Trong nền văn học Việt Nam đã có nhiều tác phẩm lớn được tìm hiểu vềgiá trị của lớp từ láy như: “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi; “ Truyện Kiều”của Nguyễn Du; Một số khúc ngâm thế kỷ XI
Trang 1- -BÀI TIỂU LUẬN
ĐỀ TÀI: TỪ LÁY TRONG THƠ VĂN CỦA
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU
Giảng viên hướng dẫn: Nguyễn Thị Nga Sinh viên thực hiện: Nguyễn Thị Hoài Lớp: ĐHSP Ngữ Văn – K55
MSSV: DQB 06130015
Đồng Hới, tháng 04 năm 2016
Trang 2MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 2
1 Lý do chọn đề tài 2
2.Lịch sử vấn đề 3
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
3.1 Đối tượng nghiên cứu 4
3.2.Phạm vi nghiên cứu 4
4 Phương pháp nghiên cứu 4
5 Đóng góp của đề tài 4
6 Cấu trúc tiểu luận 4
PHẦN NỘI DUNG 5
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ 5
CÓ LIÊN QUAN 5
1.Các khái niệm và các quan niệm xung quanh vấn đề từ láy 5
2 Sự phân loại từ láy trong tiếng việt 6
2.1 Quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành tố trong từ láy 6
2.2 Phân loại từ láy về mặt cấu tạo 7
3 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu 10
CHƯƠNG II: ĐÓNG GÓP VỀ MẶT NGÔN NGỮ VĂN CHƯƠNG CỦA NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU QUA VIỆC SỬ DỤNG TỪ LÁY 13
1 Nguyễn Đình Chiểu đối với việc phát triển ngôn ngữ văn chương của dân tộc 13
2 Hiệu quả đặc biệt của từ láy trong tư duy hình tượng 14
3 Vai trò của từ láy trong thơ văn Nguyễn Đình Chiểu 16
3.1 Từ láy với nghệ thuật xây dựng hình tượng nhân vật trung tâm 16
3.1.1 Hình tượng con người nghĩa khí, tiết hạnh 17
3.1.2 Hình tượng người nghĩa binh 18
3.2 Từ láy trong nghệ thuật miêu tả thiên nhiên 20
3.3 Từ láy trong việc thể hiện tâm trạng, thái độ nhà thơ trước thời cuộc 23
3.3.1 Từ láy với giá trị gợi tả, biểu cảm trong các bài văn tế 23
3.3.2 Từ láy với giá trị gợi tả, biểu cảm trong thơ luật Đường 24
3.3.3 Từ láy với giá trị gợi tả, biểu cảm trong Hịch 24
KẾT LUẬN 27
TÀI LIỆU THAM KHẢO 28
Trang 3PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài.
Láy là một phương thức cấu tạo từ quan trọng của tiếng việt Trong hệthống từ vựng Tiếng Việt từ láy chiếm một số lượng phong phú Mấy thập kỷqua, từ láy Tiếng Việt luôn là vấn đề thu hút sự quan tâm của nhiều nhà nghiêncứu trong và ngoài nước bởi tính đa diện, phức tạp nhưng cũng đầy lý thú củanó
Trong nền văn học Việt Nam đã có nhiều tác phẩm lớn được tìm hiểu vềgiá trị của lớp từ láy như: “Quốc âm thi tập” của Nguyễn Trãi; “ Truyện Kiều”của Nguyễn Du; Một số khúc ngâm thế kỷ XIX; Các tác phẩm thơ nôm truyềntụng của Hồ Xuân Hương, thơ nôm Nguyễn Khuyến, thơ Tú Xương, thơ XuânDiệu, Thơ Tố Hữu Và cũng không phải ngẫu nhiên mà em chọn tác giaNguyễn Đình Chiểu làm đối tượng nghiên cứu
Nguyễn Đình Chiểu là một trong những tác gia lớn của nền văn học ViệtNam cận đại, một tấm gương cao cả trong quan hệ đời sống hằng ngày cũng nhưbtrong quan hệ với dân với nước Nói đến Nguyễn Đình Chiểu là nói dến mộtcây bút có sự thống nhất chặt chẽ giữa nói và làm, giữa văn và người,giữa sống
và viết
Tiếp cận với Nguyễn Đình Chiểu là tiếp cận với lá cờ đầu của văn thơ yêunươc chống pháp cuối thế kỷ XIX, một cây bút Nam Bộ tiêu biểu và một sựnghiệp văn thơ chở đạo cứu đời, một thứ văn trữ tình đạo đức có ảnh hưởng tolớn đối với đời sống tinh thần dân tộc, đặc biệt là nhân dân nam bộ Đúng như
cố thủ tướng Phạm Văn Đồng nói “đời sống và sự nghiệp của Nguyễn ĐìnhChiểu là một tấm gương sáng, nêu cao địa vị và tác dụng văn học, nghệ thuật,nêu cao sức mạnh của người chiến sĩ trên mặt trật văn hoá và tư tưởng” Vì vậynghiên cứu về vấn đề ngôn ngữ văn chương của ông là một việc làm có ý nghĩa.Đối với chương trình văn học thuộc phạm vi nhà trường ở mọi cấp học vềthơ văn của Nguyễn Đình Chiểu được đưa vào giảng dạy với số lượng kiến thứctương đối lớn.Tuy nhiên từ trươc đến nay việc giảng dạy trong nhà trường cũngnhư các sách dành cho nghiên cứu giảng dạy đặc điểm ngôn ngữ văn chươngcủa Nguyển Đình Chiểu cũng chưa thưc sự quan tâm, chưa khai thác và thấy hếtđược giá trị nghệ thuật, nét riêng của từ láy cũng như sư đắc dụng của nó để tạonên phong cách văn chương Nguyễn Đình Chiểu
Trang 4Vì lẽ đó em đã chọn đề tài “từ láy trong thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu”
để tìm hiểu với hy vọng kết quả nghiên cứu sẽ giúp em nhìn nhận mộtcách toàndiện hơn, đầy đủ hơn về sự phát triển của ngôn ngữ văn học, về sự phong phú đađang dạng và khả năng biểu đạt tinh tế, chính xác linh hoạt của lớp từ láy TiếngViệt Đồng thời góp phần vào việc hỗ trợ giảng dạy sau này cho bản thân em
2.Lịch sử vấn đề.
