Mặt khác, cần phải nhấn mạnh đếnmột trong những nguyên nhân rất quan trọng là việc đổi mới chưa được tiến hànhmột cách toàn diện và đồng bộ Trong những năm qua, gánh nặng của quá trình đổimới đã dồn hết lên đôi vai của người giáo viên, đổi mới phương pháp dạy học chưatrở thành trách nhiệm chung của cả giáo viên, học sinh, nhà trường và cán bộ quản

lý giáo dục ở các cấp

Quá trình dạy học được tạo thành từ nhiều yếu tố: mục đích, nội dungchương trình, thầy với hoạt động dạy, trò với hoạt động học, phương tiện thiết bịphục vụ dạy và học, cán bộ quản lý với công tác chỉ đạo Tất cả các yếu tố này tồntại trong mối liên hệ hữu cơ chặt chẽ với nhau, trong đó mục đích sẽ quyết địnhđến nội dung và phương pháp, nội dung quyết định đến phương pháp và phươngtiện, và đến lượt mình nếu phương pháp và phương tiện dạy học phù hợp lại có tácđộng tích cực đến việc thực hiện mục đích và nội dung dạy học

Từ những phân tích nêu trên, có thể khẳng định để đổi mới thành côngphương pháp dạy học địa lí ở trường trung học phổ thông trong giai đoạn mới hiệnnay, chúng ta cần phải đổi mới một cách toàn diện, đồng bộ các thành tố, các bộphận cấu thành của quá trình dạy học địa lí, hình thành cơ chế phối hợp hoạt độngđổi mới giữa ba chủ thể của quá trình đổi mới: Giáo viên - Học sinh - Cán bộ quản

lý nhà trường Một liên kết cộng đồng trách nhiệm như vậy là nhân tố quan trọngđảm bảo cho sự thành công của quá trình đổi mới phương pháp dạy học địa lí

Tạo ra môi trường và điều kiện thuận lợi để đổi mới PPDH Địa lí

NHÀ QUẢN LÍ

ĐỔI MỚI PPDH ĐỊA LÍ

Tăng cường năng

lực thiết kế, tổ chức

& đánh giá chất

lượng bài học theo

quan điểm đổi mới

Trang 15

Hình 2: " Tam giác" của quá trình đổi mới phương pháp dạy học địa lí

Những định hướng cơ bản đối với việc đổi mới đồng bộ các yếu tố khácnhau của quá trình dạy học địa lí, đó cũng chính là biện pháp đổi mới, được tómlược trong bảng dưới đây:

Trang 16

Bảng 1: Đổi mới toàn diện quá trình dạy học địa lí

Các yếu tố

1 Mục tiêu Của giáo viên - “Qua bài

học này giúp cho học sinhhay trang bị cho học sinh ”

đều, một số xa rời thực tiễn

thường hiểu, ghi nhớ (nặng

về ghi nhớ máy móc), táihiện

(tiếp thu thụ động kiến thức)

truyền thống được sử dụng linhhoạt theo hướng tích cực hóa hoạtđộng học tập của học sinh (thuyếttrình có sự tham gia tích cực củahọc sinh, đàm thoại gợi mở )

4 Hình thức

tổ chức dạy

học

Theo lớp, đồng loạt Ngoài

ra rải rác có ngoại khóa,thực hành tìm hiểu địaphương

Trang 17

chính các phương tiện dạy học)

hợp với học sinh đánh giá, tạo điềukiện cho học sinh đánh giá lẫnnhau

7 Điều

kiện vật chất

Chủ yếu là bảng đen, phấntrắng

trắng, bàn ghế thuận tiện cho việc

di chuyển theo nhóm, máy vi tính,máy phôtôcoppi, các đIều kiệnphục vụ dạy học khác

địa lí, vườn địa lí

8 Giáo viên Tạm bằng lòng với vốn

chuyên môn, nghiệp vụ cósẵn

Luôn phải nâng cao năng lựcchuyên môn nghiệp vụ, tiếp cận vớiphương pháp dạy học tiên tiến vàphương tiện dạy học hiện đại,những tri thức mới của khoa họcđịa lí

lọc, xử lý và hệ thống hóa thôngtin

Trang 18

1.2.3.2 Đổi mới có trọng tâm, trọng điểm và từng bước vững chắc:

Do điều kiện để tiến hành đổi mới dạy học địa lí giữa các vùng miền, giữathành thị và nông thôn, giữa khu vực đồng bằng và các khu vực miền núi, vùngsâu, vùng xa rất khác biệt nhau, cho nên trong cùng một thời điểm, mức độ và yêucầu về đổi mới phương pháp dạy học địa lí không thể tiến hành một cách đồngloạt, ngang nhau, mà phải đổi mới có trọng tâm, trọng điểm và từng bước vữngchắc Đây được coi là phương châm chỉ đạo đối với quá trình đổi mới trên địa bàn

cả nước cũng như ở các địa phương nước ta

Việc đổi mới quá trình dạy học nói chung và quá trình dạy học địa lí nóiriêng đòi hỏi phải có thời gian, không thể triển khai và kết thúc một sớm, mộtchiều trong vài ba năm Vì thế, tư tưởng nóng vội muốn trong một thời gian ngắnhoàn thành quá trình đổi mới trong khi chưa tạo ra những điều kiện cần và đủ choquá trình đổi mới là không thích hợp và sẽ không thể tránh khỏi những sai sótkhông đáng có Quá trình đổi mới dạy học địa lí sẽ thành công khi mà các trườngTHPT kết hợp được những tiến bộ tuần tự và liên tục với những bước tiến nhảy vọttrong quá trình đổi mới phương pháp dạy học địa lí ở THPT

1.3 MỘT SỐ YÊU CẦU CỤ THỂ VỀ NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP TRONG ĐỔI MỚI DẠY HỌC ĐỊA LÍ Ở TRƯỜNG PHỔ THÔNG

1.3.1 Lựa chọn kiến thức cơ bản của bài dạy địa lí

1.3.1.1 Quan niệm về kiến thức cơ bản của bài dạy địa lí:

Kiến thức cơ bản của bài dạy địa lí là những kiến thức vạch ra được bản chấtcủa sự vật và hiện tượng địa lí Trong chương trình địa lí phổ thông, kiến thức cơbản là những khái niệm và hệ thống khái niệm địa lí, các qui luật, các mối quan hệđịa lí, nhất là các mối quan hệ nhân quả, các sự vật hiện tượng địa lí tiêu biểu họcsinh muốn có được phải qua hoạt động trí tuệ và bằng các thao tác của tư duy.Kiến thức cơ bản địa lí phổ thông có một số đặc điểm cơ bản sau:

địa lí, cả trong địa lí tự nhiên hay địa lí dân cư, hoặc địa lí kinh tế - xã hội cũng đều

có vị trí xác định trong lớp vỏ địa lí của bề mặt Trái Đất, đều gắn với một khônggian cụ thể Đặc điểm này được phản ánh rõ nét trên các bản đồ, lược đồ, tập atlatđịa lí

mối liên hệ tác động qua lại lẫn nhau, hoặc mối liên hệ nhân quả Các mối quan hệ

cơ bản giữa các sự vật và hiện tượng địa lí gồm có: mối quan hệ giữa các sự vật vàhiện tượng địa lí tự nhiên với nhau, mối quan hệ giữa các hiện tượng và sự vật địa

lí dân cư hay địa lí kinh tế - xã hội với nhau, mối quan hệ giữa các sự vật hiệntượng địa lí tự nhiên với địa lí dân cư hay địa lí kinh tế - xã hội, mối quan hệ giữacác sự vật và hiện tượng địa lí trong nội bộ của từng vùng lãnh thổ hay giữa cácvùng lãnh thổ khác nhau

vận động và phát triển theo cả thời gian và không gian Cho nên các sự vật và hiệntượng địa lí của ngày hôm nay khác với ngày hôm qua, của ngày mai sẽ khác vớingày hôm nay, của vùng này sẽ khác với các vùng khác

Trang 19

Như vậy, kiến thức cơ bản của địa lí phổ thông bao gồm những sự vật vàhiện tượng địa lí tiêu biểu, những khái niệm, những quy luật hay quá trình địa lítồn tại trong không gian lãnh thổ được xác định, luôn vận động phát triển theo thờigian, không gian và nằm trong các mối quan hệ nhân quả Trong quá trình giảngdạy, giáo viên phải khắc sâu cho học sinh những kiến thức cơ bản, học sinh phảinắm chắc kiến thức cơ bản của bài dạy địa lí để tiếp thu và nắm vững bài học, giảithích và vận dụng các sự vật và hiện tượng ở trong thực tiễn cuộc sống.

1.3.1.2 Những lý do phải lựa chọn kiến thức cơ bản:

vào nội dung chương trình và sách giáo khoa địa lí phổ thông đã được lựa chọn,sắp xếp theo lôgic khoa học và lôgic sư phạm một cách chặt chẽ, đảm bảo tínhkhoa học, tính thực tiễn, tính giáo dục và tính phổ thông của chương trình Tuynhiên trong đó không phải tất cả đều là kiến thức cơ bản Có những kiến thứckhông phải là cơ bản, mà chỉ nhằm làm rõ và giải thích thêm cho những kiến thức

cơ bản Đồng thời với sự phát triển rất nhanh của khoa học, trong đó Khoa học Địa

lí có một khối lượng tri thức đồ sộ và ngày càng tăng lên Điều đó dẫn đến nhiềumâu thuẫn xuất hiện trong quá trình dạy học, đó là: khối lượng tri thức thì phongphú, nhiệm vụ dạy học thì đa dạng, nhưng thời gian tiết lên lớp lại có hạn (45phút); trong dạy học phải đảm bảo tính khoa học và tính vừa sức đối với học sinh,đảm bảo sự lĩnh hội kiến thức vững chắc với sự phát triển toàn diện những nănglực nhận thức của học sinh Với những nguyên nhân như vậy cho nên trong bàidạy địa lí người giáo viên không phải dạy toàn bộ nội dung kiến thức, mà chỉ dạykiến thức cơ bản Vì thế phải chọn kiến thức cơ bản, tổ chức, hướng dẫn để họcsinh lĩnh hội được và khắc sâu loại kiến thức này của bài học

việc kế thừa hay sử dụng tri thức của các bộ môn khác phục vụ cho bài dạy địa lí làmột yêu cầu tất yếu, nhưng nếu giáo viên không nắm vững những đặc điểm củakiến thức cơ bản địa lí (luôn gắn liền với lãnh thổ, luôn tồn tại trong các mối quan

hệ tác động qua lại lẫn nhau hay mối quan hệ nhân quả, thường xuyên vận độngphát triển theo thời gian và không gian) để lựa chọn và giảng dạy thì dễ biến bàidạy địa lí thành bài dạy giáo dục công dân, bài sinh học hay bài thống kê kinh tế Mặt khác, trong từng tiết học, không phải dành toàn bộ thời gian cho việc truyềnthụ và lĩnh hội kiến thức, học sinh cũng rất cần có thêm thời gian để hoạt độngnhận thức, rèn luyện kỹ năng, rèn luyện cách thức học tập, bồi dưỡng cho học sinhphương pháp tự học Chính vì vậy mà chỉ chọn và dạy cho học sinh những kiếnthức cơ bản của bài dạy

viên địa lí đã rơi vào hai cực của việc dạy học: một số giáo viên thì ôm đồm, thamlam kiến thức, cái gì cũng muốn dạy, đưa vào dạy nhiều kiến thức nhưng khôngkhắc sâu được kiến thức cơ bản, hoặc có ít kiến thức cơ bản, làm cho tiết học nặng

nề đối với học sinh; khuynh hướng như vậy thường ở những giáo viên mới vàonghề Ngược lại một số giáo viên khác lại rơi vào cực kia, đó là bệnh quá “tómlược” bài giảng, tóm lược sách giáo khoa, cho nên nhiều kiến thức cơ bản của bàidạy bị cắt bỏ, dẫn đến không đảm bảo truyền thụ cho học sinh đầy đủ những kiến

Trang 20

thức cần thiết Khuynh hướng này thường có ở những giáo viên lâu năm trongnghề.

