1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

ĐỔI MỚI CÔNG TÁC ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG CÁN BỘ QUẢN LÝ VÀ GIÁO VIÊN PHỔ THÔNG CỦA CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN

183 199 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 183
Dung lượng 2,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

41 THAM LUẬN 1 Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới và vấn đề đào tạo, bồi dưỡng giáo viên 3 Tăng cường bồi dưỡng kỹ năng tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo từ thực trạ

Trang 1

CỦA CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN

(Tài liệu lưu hành nội bộ)

Hà Nội, tháng 5 năm 2015

Trang 3

3

MỤC LỤC

CHUYÊN ĐỀ Chuyên đề 1 Một số định hướng đổi mới chương trình đào tạo, bồi

dưỡng giáo viên đáp ứng đổi mới giáo dục phổ thông

7

I Những nội dung cơ bản của đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục 7

II Một số định hướng đổi mới đào tạo của các cơ sở đào tạo giáo viên

đáp ứng đổi mới giáo dục phổ thông

3 Đổi mới chương trình đào tạo theo tiếp cận đổi mới hình thức tổ

chức dạy học, phương pháp dạy học và sử dụng phương tiện dạy học

của giáo dục phổ thông

14

4 Đổi mới kiểm tra, đánh giá trong đào tạo giáo viên 16

5 Đổi mới công tác quản lý thực hiện chương trình 17 III Một số định hướng đổi mới công tác bồi dưỡng giáo viên và cán bộ

quản lý giáo dục phổ thông

18

Chuyên đề 2 Một số vấn đề về các điều kiện đảm bảo triển khai

chương trình đào tạo mới của các cơ sở đào tạo giáo viên

23

I Một số yêu cầu về đổi mới chương trình đào tạo giáo viên 23

II Một số vấn đề về các điều kiện đảm bảo triển khai chương trình đào

tạo mới của các cơ sở đào tạo giáo viên

Trang 4

4

b) Học tập, bồi dưỡng khắc phục những năng lực còn thiếu, còn yếu

của giảng viên

28

c) Giảng viên sư phạm tham gia các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ

và phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên phổ thông

30

d) Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu

khoa học sư phạm ứng dụng nói riêng trong cơ sở đào tạo giáo viên

31

đ) Việc rèn luyện đạo đức nhà giáo của giảng viên sư phạm 34

2 Làm thế nào để phát huy vai trò của các trường thực hành sư phạm

và trung tâm bồi dưỡng, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm trong công tác

đào tạo giáo viên?

36

a) Phát huy vai trò của các trường thực hành sư phạm 36

b) Phát huy vai trò của trung tâm bồi dưỡng, rèn luyện nghiệp vụ sư

phạm

40

3 Các cơ sở đào tạo giáo viên cần phối hợp như thế nào để đổi mới

công tác đào tạo nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông?

41

THAM LUẬN

1 Chương trình giáo dục phổ thông tổng thể mới và vấn đề đào tạo,

bồi dưỡng giáo viên

3 Tăng cường bồi dưỡng kỹ năng tổ chức các hoạt động trải nghiệm

sáng tạo từ thực trạng nhận thức của giáo sinh trường ĐHSP Hà Nội

2 qua thực tập sư phạm

ThS Hoàng Thị Hạnh

66

4 Đổi mới hoạt động đánh giá kết quả học tập của sinh viên trường

đại học sư phạm theo tiếp cận năng lực đáp ứng yêu cầu đổi mới

73

Trang 5

5

giáo dục phổ thông

Trường ĐHSP - ĐH Thái Nguyên

5 Phẩm chất và năng lực cần thiết của người giảng viên sư phạm và

công tác học tập, bồi dưỡng khắc phục những năng lực còn thiếu,

yếu của giảng viên

7 Phẩm chất và năng lực của giảng viên sư phạm và công tác bồi

dưỡng năng lực cho giảng viên sư phạm hiện nay

TS Tôn Thất Dụng

100

8 Vai trò của giảng viên trường đại học sư phạm với các hoạt động

chuyên môn, nghiệp vụ sư phạm, phát triển năng lực nghề nghiệp

giáo viên ở trường phổ thông

PGS.TS Nguyễn Thị Tính

108

9 Góp phần nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học cho giáo viên và

học sinh trung học phổ thông

TS Bùi Minh Đức

115

10 Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học trong các cơ sở đào tạo

giáo viên - Nhìn từ góc độ quản lý - Trường hợp Trường Đại học Sư

Trang 6

6

13 Thiết lập hệ thống trường vệ tinh tham gia đào tạo giáo viên đáp ứng

yêu cẩu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục: một số kinh nghiệm

của Đà Nẵng

PGS.TS Lê Quang Sơn, PGS.TS Võ Văn Minh,

TS Lê Trung Chinh, ThS Nguyễn Văn Dũng

144

14 Nâng cao hiệu quả công tác thực hành sư phạm ở Trường

THCS&THPT Nguyễn Tất Thành - Trường Đại học Sư phạm Hà

16 Vai trò của Trung tâm Nghiên cứu và Phát triển nghiệp vụ sư phạm

Trường Đại học Sư phạm Hà Nội

PGS.TS Nguyễn Thị Yến Phương

169

17 Tăng cường sự phối hợp giữa các cơ sở đào tạo giáo viên trong

đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục

GS.TS Đinh Xuân Khoa, PGS.TS Phạm Minh Hùng

178

Trang 7

7

Chuyên đề 1 MỘT SỐ ĐỊNH HƯỚNG ĐỔI MỚI CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO, BỒI DƯỠNG GIÁO VIÊN

ĐÁP ỨNG ĐỔI MỚI GIÁO DỤC PHỔ THÔNG

————————

I Những nội dung cơ bản của đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục

Một số nội dung cần nhấn mạnh trong quá trình triển khai thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”:

1 Đổi mới toàn diện là đổi mới những vấn đề cấp thiết, từ quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện đảm bảo thực hiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của nhà nước đến các hoạt động quản trị của cơ sở giáo dục đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học

Cơ sở đào tạo giáo viên cần triển khai đổi mới toàn diện các hoạt động của đơn vị theo tinh thần của nghị quyết: từ nhận thức, tư tưởng của từng cán

bộ, giảng viên; thống nhất quan điểm chỉ đạo trong các tổ chức, bộ phận của đơn vị; đổi mới mục tiêu đào tạo, phương thức đào tạo; đánh giá chất lượng đào tạo; đổi mới cơ chế quản lý và chính sách đãi ngộ phát triển đội ngũ …

2 Đổi mới căn bản là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, đổi mới về chất, đổi mới từ gốc rễ, đổi mới có tính chất bước ngoặt với tinh thần và thái độ kiên

quyết để tạo ra chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo dục Nội

dung cốt lõi của đổi mới căn bản (căn bản của căn bản):

- Đổi mới cách tiếp cận mục tiêu giáo dục: Chuyển trọng tâm quá trình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức, kỹ năng sang phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực người học Cơ sở đào tạo giáo viên cần chuyển từ trang bị nội

Trang 8

đó để hướng dẫn, rèn luyện cho sinh viên biết tự học, được học tập tốt cả trong

và ngoài nhà trường để đảm bảo cả thầy và trò phải biết tự học, có tinh thần học tập suốt đời

- Phát huy quyền tự chủ, cơ sở đào tạo giáo viên cần chủ động, sáng tạo trong các hoạt động đào tạo, bồi dưỡng, nghiên cứu khoa học, tìm nhiều nguồn lực về tài chính từ nghiên cứu khoa học, chú trọng thực hiện chức năng - nhiệm

vụ bồi dưỡng nhà giáo và cán bộ quản lý, tích cực liên hệ với địa phương phát huy vai trò của cơ sở đào tạo trong công tác bồi dưỡng giáo viên, lôi cuốn hệ thống giáo dục phổ thông vào hoạt động đào tạo của trường sư phạm

Trong quá trình xây dựng xã hội học tập và học tập suốt đời, vai trò của giáo dục thường xuyên ngày càng trở nên quan trọng trong hệ thống giáo dục quốc dân, đặt ra nhiệm vụ phải bồi dưỡng cho giáo viên giáo dục thường xuyên

về nhiều mặt, trong đó quan trọng nhất là kỹ năng hoạt động cộng đồng, phương pháp giáo dục người lớn

3 Giải pháp then chốt đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đối với cơ

sở đào tạo giáo viên:

Phát triển đội ngũ giảng viên và cán bộ quản lý giáo dục: Tăng cường bồi dưỡng nâng cao ý thức trách nhiệm, rèn luyện đạo đức nhà giáo và những phẩm chất và năng lực cần thiết của người giảng viên sư phạm; chú trọng hoạt động học tập, bồi dưỡng khắc phục những năng lực còn thiếu, còn yếu của giảng viên; quy định giảng viên cùng tham gia một số hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ và phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên phổ thông; Có cơ chế cho giảng viên tăng cường năng lực nghiên cứu khoa học, đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng trong cơ sở đào tạo giáo viên; giảng viên được bồi dưỡng, tự bồi dưỡng tăng cường năng lực tổ chức các hoạt động đào tạo, phương pháp kiểm tra đánh giá mới, tăng cường các hoạt động thực tiễn …

Trang 9

9

Đổi mới cơ chế quản lý theo hướng dân chủ hóa, phát huy sức mạnh tập

thể, sức mạnh từng cá nhân Nghị quyết 29/NQ-TW nêu rõ yêu cầu “ Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng” Cơ sở đào tạo giáo viên được giao quyền tự chủ (Quy định

tại Điều 32 Luật giáo dục đại học, Điều 5 Quyết định 70/2014/TTg ban hành Điều lệ trường đại học, Thông tư số 01/2015/TT-BGDĐT ban hành Điều lệ trường cao đẳng) vì vậy cần thực hiện quyền tự chủ theo hướng đổi mới:

Xác định rõ mục tiêu, chiến lược và kế hoạch phát triển của nhà trường phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục đào tạo và đổi mới giáo dục phổ thông: xây dựng, công bố chuẩn đầu ra, chương trình đào tạo, khẳng định công khai chất lượng giáo dục, công khai chiến lược phát triển của nhà trường …;

Tổ chức các khoa, các phòng, ban trên cơ sở xác định chức năng, nhiệm

vụ phù hợp với thực hiện mục tiêu, chương trình đào tạo mới, thành lập bộ máy

tổ chức, phát triển đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý trên cơ sở chiến lược và quy hoạch phát triển nhà trường;

Quản lý đội ngũ giảng viên trên tinh thần quản lý năng lực và hiệu quả công việc, tránh “chủ nghĩa bình quân”; chú trọng gắn hoạt động đào tạo với quy hoạch nguồn nhân lực giáo dục phổ thông của từng địa phương để tiến tới khắc phục tình trạng đào tạo thừa, thiếu cục bộ