Trong lĩnh vực ngôn ngữ học việc nghiên cứu về từ láy Tiếng Việt đã đượccác tác giả như: Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Tài Cẩn, Hoàng Tuệ, Hoàng Văn Hành,Đái Xuân Ninh, Hà Quang Năng, Hoàng Cao Cương, Diệp Quang Ban, NguyễnThiện Giáp, Phi Tuyết Hinh, Đào Thản, Nguyễn Thị Hai, Hữu Đạt, Nguyễn ĐứcTồn, Chú ý nghiên cứu về đặc điểm như: Đặc điểm cấu tạo, đặc trưng ngữnghĩa, giá trị biểu trưng, giá trị gợi tả âm thanh, hình ảnh, giá trị biểu cảm của từláy
Những công trình nghiên cứu tiêu biểu bao gồm: Các sách nghiên cứu vềTiếng Việt trong đó có từ láy, những chuyên luận về từ láy các tác phẩm là cácbài nghiên cứu trên tạp chí Có thể kể đến như: Cách sử lí những hiện tượngtrung gian trong ngôn ngữ của Đỗ Hữu Châu in trong tạpchí số 1,1971; Trường
từ vựng ngữ nghĩa và việc dùng từ ngữ trong các tác phẩm nghệ thuật củaĐỗHữu Châu đăng trong tạp chí số 3,1974; Từ láy trong phương ngữ Nam Bộ củaTrần thị Ngọc Lang in trong tạp chí ngôn ngữ số 3,1992; từ láy trong Tiếng Việt
và sự cần thiết phải nhận diện nó của Phạm Văn Hoàng đăng trong tạp chí ngônngữ số 4,1985 cũng có một số đề tài chuyên nghiên cứu về vấn đề từ láy trongcác tác phẩm Việt Nam như: “Hệ thống từ láy Tiếng Việt trong một số khúcngâm thế kỷ XIX luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Hường ĐHSP Hà Nội (2004);Tìm hiểu giá trị từ áy trong sử dụng (khảo sát qua thơ Hồ Xuân Hương, NguyễnKhuyến, Tú Xương )” luận văn thạc sĩ ngữ văn của Nguyễn Thị Thu HươngĐHSP Hà Nội;
Nghiên cứu về Nguyễn Đình Chiểu ngoài học giả pháp thì 50 năm sau ngàymất của ông,năm 1938, Phạm Văn Hùm là người Việt Nam đầu tiên đứng ở góc
độ khoa học đã lí giải mối quan hệ giữa sáng tác của Nguyễn Đình chiểu vớicuộc đời của ông Trong những dịp kỷ niệm ngày mất của nhà thơ,75 năm,150năm đã có rất nhiều bài nghiên cứu trong đó có các ngôn ngữ văn chương có thể
kể đến: để có một văn bản “Lục vân Tiên” gần với nguyên tác hơn của Lê Hữu
in trong văn nghệ Thành Phố Hồ Chí Minh số 22, ngày 2-7-1998; Bài viết củaBùi Đức Tịnh in trong cuốn: Nguyễn Đình Chiểu về tác gia và tác phẩm, nhà
Trang 5xuất bản giáo dục,1998; Vài nét về từng phương ngôn trong ngôn ngữ NguyễnĐình Chiểu của Nguyễn Công Đức;
Qua các công trình tiêu biểu nói trên cũng như một số luận khảo cứu sau đócho chúng ta thấy việc nghiên cứu Nguyễn Đình Chiểu ngày càng đươc mở rộng
và đào sâu trên cơ sở tư liệu về nhiều mặt Em nghĩ công việc nghiên cứu vềngôn ngữ thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu vẫn cần được tiếp tục đề tài này của
em cũng là một cố gắng theo hướng đó
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1 Đối tượng nghiên cứu.