Nhìn chung cả hai khuynh hướng nêu trên đều vi phạm nguyên tắc xác địnhkiến thức cơ bản và không đem lại hiệu quả cao trong dạy học Vì thế, để tránhđược cả hai khuynh hướng đã nêu cần lựa chọn kiến thức cơ bản của bài để dạy.1.3.1.3 Căn cứ để lựa chọn kiến thức cơ bản:

Làm sao để chọn đúng các kiến thức cơ bản của một bài dạy địa lí là côngviệc không đơn giản và phức tạp Để chọn đúng kiến thức cơ bản của một bài dạy,giáo viên cần phải dựa vào các căn cứ sau:

* Nắm vững đối tượng và nhiệm vụ nghiên cứu của bộ môn:

Như đã đề cập ở trên, do tính tổng hợp cao của khoa học địa lí mà nộidung tri thức địa lí liên quan đến hàng loạt ngành khoa học khác Việc kế thừa hay

sử dụng tri thức của các bộ môn khác phục vụ cho việc dạy học địa lí là một yêucầu tất yếu và cần thiết, nhằm làm sáng tỏ các mối quan hệ trong địa lí Tuy nhiên,

sử dụng chúng đến mức độ nào để vừa đủ sáng rõ kiến thức địa lí mà không viphạm nội dung địa lí do chính đối tượng của khoa học địa lí qui định Điều này đòihỏi người giáo viên phải cân nhắc kỹ và nó phụ thuộc vào tay nghề của người giáoviên

* Bám sát chương trình bộ môn và sách giáo khoa địa lí:

Trong dạy học địa lí, sách giáo khoa là tài liệu chủ yếu cho hoạt động dạycủa thầy và hoạt động học của trò, còn chương trình bộ môn là pháp lệnh cần phảituân theo Vì thế việc bám sát vào chương trình môn học và sách giáo khoa là điềubắt buộc tất yếu Căn cứ vào đó để lựa chọn kiến thức cơ bản, sẽ đảm bảo đượctính thống nhất của nội dung dạy học trong toàn quốc Các kiến thức trong sáchgiáo khoa đã được qui định để dạy cho học sinh, dựa vào đó để xác định chuẩnkiến thức cho học sinh, cho nên khi dạy việc lựa chọn kiến thức cơ bản của bài dạy

là chọn kiến thức ở trong sách giáo khoa, chứ không phải ở tài liệu nào khác Cũngnhư căn cứ vào sách giáo khoa để biết lượng kiến thức cơ bản phải dạy của bài

Tuy nhiên, trong quá trình dạy học, để mở rộng vốn hiểu biết về vấn đềphải dạy và tạo khả năng lựa chọn đúng kiến thức cơ bản, giáo viên cũng cần đọcthêm tài liệu, sách báo tham khảo, các thông tin từ nhiều nguồn khác nhau NhưN.N.Baranxki đã nêu: “muốn chọn lọc cái không nhiều, cái quan trọng cần phảihọc rất nhiều (hầu như tất cả mọi thứ) và không phải chỉ học tập mà còn phải hiểubiết sâu sắc nữa”

* Phải quan tâm và căn cứ vào đối tượng học sinh:

Giáo viên phải nắm được trình độ học sinh (đối tượng của dạy học), cầnphải biết học sinh nắm vững kiến thức ở mức độ nào, dựa vào kiến thức của các

em để cân nhắc lựa chọn kiến thức cơ bản của bài giảng, xem kiến thức nào cần bổsung, cần phát triển hoặc đi sâu hơn Đối với học sinh yếu kém thì khối lượngkiến thức cơ bản thường phải tăng lên, bởi vì giáo viên có thể phải giảng lại nhữngkiến thức cơ bản cũ đã học Còn với học sinh khá giỏi thì khối lượng kiến thức cơbản có thể giảm đi, bởi một số kiến thức cơ bản là những vấn đề khá quen thuộchàng ngày đối với diện học sinh này, có thể không cần phải dạy

Trang 21

1.3.1.4 Phương pháp lựa chọn kiến thức cơ bản của bài dạy địa lí:

Trong dạy học địa lí phổ thông, để lựa chọn kiến thức cơ bản, chúng ta cóthể sử dụng phương pháp lựa chọn theo qui trình ba bước sau đây:

phải dạy của bài và của từng phần trong bài

từng phần trong bài, xác định phần trọng tâm Bước này còn gọi là “khoanh vùng”kiến thức cơ bản, xác định xem nội dung của bài là những loại kiến thức cơ bảnnào: khái niệm, qui luật, các mối quan hệ nhân quả, hay là các sự vật và hiện tượngđịa lí tiêu biểu

“vùng” đã khoanh, xem xét từng loại kiến thức cơ bản: có mấy khái niệm, mấy mốiquan hệ nhân quả, mấy qui luật (nếu có), những sự vật và hiện tượng địa lí tiêubiểu điển hình nào? Để trả lời cho các câu hỏi: Cái gì? Ở đâu? Tại sao ở đó?Tình hình phát triển ra sao?

Trong việc sử dụng các phương pháp để lựa chọn kiến thức cơ bản của bàidạy địa lí, cần lưu ý một số điểm sau:

+ Các kiến thức cơ bản tuy được phân bố ở từng phần, từng mục cụ thể trongbài, nhưng chúng có quan hệ với nhau trong một thể thống nhất của nội dung bàihọc Vì thế trong nhiều trường hợp, đơn vị kiến thức cơ bản này là hệ quả, là sựtiếp nối hay tiền đề cơ sở cho các đơn vị kiến thức cơ bản khác

+ Trong kiến thức cơ bản của bài dạy địa lí, có những nội dung then chốt,nếu nắm được nó thì có thể làm cơ sở để hiểu được các kiến thức khác liên quanhay gần gũi Đó là những kiến thức trọng tâm của bài cần phải xác định được Phầntrọng tâm của bài có thể nằm gọn ở một, hai mục của bài, nhưng cũng có thể nằmxen kẽ ở tất cả các mục của bài

+ Việc chọn lọc kiến thức cơ bản của bài dạy có thể được gắn với việc sắpxếp lại cấu trúc của bài để làm nổi bật các mối liên hệ giữa các hợp phần kiến thứctrong bài, từ đó làm rõ thêm các nội dung trọng tâm của bài Việc làm như vậy thật

sự cần thiết, tuy nhiên không phải ở bài nào cũng có thể tiến hành được Khi cấutrúc lại nội dung bài học phải tuân thủ nguyên tắc không làm biến đổi tinh thần cơbản của bài học mà các tác giả sách giáo khoa đã dày công xây dựng

1.3.2 Gắn kiến thức thực tế vào bài dạy địa lí:

1.3.2.1 Quan niệm về kiến thức thực tế của bài dạy địa lí:

Kiến thức thực tế của bài dạy địa lí là những kiến thức mà thầy giáo và họcsinh không cần phải qua tư duy nhưng có thể thu nhận được trong môi trường tựnhiên, môi trường xã hội, kinh tế, dân cư Những kiến thức này rất gần gũi, quenthuộc với đời sống hàng ngày và có liên quan hay gắn chặt với bài địa lí

Kiến thức thực tế rất phong phú Có kiến thức về tự nhiên, như đợt thiên taivừa xảy ra trong nước hay trên thế giới, một điểm khoáng sản mới được pháthiện Đặc biệt các kiến thức thực tế về dân cư, về kinh tế - xã hội lại càng phongphú hơn, như số liệu về dân cư lao động và việc làm mới thu được qua điều tra dân

số, một điểm quần cư mới được xây dựng, một khu công nghiệp hay một con

Trang 22

đường mới mở, năng suất và sản lượng một loại cây trồng mới đạt được trongnăm Đồng thời kiến thức thực tế cũng rất đa dạng, có thể thu nhận được qua mộtbức ảnh, một bài báo, một phóng sự truyền hình, một bản báo cáo hay một Nghịquyết của Đảng

1.3.2.2 Sự cần thiết phải gắn kiến thức thực tế vào bài dạy địa lí:

kiến thức cơ bản của bài dạy địa lí nằm trong sách giáo khoa Mà sách giáo khoathường được xuất bản in ra tại một thời điểm nhất định, dẫn đến nhiều kiến thức đã

cũ và trở thành lỗi thời, không còn phản ánh tính cập nhật và đúng thực tế kháchquan của sự vật và hiện tượng địa lí Vì thế nếu chỉ dạy những nội dung và kiếnthức trong sách giáo khoa thì kiến thức của học sinh sẽ bị lạc hậu, nhiều khi lại rấtkhác xa với thực tế

môi trường kinh tế - xã hội và dân cư xung quanh con người lại luôn luôn thay đổinhanh chóng cả về phạm vi và cường độ, như sự thay đổi về bản đồ chính trị thếgiới qua các thời kỳ, về quá trình toàn cầu hóa, và khu vực hóa nền kinh tế quốc tếđang diễn ra, những thành tựu của nền kinh tế nước ta từ sau khi đổi mới cho đếnnay Cho nên vấn đề đặt ra trong quá trình dạy học địa lí là phải làm cho sáchgiáo khoa bám sát thực tế, làm cho địa lí nhà trường thiết thực hơn đối với đờisống học sinh, kiến thức địa lí gắn chặt hơn với thực tế cuộc sống con người, nhằmthực hiện nguyên lý “học đi đôi với hành, nhà trường gắn liền với xã hội ”

cho bài giảng trở nên phong phú và sinh động hơn Nhờ đó kích thích được tính tò

mò, hấp dẫn hơn và học sinh sẽ hứng thú hơn trong học tập môn Địa lí

Tóm lại, với những lý do nêu trên, trong quá trình dạy học rất cần thiết phảigắn kiến thức thực tế vào bài giảng trong nhà trường Riêng đối với môn học Địa

lí, việc gắn kiến thức thực tế vào bài dạy địa lí cũng có thể xem đó là một sự bắtbuộc cần thiết đối với giáo viên

1.3.2.3 Các nguyên tắc lựa chọn kiến thức thực tế:

Những kiến thức thực tế được người giáo viện lựa chọn để đưa vào bài giảngđịa lí, cần tuân thủ bốn nguyên tắc sau đây:

* Phải phù hợp với nội dung bài dạy địa lí:

Như đã trình bày ở phần trước, kiến thức thực tế rất phong phú và đa dạng,

vì thế khi giảng dạy người giáo viên không phải đưa hết vào bài giảng, mà phải có

sự lựa chọn Chỉ những kiến thức thực tế nào có tác dụng bổ sung, mở rộng và làmsáng tỏ những kiến thức cơ bản trong sách giáo khoa mới được đưa vào bài giảng.Nghĩa là kiến thức thực tế phải gắn chặt với kiến thức cơ bản của bài dạy

* Đảm bảo tính chính xác và hiện đại:

Những kiến thức thực tế chính xác là những kiến thức có nguồn gốc, có xuất

xứ rõ ràng và độ tin cậy cao Như kiến thức hoặc số liệu thống kê trong niên giámthống kê hàng năm, trong Nghị quyết của Đảng, trong các tạp chí chuyên ngành,hoặc các công bố trong thông báo có tính chất pháp qui của nhà nước Dứt khoátkhông phải là những kiến thức lấy từ những thông tin truyền miệng, tin đồn

Trang 23

nhảm Ngay cả một số kiến thức thực tế được đăng tải trên các phương tiện thôngtin đại chúng, khi muốn lựa chọn để đưa vào bài giảng địa lí cũng phải có sự cânnhắc và thẩm định kỹ càng.