Các cơ sở đào tạo giáo viên cần phối hợp với nhau để đổi mới công tác đào tạo sư phạm nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông, tuy nhiên, phải chú trọng đến cách thức và nội dung phối hợp sao cho hiệu quả nhất

4 Đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá là khâu đột phá trong đổi mới căn bản

và toàn diện giáo dục, từ đó thay đổi được cách học, cách dạy Cần tăng cường đánh giá sinh viên qua các tình huống thực tiễn, các kết quả tham gia hoạt động

xã hội, nghiên cứu đề tài, dự án …

II- Một số định hướng đổi mới đào tạo của các cơ sở đào tạo giáo viên đáp ứng đổi mới giáo dục phổ thông

Chương trình giáo dục phổ thông mới (sau đây gọi là chương trình) thể hiện mục tiêu giáo dục phổ thông; quy định những yêu cầu về phẩm chất và

Trang 10

10

năng lực của học sinh cần đạt được sau mỗi cấp học, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục phổ thông, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học, hoạt động giáo dục ở mỗi lớp và mỗi cấp học của giáo dục phổ thông; chương trình bao gồm chương trình tổng thể và các chương trình môn học (Nghị quyết số 88/2014/QH13 và Quyết định số 404/QĐ-TTg)

Đổi mới ở trường sư phạm gắn bó chặt chẽ, hài hoà và song hành cùng đổi mới giáo dục phổ thông Đổi mới sư phạm là điều kiện thành công cho đổi mới phổ thông Ngược lại, đổi mới phổ thông cũng đặt ra yêu cầu, "bài toán" cho đổi mới sư phạm về: Mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp và hình thức đào tạo, kiểm tra đánh giá kết quả đào tạo và quản lý thực hiện chương trình Các trường phổ thông phải thực sự tham gia vào quá trình đào tạo giáo viên

1 Đổi mới mục tiêu đào tạo sư phạm theo tiếp cận chuẩn nghề nghiệp giáo viên

Mục tiêu đào tạo giáo viên phải xuất phát từ đổi mới cách tiếp cận và thực hiện mục tiêu giáo dục nói chung, giáo dục phổ thông nói riêng theo hướng là phát triển phẩm chất và năng lực người học, trên tinh thần đổi mới giáo dục toàn diện là phát triển hài hòa đức, trí, thể, mỹ nhằm phát triển tốt nhất tiềm năng riêng của từng học sinh

Mục tiêu của đào tạo giáo viên là hình thành và phát triển phẩm chất, năng lực của sinh viên, đáp ứng yêu cầu chuẩn nghề nghiệp giáo viên; có khả năng phát triển và thích ứng với các điều kiện dạy học khác nhau

Chuẩn đầu ra được xác định rõ ràng và cụ thể hóa trong chương trình đào tạo bao gồm: Kiến thức, thái độ và kỹ năng cơ bản; kiến thức, thái độ và kỹ năng nghề nghiệp mà người tốt nghiệp cần đạt để hình thành một cách bền vững những phẩm chất và năng lực đáp ứng nhu cầu sử dụng nhân lực của xã hội cũng như khả năng học lên cao, học suốt đời, phát triển nghề nghiệp, chuyển đổi nghề

và phát triển nhân cách cho người tốt nghiệp

Xây dựng chuẩn đầu ra của các cơ sở đào tạo giáo viên thấp nhất cũng phải đạt mức tối thiểu của chuẩn nghề nghiệp giáo viên Theo đó, những phẩm

Trang 11

11

chất và năng lực cơ bản của sinh viên sư phạm cần đạt được sau khi tốt nghiệp (theo Chuẩn nghề nghiệp giáo viên hiện hành và dự thảo chỉnh sửa bổ sung) gồm:

- Phẩm chất chính trị, đạo đức lối sống: Yêu nghề, gắn bó với nghề dạy

học, có ý thức tổ chức kỉ luật và tinh thần trách nhiệm; có kĩ năng làm việc nhóm, hợp tác, cộng tác với đồng nghiệp để cùng thực hiện mục tiêu và chương trình giáo dục

- Năng lực phát triển chương trình giáo dục nhà trường, phát triển chương trình môn học, phát triển các chủ đề dạy học trải nghiệm sáng tạo, phát triển chương trình dạy học ở cấp độ bài học theo hướng mở rộng kiến thức phát triển

tư duy sáng tạo cho học sinh nhằm giúp cho việc học của học sinh trở nên thiết thực, gắn với thực tế cuộc sống, gắn với địa phương, vùng miền và tạo cơ hội học tiếp ở trình độ cao hơn

- Năng lực dạy học: Năng lực tổ chức dạy học theo tiếp cận năng lực của người học; năng lực thiết kế và tổ chức dạy học theo chủ đề liên môn; năng lực phát triển môi trường học tập cho học sinh; năng lực tư vấn, hướng dẫn học sinh; năng lực dạy học phân hóa sâu ở cuối cấp trung học; năng lực đánh giá kết quả học tập của học sinh theo tiếp cận năng lực; năng lực phản hồi thông tin tới người học để điều chỉnh quá trình dạy học

- Năng lực giáo dục: Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục, Năng lực thiết kế và tổ chức hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo cho học sinh; năng lực tổ chức, quản lý hội đồng tự quản của học sinh; năng lực giáo dục học sinh yếu thế và học sinh có hoàn cảnh đặc biệt; năng lực giáo dục hòa nhập; năng lực phối hợp các lực lượng giáo dục để giáo dục học sinh; năng lực phát triển môi trường giáo dục học sinh; năng lực đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh và sử dụng đánh giá đồng đẳng trong đánh giá kết quả rèn luyện của học sinh

- Năng lực nghiên cứu khoa học và tổ chức triển khai nghiên cứu khoa học ứng dụng ở trường phổ thông: Năng lực phát hiện các vấn đề nghiên cứu khoa học gắn với nhu cầu của thực tiễn, năng lực phối hợp các lực lượng trong nghiên cứu khoa học, tổ chức nghiên cứu, đánh giá kết quả nghiên cứu khoa

Trang 12

12

học, chuyển giao kết quả nghiên cứu khoa học trong giáo dục nhà trường và thực tế cuộc sống

- Năng lực hoạt động xã hội: Năng lực tham gia và tổ chức các hoạt động

xã hội, thiết lập mối quan hệ giữa nhà trường với gia đình và cộng đồng, huy động trẻ em đến trường; năng lực trợ giúp những người yếu thế trong xã hội …

- Năng lực tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục: Có phương pháp thu thập và xử lí thông tin thường xuyên về nhu cầu và đặc điểm của học sinh,

sử dụng các thông tin thu được vào dạy học, giáo dục; có phương pháp thu thập

và xử lí thông tin về điều kiện giáo dục trong nhà trường và tình hình chính trị, kinh tế, văn hoá, xã hội của địa phương, sử dụng các thông tin thu được vào dạy học, giáo dục

- Năng lực phát triển nghề nghiệp: Năng lực tự đánh giá, tự học và tự rèn

luyện về phẩm chất chính trị, đạo đức, chuyên môn nghiệp vụ nhằm không ngừng nâng cao chất lượng, hiệu quả dạy học và giáo dục; năng lực phát hiện và giải quyết những vấn đề nảy sinh trong thực tiễn hoạt động nghề nghiệp nhằm đáp ứng những yêu cầu mới trong giáo dục

2 Đổi mới nội dung đào tạo sư phạm theo tiếp cận đổi mới nội dung giáo dục phổ thông

a) Nội dung giáo dục phổ thông mới được xây dựng theo hướng tinh giản,

hiện đại, thiết thực với cuộc sống, phù hợp với lứa tuổi, trình độ học sinh Nội

dung giáo dục phổ thông gồm các môn học/lĩnh vực giáo dục, trong đó mỗi lĩnh

vực giáo dục liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp với một nhóm môn học, hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo Các môn học/lĩnh vực giáo dục, chuyên đề học tập và hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo được cấu trúc thành một hệ thống chỉnh thể, thống nhất từ cấp tiểu học đến cấp trung học phổ thông và được chia thành 2 loại: bắt buộc và tự chọn

b) Chương trình giáo dục phổ thông thiết kế nội dung dạy học phù hợp

với từng lĩnh vực giáo dục nhằm rèn luyện học sinh năng lực tự học, tìm tòi kiến thức, cách thức vận dụng tổng hợp các kiến thức đã học được; hướng tới hình thành và phát triển các phẩm chất của học sinh, gồm: yêu gia đình, quê hương, đất nước; nhân ái, khoan dung; trung thực, tự trọng, chí công vô tư; tự lập, tự tin,

Trang 13

13

tự chủ, có tinh thần vượt khó; có trách nhiệm với bản thân, cộng đồng, đất nước, nhân loại và môi trường tự nhiên; tôn trọng, chấp hành kỉ luật, pháp luật và nghĩa vụ đạo đức Trên cơ sở đó hình thành và phát triển các năng lực chung và năng lực đặc thù môn học của học sinh như: tự học, sáng tạo, phát hiện và giải quyết vấn đề; giao tiếp và hợp tác; sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông

Coi trọng các hoạt động trải nghiệm sáng tạo của học sinh qua đó phát hiện được năng khiếu, sở thích và đam mê của từng em để bồi dưỡng phát triển

c) Chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ thực hiện trong 12 năm, chia

thành 2 giai đoạn: Giai đoạn giáo dục cơ bản (cấp tiểu học 5 năm và THCS 4 năm) và giai đoạn giáo dục định hướng nghề nghiệp (cấp THPT 3 năm)

d) Chương trình giáo dục phổ thông mới sẽ được xây dựng thành một

chỉnh thể xuyên suốt từ lớp 1 đến lớp 12 theo định hướng tích hợp cao ở các lớp/cấp học dưới; phân hoá mạnh ở các lớp/cấp học cao hơn, nhất là ở cấp THPT Số môn học bắt buộc sẽ giảm nhiều; học sinh được tự chọn các môn học/các chuyên đề phù hợp với năng lực và sở thích, gắn với định hướng nghề nghiệp sau này Điều này đòi hỏi ở giáo viên phổ thông năng lực dạy học tích hợp và phân hóa Năng lực tích hợp càng ngày càng phát triển nhưng ở lớp dưới

là tích hợp rộng, ở lớp trên là tích hợp sâu và hẹp Dạy học phân hóa ở lớp dưới chủ yếu thực hiện bởi phương pháp dạy học (gọi là phân hóa trong) đáp ứng yêu cầu với từng học sinh, lên lớp trên được thực hiện cả bằng phân hóa trong, nhưng quan trọng là phân hóa bằng nội dung dạy học tự chọn (môn học tự chọn, chuyên đề tự chọn) gọi là phân hóa ngoài

đ) Nội dung giáo dục phổ thông mới đồng thời với mục tiêu trang bị kiến thức, chú trọng đến các hoạt động trải nghiệm của học sinh (trải nghiệm trong từng môn học và trải nghiệm tổng hợp), hoạt động rèn luyện kỹ năng (ngoại ngữ, công nghệ và các kỹ năng mềm), hoạt động cộng đồng (thể thao, nghệ thuật), xử lý tình huống thực tiễn (đạo đức, lối sống)