Đối tượng nghiên cứu của tiểu luận này là từ láy và việc sử dụng nó trongmột số sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu
3.2.Phạm vi nghiên cứu.
Tiểu luận tập trung nghiên cứu đặc điểm từ láy ở các mặt cấu trúc, ngữnghĩa và giá trị sử dụng của chúng trong một số tác phẩm của Nguyễn ĐìnhChiểu
4 Phương pháp nghiên cứu.
Trong tiểu luận này em sử dụng một số phương pháp sau đây:
+ Phương pháp thống kê, phân loại
+ Phương pháp phân tích ngôn từ nghệ thuật
+ Phương pháp đối chiếu, so sánh
5 Đóng góp của đề tài.
+ Góp phần nghiên cứu đặc điểm ngữ nghĩa, giá trị sử dụng của một lớp từkhi tham gia vào cac văn bản cụ thể, để thấy rõ tài năng nét riêng của tác giả vănhọc nói chung và Nguyễn Đình Chiểu nói riêng trong nghệ thuật sử dụng ngôntừ
6 Cấu trúc tiểu luận.
Ngoài phần mở đầu, phần kết luận thì tiểu luận gồm 3 chương với nhữngnội dung chính sau:
Chương I: Cơ sở khoa học của đề tài và vấn đề có liên quan
Chương II: Những đóng góp về mặt ngôn ngữ văn chương của NguyễnĐình Chiểu qua việc sử dụng từ láy
Trang 6PHẦN NỘI DUNG
CHƯƠNG I: CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA ĐỀ TÀI VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ
CÓ LIÊN QUAN
1.Các khái niệm và các quan niệm xung quanh vấn đề từ láy.
Láy là một phương thức cấu tạo từ quan trọng của Tiếng Việt.Nói đến từláy là nói đến một lớp từ có giá trị đặc biệt bởi kha năng gợi tả,gợi cảm, tạo âmthanh hình ảnh cao của nó.Trong Việt ngữ học đã có rất nhiều công trình nghiêncứu, đồng thời cũng có rất nhiều cách lý giải khác nhau về hiện tượng láy và từláy Ở đây em sẽ nêu ra một số khái niệm tiêu biểu với những quan niệm của cácnhà nghiên cứu về hiện tượng láy Tiếng Việt
Đỗ Hữu Châu định nghĩa: “từ láy là những từ đươợc cấu tạo theo phươngthức láy, đó là phương thức lặp lại toàn bộ hay bộ phận hình thức âm tiết(vớinhững thanh điệu giữ nguyên hay biến đổi theo quy tắc biến thanh, tức là quytắc thanh điệu, biến đổi theo hai nhóm, nhóm cao: thanh hỏi, thanh sắc, thanhngang à nhóm thấp: thanh huyền, thanh ngã, thanh nặng ) của một hình vị hayđơn vị có nghĩa”
Nguyễn Thiện Giáp nêu: “ ngữ láy âm là những cụm từ được hình thành
do sự lăp lại hoàn toàn hay lặp lại có kèm theo sự biến đổi ngữ âm nào đó của
từ đã có Đăc trưng ngữ nghĩa nỗi bật cuả ngữ láy âm là giá trị gợi tả(biểu cảm,
mô phỏng, tượng hình, tượng thanh )”
Hoàng Văn Hành quan niệm: Từ láy, nói chung, là từ được cấu tạo bằngcách nhân đôi tiếng gốc theo những quy tắc nhất định, sao cho quan hệ giữa cáctiếng trong từ vừa điệp, vừa đối, vừa hài hoà với nhau về âm và về nghĩa, có giátrị biểu trưng hoá”
Hồ Lê nêu: “ từ lắp láy là một từ kháđặc biệt, xét về mặt cấu tạo Nó cótính chất của từ đơn; Nó được tạo ra theo phương thức lắp láy Nhưng không íttrường hợp, quan hệ lắp láy về mặt ngữ nghĩa lại không được hiện ra một cách
rõ ràng”
Nguyễn Nguyễn Trứ lại cho rằng: “Từ láy đôi trong tiếng việt hiện đại làmột loaại từ đơn trong đó có sự láy lại hoặc là toàn bộ âm tiết, hoăc là phần phụ
Trang 7âm đầu hay phần vần trong kết cấu âm tiết của hai yếu tố tạo thành Giữa hai
âm tiết thường có mối quan hệ thanh điệu theo những quy luật nhất định”