Kiến thức thực tế hiện đại phải là những kiến thức phản ánh đúng bản chất

sự vật và hiện tượng, phản ánh đúng xu hướng vận động, phát triển khách quan của

sự vật và hiện tượng địa lí, phản ánh đúng qui luật phát triển: Những kiến thứchiện đại có thể là những cái mới, nhưng không phải cứ mới là hiện đại Thực tếnhiều kiến thức không mới nhưng vẫn là kiến thức hiện đại

* Kiến thức thực tế phải đảm bảo tính giáo dục và tính sư phạm Nghĩa là

những tài liệu, thông tin, những ví dụ hay những chuyện kể mà người giáo viên sửdụng trong việc liên hệ với thực tiễn trong giờ dạy phải có tính sư phạm và tínhgiáo dục cao Tính sư phạm thể hiện ở sự rõ ràng, mạch lạc, trong sáng, lôgic chặtchẽ và sự gắn kết với nội dung bài dạy của những kiến thức thực tế Còn tính giáodục được thể hiện ở chỗ những kiến thức thực tế được đưa vào bài giảng phải cómột sự tác động nhất định tới nhận thức, cảm xúc và tình cảm của học sinh theohướng tích cực

* Các kiến thức thực tế đưa vào bài dạy địa lí phải đảm bảo tính thẩm mỹ.

Nghĩa là có tác dụng hình thành hay bồi dưỡng khiếu thẩm mỹ ở học sinh Chẳnghạn nếu lấy một bức ảnh đưa vào bài, phải là một bức ảnh rõ nét và có tính nghệthuật, khi trích một đoạn văn hay đoạn thơ thì đoạn văn, đoạn thơ đó phải sáng sủa,mạch lạc, giàu về hình ảnh và có tính trữ tình

1.3.2.4 Phương pháp đưa kiến thức thực tế vào bài dạy địa lí:

Trong quá trình tiến hành giờ dạy trên lớp, phải đưa kiến thức thực tế vàobài giảng một cách tự nhiên, nhuần nhuyễn, làm cho kiến thức cơ bản và kiến thứcthực tế gắn bó hữu cơ thống nhất với nhau làm một, sao cho học sinh không phânbiệt được đâu là kiến thức cơ bản, đâu là kiến thức thực tế

Trong giờ dạy, khi gặp những kiến thức cần liên hệ với thực tế thì đưa kiếnthức thực tế vào liên hệ ngay Không nên để chuyển tải hết phần kiến thức cơ bảncủa bài dạy hoặc của từng phần bài dạy, sau đó mới dừng lại để đưa kiến thức thực

tế vào bài dạy tạo thành một phần riêng Làm như vậy sẽ tạo nên sự gượng ép và

gò bó đối với quá trình nhận thức của học sinh, dẫn đến hiệu quả của việc gắn kiếnthức thực tế vào bài dạy địa lí sẽ không cao

1.3.3 Đổi mới thiết kế bài dạy học địa lí

1.3.3.1 Quan niệm về thiết kế bài dạy học:

Thiết kế bài dạy học là tạo ra một chương trình phối hợp hành động giữahoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò mà ở đó các mối liên hệ hữu cơgiữa mục tiêu, nội dung, phương pháp và phương tiện học tập được thể hiện mộtcách sinh động Vì thế thiết kế bài dạy học là nhiệm vụ quan trọng của người giáoviên địa lí, đó là công việc chuẩn bị để tổ chức hoạt động học tập của học sinh ởtrên lớp, nó bao gồm từ việc nghiên cứu chương trình, sách giáo khoa và tài liệutham khảo để xác định mục tiêu dạy học, lựa chọn kiến thức cơ bản, dự kiến cáchthức tạo nhu cầu kiến thức ở học sinh, xác định các hình thức tổ chức dạy học và

Trang 24

các phương pháp, phương tiện dạy học thích hợp, đến cả việc dự kiến các tìnhhuống sư phạm có thể xảy ra trong bài dạy và cách ứng xử thích hợp của giáo viên.

Sẽ là một sai lầm lớn nếu giáo viên coi bài soạn (giáo án) là sản phẩm hoànchỉnh của việc thiết kế bài dạy học Sản phẩm của việc thiết kế bài dạy học baogồm bài soạn và toàn bộ những suy nghĩ, tính toán về quá trình dạy học sẽ diễn ratrong tiết học sắp đến Cho nên có một phần sản phẩm của thiết kế bài dạy họcđược thể hiện trên giấy (trong giáo án), một phần khác lại nằm trong suy nghĩ củagiáo viên Giáo án là một bản kế hoạch cụ thể của thầy và trò, các phương pháp vàphương tiện được sử dụng, nội dung kiến thức cơ bản của bài học Nhưng tronggiáo án không thể thể hiện được cảm xúc, tư tưởng, tình cảm của người dạy vàngười học, cũng như không thể trình bày hết những dự kiến, cách ứng xử củangười dạy và các tình huống sư phạm có thể xảy ra Đây là điểm phân biệt rõ rệtgiữa giáo án và thiết kế bài dạy học

Tóm lại, thiết kế bài dạy học là một hoạt động đa diện, phức tạp, tốn nhiềucông sức và trí tuệ của giáo viên Nếu người giáo viên làm tốt công việc thiết kếbài dạy học, sẽ là một tiền đề quan trọng dẫn đến thành công trong dạy học củamình

1.3.3.2 Ý nghĩa của việc đổi mới thiết kế bài dạy học:

Đổi mới thiết kế các bài dạy học là hết sức cần thiết, nó có tác dụng trực tiếpđến việc đổi mới hoạt động dạy học ở trên lớp, mà việc đổi mới hoạt động nàytrước hết phải được thể hiện trong một “kịch bản” (giáo án) được thiết kế theonhững định hướng đổi mới Vì thế muốn thực hiện thành công đổi mới dạy học địa

lí trong các giờ học trên lớp thì trước hết giáo viên cần phải đổi mới việc thiết kếcác tiết học, các bài học

Đổi mới việc thiết kế bài dạy học địa lí là khâu khởi đầu quan trọng của quátrình đổi mới phương pháp dạy học địa lí ở bậc Trung học phổ thông Thành côngcủa nó sẽ tạo nên tiền đề quan trọng để thực hiện thành công quá trình đổi mới giáodục địa lí ở các trường phổ thông nước ta

1.3.3.3 Những yêu cầu đối với việc đổi mới thiết kế bài dạy học:

Theo tinh thần đổi mới phương pháp dạy học, việc thiết kế bài dạy học cầnđáp ứng được các yêu cầu sau:

Yêu cầu 1: Trong cấu trúc bài soạn, hoạt động của học sinh phải được xác

lập như là thành phần trung tâm, cốt yếu và nổi bật của quá trình dạy học, nhằmchuyển trọng tâm từ dạy sang học

Để thực hiện được yêu cầu như vậy, giáo viên cần phải:

* Xác định và biểu đạt một cách chính xác các mục tiêu cụ thể của bài học theo quan điểm lấy học sinh làm trung tâm Nhằm mục đích này trong bài soạn

cần:

được (biết, hiểu, làm được) Có nghĩa là chuyển mục tiêu của bài học từ giáo viêntheo kiểu dạy học lấy thầy làm trung tâm, sang cho học sinh theo kiểu dạy học lấytrò làm trung tâm Nói cách khác, mục tiêu của bài học được xác định phải trả lờiđược câu hỏi: “học xong bài này, học sinh cần biết, hiểu hay làm được cái gì ?”

Trang 25

- Mục tiêu xác định cần phải cụ thể để có thể kiểm chứngđược và phù hợp với điều kiện dạy học, năng lực giáo viên và trình độ học sinh.

Ví dụ:

Khi dạy bài Môi trường và sự phát triển bền vững (địa lí lớp 10 phân ban),nếu giáo viên đưa ra mục tiêu: sau khi học xong bài này học sinh “hiểu được kháiniệm bền vững” thì có thể xem đã thỏa mãn yêu cầu lấy trò làm trung tâm, nhưngchưa đạt yêu cầu là mục tiêu phải cụ thể và kiểm chứng được Vì ở đây có nhữngkhả năng khác nhau xảy ra đối với “hiểu”: có thể là khả năng trình bày ý nghĩa củaphát triển bền vững, cũng có thể đó là khả năng giải thích vì sao cần phải phát triểnbền vững, hay khả năng đó là chứng minh sự tất yếu của phát triển bền vững Vìvậy, mục tiêu trên cần phải biểu đạt lại cụ thể hơn và để kiểm chứng được Chẳnghạn biểu đạt lại mục tiêu nêu trên như sau: Sau bài học, học sinh chứng minh đượcvai trò quan trọng và sự tất yếu của phát triển bền vững

đích nào cần được ưu tiên thực hiện Mục tiêu dạy học thường được phân thành banhóm chính (mục tiêu nhận thức, mục tiêu về kỹ năng, mục tiêu về hành vi - tháiđộ) Tuy nhiên, trong mỗi loại bài học sẽ có một mục tiêu cụ thể nằm trong số 3mục tiêu nói trên được ưu tiên thực hiện, mục tiêu này phải được đặt lên hàng đầu,còn các mục tiêu khác có tính chất hỗ trợ

Theo B.Bloom (1964) - có ba nhóm mục tiêu sau:

+ Nhóm mục tiêu nhận thức (biểu thị các kỹ năng và năng lực trí tuệ), baogồm: biết, hiểu, áp dụng, phân tích, tổng hợp, đánh giá

+ Nhóm mục tiêu tâm vận động (biểu thị những kỹ năng vận động, nên còngọi là mục tiêu tâm vận động), bao gồm: bắt chước, quan sát, thao tác, hành động + Nhóm mục tiêu cảm xúc (liên quan đến sự chú ý, mối quan tâm, sự nhậnbiết, đánh giá và thẩm mỹ, đạo đức hoặc các giá trị khác), bao gồm: tiếp nhận, đápứng (lòng mong muốn tham gia), định giá, tổ chức, cam kết

* Xác định một cách chính xác các "nguyên liệu, vật liệu" (đầu vào) cần thiết cho bài học, tức là xác định rõ và thể hiện trên giáo án với những phương pháp,

phương tiện và hình thức tổ chức dạy học nào thì có thể đạt được các mục tiêu đề

ra của bài học Giáo án phải trả lời được câu hỏi: Dạy như thế nào? Ở đây nên tăngcường sử dụng các phương pháp và hình thức dạy học tích cực, như phương phápđàm thoại gợi mở, thảo luận, tranh luận, động não, dạy học cá nhân, hợp tácnhóm