Trên cơ sở nghiên cứu những yêu cầu mới của chương trình giáo dục phổ

thông, các cơ sở đào tạo giáo viên cần xây dựng chương trình đào tạo mới đảm bảo khắc phục được hạn chế của chương trình đào tạo hiện hành mang nặng tính

lý luận, ít chú ý tới thực hành vận dụng lý thuyết vào thực tế, chuyển từ chương trình định hướng trang bị kiến thức khoa học và rèn luyện nghiệp vụ sư phạm

Trang 14

3 Đổi mới chương trình đào tạo theo tiếp cận đổi mới hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy học và sử dụng phương tiện dạy học của giáo dục phổ thông

a) Đổi mới phương pháp dạy học

Trong những năm qua, giáo dục phổ thông đã cố gắng đổi mới về phương pháp dạy học, nhưng phương pháp dạy học ở các trường sư phạm vẫn chưa bám sát với thực tiễn đổi mới đó, vẫn nặng về truyền thụ một chiều

Chương trình giáo dục phổ thông mới đặt ra yêu cầu cần tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp giáo dục/dạy học của giáo viên theo hướng hiện đại, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập của học sinh Học sinh sẽ tự tìm tòi kiến thức, rèn luyện kỹ năng, vận dụng kiến thức, bồi dưỡng phẩm chất, năng lực thông qua các hoạt động học tập dưới sự chỉ đạo, tổ chức, hướng dẫn của giáo viên; học sinh được trình bày và bảo vệ ý kiến của mình, được lắng nghe và phản biện ý kiến của bạn, nhất là khi tham gia các hoạt động xã hội, trải nghiệm sáng tạo; khắc phục lối truyền đạt áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc

Trước yêu cầu đó của giáo dục phổ thông, giảng viên sư phạm phải tích

cực đổi mới phương pháp giảng dạy theo hướng “dạy đại học là dạy cách tự học”, đồng thời đẩy mạnh và nâng cao chất lượng hoạt động nghiên cứu khoa

học, hướng dẫn phương pháp dạy học môn học

Sinh viên sư phạm học được phương pháp dạy học từ thực tiễn giảng dạy của tất cả các giảng viên trong thời gian học tại trường sư phạm Do đó tất cả các giảng viên sư phạm (không chỉ giảng viên phương pháp dạy học) phải là

Trang 15

Giáo dục đang chuyển từ nặng về cung cấp kiến thức (kiến thức là mục tiêu) sang giáo dục chú trọng vào việc hình thành và phát triển năng lực (kiến thức là phương tiện, là con đường, là cách thức hình thành phẩm chất, năng lực người học) Giảng viên cần thay đổi nhận thức về việc bồi dưỡng năng lực sư phạm cho sinh viên hướng phát huy được các tố chất, năng lực sư phạm ở dạng tiềm ẩn hay tường minh trong mỗi sinh viên; tạo được môi trường thuận lợi có tính thực tiễn, tương tác cao để triển khai các hoạt động hình thành, phát triển năng lực sư phạm cho sinh viên

b) Đổi mới hình thức tổ chức dạy học

Chương trình giáo dục phổ thông mới khuyến khích và tạo điều kiện cho việc chuyển hình thức tổ chức giáo dục từ chủ yếu dạy học trên lớp sang đa dạng hóa hình thức học tập, đồng thời với dạy học trên lớp phải chú trọng các hoạt động tự học, học tập ngoài lớp học, học trong hoạt động xã hội, trải nghiệm sáng tạo và nghiên cứu khoa học Cần cân đối giữa dạy học và tổ chức các hoạt động trải nghiệm sáng tạo; giữa hoạt động tập thể, hoạt động theo nhóm nhỏ và hoạt động cá nhân; giữa dạy học bắt buộc và dạy học tự chọn để đảm bảo hiệu quả của việc giáo dục đạo đức, lối sống và rèn luyện kỹ năng của học sinh, vừa đảm bảo chất lượng giáo dục chung, vừa phát triển tiềm năng cá nhân của người học

Cùng với dạy học trên lớp, cần mở rộng các hình thức học tập ngoài lớp học, coi trọng hơn các hoạt động xã hội, trải nghiệm sáng tạo Chú ý đến tính đặc thù của các lĩnh vực giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông mới

Đáp ứng đổi mới này, các cơ sở đào tạo giáo viên cũng cần tăng cường các hoạt động trải nghiệm, hoạt động xã hội của sinh viên, tăng cường mối quan

Trang 16

16

hệ với trường phổ thông và đưa đội ngũ giảng viên, sinh viên tham gia sâu vào các hoạt động phát triển chuyên môn của giáo viên phổ thông Các hoạt động này sẽ giúp sinh viên có điều kiện rèn luyện và thể hiện năng lực, phẩm chất nhà giáo theo yêu cầu mới

Đồng thời, các cơ sở đào tạo giáo viên cần nghiên cứu, thiết kế các học phần kiến thức đào tạo và rèn luyện cho sinh viên các kỹ năng mềm thiết yếu để đáp ứng với các hình thức dạy học khác nhau ở trường phổ thông, chú ý đến tính đặc thù của các lĩnh vực giáo dục trong chương trình giáo dục phổ thông mới

c) Đổi mới sử dụng phương tiện dạy học

Việc tăng cường hiệu quả của các phương tiện dạy học, đặc biệt là ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông để hỗ trợ đổi mới việc lựa chọn và thiết kế nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học có ý nghĩa quan trọng đối với việc thực hiện được chương trình giáo dục phổ thông mới cũng như chương trình giáo dục đại học

Giảng viên các trường sư phạm sẽ phải là những người tiên phong trong việc nghiên cứu, ứng dụng các phương tiện dạy học hiện đại trong chương trình đào tạo và dạy cho sinh viên kỹ năng sử dụng các phương tiện dạy học nói chung, phương tiện đặc thù bộ môn nói riêng

Đồng thời, các nhà trường cần tạo điều kiện cho sinh viên được học tập qua các nguồn học liệu đa dạng, phong phú trong xã hội, nhất là qua internet Từ

đó phát triển năng lực tự học và chuẩn bị tâm thế cho học tập suốt đời

4 Đổi mới kiểm tra, đánh giá trong đào tạo giáo viên

Cùng với việc đổi mới nội dung chương trình là đổi mới kiểm tra, đánh giá hoạt động học tập và kết quả học theo định hướng phát triển năng lực người học - đây là giải pháp quan trọng mang tính “đột phá” trong đổi mới giáo dục đào tạo

Đối với cơ sở đào tạo giáo viên, người giảng viên phải có năng lực đánh giá hoạt động đào tạo:

Thứ nhất, giảng viên cần có năng lực đánh giá hoạt động học tập của sinh

viên sư phạm: Thực hiện đầy đủ các khâu đánh giá hoạt động của người học gồm đánh giá đầu vào, đánh giá trong quá trình học tập và đánh giá đầu ra; đánh

Trang 17

17

giá đa dạng và thường xuyên; các tiêu chí đánh giá nhằm hỗ trợ người học và xác định mức độ kiến thức, kỹ năng, năng lực người học đạt được so với mục tiêu và chuẩn đầu ra của học phần/khóa học

Thứ hai, quá trình đào tạo phải đảm bảo sinh viên sư phạm có năng lực

đánh giá học sinh đáp ứng thực tiễn đổi mới thi, kiểm tra, đánh giá trong chương trình giáo dục phổ thông

Nếu như trước đây, việc kiểm tra, đánh giá chủ yếu là để đánh giá kết quả học tập, nặng về kiểm tra, đánh giá kiến thức của học sinh thì giai đoạn tới, việc kiểm tra, đánh giá phải vì sự học của học sinh: Giúp học sinh biết điều chỉnh cách học, vượt qua từng khó khăn, đạt được từng tiến bộ về kết quả học tập, biết

tự rút kinh nghiệm về phương pháp học tập

Việc thi, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học và đánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trường với đánh giá của gia đình và xã hội; đánh giá trên diện rộng theo các tiêu chí quốc tế

Cơ sở đào tạo giáo viên cần đưa vào chương trình đào tạo các môn học về phương pháp đánh giá, công cụ đánh giá và trường sư phạm cũng phải đổi mới kiểm tra, đánh giá trong đào tạo sinh viên theo hướng đánh giá năng lực

Cần phối hợp giữa cơ sở đào tạo với trường phổ thông trong việc đánh giá sinh viên sư phạm Nhà trường phổ thông ngoài việc đánh giá chất lượng của sinh viên trong các đợt thực tập sư phạm, qua các hoạt động thực hành còn có thể đóng vai trò của một lực lượng đánh giá ngoài để tham gia kiểm định chất lượng đào tạo của các cơ sở đào tạo giáo viên

5 Đổi mới công tác quản lý thực hiện chương trình

Chương trình giáo dục phổ thông mới gồm có chương trình tổng thể, chương trình môn học, các chuyên đề học tập và hoạt động trải nghiệm sáng tạo

Chương trình tổng thể quy định mục tiêu giáo dục phổ thông và mục tiêu giáo dục từng cấp học; yêu cầu cần đạt về phẩm chất và năng lực chung của học sinh cuối mỗi cấp học; kế hoạch giáo dục phổ thông và kế hoạch giáo dục của

Trang 18

18

từng cấp học chung toàn quốc; định hướng về phương pháp, hình thức tổ chức giáo dục và cách thức đánh giá kết quả giáo dục của từng cấp học Chương trình tổng thể là sự kết hợp hài hòa các chương trình môn học và chuyên đề học tập, chương trình hoạt động giáo dục trải nghiệm sáng tạo (sau đây gọi chung là chương trình môn học)

Chương trình môn học quy định vị trí, vai trò môn học trong thực hiện mục tiêu giáo dục phổ thông; mục tiêu và yêu cầu cần đạt được về kiến thức, kỹ năng, thái độ theo định hướng phát triển phẩm chất và năng lực theo đặc thù môn học của học sinh cuối mỗi cấp học ở mỗi lớp/nhóm lớp của từng cấp học; nội dung, kế hoạch dạy học môn học ở mỗi lớp và mỗi cấp học; phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, cách thức đánh giá kết quả học tập của học sinh đối với môn học

Ngoài những quy định chung cho cả nước, chương trình giáo dục phổ

thông mới dành một phần thời lượng cho nội dung giáo dục địa phương, được

thiết kế theo hướng một chương trình nhiều sách giáo khoa khác nhau Trong

đó, việc lựa chọn sách giáo khoa do các nhà trường quyết định trên cơ sở ý kiến

của giáo viên

Có thể nói, việc giao quyền tự chủ cho nhà trường trong việc lựa chọn sách giáo khoa và xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường phù hợp với điều kiện kinh tế, văn hóa của cơ sở, địa phương là một bước đổi mới căn bản về công tác quản lý thực hiện chương trình giáo dục phổ thông trong thời gian tới Đòi hỏi giáo viên phổ thông phải có năng lực dạy học dựa vào chương trình, biết lựa chọn sách giáo khoa phù hợp, biết xây dựng kế hoạch giáo dục của bộ môn góp phần xây dựng kế hoạch giáo dục nhà trường Điều này cũng đặt ra yêu cầu mới đối với chương trình đào tạo giáo viên