2 Sự phân loại từ láy trong tiếng việt.
2.1 Quan hệ ngữ nghĩa giữa các thành tố trong từ láy.
Đa số các nhà nghiên cứu đều quan niệm từ láy như một đơn vị từ vựnggồm hai thành tố: Thành tố gốc và thành tố láy, trong đó thành tố gốc sản sinh rathành tố láy, còn thành tố láy chính là thành tố gốc bị biến dạng đi ít nhiều theonhững quy tắc nhất định trong quá trình láy
Ví dụ:
Đỏ (thành tố gốc) - đo đỏ (đo là thành tố láy)
Rối (thành tố gốc) - bối rối (bối là thành tố láy)
“ phương thức cấu tạo nên các từ phức theo cách tạo ra hình vị láy là hình
vị cơ sở”.Trong tiếng việt có những tiếng có giá trị như những hình vị, gọi làtiếng-hình vị được dùng làm cơ sở để mà nhân đôi gọi là tiếng gốc, còn tiếngxuất hiện trong quá trình nhân đôi ấy gọi là tiếng láy
Trong tiếng việt có rất nhiều từ láy mà trong thành phần cấu tạo dễ dàngxác định được những yếu tố tự thân có nghĩa, có khả năng hoạt động độc lậpnhư một từ Đó chính là những thành tố gốc hay hình vị cơ sở tạo nên các từ láy
kiểu như: Lành lặn, nhỏ nhen, nho nhen, bập bồng, đẹp đẽ, sáng sủa, vội vàng
Bên cạnh đó tiếng việt còn có rất nhiều từ láy, mà trên quan điểm đồng đại,rất khó và dường như không xác định được thành tố gốc Đó là những từ láy
kiểu: đủng đỉnh, bâng khuâng, thình lình,băn khoăn, mang máng Lý giải của
các nhà nghiên cứu về vấn đề này không giống nhau:
chỉ thừa nhận các từ láy được tạo ra bằng phương thức láy một tín hiệu đơn
âm tiết cơ bản (tức là một tín hiệu có ý nghĩa độc lập, hoặc có khi là một tín hiệu
có ý nghĩa nhưng không có tính độc lập) là những từ láy chân chính Quan niệmnày được thể hiện trong “giáo trình việt ngữ” tập I và tập II.Tuy nhiên trong cảhai giáo trình các tác giả đều thừa nhận trong thực tế tồn tại khá nhiều trường
hợp rất khó xác định hình thức cơ bản như: chạng vạng, la đà, lê thê và không
được coi là những từ láy chân chính những kiểu như: đu đủ, bìm bịp
Hoàng Văn Hành lý giải: “Coi việc không xác định được thành tố gốc của
từ láy là kết quả của quá trình mở nghĩa của từ gốc” Tác giả chia từ láy thànhhai loại: từ láy có lý do và từ láy không lý do Từ láy có lý do là từ láy mà nghĩacủa nó được xác định nhờ cấu trúc của bản thân nó, Ví dụ: chín chắn, có thể giải
Trang 8thích được trên cơ sở nghĩa của từ tố chính là khuôn vần [ch-]-ắn Từ láy không
có lý do là từ láy mà nghĩa của nó không thể giải thích được băng cấu trúc bảnthân nó
Trong sự vận dụng khái niệm từ láy để thực hiện dề tài này, em có thể kháiquát về từ láy theo cách hiểu sau: “từ láy là từ đa âm tiết được cấu tạo theophương thức láy, trong đó quan hệ giữa các âm tiết phải thể hiên được sự hoàphối và lặp lại về mặt ngữ âm, có giá trị biểu trưng và sắc thái hoá về ngữnghĩa”
2.2 Phân loại từ láy về mặt cấu tạo.
Từ láy tiếng Việt có độ dài tối thiểu là hai tiếng, tối đa là bốn tiếng và còn
có loại ba tiếng Tuy nhiên, loại đầu tiên là loại tiêu biểu nhất cho từ láy vàphương thức láy của tiếng Việt
Một từ sẽ được coi là từ láy khi các yếu tố cấu tạo nên chúng có thành phầnngữ âm được lặp lại; nhưng vừa có lặp (còn gọi là điệp) vừa có biến đổi (còn gọi
là đối) Ví dụ: đỏ đắn: điệp ở âm đầu, đối ở phần vần Vì thế, nếu chỉ có điệp mà không có đối (chẳng hạn như: người người, nhà nhà, ngành ngành thì ta
có dạng láy của từ chứ không phải là từ láy Kết hợp tiêu chí về số lượng tiếng
với cách láy, có thể phân loại từ láy như sau:
Từ láy gồm hai tiếng (cũng gọi là từ láy đôi) có các dạng cấu tạo sau: Láy hoàn toàn Gọi là láy hoàn toàn nhưng thực ra bộ mặt ngữ âm của hai
thành tố (hai tiếng) không hoàn toàn trùng khít nhau, chỉ có điều là phần đối củachúng rất nhỏ khiến người ta vẫn nhận ra được hình dạng của yếu tố gốc trongyếu tố được gọi là yếu tố láy Có thể chia các từ láy hoàn toàn thành ba lớp nhỏhơn:
+ Lớp những từ láy hoàn toàn, chỉ đối nhau ở trọng âm (một trong hai yếu
tố được nói nhấn mạnh hoặc kéo dài) Ví dụ: cào cào, ba ba, rề rề, lăm lăm,
khăng khăng, kìn kìn, lù lù, lâng lâng, đùng đùng, hây hây, gườm gườm, đăm đăm
+ Lớp từ láy hoàn toàn đối nhau ở thanh điệu Nguyên tắc đối thanh điệu ở đây
là: thanh bằng đối với thanh trắc trong mỗi nhóm cùng âm vực; bằng đứngtrước, trắc đứng sau
Ví dụ: đo đỏ, ra rả, hây hẩy, hau háu, hơ hớ, ngay ngáy, phơi phới, sừng
sững, chồm chỗm, vành vạnh, lừng lững, hơn hớn, càu cạu, thoang thoảng
Trang 9Tuy nhiên, ở đây vẫn còn một số ngoại lệ như: cỏn con, dửng dưng, mảy may,
Ví dụ: ăm ắp, chiêm chiếp, cầm cập, lôm lốp, hèm hẹp
chan chát, khin khít, sồn sột, thon thót, ngùn ngụt
khang khác, vằng vặc, rừng rực, phưng phức, phăng phắc
anh ách, chênh chếch, đành đạch, phành phạch, rinh rích
Thanh điệu của các yếu tố trong mỗi từ vẫn tuân theo quy luật của lớp từ láy hoàn toàn đối nhau ở thanh điệu
Láy bộ phận Những từ láy nào chỉ có điệp ở phần âm đầu, hoặc điệp ở
phần vần thì được gọi là láy bộ phận Căn cứ vào đó, có thể chia từ láy bộ phậnthành hai lớp
+ Lớp từ láy (điệp) âm đầu, đối ở phần vần Ví dụ như:bập bềnh, cò kè, ho
he, thơ thẩn, đẹp đẽ, làm lụng, ngơ ngác, say sưa, xoắn xuýt, vồ vập, hấp háy
Trong lớp này, có những từ xét về mặt lịch sử vốn không phải là từ láy, nhưng
vì quan hệ về nghĩa giữa các yếu tố của chúng mất dần đi, làm cho quan hệ ngữ
âm ngẫu nhiên giữa các yếu tố đó nổi lên hàng đầu, và hiện giờ người Việt nhất
loạt coi chúng là từ láy Ví dụ: chùa chiền, tuổi tác, giữ gìn, sân sướng Nghĩa của những từ như vậy được tổ chức theo kiểu của các từ tre pheo, chó má,
đường sá, xe cộ, áo xống
Trong khi xét sự đối vần ở đây, cũng cần lưu ý tới hiện tượng đối ứng ở âmchính Hiện tượng này không phải là quy luật toàn thể, nhưng đều đặn ở một sốnhóm từ
u đối với i: cũ kĩ, hú hí, xù xì, tủm tỉm, mũm mĩm
ô – ê: ngô nghê, xồ xề, hổn hển, thỗn thện
o – e: ho he, vo ve, khò khè, võ vẽ, nhỏ nhẻ
i – a: hỉ hả, rỉ rả, xí xoá, hí hoáy
u – ă: tung tăng, hung hăng, vùng vằng, thủng thẳng
u – ơ: ngu ngơ, rù rờ, khù khờ, cũn cỡn
ô – a: bỗ bã, hốc hác, mộc mạc, ngột ngạt
ê – a: nghê nga, khề khà, rề rà, xuề xoà, hể hả
Trang 10+ Lớp từ láy (điệp) phần vần, đối ở âm đầu Ví dụ như: bâng khuâng, bơ
vơ, lừng chừng, lù đù, lã chã, càu nhàu, lỗ mỗ, thao láo, hấp tấp, tủn mủn, lụp xụp, lảng vảng, lúng túng, co ro, lan man, làng nhàng
Gần nửa số lượng từ láy vần có âm đầu của tiếng thứ nhất là âm /- l -/ vàphần lớn chúng có chứa một tiếng còn rõ nghĩa Tuy vậy, vẫn có không ít từ mà
cả hai tiếng đều không rõ nghĩa, ví dụ: bải hoải, hấp tấp, lập cập, bầy hầy, thình
lình, liểng xiểng, xớ rớ, lấc cấc
Từ láy ba và bốn tiếng được cấu tạo thông qua cơ chế cấu tạo từ láy hai
tiếng Tuy vậy, từ láy ba tiếng dựa trên cơ chế láy hoàn toàn, còn từ láy bốn lại
dựa trên cơ chế láy bộ phận là chủ yếu Ví dụ: khít khìn khịt, sát sàn sạt, dửng
dừng dưng, trơ trờ trờ đủng đà đủng đỉnh, lếch tha lếch thếch, linh tinh lang tang, vội vội vàng vàng
Trên thực tế, số lượng từ láy ba tiếng và bốn tiếng không nhiều Mặt khác,
có thể coi chúng chỉ là hệ quả, là bước tiếp theo trên cơ chế láy của từ láy haitiếng mà thôi
Từ láy ba là láy toàn bộ kèm theo sự biến thanh và biến vần (ví dụ: nhũn
– nhũn nhùn nhùn; xốp – xốp xồm xộp ) Nhiều khi ta gặp những "cặp bài trùng" giữa từ láy hai tiếng và ba tiếng như: sát sạt – sát sàn sạt; trụi lủi – trụi
thui lủi; nhũn nhùn – nhũn nhùn nhùn; khét lẹt – khét lèn lẹt
Từ láy bốn tiếng thì tình hình cấu tạo có đa tạp hơn Có thể là:
"Nhân đôi" từ láy hai tiếng nhưng biến vần của tiếng thứ hai thành e, a, ơ,
à cho phù hợp, hài hoà về âm vực giữa các vần, các thanh:
vớ vẩn →vớ va vớ vẩn
lề mề →lề mà lề mề
"Nhân đôi" từ láy hai tiếng nhưng biến đổi sao cho hai tiếng đầu có thanh