* Thiết kế các tình huống sư phạm nhằm định hướng bài học và tạo nhu cầu, hứng thú nhận thức cho học sinh Khi bắt đầu bài học, không những cần nêu rõ

mục tiêu bài học, mà giáo viên cũng cần chuẩn bị cho học sinh một tâm thế và tạonhu cầu, gây hứng thú học tập ở học sinh Việc định hướng và tạo nhu cầu nhậnthức sẽ đạt được kết quả cao khi giáo viên tạo ra và đặt học sinh vào tình huống cóvấn đề, cũng như giúp học sinh nhận thức được những nhiệm vụ học tập mà bảnthân các em phải giải quyết

Nhu cầu và hứng thú của học sinh cần được duy trì trong suốt cả tiết học

Vì vậy trên giáo án cần thể hiện rõ những biện pháp tạo động cơ trong các khâukhác nhau của bài học Cần chú ý đến những biện pháp khen thưởng, động viên

Trang 26

củng cố tạo ra được lòng tin của học sinh sẽ có tác dụng rất lớn trong việc tạo động

cơ và đem lại cho học sinh thành công trong học tập

* Xác định rõ các quá trình, các hoạt động dạy học cần phải diễn ra (những hành động và thao tác) để có thể đạt được mục tiêu đề ra của bài học Đây là bước

chủ chốt có ý nghĩa quyết định đến chất lượng của bản thiết kế bài học Theo tinhthần đổi mới, giờ học được thiết kế thành một chuỗi các hoạt động phối hợp giữathầy và trò Mỗi hoạt động (một tiết học thường có từ 3 đến 5 hoạt động) đều nhằmđạt một mục tiêu nhất định, được giới hạn trong một khoảng thời gian nhất định vàđược thực hiện thông qua các tác động của thầy (hướng dẫn, chỉ đạo) và các thaotác trí tuệ của trò (quan sát, phân tích, so sánh, phán đoán, khái quát hóa, hệ thốnghóa ), cũng như những thao tác thực hành (vẽ biểu đồ, xử lý số liệu thống kê,tranh ảnh )

Yêu cầu 2: Bản thiết kế tiết học, bài học cần thể hiện rõ nét các chức năng

điều hành của quá trình dạy học (các khâu cơ bản của quá trình dạy học) theo quanđiểm của lý luận dạy học hiện đại Đó là:

ngay ở phần đầu của giáo án Thể hiện chức năng này giáo viên cần phải thiết kế

và thể hiện những tình huống, biện pháp sư phạm nhằm tạo ra ở học sinh một nhucầu, một hứng thú nhận thức giúp học sinh nhận thức được những mục tiêu cần đạtđược sau bài học, tạo ra động lực bên trong thúc đẩy hoạt động tự giác, chủ độngcủa học sinh Trong mẫu giáo án mới được gợi ý, khâu cơ bản này của bài học nằm

ở điểm 2.1 mục III

ý nghĩa lớn trong quá trình dạy học Ở đây giáo viên cần thể hiện rõ các phươngpháp, biện pháp và hình thức tổ chức, điều khiển hoạt động dạy của thầy và hoạtđộng học của học sinh để học kiến tạo tri thức, rèn luyện kỹ năng và đạt được cácmục tiêu khác của bài học Trong mẫu giáo án gợi ý (ở phần sau), khâu cơ bản nàynằm ở mục III (hoạt động dạy học)

hành vi, phẩm chất đạo đức của học sinh trở nên vững chắc hơn, ổn định hơn.Củng cố diễn ra dưới các hình thức: tóm tắt, nhắc lại, đào sâu, luyện tập, ứng dụng

và hệ thống hóa

kết quả học tập của học sinh ở những thời điểm nhất định Trong mẫu giáo án mớiđược gợi ý ở phần sau, khâu củng cố, kiểm tra - đánh giá nằm ở mục IV (củng cố -đánh giá)

Trên đây là các khâu cơ bản trong một bài soạn, không phải là các giaiđoạn hay các bước nối liền kế tiếp nhau về mặt thời gian Vì thế không nhất thiếtbài soạn nào cũng phải trải qua đầy đủ các khâu và theo đúng trình tự trên

Yêu cầu 3: Cải tiến về hình thức thể hiện bản thiết kế bài dạy học (giáo

Trang 27

HS (giáo viên làm việc với cá nhân học sinh), HS (học sinh làm việc độc lập), HS

- HS (học sinh làm việc theo nhóm)

Về hình thức giáo án được thiết kế, qua các thời kỳ mẫu giáo án đượcgiảng dạy tại trường sư phạm cũng có những thay đổi, và hiện nay mẫu giáo ánđược các Sở Giáo dục và Đào tạo chỉ đạo cũng không phải hoàn toàn thống nhấtvới nhau Phần sau sẽ giới thiệu một số mẫu giáo án được thiết kế theo tinh thầnđổi mới, phát huy tính tích cực hoạt động học tập của học sinh

1.3.3.4 Các bước thiết kế bài dạy học địa lí:

Từ những yêu cầu đặt ra nêu trên, chúng ta có thể hình dung thiết kế bài họcđịa lí bao gồm các bước sau đây:

* Xác định mục tiêu bài dạy:

Đây là công việc đầu tiên của việc thiết kế bài học Mục tiêu của bài dạy làcái đích mà bài học cần phải đạt tới và là cơ sở để thực hiện các bước tiếp theo củaquá trình thiết kế bài học, như lựa chọn kiến thức cơ bản, lựa chọn phương pháp vàhình thức tổ chức, cũng như xác định các hình thức củng cố đánh giá trong bài học

Những yêu cầu cụ thể của bước này đã được trình bày rõ ở điểm a trong yêu cầu 1

nêu trên

* Lựa chọn kiến thức cơ bản:

Lựa chọn kiến thức cơ bản là bước tiếp theo của quá trình thiết kế bài học.Tiếp theo phần xác định rõ loại kiến thức, kỹ năng và thái độ như thế nào học sinhcần đạt được sau bài học ở phần mục tiêu, thì trong bước thứ hai này giáo viên phảixác định rõ những nội dung cơ bản (kiến thức cơ bản) nào cần cấu trúc trong bàihọc Phần lựa chọn kiến thức cơ bản sẽ được trình bày kỹ ở nội dung phần 4 dướiđây

Trang 28

MẪU GIÁO ÁN 1:

Trường THPT Tiết Tên bài:

Ngày tháng năm

Người soạn: Lớp Ban

1 Kiến thức

2 Kỹ năng

3 Thái độ

* Lưu ý: Không nhất thiết bài nào cũng phải nêu đầy đủ mục tiêu về cả kiến thức,

kỹ năng, thái độ Đối với bài truyền thụ kiến thức cần chú trọng trước hết đếnmục tiêu về kiến thức, còn các bài thực hành thì mục tiêu hàng đầu là kỹ năng.Đôi khi mục tiêu về kiến thức và kỹ năng có thể diễn đạt kết hợp với nhau

II PHƯƠNG PHÁP - PHƯƠNG TIỆN DẠY HỌC:

1 Phương pháp chủ yếu

2 Phương tiện dạy học

III HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:

1 Ổn định lớp và kiếm tra bài cũ (Ghi rõ câu hỏi kiểm tra Bước này có thểthực hiện ngay từ đầu tiết học, cũng có thể tiến hành xen kẽ trong khi dạybài mới)

2 Bài mới:

2.1 Mở bài: (Định hướng bài học, tạo nhu cầu học tập ở học sinh)

2.2 Tiến trình bài mới:

Ghi chú:

(1): Thời gian dự kiến cho mỗi hoạt động

(2) : Ghi chính xác, ngắn gon, rõ ràng, trình bày hợp lý, khoa học Đây là phầngiáo viên ghi bảng và học sinh ghi vở

(3): Cách thức tổ chức, điều khiển, chỉ đạo hoạt động học tập của học sinh vàcách truyền thụ tri thức cho học sinh

Vị trí của mục (2) và (3) có thể đổi cho nhau

IV CỦNG CỐ - ĐÁNH GIÁ: (Giáo viên nhắc lại, nhấn mạnh khắc sâu nhữngtrọng tâm của bài, đưa ra các câu hỏi hay bài tập để đánh giá sơ bộ việc nắmvững bài của học sinh

V HƯỚNG DẪN HỌC SINH HỌC Ở NHÀ (HOẠT ĐỘNG TIẾP NỐI):

(Hướng dẫn học sinh cách hoàn thiện bài học ở nhà, làm bài tập, chuẩn bị cho bài học sau)

Trang 29

MẪU GIÁO ÁN 2:

Trường THPT Tiết Tên bài:

Ngày tháng năm

Người soạn: Lớp Ban

2 Phương tiện dạy học

III HOẠT ĐỘNG DẠY HỌC:

1 Ổn định lớp và kiếm tra bài cũ (ghi rõ câu hỏi kiểm tra)

2 Bài mới:

2.1 Mở bài: (Định hướng bài học, tạo nhu cầu học tập ở học sinh)

2.2 Tiến trình bài mới:

Hoạt động 1 :

Hoạt động 2 :

Ghi chú: Trong mỗi hoạt động cần ghi rõ:

- Mục tiêu của mỗi hoạt động

- Thời gian dự kiến cho mỗi hoạt động

- Cách thức tổ chức, điều khiển, chỉ đạo của thầy và hoạt động học tập củahọc sinh

IV CỦNG CỐ - ĐÁNH GIÁ: (Giáo viên nhắc lại, nhấn mạnh khắc sâu những nộidung trọng tâm của bài, sau đó đưa ra các câu hỏi hay bài tập để đánh giá sơ bộ

V HƯỚNG DẪN HỌC SINH HỌC Ở NHÀ (HOẠT ĐỘNG TIẾP NỐI):

(Hướng dẫn học sinh cách hoàn thiện bài học ở nhà, làm bài tập, chuẩn bị cho bài học sau)

* Thiết kế các hoạt động dạy học của thầy và trò:

Về thực chất, nội dung bước này là thiết kế một chuỗi các hoạt động, hànhđộng dạy học cho một bài học cụ thể Nếu xét về mặt cấu trúc, một bài học thường

có 3 phần: “mở bài, thân bài, kết luận”, trong đó mỗi phần đảm nhiệm một chứcnăng nhất định Phần “mở đầu” của bài có chức năng chủ yếu là định hướng mụctiêu học tập và tạo nên nhu cầu, hứng thú nhận thức cho học sinh, phần “thân bài”đảm nhận chức năng chủ yếu là giúp học sinh chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng mới.Còn phần “kết luận” có nhiệm vụ củng cố, đánh giá kết quả học tập của học sinh ởtrên lớp và hướng dẫn học sinh học tập ở nhà Yêu cầu cụ thể về nội dung củabước này đã được trình bày ở hai điểm cuối thuộc yêu cầu 1 đã nêu

Trang 30

* Xác định rõ cách thức kiểm tra, đánh giá sản phẩm đạt được sau giờ học:

Với một giờ học thực hành thì việc hình dung và xác định sản phẩm màhọc sinh phải tạo ra thường không phức tạp và khá rõ ràng Nhưng đối với các giờhọc tiếp thu kiến thức mới thì việc xác định rõ sản phẩm mà học sinh phải tạo ratrong giờ học thường không đơn giản Vì thế cần phải bám sát mục tiêu đề ra củabài học mà có cách thức kiểm tra, đánh giá sản phẩm đạt được của học sinh sau giờhọc cho phù hợp