III- Một số định hướng đổi mới công tác bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục phổ thông

Thực tế thời gian qua, các cơ sở đào tạo giáo viên đã góp phần nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cho giáo viên phổ thông Tuy nhiên phần bồi dưỡng thường xuyên vẫn mang nặng tính lý thuyết, ít chú ý tới bồi dưỡng khả năng vận dụng vào thực tiễn giảng dạy Cơ sở đào tạo giáo viên thường đem đi bồi dưỡng cái mình có, chưa chú ý cái giáo viên cần để bồi dưỡng cho họ

Trang 19

19

Công cuộc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đòi hỏi nhà trường, sinh viên sư phạm phải đồng hành cùng các trường phổ thông trong công cuộc đổi mới toàn diện giáo dục đào tạo ngay từ bây giờ bằng các nội dung bồi dưỡng nâng cao năng lực chung cần cho giáo viên, hướng dẫn, góp ý giáo viên phổ thông thực hiện tốt các nhiệm vụ đổi mới mà Bộ đang triển khai không phải đợi đến lúc có sách giáo khoa mới

Để làm tốt công tác này, các cơ sở đào tạo giáo viên cần đổi mới một cách toàn diện hoạt động bồi dưỡng, trong đó chú trọng các lĩnh vực sau:

a) Đổi mới việc xây dựng, chương trình, tài liệu, học liệu phục vụ công tác bồi dưỡng, bao gồm:

- Xác định 3 nhóm nội dung bồi dưỡng giáo viên phổ thông: bồi dưỡng kiến thức, kỹ năng nền tảng nâng cao năng lực theo Chuẩn nghề nghiệp và Chuẩn cán bộ quản lý; bồi dưỡng theo tiêu chuẩn chức danh, nghiệp vụ; bồi dưỡng theo những nhiệm vụ và yêu cầu mới của giáo dục phổ thông và của việc đổi mới chương trình sách giáo khoa

- Lựa chọn chuyên gia, tổ chức biên soạn tài liệu, học liệu bồi dưỡng đáp ứng nhu cầu tự học, tự bồi dưỡng của đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý; bổ sung những chương trình còn thiếu, trong đó chú ý tới bồi dưỡng năng lực quản

lý sự thay đổi trong môi trường giáo dục thay đổi đối với cán bộ quản lý Tài liệu bồi dưỡng cần đa dạng, phong phú: tài liệu bản in, bài giảng bản word, bài giảng PowerPoint, Video Clip, đĩa VCD, cẩm nang hỏi đáp, giáo trình điện tử…

- Các chương trình bồi dưỡng phải phát huy thế mạnh của việc tự học và nhu cầu học tập suốt đời, mọi nơi, mọi lúc; Chú trọng sử dụng phù hợp các hình thức bồi dưỡng tập trung, trực tuyến qua mạng, thực hành trực tiếp tại chỗ hoặc phối hợp giữa bồi dưỡng tập trung và trực tuyến qua mạng; Chú ý đổi mới phương pháp bồi dưỡng, hình thức kiểm tra, đánh giá, cấp chứng chỉ bồi dưỡng

- Xây dựng kế hoạch thường xuyên mời giáo viên và cán bộ quản lý giỏi

ở các trường mầm non, phổ thông thỉnh giảng, hướng dẫn nghiệp vụ trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng của các cơ sở đào tạo giáo viên; điều động giảng viên

sư phạm tham gia giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu, thử nghiệm khoa học giáo dục ở các trường mầm non, phổ thông

Trang 20

20

Cần lưu ý là nội dung bồi dưỡng phải phù hợp với các nhu cầu mới của giáo viên, cán bộ quản lý, các tài liệu bồi dưỡng không thế lặp lại giáo trình dạy cho sinh viên

b) Đổi mới cách thức tổ chức, phương pháp và hình thức bồi dưỡng

- Bồi dưỡng tập trung, trực tiếp cho các nội dung bồi dưỡng cần trao đổi, bàn bạc thống nhất như các vấn đề mới, khó; những kỹ năng thực hành về phương pháp giảng, kỹ thuật dạy học

- Bồi dưỡng qua mạng internet nhằm phát huy tinh thần tự học, tự bồi dưỡng nâng cao năng lực nghề nghiệp của giáo viên và cán bộ quản lý

- Kết hợp giữa bồi dưỡng trực tuyến qua mạng internet và bồi dưỡng tập trung có tư vấn, hỗ trợ của giảng viên/ đội ngũ giáo viên cốt cán cơ sở giáo dục phổ thông

- Phối hợp với các cơ sở giáo dục lựa chọn, tập huấn và hướng dẫn đội ngũ giáo viên cốt cán, họ không phải là những người nói lại các nội dung được bồi dưỡng từ giảng viên mà là những người tổ chức, hướng dẫn các giáo viên cấp dưới sinh hoạt chuyên môn trong điều kiện mới

c) Đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng

- Xây dựng bộ công cụ đánh giá: đánh giá kết quả các nội dung bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý theo cấp học, môn học và đánh giá nội dung, hình thức bồi dưỡng, bao gồm: bộ công cụ kiểm tra, đánh giá kết quả các nội dung bồi dưỡng theo hình thức qua mạng internet

- Đổi mới hình thức kiểm tra, đánh giá: phát huy vai trò của đội ngũ cốt cán; các cơ sở đào tạo giáo viên thực hiện nhiệm vụ bồi dưỡng trong việc kiểm tra, đánh giá kết quả bồi dưỡng; việc kiểm tra, đánh được thực hiện đa dạng, phong phú dưới nhiều hình thức như: bài kiểm tra viết, bài viết thu hoạch, báo cáo chuyên đề, phỏng vấn trực tiếp, trắc nghiệm khách quan, quan sát trực tiếp lớp học, trả lời câu hỏi Việc lựa chọn hình thức kiểm tra, đánh giá phụ thuộc vào từng nội dung và đối tượng cũng như thời điểm bồi dưỡng

d) Cần xác định được cơ chế phối hợp, hợp đồng trách nhiệm giữa cơ sở đào tạo giáo viên, cơ quan quản lý và cơ sở giáo dục phổ thông trong hoạt động

Trang 21

- Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành nhiều Thông tư quy định và các công văn hướng dẫn về công tác bồi dưỡng giáo viên, việc bồi dưỡng và cấp chứng chỉ bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý giáo dục Các cơ sở đào tạo giáo viên

và cán bộ quản lý cần nghiên cứu, vận dụng đúng quy định của Bộ về công tác bồi dưỡng, đồng thời có các cách thức xác định những thông tin trước khi bồi dưỡng và kết quả đạt được sau bồi dưỡng một cách phù hợp, từ đó có những cam kết với các trường phổ thông để việc bồi dưỡng góp phần tích cực vào việc nâng cao chất lượng đội ngũ

- Xác định rõ mối quan hệ về nghĩa vụ, trách nhiệm và quyền lợi giữa các

cơ sở đào tạo giáo viên, các cơ quan quản lí giáo dục, các trường mầm non, phổ thông trong mối quan hệ phối hợp đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản

lý giáo dục

CÂU HỎI THẢO LUẬN

1 Làm thế nào để triển khai đến đội ngũ giảng viên sư phạm những nội dung cơ

bản của Nghị quyết số 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa

giáo dục phổ thông và Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 phê duyệt đề

án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông nhanh chóng, hiệu quả thực hiện đổi mới công tác đào tạo, bồi dưỡng trong cơ sở đào tạo giáo viên?

2 Những thuận lợi và khó khăn, giải pháp ở đơn vị khi triển khai đổi mới chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên đáp ứng đổi mới giáo dục phổ thông?

Trang 22

22

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1 Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”

2 Nghị quyết 44/NQ-CP ngày 09/6/2004 Ban hành chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04/11/2013 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa”

3 Nghị quyết số 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa

giáo dục phổ thông

4 Quyết định số 72 /2007/QĐ-BGDĐT ngày 30/11/2007 ban hành Quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình giáo dục ngành Giáo dục Tiểu học trình độ cao đẳng

5 Quyết định số 70/2014/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ Ban hành Điều lệ trường đại học

6 Quyết định số 404/QĐ-TTg ngày 27/3/2015 phê duyệt đề án đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông

7 Thông tư số 49/2012/TT-BGDĐT ngày 12/12/2012 ban hành Quy định

về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo giáo viên trung học phổ thông trình độ đại học

8 Thông tư số 01/2015/TT-BGDĐT ngày 15 tháng 01 năm 2015 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Điều lệ Trường cao đẳng

9 Thông tư số 07/2015/BGDĐT ngày 16/4/2015 Quy định về khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp đối với mỗi trình độ đào tạo của giáo dục đại học và quy trình xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo trình độ đại học, thạc sĩ, tiến sĩ

Trang 23

23

Chuyên đề 2 MỘT SỐ VẤN ĐỀ VỀ ĐIỀU KIỆN ĐẢM BẢO TRIỂN KHAI CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO

CỦA CÁC CƠ SỞ ĐÀO TẠO GIÁO VIÊN

————————

I- Một số yêu cầu về đổi mới chương trình đào tạo giáo viên

Chương trình đào tạo giáo viên là một yếu tố quan trọng nhất đảm bảo chất lượng đào tạo giáo viên, là một tiêu chuẩn để kiểm định chất lượng giáo dục trường sư phạm

Tổ chức xây dựng chương trình đào tạo là trách nhiệm của thủ trưởng cơ

sở đào tạo giáo viên được quy định trong Điều lệ trường đại học, Điều lệ trường cao đẳng Chương trình đào tạo giáo viên là một tổ hợp bao gồm mục tiêu, chuẩn đầu ra; danh mục, thời lượng, nội dung đào tạo; phương thức tổ chức đào tạo, đánh giá và các nguồn lực đảm bảo để triển khai đào tạo một ngành học

Đổi mới chương trình đào tạo giáo viên nhằm đáp ứng mục tiêu đào tạo là phát triển năng lực và phẩm chất của sinh viên sư phạm - nhà giáo tương lai, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người, dạy chữ và dạy nghề, phù hợp tới mục tiêu giáo dục Việt Nam