điệu thuộc âm vực cao, hai tiếng sau mang thanh điệu âm vực thấp: bồi hồi –
- "Nhân đôi" từng tiếng của từ láy hai tiếng:
hùng hổ →hùng hùng hổ hổvội
Trang 11Ngoài ra, còn có một số từ khác không cấu tạo theo các cách nêu trên; hoặc
từ một từ gốc có thể cấu tạo hai từ láy bốn tiếng chứ không phải chỉ có một
Chẳng hạn: bù lu bù loa; bông lông ba la hoặc bắng nhắng – bắng nha bắng
nhắng; bắng nhắng bặng bặng nhặng
Sự biểu đạt ý nghĩa của từ láy rất phức tạp và rất thú vị, nhất là ở nhiềunhóm từ cùng có khuôn cấu tạo lại có thể có những điểm giống nhau nào đó vềnghĩa
3 Vài nét về cuộc đời và sự nghiệp văn chương của Nguyễn Đình Chiểu.
Nguyễn Đình Chiểu (1822 – 1888) tên tự là Mạnh Trạch, hiệu Trọng Phủ.Sau khi bị mù, ông còn lấy thêm hiệu là Hối Trai Cha là Nguyễn Đình Huy, quêThừa Thiên Mẹ là Trương Thị Thiệt, người Gia Định Sinh ra và lớn lên trongmột gia đình Nho giáo nên từ nhỏ Nguyễn Đình Chiểu đã được học chữ nghĩathánh hiền Năm 1843, ông đỗ tú tài tại trường thi Gia Định Năm 1846, ông raHuế học để chuẩn bị thi tiếp Đến năm 1849, trước khi vào trường thi thì ôngnhận được tin mẹ mất, đành bỏ dở để trở về Nam chịu tang Trên đường về,phần do vất vả, bệnh tật, phần do thương mẹ, Nguyễn Đình Chiểu khóc đến nỗi
bị đau mắt nặng rồi mù Không khuất phục trước số phận bất hạnh, ông mởtrường dạy học và bốc thuốc chữa bệnh cho dân nghèo; đồng thời sáng tác thơ
ca để bày tỏ lòng yêu nước và thái độ căm thù quân xâm lược cùng bè lũ phongkiến bán nước Nguyễn Đình Chiểu đã giữ vững khí tiết của một nhà Nho chânchính và tấm lòng son sắt với nước với dân cho đến hơi thở cuối cùng
Nguyễn Đình Chiểu gặp rất nhiều bất hạnh trong cuộc đời riêng, ở tuổithanh xuân, ông đã từng ôm ấp lí tưởng cao đẹp trí quân trạch dân, tức là phòvua giúp nước để thỏa chí nam nhi Nhưng những tai ương dồn dập trút xuốngkhiến ông không thể thực hiện được lí tưởng ấy Mẹ mất, đường công danh dang
dở, vợ sắp cưới bội ước, bản thân lại mù lòa… Một con người bình thường khó
có thể đứng vững trước ngần ấy chuyện không may liên tục xảy ra trong mộtthời gian ngắn, nhưng Nguyễn Đình Chiểu đã vượt qua tất cả bằng một nghị lựcphi thường, bằng tình yêu cuộc sống mãnh liệt
Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu đã khắc sâu, tô đậm hình ảnh những conngười lao động mộc mạc, chân chất mà ông hết lòng yêu thương, mến phục.Hình ảnh người dân Nam Bộ trọng nghĩa khinh tài kết tinh trong nhân vật LụcVân Tiên, Kiều Nguyệt Nga, Hớn Minh, Tử Trực…, trong nhân vật ông Ngư,ông Tiều mà ai ai cũng biết Lục Vân Tiên dũng cảm, nghĩa hiệp: Làm ơn há dễ
Trang 12trông người trả ơn Ông Ngư hết lòng cứu người trong Cơn hoạn nạn: Dốc lòngnhân nghĩa há chờ trả ơn Kiều Nguyệt Nga tiết hạnh, trung trinh… Đó là nhữngnhân vật tư tưởng của tác giả mà cũng là hình tượng được dân chúng Nam Bộthời ấy tôn thờ Truyện thơ Lục Vân Tiên của Nguyễn Đình Chiểu có ảnh hưởngrất lớn tới đời sống tinh thần cộng đồng là vì lẽ đó Nội dung thấm đẫm tư tưởngnhân nghĩa của truyện khiến nó đã trở thành kinh nhật tụng của đồng bào Nam
Bộ Đi đâu cũng thấy hiện tượng mọi người thích thú nghe nói thơ, kể thơ VânTiên, bởi trong đó có biết bao bài học thấm thía về đạo lí Đằng sau câu chuyệntưởng như minh hoạ cho những tư tưởng, triết lí đậm chất Nho giáo ấy chính lànhững bài học đạo đức đề cao tình nghĩa vợ chồng, cha con, bè bạn, tình thươngyêu, cưu mang, đùm bọc giữa người với người Đó là đạo lí truyền thống tốt đẹpcủa dân tộc đã có tự ngàn đời
Khi thực dân Pháp tấn công lấn chiếm Lục tỉnh Nam Kì thì tư tưởng nhânnghĩa của Nguyễn Đình Chiểu đã chuyển biến thành tư tưởng yêu nước chốngxâm lăng Nguyễn Đình Chiểu đã viết nên những câu thơ tâm huyết để bày tỏquan điểm của mình:
Thà đui mà giữ đạo nhà, Còn hơn có mắt ông cha không thờ.