1.3.3.5 Trình bày bản thiết kế bài học địa lí:

Những suy nghĩ của giáo viên về thiết kế một bài học cụ thể cuối cùng đượcthể hiện trong một bản thiết kế mà người ta thường gọi là giáo án Bên cạnh việcthể hiện mục tiêu, nội dung, phương pháp và phương tiện dạy học thì giáo án cầnthể hiện rõ các chức năng điều hành của quá trình dạy học, hay còn gọi là các khâu

cơ bản của quá trình dạy học Những yêu cầu cụ thể về nội dung của bước này đãđược trình bày ở phần yêu cầu 2 và yêu cầu 3 nêu trên (mục 3.3)

1.4 NHỮNG YÊU CẦU ĐẶT RA CẦN LƯU Ý VỀ PHƯƠNG PHÁP TRONG DẠY HỌC ĐỊA LÍ THEO CHƯƠNG TRÌNH VÀ SÁCH GIÁO KHOA MỚI

Khi chương trình và sách giáo khoa đã đổi mới, tất yếu phương pháp dạy học

bộ môn nhằm chuyển tải nội dung của chương trình và sách giáo khoa đến ngườihọc cũng phải đổi mới theo Để tạo cơ sở cho việc đổi mới cách dạy và cách học ởtrường phổ thông, sách giáo khoa địa lí cố gắng tạo ra những cái mới như đã trìnhbày ở phần nội dung trước Cho nên phương pháp dạy học khi dạy theo sách giáokhoa mới, về phía giáo viên cũng cần lưu ý thêm một số yêu cầu sau:

- Với sách giáo khoa mới, đòi hỏi người giáo viên phải đầu tư nhiều hơn vềthời gian và trí tuệ trong khâu chuẩn bị bài, vừa để làm rõ những nội dung kiếnthức ẩn chứa ở kênh hình, bảng số liệu thống kê và hệ thống các bài tập, câu hỏixen kẽ trong bài, cũng như tìm ra cách thức và phương pháp tốt nhất nhằm hướngdẫn cho học sinh tự học, tự làm việc sao cho có hiệu quả với các phần nội dungnày của sách giáo khoa; đồng thời vừa để xác định phần trọng tâm của bài phải tậptrung đi sâu trong tiết học, còn các phần khác chỉ gợi ý hướng dẫn để học sinh tựhọc Nhìn chung các bộ sách giáo khoa mới, trong quĩ thời gian một tiết dạy thìlượng kiến thức được đưa vào khá nhiều, cho nên đã có nhiều ý kiến cho rằngchương trình theo sách giáo khoa mới đang được thí điểm là nặng Nếu cứ dạy mộtcách dàn đều, dạy tất cả những gì được viết trong sách giáo khoa ngay tại lớp nhưnếp quen cũ của không ít giáo viên hiện nay thì không tài nào dạy hết nội dungkiến thức của bài Vì thế những điểm mới trong sách giáo khoa không chỉ buộc họcsinh phải “mới” trong cách học mà còn buộc giáo viên phải “mới” trong cách dạy,điều đó được bắt đầu từ khâu chuẩn bị bài lên lớp

- Do nội dung kiến thức của bài học trong sách giáo khoa mới được thể hiện

cả ở kênh chữ, kênh hình, các bảng số liệu thống kê và các câu hỏi - bài tập, vì thế

để học sinh được đưa vào tình huống cụ thể buộc phải làm việc và có điều kiện đểthực hiện các công việc theo yêu cầu thì trong giảng dạy giáo viên phải tăng cườngkhai thác kênh hình, các bảng biểu thống kê, các câu hỏi - bài tập Đồng thời phải

Trang 31

dành thời gian hợp lý để dẫn dắt học sinh quan sát kênh hình, phân tích các bảngbiểu thống kê, nêu những gợi ý, định hướng đối với câu hỏi và bài tập khó Ngoài

ra muốn chuyển tải hết kiến thức trong từng bài học, giáo viên phải có yêu cầu vàhướng dẫn học sinh chuẩn bị trước bài mới và dành thời gian thích đáng cho việchọc ở nhà thông qua kênh hình, bảng số liệu thống kê và hệ thống câu hỏi - bài tậpxen kẽ trong bài

- Việc tổ chức dạy học theo sách giáo khoa mới nên áp dụng một cách linhhoạt, phối hợp giữa các hình thức dạy học cá nhân hay theo nhóm nhỏ, giữa dạyhọc ở trong với ngoài lớp, giữa dạy học chính khóa với ngoại khóa, giữa dạy học ởtrong nhà trường với ngoài xã hội hay ngoài thực tế địa phương Với những địnhhướng đổi mới phương pháp và cấu trúc của sách giáo khoa mới, sẽ tạo nhiều điềukiện thuận lợi cho giáo viên sử dụng các hình thức và phương pháp dạy học tíchcực, như phương pháp phân tích, so sánh, quan sát trực tiếp nhằm phát huy tối đavai trò chủ thể tích cực và chủ động học tập của học sinh Vì thế giáo viên cần phảitận dụng cơ hội và những điều kiện thuận lợi này trong dạy học

Việc tổ chức các hoạt động dạy học theo chương trình và sách giáo khoa mới,nhất là khi sử dụng các phương pháp dạy học tập trung vào học sinh, người giáoviên cần chú ý đến một số điểm sau: xác định rõ mục đích hoạt động, nêu nhiệm

vụ và các yêu cầu rõ ràng, luôn giám sát các hoạt động của học sinh và thườngxuyên kiểm tra kết quả làm việc của học sinh, có thái độ cởi mở thân thiện và khenchê kịp thời, tế nhị đối với học sinh, chú ý phát triển ở học sinh các kỹ năng làmviệc với các thiết bị học tập và các nguồn tư liệu địa lí, phát triển kỹ năng làm việcđộc lập, làm việc nhóm, kỹ năng trình bày vấn đề Phải dành thời gian cho học sinhhoàn thành nhiệm vụ và trình bày kết quả làm việc của cá nhân, của nhóm mìnhtheo kế hoạch

- Từ trước đến nay giáo án lên lớp được coi như một “kịch bản” cho hoạtđộng dạy và học của cả thầy và trò ở trên lớp Trong một bộ phận giáo viên còn cóquan niệm bài soạn (giáo án) là sản phẩm thiết kế bài học, chỉ đơn giản là bản saochép kiến thức trong sách giáo khoa Trước những yêu cầu của đổi mới phươngpháp dạy học hiện nay, đặc biệt đối với sự đổi mới trong sách giáo khoa ở nhiềukhía cạnh, một dạng sách giáo khoa mở như đã trình bày ở phần nội dung trước,cho nên để thực hiện thành công các giờ dạy học địa lí ở trên lớp theo tinh thần củachương trình và sách giáo khoa mới, trước hết giáo viên cần phải đổi mới việc thiết

kế các tiết học, bài học

Việc đổi mới thiết kế bài học dựa trên tinh thần sách giáo khoa mới phải đápứng yêu cầu: Xác lập được cấu trúc bài soạn thể hiện nổi bật hoạt động của họcsinh như thành phần trung tâm và cốt yếu của quá trình dạy học; bản thiết kế tiếthọc, bài học cần thể hiện rõ nét các khâu cơ bản của quá trình dạy học theo quanđiểm của lý luận dạy học hiện đại đã khẳng định “con người phát triển trong hoạtđộng và bằng hoạt động”; thay đổi hình thức thể hiện bản thiết kế bài học (giáo án)cho phù hợp với định hướng đổi mới phương pháp dạy học

- Việc kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của học sinh cũng phải đổi mới đểthích ứng với sự đổi mới của mục tiêu, chương trình và sách giáo khoa Thực tếcho thấy giữa chương trình, sách giáo khoa và thi cử là một thể thống nhất Đặcbiệt khi chuyển từ hoạt động dạy học chủ đạo của thầy sang hoạt động tổ chức,

Trang 32

hướng dẫn của thầy kết hợp chặt chẽ với hoạt động học tập tự chiếm lĩnh kiến thứccủa trò thì phương pháp kiểm tra đánh giá cũng phải thay đổi Có đổi mới phươngpháp kiểm tra đánh giá thì mới có tác dụng điều chỉnh và làm thay đổi việc dạy củathầy và việc học của trò.

Hiện nay, cùng với việc đổi mới chương trình, sách giáo khoa và phương phápdạy học, thì việc đổi mới thi cử, kiểm tra đánh giá trong hệ thống giáo dục nước tacũng đang đặt ra khá bức xúc, mà trước hết là hình thức thi cử, kiểm tra có một ýnghĩa rất lớn Vì thế trong quá trình dạy học, khi tiến hành kiểm tra đánh giá, mộtmặt giáo viên cần sử dụng các loại hình kiểm tra đánh giá (như phiếu kiểm kê đánhgiá, câu hỏi kiểm tra, bài tập, trắc nghiệm khách quan, học sinh tự đánh giá) Mặtkhác, cần sử dụng phối hợp giữa các hình thức kiểm tra đánh giá Đặc biệt là việc

sử dụng hình thức kiểm tra đánh giá kết hợp giữa câu hỏi tự luận và câu hỏi trắcnghiệm khách quan với một tỷ lệ mỗi loại phù hợp, nhằm tạo điều kiện để học sinhbộc lộ rõ vốn kiến thức và kỹ năng địa lí, năng lực xử lý thông tin, khả năng giảiquyết các vấn đề và tính độc lập sáng tạo của bản thân, qua đó có sự phân hóa họcsinh chính xác hơn

HƯỚNG DẪN LÀM VIỆC

* Thảo luận nhóm:

Chia lớp thành các nhóm, các nhóm thảo luận xoay quanh các câu hỏi sau:

1 Nêu những lý do cần phải đổi mới phương pháp dạy học địa lí ở trường

THPT Theo anh (chị) lý do quan trọng nhất là gì?

2 Việc đổi mới phương pháp dạy học địa lí trong thực tế hiện nay ở địa

phương của anh (chị) có những thuận lợi và khó khăn như thế nào? Khó khăn nàolớn nhất? Làm thế nào để khắc phục những khó khăn?

3 Mục tiêu của quá trình đổi mới phương pháp dạy học địa lí ở trường

THPT là gì?

4 Trong số các yếu tố của quá trình dạy học địa lí phải đổi mới, yếu tố nào

được xem là then chốt nhất? Vì sao?