Chương trình đào tạo của các trường sư phạm cần đổi mới trên cơ sở thực hiện đúng các quy định của Thông tư số 07/2015/BGDĐT ngày 16/4/2015 Quy định về khối lượng kiến thức tối thiểu, yêu cầu về năng lực mà người học đạt được sau khi tốt nghiệp đối với mỗi trình độ đào tạo của giáo dục đại học và quy trình xây dựng, thẩm định, ban hành chương trình đào tạo trình độ đại học, thạc

sĩ, tiến sĩ; đảm bảo các tiêu chuẩn đánh giá chất lượng chương trình đào tạo giáo dục đại học theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo Trong đó chú trọng:

- Mục tiêu của chương trình đào tạo giáo viên phải chỉ rõ những yêu cầu cần đạt của sinh viên sau khi tốt nghiệp, đáp ứng được các yêu cầu của việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông mới Trong đó, mục tiêu chung nêu rõ những phẩm chất và năng lực của sinh viên sư phạm sau khi đào tạo; mục tiêu

cụ thể nêu rõ những kiến thức, kỹ năng và thái độ nghề nghiệp cụ thể của sinh viên sư phạm để đạt được mục tiêu chung;

Trang 24

24

- Chương trình đào tạo sư phạm phải lấy mục tiêu đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo và chương trình giáo dục phổ thông mới làm 2 tham chiếu chính, xây dựng chuẩn đầu ra tương thích với chuẩn năng lực giáo viên Mục tiêu của đào tạo giáo viên cần liên thông, bám sát mục tiêu giáo dục phổ thông là “Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn”;

- Chương trình đào tạo xây dựng theo hướng mở để thường xuyên phát

triển chương trình đào tạo và đáp ứng cho nhiều đối tượng: học trở thành giáo viên (hướng ứng dụng nghề nghiệp); học trở thành giảng viên (hướng nghiên cứu); thậm chí học để đáp ứng việc chuyển đổi nghề nghiệp; vì vậy cần xây dựng nhiều mô đun, chuyên đề để sinh viên cần tự chọn theo nhu cầu học tập

- Chương trình chú trọng đổi mới và tăng thời lượng cho các nội dung thực hành; tự học, tự nghiên cứu, trải nghiệm thực tiễn giáo dục phổ thông, nghiệp vụ sư phạm và rèn nghề; dành tối thiểu 25% tổng số tín chỉ và thời lượng cho nội dung đào tạo về giáo dục;

- Cấu trúc và nội dung chương trình đảm bảo tính khoa học, phù hợp với phương thức đào tạo theo tín chỉ; các học phần có tính tích hợp, liên thông; đảm bảo kiến thức và kỹ năng theo chuẩn đầu ra…;

- Cập nhật những vấn đề mới của thực tiễn giáo dục ở các địa phương, nhà trường để thường xuyên phát triển chương trình đào tạo, giúp sinh viên tốt nghiệp đáp ứng được yêu cầu thực tiễn của phổ thông như: Học sinh nghiên cứu khoa học kỹ thuật, tư vấn tâm lý, giáo dục kỷ luật tích cực, giáo dục hòa nhập, phương pháp dạy học cho người lớn, mô hình trường học mới VNEN, đổi mới kiểm tra đánh giá, các phương pháp dạy và học tích cực, dạy học qua di sản, dạy học theo chủ đề, tích hợp liên môn, giáo viên sáng tạo trên nền tảng công nghệ thông tin…

Đồng thời với đổi mới chương trình đào tạo là đổi mới xây dựng Chuẩn đầu ra Chuẩn đầu ra của sinh viên sư phạm phải tương ứng tối thiểu với mức đạt của chuẩn nghề nghiệp giáo viên

Trang 25

25

Trong quá trình xây dựng chương trình cũng cần lưu ý, hiện nay chuẩn nghề nghiệp giáo viên là những tiêu chuẩn nghề nghiệp chung, chưa có chuẩn năng lực riêng cho giáo viên từng bộ môn/lĩnh vực; tương tự có chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo nói chung, cần phải có chuẩn đầu ra của từng môn học Các trường cần xây dựng những tiêu chí cụ thể của chuẩn năng lực nghề nghiệp cho giáo viên từng môn/lĩnh vực, để phát triển năng lực cho sinh viên sư phạm theo từng chuyên ngành

Đổi mới nội dung chương trình đào tạo giáo viên phải được tiến hành đồng bộ với các giải pháp về đổi mới hình thức tổ chức và phương pháp đào tạo, đổi mới kiểm tra, đánh giá người học, rèn luyện phương pháp tự học cho sinh viên, nâng cao năng lực giảng viên về phát triển chương trình đào tạo và tổ chức hoạt động đào tạo, đánh giá kết quả đào tạo

Xây dựng và phát triển, chỉnh sửa, hoàn thiện chương trình đào tạo giáo viên cần sự tham gia vào cuộc của nhiều lực lượng: Đội ngũ giảng viên, nhà khoa học chuyên môn, các chuyên gia giáo dục, cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên, cơ sở giáo dục phổ thông, các đơn vi cá nhân chịu trách nhiệm tuyển dụng giáo viên; chương trình đào tạo luôn cần được rà soát, phát triển phù hợp với thực tiễn của giáo dục phổ thông, không chỉ dừng ở việc đáp ứng với chương trình giáo dục phổ thông mới

II- Một số vấn đề về điều kiện đảm bảo triển khai chương trình đào tạo mới của các cơ sở đào tạo giáo viên

1 Nâng cao phẩm chất và năng lực của đội ngũ giảng viên như thế nào?

Nghị quyết 29/NQ-TW chỉ rõ hạn chế của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục là “bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí

vi phạm đạo đức nghề nghiệp”

Xây dựng phát triển đội ngũ giảng viên, giáo viên là giải pháp then chốt, quan trọng nhất, quyết định sự thành bại của việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục

Trang 26

26

a) Phẩm chất và năng lực cần thiết của người giảng viên sư phạm

Luật Giáo dục đại học đã quy định “Giảng viên trong cơ sở giáo dục đại

học là người có nhân thân rõ ràng; có phẩm chất, đạo đức tốt …”

Thông tư liên tịch số 36/2014/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ trưởng Bộ Nội vụ “Quy định mã số và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy trong các

cơ sở giáo dục đại học công lập” đã quy định cụ thể nhiệm vụ, tiêu chuẩn về trình độ đào tạo, bồi dưỡng; tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ của các chức danh nghề nghiệp giảng viên; đồng thời, quy định tiêu chuẩn về đạo đức nghề nghiệp của viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập thực hiện theo Quy định về đạo đức nhà giáo ban hành kèm theo Quyết định

số 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 4 năm 2008 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục

và Đào tạo và các quy định hiện hành của pháp luật

Điểm mấu chốt là người giảng viên sư phạm cần có đủ phẩm chất và năng lực để đào tạo được đội ngũ nhà giáo có đủ phẩm chất và năng lực đáp ứng

chương trình giáo dục phổ thông (Nhân cách giáo dục nhân cách, năng lực đào tạo năng lực):

- Đạo đức nhà giáo (phẩm chất chính trị; đạo đức nghề nghiệp; lối sống, tác phong; giữ gìn, bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo);

+ Năng lực chuyên môn và năng lực giáo dục: Năng lực phát hiện và giải quyết các vấn đề thuộc chuyên môn đào tạo, năng lực dẫn dắt chuyên môn, năng lực lãnh đạo chuyên môn, năng lực giáo dục người học, nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ vv…Một số năng lực cốt lõi của giảng viên trường sư phạm cần quan tâm khi phát triển chương trình đào tạo giáo viên:

+ Năng lực phát triển chương trình đào tạo của nhà trường và chương trình môn học do giảng viên phụ trách Giảng viên phải có năng lực nghiên cứu

để xác định hồ sơ nghề nghiệp sinh viên chuyên ngành tốt nghiệp, đồng thời nghiên cứu định hướng đổi mới giáo dục phổ thông, chuẩn nghề nghiệp giáo viên, hồ sơ nghề nghiệp của sinh viên sau khi tốt nghiệp, thông tin đánh giá từ thị trường lao động (nhà tuyển dụng, giáo viên phổ thông, cựu sinh viên tốt

Trang 27

+ Năng lực đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo tiếp cận năng lực,vận dụng phối hợp đa dạng hóa phương pháp, hình thức đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo hồ sơ năng lực của sinh viên tốt nghiệp

+ Năng lực tư vấn, hướng dẫn đồng nghiệp phát triển chuyên môn, tư vấn hướng dẫn người học tự học, tự nghiên cứu triển khai đề tài nghiên cứu khoa học, các dự án học tập, dự án trải nghiệm thực tiễn nghề nghiệp để rèn kỹ năng

và hình thành phẩm chất đạo đức nghề nghiệp

+ Năng lực nghiên cứu khoa học giáo dục và chuyển giao kết quả đổi mới giáo dục phổ thông và đổi mới đào tạo giáo viên Năng lực tổ chức hoạt động nghiên cứu khoa học của sinh viên, đồng nghiệp, năng lực viết giáo trình và hệ thống học liệu phục vụ đào tạo, hỗ trợ sinh viên trong quá trình học tập

+ Năng lực thiết lập mối quan hệ giữa giảng viên trường sư phạm với trường phổ thông nhằm phối hợp giữa giảng viên sư phạm với giáo viên phổ thông trong phát triển chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, tổ chức đào tạo, bồi dưỡng, đánh giá kết quả đào tạo, bồi dưỡng

+ Năng lực ngoại ngữ, tin học, đặc biệt là năng lực ứng dụng công nghệ thông tin trong thiết kế, xây dựng mô hình trường học kết nối, giáo trình điện tử, phát triển môi trường học tập Elearning và nhiều năng lực bổ trợ khác

+ Năng lực hoạt động thực tiễn, hoạt động chính trị - xã hội: Thâm nhập cuộc sống, nắm bắt những vấn đề mới của cuộc sống và đời sống chính trị - xã hội, các vấn đề thời sự, chính trị, pháp luật, phát triển kinh tế - xã hội của đất nước và quốc tế làm giàu vốn tri thức thực tiễn;

Trang 28

28

+ Năng lực phát triển nghề nghiệp, phát triển bản thân: năng lực tự học, học tập suốt đời, khả năng định hướng, thiết lập mục tiêu, lựa chọn và tìm kiếm cách thức, phương pháp hành động để phát triển nghề nghiệp, phát triển bản thân;

Đặc biệt là giảng viên phải tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong phát triển chuyên môn Để đáp ứng được yêu cầu về năng lực chuyên môn, đòi hỏi người giảng viên làm chủ kiến thức hoặc có hệ thống kiến thức chuyên sâu, tiên tiến và toàn diện thuộc lĩnh vực khoa học chuyên ngành, nền tảng tri thức sâu rộng về lĩnh vực liên ngành giúp nắm vững môn học phụ trách, phương pháp luận và phương pháp tư duy khoa học, tư duy hệ thống về công việc giảng dạy, nghiên cứu khoa học …;