Dù đui mà khỏi danh nhơ, Còn hơn có mắt ăn dơ tanh rình.
Dù đui mà đặng trọn mình, Còn hơn có mắt đổi hình tóc râu.
Thái độ kiên quyểt bất hợp tác với kẻ thù của ông càng làm cho nhân dântin tưởng và khâm phục Điều đáng trân trọng ở ông là cả tư tưởng nhân nghĩa
và tư tưởng yêu nước đều hướng tới nhân dân lao động
Qua một số tác phẩm nổi tiếng như Chạy Tây, Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc,Ngư Tiều y thuật vấn đáp… Nguyễn Đình Chiểu đã thể hiện rất rõ lập trường,quan điểm của mình là đứng hẳn về phía nhân dân để phê phán và lên án triềuđình nhà Nguyễn hèn nhát đầu hàng, bán rẻ giang sơn gấm vóc của tổ tiên để lại,quay lưng ngoảnh mặt làm ngơ trước tình cảnh lầm than của dân đen, con đỏ:
Tan chợ vừa nghe tiếng súng Tây, Một bàn cờ thế phút sa tay.
Bỏ nhà lũ trẻ lơ xơ chạy, Mất ổ bầy chim dáo dác bay.
Trang 13Bến Nghé của tiền tan bọt nước, Đồng Nai tranh ngói nhuốm màu mây.
Hỏi trang dẹp loạn rày đâu vắng ?
Nỡ để dân đen mắc nạn này!
(Chạy Tây)
Trong bài Văn tế nghĩa sĩ cần Giuộc, nhà thơ căm hận gọi lũ xâm lược làquân tả đạo, đi tới đâu gieo rắc mùi tinh chiên tanh hôi và thói mọi đến đó Dânchúng phẫn nộ muốn xông ra ăn gan, cắn cổ quân thù cho hả dạ Thái độ ấyhoàn toàn đối lập với thái độ thờ ơ vô trách nhiệm của phần lớn vua quan nhàNguyễn Giặc Pháp chiếm nước ta đã ba năm và đánh chiếm Nam Bộ đã hơnmười tháng, dân trông tin quan như trời hạn trông mưa, chờ đợi đến mỏi mòn
mà vẫn không thấy triều đình có phản ứng gì Yêu nước, căm thù quân xâmlược, những người dân ấp dân lân vốn côi cút làm ăn, toan lo nghèo khó đã tựnguyện đứng lên làm nhiệm vụ trọng đại chém rắn, đuổi hươu, đoạn kình, bộ hổ
để cứu nước, cứu nhà
Từ mái tranh nghèo, họ xông ra thẳng chiến trường với vũ khí là rơm concúi, lưỡi dao phay, ngọn tầm vông… những vật dụng quen thuộc trong cuộcsống lao động hằng ngày Những nghĩa sĩ nông dân tung hoành nơi chiến trận,chẳng đợi ai đòi ai bắt, chẳng sợ tàu thiếc tàu đồng súng nổ Họ đã làm cho quângiặc khiếp vía kinh hồn Những vũ khí thô sơ trong tay họ cũng góp phần làm
nên chiến thắng: Hoả mai đánh bằng rơm con cúi, cũng đốt xong nhà dạy đạo
kia Gươm đeo dùng bằng lưỡi dao phay, cũng chém rớt đầu quan hai nọ.