* Thực hành:

Mỗi nhóm lựa chọn 1 bài trong chương trình địa lí THPT phân ban để trìnhbày bản thiết kế bài học theo tinh thần đổi mới (phát huy tính tích cực hoạt độnghọc tập của học sinh) Sau đó mỗi nhóm cử một đại diện lên trình bày, các nhómkhác góp ý, bổ sung

Trang 33

CHƯƠNG 2 TĂNG CƯỜNG SỬ DỤNG CÁC PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG MÔN ĐỊA LÍ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG

2.1.1 Bản chất của dạy học tích cực và định hướng thực hiện dạy học tích cực trong môn Địa lí:

Tính tích cực là một nét quan trọng của nhân cách, một phẩm chất vốn có và

là đức tính rất quí của con người Tính tích cực của con người được biểu hiện tronghoạt động, đặc biệt là những hoạt động chủ động của chủ thể Dạy học tích cực làmột trong những mục tiêu chung và cũng là một tiêu chuẩn về giáo dục hiệu quả,hướng dẫn cho việc đổi mới cả về phương pháp đào tạo đội ngũ giáo viên, cả vềphương pháp dạy học địa lí trong các trường phổ thông

Thực hiện dạy học tích cực sẽ mạng lại hiệu quả cao trong giáo dục Ở đâynhiệm vụ chủ yếu của giáo viên là trở thành người thiết kế và tổ chức cho việc họctập tích cực của học sinh trong những bối cảnh cụ thể (nhu cầu đặt ra của giáo dục,điều kiện làm việc của giáo viên và học sinh) Trước đây, nhiệm vụ chủ yếu củangười giáo viên là chuyển giao thông tin, ngày nay được điều chỉnh lại và mở rộngthành một nhiệm vụ là tạo ra các điều kiện học tập và hỗ trợ quá trình học tập củahọc sinh

Theo qui luật phát triển của sự vật và hiện tượng, ngoại lực dù quan trọng đếnđâu cũng chỉ là nhân tố hỗ trợ, thúc đẩy, tạo điều kiện mà thôi Nội lực mới là yếu

tố giúp cho người được giáo dục trở thành người tự giáo dục, có tinh thần tựnguyện, chủ động và có ý thức giáo dục của bản thân mình Vì thế để có được kiếnthức mới, học sinh phải được hoạt động, được quan sát và thao tác trên các đốitượng, nhất là ở học sinh tiểu học Học sinh phải được tự do phát huy sáng kiến,được lựa chọn con đường đi tới kiến thức Hoạt động giáo dục phải hướng tới sựđáp ứng nhu cầu của học sinh và thúc đẩy nhu cầu đó Phương pháp tích cực phảihướng tới sự phát huy tính chủ động, tăng cường tính tự chủ, sự phát triển và hoànthiện nhân cách của học sinh Vì thế phương pháp dạy học tích cực đòi hỏi và yêucầu tinh giản phần trình bày của giáo viên, tăng cường các hoạt động độc lập củahọc sinh, chuẩn bị cho học sinh dần dần làm chủ quá trình đào tạo trong hoạt độnghọc tập của mình

Tuy nhiên, không phải mọi loại kiến thức đều có thể cho học sinh tự chiếmlĩnh bằng chính hoạt động tích cực, chủ động của mình, cho dù là có đầy đủphương tiện học tập Cũng không phải mọi học sinh đều sẵn sàng tự nguyện tự giác

và có thể phát hiện, lĩnh hội được kiến thức của bài học; nhiều khi những học sinhkhá giỏi phải chịu thiệt thòi vì chờ đợi những bạn chậm chạp trong việc hoàn thànhcông tác học tập của mình Vì thế trong phương pháp tích cực đôi khi cũng phảibắt buộc, đồng thời vai trò của giáo viên không hề giảm nhẹ Trái lại đòi hỏi ở giáoviên vừa phải làm việc nhiều hơn, vừa phải có trình độ lành nghề, óc sáng tạo, tínhđộc đáo để đóng vai trò là người khởi xướng, động viên, xúc tác, trợ giúp, hướng

Trang 34

dẫn và cố vấn, nhằm hướng tới việc học tập tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo vàchống lại thói quen thụ động của học sinh.

Thực hiện dạy học tích cực không có nghĩa là gạt bỏ các phương pháp dạyhọc truyền thống Trong hệ thống các phương pháp dạy học quen thuộc, được đàotạo trong các nhà trường sư phạm từ trước đến nay cũng có nhiều phương pháp tíchcực Cơ sở lý luận dạy học đã chỉ rõ, về mặt hoạt động nhận thức, các phương pháphoạt động thực hành “tích cực” hơn các phương pháp trực quan, các phương pháptrực quan thì “tích cực” hơn phương pháp dùng lời Ngay trong nhóm các phươngpháp dùng lời, những phương pháp tập trung vào giáo viên như phương phápthuyết trình, phương pháp giảng giải thì lời giảng của thầy đóng vai trò là nguồntri thức chủ yếu, các phương tiện trực quan chỉ có ý nghĩa minh họa, nhữngphương pháp này vẫn rất cần thiết và nếu được sử dụng thuần thục và sử dụngđúng lúc thì vẫn có những yếu tố tích cực có tác dụng đối với người học Chính vìvậy trong quá trình đổi mới phương pháp dạy học, cần kế thừa phát triển nhữngmặt tích cực trong hệ thống các phương pháp dạy học đã quen thuộc, đồng thờiphải học hỏi, vận dụng một số phương pháp mới, phù hợp với hoàn cảnh dạy vàhọc ở nước ta để không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục trong các nhà trường,nhằm đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nứơc.Phương pháp dạy học tích cực còn yêu cầu có đủ các tài liệu, các phương tiện,thiết bị cần thiết phục vụ cho hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò Bởi

vì lý luận dạy học cũng đã chỉ ra rằng, phương tiện trực quan được sử dụng như

“nguồn” chủ yếu dẫn đến kiến thức mới, học sinh sẽ được tri giác các tài liệu trựcquan (như mẫu vật, tranh ảnh, băng hình ) Hoặc qua các bài thực hành, học sinhđược trực tiếp thao tác trên các đối tượng (quan sát bằng các dụng cụ địa lí, phântích bản đồ - biểu đồ ), bằng các thao tác tư duy, học sinh có thể tự lực khám phá

ra và lĩnh hội tri thức mới Vì thế muốn thực hiện dạy và học tích cực, còn cần phảiphát triển các phương pháp thực hành, các phương pháp trực quan theo kiểu tìm tòitừng phần hoặc nghiên cứu phát hiện Hình thức tổ chức lớp học thay đổi linh hoạt,không khí yên lặng và trật tự của lớp học truyền thống sẽ được thay thế bằngnhững trao đổi, tranh luận, bằng những hoạt động cuốn hút các nhóm tìm tòinghiên cứu

A.Đixtervec, một nhà sư phạm người Đức đã viết: “Không thể ban cho hoặctruyền đạt đến bất kì một người nào sự phát triển và giáo dục Bất cứ ai muốn đượcphát triển và giáo dục cũng phải phấn đấu bằng sự hoạt động của bản thân, bằngsức lực của chính mình, bằng sự cố gắng của bản thân Anh ta chỉ có thể nhậnđược từ bên ngoài sự kích thích mà thôi Vì thế sự hoạt động tự lực là phươngtiện và đồng thời cũng là kết quả của sự giáo dục”.Với quan niệm như trên, bảnchất của dạy học tích cực là tạo cho học sinh có tính tích cực trong hoạt động nhậnthức Học sinh phải ý thức được trong học tập, thực hiện những nhiệm vụ của việchọc tập thì vai trò chủ động, tích cực phải thuộc về người học; không bao giờ vàkhông có ai có thể học thay cho chính họ

Tính tích cực học tập của học sinh được thể hiện ở rất nhiều các dấu hiệu sau:hăng hái trả lời các câu hỏi của giáo viên, bổ sung các câu trả lời của bạn, thíchphát biểu ý kiến của mình trước vấn đề nêu ra; hay nêu thắc mắc, đòi hỏi giải thíchcặn kẽ những vấn đề chưa rõ; chủ động vận dụng kiến thức và kỹ năng đã học để

Trang 35

nhận thức vấn đế mới; tập trung chú ý vào các vấn đề đang học, kiên trì hoàn thànhcác bài tập, không nản trước khó khăn Còn tính chủ động học tập của học sinhthể hiện ở kỹ năng hoàn thành những nhiệm vụ nhận thức và thực tiễn Người họcsinh chủ động trong học tập là người tự giác nhận lấy công việc, cố gắng hoànthành công việc đó bằng chính sức lực của bản thân, do những động cơ và nguyêntắc mà chính bản thân họ tự đề ra, không chờ đợi sự thúc ép từ bên ngoài Như vậy,tính tích cực và tính chủ động học tập của học sinh là những nét biểu hiện của ý chícon người, là sự thể hiện rõ nét của tính tự nguyện tự giác Những học sinh như thếthường rất phấn khởi trong thâm tâm, có ý thức và hoài bão vươn lên những đỉnhcao của học tập, có trí tuệ và sức lực để giải quyết một vấn đề nào đó đặt ra trongquá trình học tập.

Tóm lại, hoạt động dạy học chỉ có thể đem lại hiệu quả và chất lượng cao khi

có sự cộng tác hết sức chặt chẽ và hợp lý giữa phương pháp tích cực của thầy vớitính tích cực, chủ động học tập của trò Trong đó thầy giữ vai trò tổ chức và chỉđạo, trò giữ vai trò chủ động và tự giác, làm cho quá trình dạy học là sự hoạt độngtương đồng và phối hợp của cả thầy và trò về mặt trí tuệ và thực hành diễn ra mộtcách mãnh liệt đầy cuốn hút

2.1.2 Những dấu hiệu đặc trưng của phương pháp dạy học tích cực

2.1.2.1 Dạy học thông qua việc tổ chức các hoạt động học của học sinh:

Cơ sở tâm lý học cho rằng nhân cách của trẻ được hình thành thông qua cáchoạt động chủ động và các hoạt động có ý thức Trí thông minh của trẻ nhờ sự “đốithoại” giữa chủ thể hoạt động với đối tượng và môi trường Nói đến mối quan hệgiữa học và làm, nhiều tác giả phát biểu mang tính triết lý sâu sắc: “Suy nghĩ tức làhành động” (J.Piagiê), “Cách tốt nhất để hiểu là làm” (Kant), “Học để hành, họcvới hành phải đi đôi Học mà không hành thì vô ích, hành mà không học thì hànhcũng không trôi chảy” (Hồ Chí Minh) Vì thế có thể nói về mặt lý luận, cácphương pháp dạy học tích cực xuất phát từ cơ sở tâm lý học nêu trên

Trong các phương pháp dạy học tích cực, người học đóng vai trò chủ thể và

họ được cuốn hút vào các hoạt động học tập do giáo viên tổ chức và chỉ đạo, thôngqua đó được tự lực khám phá những hiểu biết mới đối với bản thân, không phảitiếp thu một cách thụ động những tri thức đã được sắp đặt sẵn Người học được đặtvào những tình huống của đời sống thực tế, họ được trực tiếp quan sát, thảo luận,làm thí nghiệm, giải quyết vấn đề đặt ra theo cách suy nghĩ của mình Từ đó vừanắm được kiến thức và kỹ năng mới, vừa nắm được phương pháp hình thành kỹnăng và nắm bắt kiến thức đó, không nhất thiết rập theo những khuôn mẫu sẵn có,đồng thời người học được bộc lộ và phát huy những tiềm năng sáng tạo

Sử dụng các phương pháp dạy học tích cực, không chỉ đơn thuần là cung cấptri thức, vấn đề không kém phần quan trọng còn là hướng dẫn hành động Khảnăng hành động của người học là một yêu cầu đặt ra không phải chỉ đối với từng

cá nhân, mà còn đối với cả địa phương, cộng đồng và xã hội Vì thế thông qua việc

tổ chức cho học sinh tích cực hoạt động, người học được học chữ và học làm gắnquyện vào nhau Các em học sinh từ học làm đến biết làm, muốn làm và cuối cùng

là làm một cách tự chủ, năng động và sáng tạo Đó chính là sự phát triển nhân cáchcủa người lao động mà mục tiêu của nền giáo dục đặt ra

Trang 36

2.1.2.2 Dạy học theo hướng chú trọng rèn luyện phương pháp tự học cho học sinh:

Từ lâu các nhà sư phạm đã nhận thức được vai trò và ý nghĩa của việc dạycho học sinh phương pháp học tập, đặc biệt là phương pháp tự học Disterwerg đãnói: “Người thầy giáo tồi truyền đạt chân lý; người thầy giáo giỏi dạy cách tìm rachân lý” Cho nên phương pháp dạy học tích cực xem việc rèn luyện phương pháphọc tập cho học sinh không chỉ là một biện pháp để nâng cao hiệu quả dạy học, màcòn là một mục tiêu của việc dạy học