Vì vậy, cần thiết phải xác định và ban hành chuẩn phẩm chất và năng lực giảng viên sư phạm để định hướng phấn đấu của giảng viên, nhằm đáp ứng yêu cầu mới của nghề nghiệp

b) Học tập, bồi dưỡng khắc phục những năng lực còn thiếu, còn yếu của giảng viên

Học tập, bồi dưỡng nâng cao trình độ lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ là nhiệm vụ và quyền của người giảng viên được quy định tại Điều 20 của Luật Giáo dục đại học

Các cơ sở đào tạo giáo viên tự chủ, tự chịu trách nhiệm trong việc xây dựng, thẩm định các chương trình bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ để cập nhật

và nâng cao kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp của người học đáp ứng yêu cầu của thực tiễn và hội nhập quốc tế (Quyết định số 70/2014/QĐ-TTg ngày 10 tháng 12 năm 2014 của Thủ tướng Chính phủ ban hành Điều lệ trường đại học)

Thủ trưởng cơ sở đào tạo giáo viên chịu trách nhiệm quy định cụ thể thời lượng dành cho hoạt động tự học, tự bồi dưỡng, bồi dưỡng thường xuyên của giảng viên thuộc đơn vị quản lý trong văn bản quy định chi tiết chế độ làm việc của giảng viên trong đơn vị trên cơ sở của Thông tư 47/2014/TT-BGDĐT Quy định chế độ làm việc của giảng viên

Các cơ sở đào tạo giáo viên chú trọng thực hiện tốt các quy định về nội dung, chương trình, thời gian, hình thức tổ chức và đánh giá kết quả bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giảng viên theo Thông tư số 20/2013/TT-BGDĐT

Trang 29

29

ngày 06 tháng 6 năm 2013 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo Quy định bồi

dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giảng viên các cơ sở giáo dục đại học Chú trọng bồi dưỡng một số năng lực giảng viên thiếu hoặc yếu như: năng lực tiếp cận các vấn đề xã hội, năng lực tổ chức chỉ đạo, hướng dẫn các hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên, năng lực ứng dụng công nghệ thông tin, năng lực ngoại ngữ …

Trong thời gian tới đội ngũ giảng viên cần khẩn trương bồi dưỡng, tự bồi dưỡng về năng lực xây dựng và phát triển chương trình đào tạo, năng lực đánh giá kết quả học tập của sinh viên theo hướng tiếp cận năng lực, năng lực hợp tác trong giảng dạy và nghiên cứu Các cơ sở đào tạo cần tiến hành nghiên cứu và triển khai xây dựng chương trình bồi dưỡng thường xuyên cho giảng viên; tăng cường tự học, tự bồi dưỡng và học tập thông qua các hoạt động chia sẻ, trao đổi chuyên môn, nghiệp vụ không chỉ trong Bộ môn, Khoa, Trường sư phạm mà cả với giáo viên, với trường phổ thông; cập nhật việc đổi mới hình thức và phương pháp day học phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, rèn luyện phương pháp

tự học ….đang được triển khai ở phổ thông

Các cơ sở đào tạo giáo viên cần tích cực triển khai thực hiện Đề án "Dạy

và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 - 2020" nâng cao trình độ ngoại ngữ của đội ngũ, cử giảng viên đủ năng lực ngoại ngữ tham gia học tập nâng cao trình độ theo Đề án 911 (Quyết định số 911/QĐ-TTg ngày 17/6/2010 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án đào tạo giảng viên

có trình độ tiến sĩ cho các trường đại học, cao đẳng giai đoạn 2010-2020) và Đề

án 599 (Quyết định số 599/QĐ-TTg ngày 17 tháng 4 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án “Đào tạo cán bộ ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước giai đoạn 2013 - 2020”; ưu tiên, bố trí từ nguồn kinh phí tự chủ của đơn vị đẩy mạnh việc liên kết đào tạo, bồi dưỡng ngoài nước; tận dụng lực lượng chuyên gia chung cho các trường trong bồi dưỡng giảng viên

Một thực tế là năng lực của mỗi giảng viên không đồng đều ngay trong cùng một đơn vị, một bộ phận; không đồng đều giữa các cơ sở đào tạo giáo viên, mỗi trường có thế mạnh khác nhau về chất lượng đội ngũ Thủ trưởng mỗi cơ sở đào tạo cần có “chiến lược” trong việc thành lập đội ngũ chuyên gia theo thế

Trang 30

tự học, sáng tạo” hiệu quả thực chất Đồng thời, chú trọng quản lý chặt chẽ, tăng hiệu quả hoạt động bồi dưỡng của giảng viên với các biện pháp tích cực nhằm tăng cường, lan tỏa tác dụng của các nội dung tập huấn bồi dưỡng giảng viên do

Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức tới đội ngũ giảng viên trong đơn vị, có biện pháp quản lý tốt việc thực hiện nhiệm vụ tự học, tự bồi dưỡng nâng cao trình độ của giảng viên, tăng cường hoạt động tự bồi dưỡng của các giảng viên

c) Giảng viên sư phạm tham gia các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ

và phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên phổ thông

Một trong những giải pháp nhằm đổi mới công tác bồi dưỡng giáo viên và cán bộ quản lý giáo dục được nêu ra tại Hội thảo “Nâng cao năng lực đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý của các trường sư phạm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông” (Thông báo kết luận số 148/TB-BGDĐT ngày 24/3/2015) đó là:

“Xây dựng kế hoạch thường xuyên mời giáo viên và cán bộ quản lý giỏi ở các trường mầm non, phổ thông thỉnh giảng, hướng dẫn nghiệp vụ trong quá trình đào tạo, bồi dưỡng của các cơ sở đào tạo giáo viên; điều động giảng viên

sư phạm tham gia giảng dạy, hướng dẫn nghiên cứu, thử nghiệm khoa học giáo dục ở các trường mầm non, phổ thông”

Giảng viên tham gia một số hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ và phát triển năng lực nghề nghiệp giáo viên phổ thông là hình thức tự bồi dưỡng hiệu

quả nhằm “Nâng cao năng lực giảng dạy, giáo dục, nghiên cứu khoa học, năng lực tổ chức, quản lý các hoạt động của cơ sở giáo dục đại học” (Khoản 3 Điều 2

Thông tư số 20/2013/TT-BGDĐT ngày 06/6/2013 của bộ trưởng Bộ Giáo dục

và Đào tạo ban hành quy định bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ cho giảng viên các cơ sở giáo dục đại học); trong đó, đặc biệt chú ý đến phát triển năng lực chuyên môn, năng lực hoạt động thực tiễn, năng lực phát triển nghề nghiệp

Trang 31

31

Như vậy, việc quy định giảng viên sư phạm tham gia một số hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ và phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên phổ thông là cần thiết

Các hoạt động tại trường phổ thông giảng viên có thể tham gia: Sinh hoạt chuyên môn (theo cụm trường, qua mạng Internet, qua hệ thống mạng TRƯỜNG HỌC KẾT NỐI, ), tham gia làm giám khảo tại các hội thi, cuộc thi (thi Giáo viên giỏi, thi Tổng phụ trách Đội giỏi ); tham gia giảng bài (thỉnh giảng), dự giờ, tư vấn, hướng dẫn và tham gia cùng giáo viên/học sinh phổ thông NCKH sư phạm ứng dụng trong nhà trường ; tham gia cùng giáo viên phổ thông trong triển khai cuộc thi sáng tạo khoa học kỹ thuật dành cho học sinh trung học, Qua đó giảng viên được trải nghiệm, tìm hiểu, bổ sung hiểu biết về phương pháp dạy học,

mô hình trường học …ở phổ thông

- Xây dựng cơ chế phối hợp, chi trả kinh phí cho các trường phổ thông trong việc triển khai và thực hiện các hoạt động nói trên;

- Thường xuyên mời giáo viên phổ thông tham gia giảng dạy một số chuyên đề, giờ dạy về phương pháp dạy học minh họa cho sinh viên;

- Xây dựng mô hình hợp tác giữa cơ sở đào tạo giáo viên và trường phổ thông; xây dựng mối quan hệ giữa cung (cơ sở đào tạo giáo viên) - cầu (đơn vị sử dụng sản phẩm đào tạo), cộng tác trong phát triển giáo viên (đào tạo ban đầu, bồi dưỡng đội ngũ), cộng tác trong các hoạt động nghiên cứu nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ, tạo sự gắn kết trong công tác với sự tham gia của cả giảng viên, giáo viên và sinh viên

d) Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu khoa học nói chung và nghiên cứu khoa học sư phạm ứng dụng nói riêng trong cơ sở đào tạo giáo viên

Đào tạo và nghiên cứu khoa học (NCKH) là hai nhiệm vụ chính, có mối quan hệ chặt chẽ và hỗ trợ cho nhau

Nghị quyết Hội nghị lần thứ 2, Ban Chấp hành TW khóa VIII của Đảng

đã nêu: "Các trường đại học phải là các trung tâm nghiên cứu khoa học, công nghệ, chuyển giao và ứng dụng công nghệ vào sản xuất và đời sống"

Từ khi Nghị định số 99/2014/NĐ-CP ngày 25/10/2014 của Chính phủ quy định việc đầu tư phát triển tiềm lực và khuyến khích hoạt động khoa học và

Trang 32

32

công nghệ trong các cơ sở giáo dục đại học có hiệu lực thì giảng viên được hưởng các chính sách khuyến khích, hỗ trợ làm công tác nghiên cứu khoa học Ngoài ra, giảng viên là nhà khoa học đầu ngành trong các cơ sở GDĐH còn được hưởng các chính sách khuyến khích, hỗ trợ theo quy định tại Nghị định số 40/2014/NĐ-CP ngày 12/5/2014 quy định việc sử dụng, trọng dụng cá nhân trong các hoạt động khoa học và công nghệ

Nghị quyết số 44/NQ-CP ban hành Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 29-NQ/TW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục

và đào tạo, đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường định

hướng XHCN và hội nhập quốc tế đã coi việc xây dựng cơ chế khuyến khích giáo viên tham gia nghiên cứu khoa học, nâng cao năng lực nghiên cứu khoa học của giảng viên, giáo viên là một nội dung quan trọng trong số các nhiệm vụ,

giải pháp đổi mới chương trình giáo dục của cấp học và trình độ đào tạo

Đối với các cơ sở đào tạo giáo viên thì việc triển khai hoạt động NCKH, đặc biệt là NCKH giáo dục, NCKH sư phạm ứng dụng là rất quan trọng và cần

thiết Thông báo kết luận Hội thảo “Nâng cao năng lực đào tạo, bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý của các trường sư phạm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục phổ thông” số 148/TB-BGDĐT ngày 24/3/2015 đã chỉ rõ một trong số các năng lực còn thiếu và yếu của giảng viên sư phạm là năng lực tổ chức các hoạt động học tập và nghiên cứu khoa học của sinh viên

Đặc biệt, tăng cường việc gắn kết hoạt động NCKH giáo dục, NCKH sư phạm ứng dụng với các trường thực hành sư phạm và với các trường phổ thông

để đảm bảo sự thiết thực và thành công trong thể nghiệm Thường xuyên tổ chức hội thảo với cơ sở giáo dục phổ thông, mầm non để nắm bắt nhu cầu thực tế, từ

đó định hướng NCKH sát với thực tiễn giáo dục phổ thông

Tại Thông tư liên tịch số 36/2014/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 28/11/2014

của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ trưởng Bộ Nội vụ quy định mã số

và tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập đã quy định cụ thể nhiệm vụ, tiêu chuẩn về năng lực

chuyên môn, nghiệp vụ đối với mỗi chức danh nghề nghiệp của giảng viên; trong đó chú trọng hoạt động NCKH của giảng viên Thông tư số 47/2014/TT-

Trang 33

33

BGDĐT ngày 31/12/2014 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định chế

độ làm việc đối với giảng viên đã quy định rõ:

“Giảng viên phải dành ít nhất 1/3 tổng quỹ thời gian làm việc trong năm học để làm nhiệm vụ nghiên cứu khoa học.”