Trong cuộc chiến đấu không cân sức, gần ba chục nghĩa sĩ đã ngã xuống.Cái chết vì nghĩa lớn của họ khiến cho đất trời và lòng người cảm động: Đoàisông Cần Giuộc, cỏ cây mấy dặm sầu giăng; nhìn chợ Trường Bình, già trẻ haihàng luỵ nhỏ Điểu an ủi lớn nhất đối với gia đình họ là chồng con mình đã sống
và chết đúng theo quan niệm chết vinh còn hơn sống nhục của ông cha từ baođời nay Nguyễn Đình Chiểu nhấn mạnh:
Sống làm chi theo quân tả đạo, quăng vùa hương, xô bàn độc, thấy lại thêm buồn; sống làm chi ở lính mã tà, chia rượu lạt, gặm bánh mì nghe càng thêm hổ.
Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh; hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ.
Trang 14Ngòi bút thấm đẫm cảm xúc mến yêu, kính phục của Nguyễn Đình Chiểu
đã vẽ nên bức tranh công đồn ngất trời tráng khí, đã dựng nên tượng đài sừngsững về người nghĩa sĩ nông dân yêu nước muôn thuở sáng ngời Tinh thần tựnguyện xả thân cứu nước của họ góp phần khẳng định truyền thống anh dũng,bất khuất chống ngoại xâm của dân tộc Việt Nam
Với những cống hiến to lớn cho dân tộc, cho nền văn học nước nhà,Nguyễn Đình Chiểu mãi mãi xứng đáng với niềm tin yêu, kính phục của nhândân dành cho ông Nhận xét về Nguyễn Đình Chiểu, nhà lí luận phê bình vănhọc Hoài Thanh viết: Sự gắn bó sâu xa với quần chúng là đặc điểm nổi bật trongcuộc đời Nguyễn Đình Chiểu, là nhân tố chủ yếu đào tạo nên con người, sựnghiệp thơ văn của Nguyễn Đình Chiểu
Trang 15CHƯƠNG II: ĐÓNG GÓP VỀ MẶT NGÔN NGỮ VĂN CHƯƠNG CỦA
NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU QUA VIỆC SỬ DỤNG TỪ LÁY
1 Nguyễn Đình Chiểu đối với việc phát triển ngôn ngữ văn chương của dân tộc.
Theo cuốn Thơ văn Nguyễn Đình Chiểu in lần thứ hai, Nxb Văn học HàNội-1971 thì toàn bộ sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu gồm 29 tác phẩm trừ 6
bài thơ: Thầy thuốc; Câu cá; Đốn củi; Hoàng trùng trập khởi; Ngũ luân tuyệt
cú và Thất Kinh Châu là sáu tác phẩm được đưa vào phần phụ lục bởi đây là
những tác phẩm còn chưa xác minh rõ có phải là của Nguyễn Đình Chiểu haycủa tác giả khác
Nguyễn Đình Chiểu đã kế thừa một di sản văn học dân tộc bằng tiếng Việt
vô cùng lớn cả về số lượng và chất lượng Mặt chủ yếu góp phần làm nên bảnsắc riêng, vẻ đẹp độc đáo ở Nguyễn Đình Chiểu là ở chỗ, cùng với tác các tácgiả khuyết danh của một loạt truyện Nôm giàu giá trị, Nguyễn Đình Chiểu đãlàm cho ngôn ngữ của văn học gần gũi với hiện thực hơn, gần gũi với lời ăntiếng nói, của quần chúng nhân dân hơn Hồng Dân có nhận định như sau: Cáiđẹp của ngôn từ trong cung oán ngâm khúc, trong Truyện Kiều… có phần giốngcái đẹp của cây đa, cây đề được chăm chút gọt tỉa khéo léo trong vườn thượnguyển, trong công viên, còn cái đẹp của ngôn từ trong loạt truyện Nôm, mà ngàynay vẫn chưa tìm ra tên tác giả, cũng như cái đẹp của ngôn từ trong văn thơNguyễn Đình Chiểu lại có cái đẹp của cây đa, cây đề mọc ở đầu làng, ở giữacánh đồng, ở một bến nước, bờ sông nào đó của thôn quê Việt Nam, mộc mạc
và bình dị, chân thực và hồn nhiên lạ thường
Tính bình dị, mộc mạc, chân thực trong ngôn ngữ của Đồ Chiểu là đặcđiểm xuyên suốt trong toàn bộ sáng tác của ông Rồi cũng chính những từ ngữhết sức dung dị, chân chất, mộc mạc ấy lại được Đồ Chiểu đưa vào những ángthơ văn yêu nước chống Pháp làm nên một hơi thở mới của đời sống hiện thựctrong giai đoạn chống Pháp, một thời kỳ “khổ nhục nhưng vĩ đại” của lịch sửViệt Nam Lịch sử ấy đã được ghi lại trong những áng văn thơ bằng chính chấtliệu của đời sống chiến đấu dũng cảm, trần trụi, gân guốc của nhân dân với ngônngữ hàng ngày Vì vậy đọc thơ văn Nguyễn Đình Chiểu có thể thấy ngôn ngữtrong các tác phẩm của ông không hề xa lạ với ngôn ngữ trong nền văn học hiện