Ngày nay với sự phát triển nhanh như vũ bão của khoa học, công nghệ vàbùng nổ thông tin, ngay từ bậc tiểu học người ta đã rất quan tâm đến việc dạy họcvới những phương pháp và phương thức mới Nói đến phương pháp dạy học,không thể chỉ hạn chế ở chức năng dạy cho học sinh kiến thức như cách dạy truyềnthống trước đây, mà quan trọng hơn là chuyển sang dạy cho học sinh phương pháphọc tập, nhất là khả năng tự học của người học, đó là cốt lõi của vấn đề Để có thể

tự học, người học phải được trang bị nhiều kỹ năng như: kỹ năng độc lập giảiquyết vấn đề, kỹ năng tự học với sách giáo khoa, kỹ năng quan sát, kỹ năng làmviệc với các tài liệu học tập Phương pháp tự học là cầu nối giữa học tập và hoạtđộng nghiên cứu khoa học Một trong những yếu tố quan trọng đảm bảo cho sựthành công trong tự học tập và nghiên cứu khoa học là khả năng phát hiện kịp thời

và giải quyết hợp lý những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn Nếu rèn luyện cho họcsinh có được kỹ năng, phương pháp, thói quen tự học và độc lập nghiên cứu, biếtlinh hoạt ứng dụng những điều đã học được vào những tình huống mới, biết tự lựcphát hiện và giải quyết những vấn đề đặt ra, sẽ tạo ra cho họ tinh thần ham học, sựsay mê, khơi dậy tiềm năng vốn có trong mỗi cá nhân

Hình thành và xây dựng được phong cách như vậy không những làm cho kếtquả học tập được nhân lên nhiều lần “học một biết mười” như ông cha ta vẫnthường nói mà còn chuẩn bị cho người học ý thức và khả năng tiếp tục học tập khi

đã bước vào đời, tự học để lĩnh hội những tri thức mới ngày càng nhiều và phongphú Như thế họ sẽ dễ dàng thích ứng được với thực tiễn sôi động của cuộc sốnglao động, công tác và các hoạt động xã hội đang diễn ra Vì những lý do trên, ngàynay người ta nhấn mạnh trong dạy học phải đẩy mạnh các hoạt động của ngườihọc, cố gắng tạo nên sự chuyển biến và thay đổi từ học tập thụ động sang tự họcchủ động

2.1.2.3 Tăng cường học tập cá nhân, kết hợp với học tập hợp tác:

Trong hoạt động dạy học, phương pháp dạy học tích cực nhằm tạo nên vàđòi hỏi sự cố gắng về trí tuệ, nghị lực cao ở mỗi cá nhân học sinh trong việc nỗ lựcvươn lên chiếm lĩnh kiến thức mới Khả năng đó trong mọi học sinh của một lớpkhông thể đồng đều tuyệt đối, mà ở nhiều mức độ khác nhau Vì vậy buộc phảichấp nhận sự phân hóa về cường độ, tiến độ và mức độ hoàn thành nhiệm vụ họctập trong một tập thể lớp học, nhất là những bài học được thiết kế thành một chuỗicác hoạt động học tập độc lập Áp dụng phương pháp tích cực ở trình độ càng caothì sự phân hóa như vậy càng lớn Ngày nay với việc tăng cường sử dụng cácphương pháp dạy học tiên tiến, các phương tiện kỹ thuật hiện đại (phương tiệnnghe nhìn, máy vi tính ) càng được sử dụng nhiều hơn trong các trường học, sẽ

Trang 37

đáp ứng yêu cầu cá thể hóa hoạt động học tập theo nhu cầu và năng lực của mỗi cánhân học sinh.

Mặc dù vậy, không phải mọi tri thức, kỹ năng, thái độ và năng lực của ngườihọc đều được hình thành bằng con đường hoạt động thuần túy cá nhân Đơn vị lớphọc là một môi trường diễn ra các hoạt động giao tiếp giữa thầy và trò, trò và trò,tạo nên mối quan hệ hợp tác giữa các cá nhân trên con đường đi tới chân lý Trongcác phương pháp dạy học truyền thống dùng lời, thông tin và tri thức chủ yếu đượcchuyển tải từ thầy đến trò, nên quan hệ giao tiếp diễn ra chủ yếu là quan hệ thầy -trò Trong phương pháp hợp tác, nổi lên mối quan hệ giao tiếp giữa trò với trò.Thông qua tranh luận, thảo luận trong tập thể, ý kiến của mỗi cá nhân được điềuchỉnh, khẳng định hay bác bỏ, qua đó người học nâng mình lên ở một trình độ mới,bài học vận dụng được vốn hiểu biết và kinh nghiệm của mỗi cá nhân và của cả tổ,

cả lớp Vì thế từ xưa ông cha ta đã đúc kết thành những kinh nghiệm vừa “khôngthầy đố mày làm nên”, lại vừa “học thầy không tày học bạn”

Sự hợp tác trong học tập thường được tổ chức ở cấp nhóm, tổ, lớp và đôi khi

mở rộng cấp trường Trong đó sử dụng có hiệu quả và mang tính phổ biến nhất là

sự hợp tác trong nhóm nhỏ (khoảng từ 4 đến 6 người) Hoạt động trong tập thểnhóm và tổ sẽ làm cho từng thành viên quen dần với sự phân công hợp tác tronglao động xã hội, hiệu quả của học tập sẽ được nâng lên, nhất là khi phải giải quyếtnhững vấn đề khó, lúc thực sự xuất hiện nhu cầu phối hợp giữa các cá nhân đểhoàn thành công việc Trong hoạt động theo nhóm, vừa có điều kiện bộc lộ đượcnhững tính cách và năng lực của mỗi cá nhân, mỗi cá nhân lại được uốn nắn, vừaphát triển tình bạn, ý thức tổ chức kỷ luật, tinh thần tương trợ, ý thức công đồng

Vì thế hoạt động học tập hợp tác hoàn toàn không mâu thuẫn với học tập cá nhân,không hạn chế mức độ chủ động và tích cực của cá nhân, mà ngược lại chúng hỗtrợ cho nhau một cách tích cực Đây chính là mô hình hợp tác trong xã hội đượcđưa vào trong đời sống học đường, có tác dụng chuẩn bị cho học sinh thích ứngvới đời sống xã hội, trong đó mỗi người sống và làm việc trong sự phân công hợptác với tập thể công đồng

2.1.2.4 Kết hợp đánh giá của thầy với tự đánh giá của trò:

Trong hoạt động dạy học trước đây, quan niệm về đánh giá còn phiến diện,đánh giá chỉ dừng lại ở những yêu cầu tái hiện những kiến thức, lặp lại những kỹnăng đã học, qua đó điều chỉnh hoạt động học của học trò Vì thế giáo viên giữ độcquyền trong đánh giá, còn học sinh là đối tượng được đánh giá

Hiện nay dạy học theo hướng phát triển các phương pháp tích cực để đào tạonhững con người năng động, sớm thích ứng với đời sống xã hội, hòa nhập và pháttriển cộng đồng, việc kiểm tra đánh giá không chỉ dừng lại ở yêu cầu tái hiệnnhững kiến thức và kỹ năng đã học mà phải khuyến khích óc sáng tạo, phát hiện sựchuyển biến thái độ và xu hướng hành vi của học sinh trước những vấn đề của đờisống cá nhân, gia đình và công đồng Mặt khác trong dạy học theo hướng phát huyvai trò tích cực chủ động của người học, xem việc rèn luyện phương pháp tự học

để chuẩn bị cho học sinh khả năng học tập liên tục suốt đời như một mục tiêu giáodục, thì giáo viên phải hướng dẫn học sinh phát triển kỹ năng tự đánh giá để tự

Trang 38

điều chỉnh cách học của mình cho thích hợp Muốn vậy phải có những phươngpháp và kỹ thuật đánh giá thích hợp.

Với sự trợ giúp của các thiết bị kỹ thuật hiện đại ngày càng phổ biến trongnhà trường, kiểm tra đánh giá không còn là một công việc nặng nhọc đối với giáoviên, mà qua kiểm tra đánh giá giáo viên lại có được nhiều thông tin kịp thời vàtoàn diện hơn, giúp cho việc linh hoạt điều chỉnh hoạt động dạy và chỉ đạo hoạtđộng học của trò Ngoài ra các phương tiện và phương pháp mới sẽ còn tạo điềukiện tăng nhịp độ kiểm tra, giúp cho học sinh có thể thường xuyên tự kiểm tra, đểchuyển dần từ người được giáo dục trở thành người tự giáo dục hoàn toàn tựnguyện, chủ động, tự giác và có ý thức về sự giáo dục của bản thân mình

2.1.2.5 Vai trò của giáo viên trong phương pháp dạy học tích cực:

Từ các phương pháp dạy học truyền thống mang tính thông báo, giải thíchminh họa là chủ yếu sang dạy học theo phương pháp tích cực, giáo viên không cònđóng vai trò đơn thuần truyền đạt kiến thức, mà trở thành người thiết kế, chỉ đạo vàhướng dẫn các hoạt động học tập độc lập của cá nhân người học hoặc theo nhóm,

tổ, học sinh tự chiếm lĩnh các kiến thức mới, hình thành các kỹ năng, thái độ mớitheo yêu cầu của chương trình, trên lớp học sinh hoạt động là chính

Để làm được như trên, khi chuẩn bị bài học (soạn bài) đòi hỏi người giáoviên phải đầu tư nhiều thời gian và trí tuệ, mới có thể thực hiện bài dạy lên lớp vớivai trò là người tổ chức, gợi mở, động viên, xúc tác, cố vấn và trọng tài trong cáchoạt động tìm tòi, khám phá và tranh luận hào hứng của học sinh Chính vì vậy khi

sử dụng phương pháp tích cực, vai trò của giáo viên không hề bị hạ thấp, trái lạicòn có yêu cầu cao hơn nhiều Để dạy học theo phương pháp tích cực có hiệu quả,giáo viên phải bỏ ra nhiều công sức, phải có trình độ chuyên môn rộng, trình độ sưphạm lành nghề, có đầu óc sáng tạo và nhạy cảm, như thế mới có thể tổ chức vàhướng dẫn các hoạt động học tập độc lập của học sinh

2.2 MỘT SỐ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC TÍCH CỰC TRONG MÔN ĐỊA LÍ TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

2.2.1 Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề:

2.2.1.1 Khái niệm và bản chất của phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề:

Phương pháp dạy học nêu và giải quyết vấn đề còn có những tên gọi khác,như phương pháp dạy học giải quyết vấn đề, phương pháp dạy học đặt và giảiquyết vấn đề, hay phương pháp dạy học dựa trên vấn đề Đây là phương pháp dạyhọc dựa trên những qui luật của sự lĩnh hội tri thức và cách thức hoạt động mộtcách sáng tạo, có những nét cơ bản của sự tìm tòi khoa học Dạy học theo kiểu nêu

và giải quyết vần đề là một tiếp cận hiện đại trong phương pháp dạy học Bản chấtcủa dạy học theo phương pháp này là tạo ra các tình huống có vấn đề, đưa học sinhvào tình huống có vấn đề, sau đó hướng dẫn, điều khiển học sinh giải quyết vấn đề

Hạt nhân của các tình huống có vấn đề chính là các bài toán nhận thức đốivới học sinh, nó chứa đựng mâu thuẫn giữa cái cho và cái tìm, được cấu trúc, xử lý

về mặt sư phạm làm cho mâu thuẫn mang tính chất nêu vấn đề Khi mâu thuẫn củabài toán nêu vấn đề được học sinh tự giác chấp nhận như một nhu cầu bên trong,