“Việc giao và triển khai thực hiện nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cho giảng viên phải phù hợp với điều kiện, tiềm lực khoa học, định hướng phát triển hoạt động khoa học và công nghệ của cơ sở giáo dục đại học và phù hợp với năng lực chuyên môn của giảng viên Thủ trưởng cơ sở giáo dục đại học giao cụ thể nhiệm vụ nghiên cứu khoa học cho giảng viên của đơn vị.”

Theo đó, giảng viên ở chức danh cao hơn đòi hỏi đảm nhận các nhiệm vụ NCKH phức tạp hơn Thông tư liên tịch số 36 và Thông tư số 47 cũng đã quy định một số nhiệm vụ mà giảng viên tương ứng với các chức danh nghề nghiệp phải thực hiện, chẳng hạn:

- Chủ trì hoặc tham gia thực hiện chương trình, đề tài nghiên cứu khoa học; tham gia đánh giá các đề án, đề tài nghiên cứu khoa học; viết và tham gia báo cáo khoa học tại các hội nghị, hội thảo khoa học;

- Chủ trì hoặc tham gia biên soạn sách phục vụ đào tạo

Trên cơ sở tiêu chuẩn về năng lực chuyên môn, nghiệp vụ được quy định

cụ thể tại Thông tư liên tịch này, mỗi giảng viên để phấn đấu thăng hạng chức danh phải tự chủ động nghiên cứu để đáp ứng quy định

Để thúc đẩy hoạt động NCKH, đặc biệt là NCKH sư phạm ứng dụng phục

vụ nhiệm vụ đào tạo giáo viên, mỗi cơ sở cần tập trung vào một số giải pháp sau:

(1) Quán triệt nhiệm vụ của cơ sở đào tạo giáo viên trong NCKH, đặc biệt

là NCKH sư phạm ứng dụng phục vụ nhiệm vụ đào tạo giáo viên

(2) Có kế hoạch dài hạn, ngắn hạn về định hướng NCKH, đặc biệt là NCKH giáo dục, NCKH sư phạm ứng dụng

(3) Kết quả NCKH đã được đánh giá, nghiệm thu, đặc biệt là các kết quả NCKH có chất lượng cao phải được tạo điều kiện, hỗ trợ triển khai vào thực tiễn

Trang 34

34

(4) Tăng cường đầu tư cho các hoạt động NCKH

(5) Đa dạng hóa hoạt động NCKH ở nhiều lĩnh vực:

- Nghiên cứu cơ bản nhằm phục vụ công tác giảng dạy;

- Nghiên cứu khoa học giáo dục nhằm đổi mới mục tiêu, nội dung chương trình, PPGD theo hướng hiện đại hóa GDĐH;

- Nghiên cứu, ứng dụng khoa học nhằm góp phần giải quyết các nhu cầu cấp thiết phục vụ công tác đào tạo

(6) Đổi mới tiêu chí đánh giá giảng viên, chú ý hai tiêu chí cơ bản là giảng dạy và NCKH để đánh giá hằng năm đối với mỗi giảng viên Có chế tài cụ thể nhằm động viên, khuyến khích tập thể/cá nhân trong thực hiện nhiệm vụ NCKH

(7) Tăng cường hợp tác trong đào tạo và NCKH; tập hợp được lực lượng đông đảo các nhà nghiên cứu để tham gia các công trình khoa học lớn

(8) Đổi mới cách thức và cơ chế quản lý các đề tài NCKH sao cho hiệu quả và thiết thực

(9) Chia sẻ kết quả NCKH trong hệ thống các cơ sở đào tạo giáo viên Hiện nay, Chương trình bồi dưỡng thường xuyên giáo viên tiểu học, THCS, THPT (ban hành kèm theo các Thông tư số 30, 32, 33/2011/TT-BGDĐT ngày 08/8/2011) có quy định cụ thể nội dung các mô đun bồi dưỡng nhằm phát triển năng lực nghề nghiệp của giáo viên, trong đó có các mô đun bồi dưỡng

phương pháp NCKH sư phạm ứng dụng; hướng dẫn và phổ biến khoa học sư phạm ứng dụng trong trường tiểu học, THCS, THPT Vì vậy, các cơ sở đào tạo

giáo viên trong quá trình đào tạo cần chú ý đến việc hướng dẫn sinh viên tham

gia NCKH, đặc biệt là NCKH sư phạm ứng dụng

đ) Việc rèn luyện đạo đức nhà giáo của giảng viên sư phạm

Quyết định 16/2008/QĐ-BGDĐT ngày 16 tháng 4 năm 2008 của Bộ

trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quy định cụ thể về đạo đức nhà giáo: Phẩm chất chính trị; Đạo đức nghề nghiệp; Lối sống, tác phong; Giữ gìn, bảo vệ truyền thống đạo đức nhà giáo

Mục đích của quy định đạo đức nhà giáo là cơ sở để các nhà giáo nỗ lực

Trang 35

35

tự rèn luyện phù hợp với nghề dạy học được xã hội tôn vinh, đồng thời là một trong những cơ sở để đánh giá, xếp loại và giám sát nhà giáo nhằm xây dựng đội ngũ nhà giáo có bản lĩnh chính trị vững vàng, có phẩm chất và lương tâm nghề nghiệp trong sáng, có tính tích cực học tập, không ngừng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ và phương pháp sư phạm, có lối sống và cách ứng xử chuẩn mực, thực sự là tấm gương cho người học noi theo

Đạo đức nghề nghiệp là một tiêu chuẩn trong quy định tiêu chuẩn chức danh nghề nghiệp viên chức giảng dạy trong các cơ sở giáo dục đại học công lập (Thông tư liên tịch số 36/2014/TTLT-BGDĐT-BNV ngày 28/11/2014)

Trước thực tế vẫn tồn tại những biểu hiện không tích cực về đạo đức, lối sống của học sinh phổ thông và của chính nhà giáo (trò đánh trò, trò đánh thầy, thầy đánh trò, thầy đánh thầy, quan hệ tình cảm thầy trò, mua điểm ….) thì trách nhiệm quan trọng, nặng nề của người giảng viên sư phạm phải thật sự tích cực

trau dồi đạo đức nhà giáo để có ảnh hưởng kép đến đạo đức học sinh, sinh viên

Các cơ sở đào tạo cần tập trung vào một số giải pháp sau:

(1) Chú trọng xây dựng đội ngũ giảng viên sư phạm chuẩn mực về đạo đức nghề nghiệp, tăng cường nhận thức và quán triệt sâu sắc tới đội ngũ giảng viên về vai trò của giáo dục tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống cho sinh viên trong hoàn cảnh hiện nay Cụ thể hóa phong trào “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, duy trì, đẩy mạnh hơn các phong trào “Nói không với vi phạm đạo đức nhà giáo”, “Mỗi thầy cô giáo là một tấm gương tự

học, tự rèn luyện” trong từng cơ sở đào tạo.“Nhân cách của người Thầy chính là tấm gương đạo đức có sức thuyết phục nhất đối với sinh viên Sự giáo dục

“không lời” mà đem lại hiệu quả cao” Vì vậy, giảng viên sư phạm cần được

tăng cường năng lực giáo dục đạo đức, lối sống cho sinh viên

(2) Cụ thể hóa các quy định đạo đức nhà giáo trong Quyết định 16/2008/QĐ-BGDĐT thành nội dung học tập và hoạt động trong chương trình đào tạo mới, tăng cường các giải pháp về xây dựng môi trường giáo dục lành mạnh, có kỷ luật cao, tổ chức nhiều các hoạt động để sinh viên sư phạm được

trải nghiệm tham gia các hoạt động xã hội, hoạt động của giáo dục phổ thông

(3) Xây dựng các trường/khoa sư phạm mẫu mực về môi trường giáo dục

Trang 36

36

theo hướng “Trường học thân thiện, sinh viên tích cực”

(4) Tổ chức tốt công tác kiểm tra, giám sát, đôn đốc việc thực hiện các cuộc vận động, cuộc thi; thực hiện nghiêm túc chế độ sơ kết, đánh giá định kỳ Kiên trì chỉ đạo để từng bước đưa việc thực hiện các cuộc vận động, cuộc thi trở thành công việc thường xuyên, gắn với thực hiện các nhiệm vụ chính trị của cơ

sở đào tạo

2 Làm thế nào để phát huy vai trò của các trường thực hành sư phạm

và trung tâm bồi dưỡng, rèn luyện nghiệp vụ sư phạm trong công tác đào tạo giáo viên?

a) Phát huy vai trò của các trường thực hành sư phạm

+ Vai trò của trường thực hành sư phạm trong đào tạo giáo viên và

sự cần thiết phải thiết lập hệ thống trường thực hành sư phạm

Kiến tập, thực hành, thực tập là một hoạt động không thể thiếu trong nội dung, chương trình đào tạo giáo viên Hiện nay, một số trường sư phạm đã thành lập trường thực hành trực thuộc, đồng thời lựa chọn một số cơ sở giáo dục phổ thông, mầm non của địa phương làm cơ sở kiến tập, thực hành để chủ động trong công tác xây dựng, triển khai kế hoạch đào tạo Trong những năm qua, các trường thực hành sư phạm đã tích cực phối hợp với cơ sở đào tạo giáo viên tổ chức hướng dẫn thực hành, thực tập sư phạm góp phần rèn luyện kỹ năng, phương pháp dạy học, phương pháp giáo dục, phát triển năng lực nghề nghiệp của sinh viên sư phạm và nghiên cứu, thực nghiệm các đề tài về khoa học giáo dục góp phần hình thành nhân cách người giáo viên và kỹ năng phương pháp dạy học cho sinh viên sư phạm; đóng góp đáng kể cho việc nâng cao chất lượng đào tạo giáo viên

Điều 78 Luật Giáo dục quy định trường sư phạm có trường thực hành hoặc cơ sở thực hành Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Quy chế hoạt động của trường thực hành sư phạm (kèm theo Thông tư số 16/2014/TT-BGDĐT ngày