Trang 39

bức thiết phải giải quyết bằng được thì lúc đó học sinh được đặt trong tình huống

có vấn đề Sau đó giáo viên chỉ đạo học sinh tích cực, tự lực giải quyết vấn đề, điđến những kết luận cần thiết Phương pháp này đạt được kết quả dạy học như thếnào trước hết phụ thuộc chủ yếu vào việc giáo viên có cấu tạo thành công trong cácbài toán nêu vấn đề và đưa học sinh vào tình huống có vấn đề hay không

2.2.1.2 Những yêu cầu cơ bản khi thực hiện phương pháp nêu và giải quyết vấn đề:

Như trên đã trình bày, hạt nhân của tình huống có vấn đề chính là các bàitoán nêu vấn đề (còn gọi là bài toán nhận thức), một thành phần trọng yếu trongphương pháp nêu và giải quyết vần đề Bài toán nêu vấn đề phải thỏa mãn các yêucầu cơ bản sau:

- Bài toán phải chứa đựng một mâu thuẫn giữa cái cho và cái tìm, có khảnăng kích thích học sinh tìm tòi, phát hiện và đặt học sinh vào tình huống có vấnđề

- Bài toán không mang tính tái hiện đơn thuần (chỉ cần ghi nhớ, đáp số đã cósẵn) mà đòi hỏi học sinh phải xử lý được các dữ liệu đã cho, tìm tòi, phát hiện để

đi đến kết quả Nói cách khác, bài toán phải chứa đựng một chướng ngại nhậnthức, buộc học sinh phải tự lực vượt qua

- Bài toán phải xuất phát từ cái quen thuộc, vừa sức học sinh, không dễ quá

và cũng không khó quá

2.2.1.3 Trình tự các bước dạy học theo phương pháp nêu và giải quyết vấn đề:

* Đặt vấn đề và đưa học sinh vào tình huống có vấn đề:

Trong phần lớn trường hợp, đặt vấn đề thường là đặt ra trước học sinh mộtcâu hỏi (bài toán nhận thức) Tuy nhiên, đó không phải là câu hỏi thông thườngnhư trong đàm thoại, mà là một câu hỏi có vấn đề Nghĩa là câu hỏi phải chứa đựngmột trong những tình huống:

- Một mâu thuẫn giữa kiến thức cũ và kiến thức mới, giữa cái đã biết và cáichưa biết cần phải khám phá, nhận thức, giữa vốn kiến thức khoa học và vốn kiếnthức thực tiễn Ví dụ: “Vì sao ở nước ta hiện nay, tỷ lệ gia tăng tự nhiên của dân sốgiảm, nhưng dân số vẫn tăng nhanh?” (Địa lý 12)

- Một sự lựa chọn Đó là vấn đề giáo viên đặt ra có nhiều sự lựa chọn khácnhau, đòi hỏi học sinh phải tìm ra một sự lựa chọn thích hợp nhất Ví dụ: “Đồngbằng sông Cửu Long là vựa lúa lớn nhất nước ta, là do có diện tích trồng lúa lớnnhất, điều kiện về đất trồng và khí hậu thuận lợi cho sản xuất lúa, năng suất khácao và ổn định Trong đó nguyên nhân nào quan trọng nhất?” (Địa lý 12)

- Một điều tuởng như nghịch lý Vấn đề đặt ra trái với lẽ thông tường đượcmọi người công nhận, một điều không bình thường so với cách hiểu cũ của họcsinh, đôi khi ban đầu thoạt nghe tưởng chừng như vô lý làm học sinh ngạc nhiên: “

Vì sao ở đồng bằng sông Cửu Long phải sống chung với lũ?” hay “Vì sao đồngbằng sông Cửu Long có nhiều thuận lợi cho sản xuất lúa hơn ở đồng bằng sôngHồng nhưng năng suất lúa lại thấp hơn?”

Trang 40

- Tìm nguyên nhân cho một kết quả, bản chất của một hiện tượng, nguồngốc, qui luật của một hiện tượng Ví dụ: “Vì sao đồng bằng sông Hồng có năngsuất lúa cao nhất cả nước?” (Địa lý 12).

Tình huống có vấn đề có thể được tạo ra vào lúc bắt đầu bài mới, bắt đầumột mục của bài, hay lúc đề cập đến một nội dung cụ thể của bài Đặt và tạo ra tìnhhuống có vấn đề bằng cách dùng lời nói, suy luận lôgic, mô tả, kể chuyện, đọc mộtđoạn trích, dùng bản đồ, sơ đồ, hình vẽ, tranh ảnh hay băng hình vidéo Để vấn đềtrở thành tình huống đối với học sinh, câu hỏi đặt vấn đề lưu ý các điểm sau:

+ Trong thành phần câu hỏi, phải có phần học sinh đã biết, phần kiến thức

cũ và phần học sinh chưa biết, phần kiến thức mới Hai phần này phải có mối quan

hệ với nhau, trong đó phần học sinh chưa biết là phần chính của câu hỏi, học sinhphải có nhiệm vụ tìm tòi, khám phá Ví dụ: “Thường những nơi gần biển thì khíhậu điều hòa, mưa nhiều Nhưng tại sao vùng Phan Rang nước ta ở sát biển nhưnglượng mưa lại rất ít?”

+ Nội dung câu hỏi phải thật sự kích thích, gây hứng thú nhận thức đối vớihọc sinh Trong rất nhiều trường hợp, câu hỏi gắn với các vấn đề thực tế gần gũi,thường hứng thú và lôi cuốn học sinh nhiều hơn

+ Câu hỏi phải vừa sức học sinh Câu hỏi phải để các em học sinh có thểgiải quyết được, hoặc hiểu được cách giải quyết dựa vào việc huy động vốn trithức sẵn có của mình bằng hoạt động tư duy Trong câu hỏi nên hàm chứa phươnghướng giải quyết vấn đề, tạo điều kiện làm xuất hiện giả thuyết và tạo điều kiệntìm ra con đường giải quyết chúng

* Giải quyết vấn đề:

- Đề xuất các giả thuyết cho vấn đề đặt ra

- Thu thập và xử lý thông tin theo hướng các giả thuyết đã đề xuất

Mức một:

- Giáo viên đặt vấn đề, nêu cách giải quyết vấn đề

- Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề theo hướng dẫn của giáo viên

- Giáo viên đánh giá kết quả làm việc của học sinh

Mức hai:

- Giáo viên đặt vấn đề, gợi ý để học sinh tìm ra cách giải quyết vấn đề

- Học sinh thực hiện cách giải quyết vấn đề

- Giáo viên và học sinh cùng đánh giá

Mức ba:

- Giáo viên cung cấp thông tin tạo tình huống

Ngày đăng: 17/09/2013, 08:10

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sách giáo khoa thí điểm lớp 10, 11, 12 Ban KHTN, Ban KHXH và NV - NXB Giáo dục, 2003, 2004, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo khoa thí điểm lớp 10, 11, 12 Ban KHTN,Ban KHXH và NV
Nhà XB: NXB Giáo dục
2. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Sách giáo viên dùng cho sách giáo khoa thí điểm lớp 10, 11, 12 Ban KHTN, Ban KHXH và NV - NXB Giáo dục 2003, 2004, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sách giáo viên dùng cho sách giáo khoa thí điểmlớp 10, 11, 12 Ban KHTN, Ban KHXH và NV
Nhà XB: NXB Giáo dục 2003
3. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Tài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy chương trình và sách giáo khoa lớp 10, 11,12 thí điểm, Viện nghiên cứu sư phạm, Hà nội 2004, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: ài liệu bồi dưỡng giáo viên dạy chương trình vàsách giáo khoa lớp 10, 11,12 thí điểm
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (Ban chỉ đạo xây dựng chương trình và biên soạn SGK trung học phổ thông), Tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học địa lí THPT, Hà nội 2003, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu về đổi mới phương pháp dạy học địa líTHPT
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo ( Kỉ yếu Hội thảo khoa học), Đổi mới phương pháp dạy học theo hướng hoạt động hoá người học, Hà Nội 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới phương phápdạy học theo hướng hoạt động hoá người học
6. Hoàng Qúy Châu, Xây dựng biểu đồ nông nghiệp Bình Định phục vụ cho việc giảng dạy các bài thực hành địa lí kinh tế - xã hội, Đề tài NCKH cấp trường, Qui Nhơn 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng biểu đồ nông nghiệp Bình Định phục vụ choviệc giảng dạy các bài thực hành địa lí kinh tế - xã hội
7. Nguyễn Dược - Nguyễn Trọng Phúc, Lý luận dạy học địa lí, NXB Đại học quốc gia, Hà nội 2004 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận dạy học địa lí
Nhà XB: NXB Đại họcquốc gia
8. Đặng Văn Đức, Tài liệu bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên THPT về đổi mới phương pháp dạy học môn địa lí, Viện nghiên cứu sư phạm, Hà nội 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu bồi dưỡng nâng cao năng lực cho giáo viên THPTvề đổi mới phương pháp dạy học môn địa lí
9. Trần Bá Hoành, Đánh giá trong giáo dục, Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hà Nội 1995 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đánh giá trong giáo dục

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 1: Mô hình dạy học theo quan điểm đổi mới - Đổi mới PPDH - Bỗi dưỡng cán bộ cốt cán
Hình 1 Mô hình dạy học theo quan điểm đổi mới (Trang 12)
Bảng 3: So sánh kênh hình và các câu hỏi - bài tập gắn với kênh hình - Đổi mới PPDH - Bỗi dưỡng cán bộ cốt cán
Bảng 3 So sánh kênh hình và các câu hỏi - bài tập gắn với kênh hình (Trang 62)
Bảng 4: Số lượng kênh hình được sử dụng làm đồ dùng, phương tiện - -thiết bị dạy học cần -thiết và yêu cầu rèn luyện kỹ năng địa lí cho học sinh ở - Đổi mới PPDH - Bỗi dưỡng cán bộ cốt cán
Bảng 4 Số lượng kênh hình được sử dụng làm đồ dùng, phương tiện - -thiết bị dạy học cần -thiết và yêu cầu rèn luyện kỹ năng địa lí cho học sinh ở (Trang 63)
Hình 3: Sơ đồ những khái niệm bản đồ được dạy ở trường phổ thông - Đổi mới PPDH - Bỗi dưỡng cán bộ cốt cán
Hình 3 Sơ đồ những khái niệm bản đồ được dạy ở trường phổ thông (Trang 67)
Hình 4: Mô hình chức năng định hình và chức năng tổng kết của đánh giá - Đổi mới PPDH - Bỗi dưỡng cán bộ cốt cán
Hình 4 Mô hình chức năng định hình và chức năng tổng kết của đánh giá (Trang 96)
Hình thức Công cụ - Đổi mới PPDH - Bỗi dưỡng cán bộ cốt cán
Hình th ức Công cụ (Trang 98)
Hình 5: Sơ đồ các hình thức đánh giá ở trường phổ thông. - Đổi mới PPDH - Bỗi dưỡng cán bộ cốt cán
Hình 5 Sơ đồ các hình thức đánh giá ở trường phổ thông (Trang 98)
Bảng 5: Ma trận đề kiểm tra địa lí - Đổi mới PPDH - Bỗi dưỡng cán bộ cốt cán
Bảng 5 Ma trận đề kiểm tra địa lí (Trang 103)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w