16/5/2014), tại Điều 2 của Quy chế này đã quy định: "Trường thực hành sư phạm

là trường mầm non, trường phổ thông trực thuộc cơ sở đào tạo giáo viên (do cơ

sở đào tạo giáo viên đề xuất thành lập) hoặc trực thuộc cơ quan quản lý giáo dục địa phương (gọi là trường thuộc địa phương) Cơ sở đào tạo giáo viên chủ

Trang 37

37

trì, phối hợp với cơ quan quản lý giáo dục địa phương lựa chọn, phê duyệt danh sách các trường mầm non, trường phổ thông có đủ các điều kiện được giao nhiệm vụ trường thực hành sư phạm trong từng giai đoạn" Cũng trong Quy chế

hoạt động của trường thực hành sư phạm, đã có những điều khoản quy định nhiệm

vụ, trách nhiệm của trường thực hành sư phạm, trách nhiệm của cơ sở đào tạo giáo viên, trách nhiệm của cơ quan quản lý giáo dục địa phương trong việc phối kết hợp để xây dựng kế hoạch, quản lý, chỉ đạo các hoạt động thực hành sư phạm theo kế hoạch đã được phê duyệt nhằm nâng cao chất lượng của hoạt động thực hành, thực tập sư phạm Cụ thể: việc xây dựng và phê duyệt kế hoạch thực

hành sư phạm được quy định tại điểm c Khoản 1 Điều 5: "Kế hoạch thực hành sư phạm của trường thực hành sư phạm do hiệu trưởng nhà trường phối hợp với người đứng đầu cơ sở đào tạo giáo viên xây dựng và được người đứng đầu cơ sở đào tạo giáo viên phê duyệt (đối với trường thuộc cơ sở đào tạo giáo viên) hoặc người đứng đầu cơ quan quản lý giáo dục địa phương theo phân cấp quản lý hiện hành phê duyệt (đối với trường thuộc địa phương)"; Trách nhiệm của cơ sở đào tạo giáo viên được quy định tại Điều 12: "Cơ sở đào tạo giáo viên có trách nhiệm hướng dẫn, chỉ đạo trường thực hành sư phạm xây dựng kế hoạch; phối hợp triển khai hoạt động thực hành theo mục tiêu, yêu cầu trong chương trình đào tạo, bồi dưỡng giáo viên và đảm bảo kinh phí cho hoạt động thực hành sư phạm."; Điều 13, 14 quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý giáo dục địa phương và trường thực hành sư phạm: "Cơ quan quản lý giáo dục địa phương

có trách nhiệm phối hợp với cơ sở đào tạo giáo viên quản lý, chỉ đạo các hoạt động thực hành sư phạm theo kế hoạch, đáp ứng yêu cầu của cơ sở đào tạo giáo viên.", "trường thực hành sư phạm căn cứ vào Điều lệ trường học tương ứng và các quy định của quy chế này để tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của nhà trường"

Theo Quy chế hiện hành, các trường thực hành sư phạm (là trường trực thuộc trường sư phạm hay thuộc cơ quan quản lý giáo dục địa phương) đều có cả 3 chức năng là nơi kiến tập, thực hành, thực tập của sinh viên, có trách nhiệm thực hiện đồng thời các hoạt động giáo dục, hoạt động thực hành sư phạm và hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục; trong đó, tổ chức thực hiện các hoạt động giáo dục như đối với trường khác cùng cấp học là nhiệm vụ hàng đầu của trường thực hành

sư phạm Hoạt động thực hành của sinh viên ở trường thực hành sư phạm được thực hiện theo kế hoạch hàng năm của cơ sở đào tạo giáo viên; bao gồm: tìm hiểu

Trang 38

38

các hoạt động giáo dục trong trường học; tìm hiểu đối tượng và môi trường giáo dục; tập làm các thao tác, rèn kỹ năng các công việc dạy học, giáo dục; tập làm giáo viên trong các hoạt động dạy học, trong công tác chủ nhiệm lớp và trong các hoạt động giáo dục khác; tham gia các hoạt động chuyên môn của tập thể giáo viên, nhà trường Nội dung hoạt động nghiên cứu khoa học giáo dục của trường thực hành sư phạm bao gồm: phối hợp với cơ sở đào tạo giáo viên thực hiện các đề tài nghiên cứu khoa học giáo dục theo kế hoạch của cơ sở đào tạo giáo viên; thể nghiệm, phổ biến, vận dụng các sáng kiến, kinh nghiệm, các thành tựu mới về khoa học giáo dục để nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục và thực hành sư phạm

Vì vậy, xây dựng trường thực hành sư phạm trực thuộc hoặc xây dựng mạng lưới các trường thực hành sư phạm nằm ngoài trường sư phạm là yêu cầu bắt buộc đối với mỗi cơ sở đào tạo giáo viên Đồng thời mỗi cơ sở đào tạo giáo viên cũng cần có mạng lưới các trường nhận sinh viên hàng năm về kiến tập, thực tập

+ Thực trạng công tác phối hợp giữa cơ sở đào tạo giáo viên với cơ quan quản lý giáo dục địa phương trong việc phát huy vai trò của các trường thực hành sư phạm

Mối quan hệ giữa cơ sở đào tạo giáo viên với trường thực hành sư phạm

và cơ quan quản lý giáo dục các cấp là mối quan hệ phối hợp, phân công, hợp tác và cùng cộng đồng trách nhiệm

Thời gian qua, một số cơ sở đào tạo giáo viên đã chủ động phối hợp với

cơ quan quản lý giáo dục địa phương, các trường mầm non, phổ thông trên địa bàn hình thành mạng lưới trường thực hành sư phạm; lựa chọn các trường có đủ điều kiện, vị trí gần trường để sinh viên sư phạm có thể thường xuyên tham gia các hoạt động kiến tập, thực hành và một số trường mầm non, phổ thông khác để

tổ chức hoạt động thực tập sư phạm Một số cơ sở đào tạo giáo viên đã đầu tư xây dựng trường thực hành sư phạm trực thuộc để chủ động tổ chức các hoạt động thực hành, thực tập cho sinh viên sư phạm và phát triển nghề nghiệp của giáo viên, giảng viên Cơ quan quản lý giáo dục địa phương ngoài việc phối hợp với cơ sở đào tạo giáo viên lựa chọn các trường mầm non, trường phổ thông có

đủ điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên làm cơ sở thực hành còn tham

Trang 39

39

gia ban chỉ đạo thực tập sư phạm Các trường được lựa chọn làm cơ sở thực hành đã phối hợp với cơ sở đào tạo giáo viên trong việc tổ chức hướng dẫn thực hành, thực tập sư phạm, một số giáo viên trường thực hành sư phạm được cơ sở đào tạo giáo viên mời tham gia báo cáo chuyên đề Tuy nhiên, quan hệ phối hợp các hoạt động giữa cơ sở đào tạo giáo viên, trường thực hành sư phạm và cơ quan quản lý giáo dục địa phương vẫn còn có những bất cập, cụ thể:

- Một số trường thực hành sư phạm trực thuộc cơ sở đào tạo giáo viên còn băn khoăn về mô hình, cơ chế hoạt động (công lập, tư thục);

- Một số trường phổ thông do địa phương quản lý còn lo ngại việc tổ chức hoạt động thực hành, thực tập làm xáo trộn hoạt động giáo dục của nhà trường, tăng áp lực cho giáo viên nên nhiều trường phổ thông không muốn tham gia vào

hệ thống các trường thực hành sư phạm;

- Cơ chế phối hợp giữa trường thực hành sư phạm với cơ sở đào tạo giáo viên và cơ quan quản lý giáo dục địa phương mặc dù đã được quy định trong Quy chế trường thực hành sư phạm nhưng chưa được cụ thể hóa trong thực tế của nhiều đơn vị (ví dụ chưa có các hợp đồng, các chương trình phối hợp hành động, quyết định phê duyệt danh sách các trường mầm non, trường phổ thông được lựa chọn làm trường thực hành sư phạm của các đơn vị)

Trường thực hành sư phạm chưa thật sự là một trong những môi trường làm việc của giảng viên phương pháp giảng dạy bộ môn của trường sư phạm Ngược lại, các giáo viên ở trường thực hành sư phạm ít có cơ hội tham gia vào quá trình phát triển chương trình đào tạo giáo viên của trường sư phạm

+ Đổi mới quan hệ giữa cơ sở đào tạo giáo viên, trường thực hành sư phạm và cơ quan quản lý giáo dục địa phương

- Xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa trường sư phạm với cơ quan quản lý giáo dục địa phương và trường thực hành sư phạm; gắn trách nhiệm cơ quan quản lý giáo dục địa phương với công tác đào tạo của trường sư phạm qua việc phối hợp lựa chọn trường thực hành sư phạm thuộc địa phương, xây dựng, thống nhất kế hoạch thực hành sư phạm; tăng cường trao đổi về giảng viên và giáo viên để giáo viên phổ thông có kinh nghiệm giảng dạy tại trường sư phạm và

Trang 40

- Cơ sở đào tạo giáo viên cần trực tiếp trao đổi với cơ quan quản lý giáo dục địa phương để xác định rõ chức năng nhiệm vụ của từng cấp quản lý giáo dục trong công tác thực tập; Chọn các trường có cơ sở vật chất, thiết bị dạy học tốt, đội ngũ giáo viên giỏi làm địa bàn thực tập và đề xuất cơ quan quản lý giáo dục địa phương (theo phân cấp hiện hành) ra Quyết định chọn lựa trường thực hành sư phạm, thành lập Ban chỉ đạo thực tập nhằm tăng cường sự phối hợp và hiệu lực của công tác quản lý;

- Cơ quan quản lý giáo dục địa phương cần coi trọng hơn nữa công tác thực tập sư phạm, coi đây là một trong những nhiệm vụ trọng tâm của giáo dục địa phương để có kế hoạch, nội dung và phương pháp chỉ đạo cụ thể Tránh tình trạng “giao khoán” cho trường phổ thông; phối hợp với trường phổ thông để đưa

ra những yêu cầu đối với cơ sở đào tạo giáo viên trong quá trình xây dựng kế hoạch, tháo gỡ những vướng mắc có thể xảy ra trong tổ chức hướng dẫn thực hành, thực tập sư phạm; quan tâm, ưu tiên trong việc chọn, cử giáo viên trường thực hành tham gia các hội nghị, hội thảo, tập huấn về chuyên môn do trường sư phạm, Bộ tổ chức;

- Đối với các trường thực hành sư phạm, cần nghiên cứu, chủ động trong việc đề nghị các cơ sở đào tạo giáo viên góp ý đổi mới nội dung chương trình, phương pháp và hình thức tổ chức đào tạo, bồi dưỡng giáo viên; góp ý với cơ quan quản lý giáo dục tăng cường cơ sở vật chất, thiết bị phục vụ công tác thực

Ngày đăng: 11/06/2018, 17:50

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w