Có thể kể đến luận án Tiến sĩ Ngữ văn của Cao Xuân Hải 2010 Hành động trần thuật qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Chu Lai, Lê Lựu; luận văn thạc sĩ của Đậu Th
Trang 1-& -CHIẾN LƯỢC GIAO TIẾP CỦA MỘT SỐ NHÂN VẬT
PHẢN DIỆN TRONG TÁC PHẨM TẮT ĐÈN (NGÔ TẤT TỐ),
CHÍ PHÈO (NAM CAO)
LUẬN VĂN THẠC SỸ NGỮ VĂN
Chuyên ngành: Ngôn Ngữ Việt Nam
Mã số: 60.22.01.02
Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Thị Thuận
BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
HẢI PHÒNG NĂM 2016
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 2i
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu khoa học của riêng tôi
Các số liệu, kết quả nêu trong luận văn là trung thực và chưa từng được công
bố trong bất cứ công trình nghiên cứu nào Tôi xin chịu trách nhiệm về lời
cam đoan này
Hải Phòng, 25 tháng 12 năm 2016
Tác giả
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 3ii
LỜI CẢM ƠN
Trước hết, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới TS Nguyễn Thị Thuận
người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo Trường Đại học Hải Phòng,
Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Viện Ngôn ngữ học, Viện Từ điển học và
Bách khoa thư đã nhiệt tình giảng dạy, cung cấp cho tôi những vấn đề lí luận làm
cơ sở cho việc nghiên cứu đề tài
Tôi xin trân trọng cảm ơn Khoa đào tạo sau đại học - Trường Đại học Hải
Phòng đã tạo điều kiện giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu
Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn chân thành tới gia đình, bạn bè, đồng
nghiệp và các bạn học viên lớp Cao học Ngôn ngữ K6A, luôn động viên, chia
sẻ, giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và hoàn thiện luận văn này
Hải Phòng, tháng 12 năm 2016
Tác giả
To remove this notice, visit:
www.foxitsoftware.com/shopping
Trang 4MỤC LỤC
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
QUY ƯỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT vi
DANH MỤC CÁC BẢNG vii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI 12
1.1 Khái quát chung về giao tiếp 12
1.1.1 Khái niệm giao tiếp 12
1.1.2 Các nhân tố tham gia hoạt động giao tiếp 12
1.2 Vai giao tiếp và chiến lược giao tiếp 14
1.2.1 Khái niệm vai giao tiếp 14
1.2.2 Các phương tiện thể hiện vai giao tiếp 14
1.2.3 Chiến lược giao tiếp 15
1.2.4 Mối quan hệ giữa vai giao tiếp và chiến lược giao tiếp 16
1.3 Lý thuyết hội thoại 17
1.3.1 Quy tắc luân phiên lượt lời 17
1.3.2 Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại 18
1.3.3 Nguyên tắc cộng tác hội thoại 19
1.3.4 Phép lịch sự 19
1.4 Xưng hô trong giao tiếp 22
1.4.1 Khái niệm xưng hô 22
1.4.2 Các phương tiện dùng để xưng hô 24
1.5 Hành động ngôn ngữ 27
1.5.1 Thuật ngữ hành động ngôn ngữ 27
1.5.2 Các hành động ngôn ngữ 28
1.5.3 Phân loại hành động ngôn ngữ 28
Trang 51.6 Ngữ cảnh 29
1.7 Vài nét về nhân vật phản diện trong văn học hiện thực phê phán Việt Nam 30
1.8 Tiểu kết chương 1 32
CHƯƠNG 2 SỬ DỤNG TỪ XƯNG HÔ – MỘT CHIẾN LƯỢC GIAO TIẾP CỦA NHÂN VẬT PHẢN DIỆN TRONG TẮT ĐÈN (NGÔ TẤT TỐ) VÀ CHÍ PHÈO (NAM CAO) 36
2.1 Nhận xét tần suất xuất hiện các phương tiện xưng hô trong lời thoại của vợ chồng Nghị Quế trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố 36
2.2 Sử dụng từ xưng hô – một chiến lược giao tiếp của vợ chồng Nghị Quế trong Tắt đèn (Ngô Tất Tố) 38
2.2.1 Sử dụng từ xưng hô một cách uy hiếp, trịch thượng 38
2.2.2 Sử dụng từ xưng hô một cách kẻ cả, bề trên 40
2.2.3 Sử dụng từ xưng hô một cách suồng sã, đay đả 41
2.2.4 Sử dụng từ xưng hô một cách dụ dỗ, chèo kéo, quan tâm 44
2.3 Nhận xét tần suất xuất hiện các phương tiện xưng hô trong lời thoại của nhân vật Bá Kiến trong Chí Phèo của Nam Cao 47
2.4 Sử dụng từ xưng hô – một chiến lược giao tiếp của Bá Kiến trong 49
Chí Phèo (Nam Cao) 49
2.4.1 Sử dụng từ xưng hô thể hiện uy quyền, vị thế xã hội cao 51
2.4.2 Sử dụng từ xưng hô để thị uy, thăm dò 53
2.4.3 Sử dụng từ xưng hô một cách thân mật, gần gũi, tôn trọng 55
2.5 Tiểu kết chương 2 59
Chương 3 SỬ DỤNG PHÉP LỊCH SỰ - MỘT CHIẾN LƯỢC GIAO TIẾP CỦA NHÂN VẬT PHẢN DIỆN TRONG TẮT ĐÈN (NGÔ TẤT TỐ) VÀ CHÍ PHÈO (NAM CAO) 62
3.1 Nhận xét chung về việc thực hiện phép lịch sự - một chiến lược giao tiếp của ba nhân vật phản diện trong Tắt đèn (Ngô Tất Tố) và Chí Phèo (Nam Cao) 63
3.2 Chiến lược đe dọa thể diện, nói trắng không có bù đắp 67
3.3 Chiến lược gia tăng sự quan tâm, cảm thông 72
Trang 63.4 Chiến lược đòi hỏi có đi có lại 78
3.5 Chiến lược tỏ ra lạc quan, tin tưởng, tìm kiếm sự tán đồng 79
3.6 Chiến lược đưa ra chỉ dẫn, giảm thiểu sự áp đặt 81
3.7 Tiểu kết chương 3 84
KẾT LUẬN 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
Trang 7QUY ƯỚC CÁC CHỮ VIẾT TẮT
Sp1 Người nói
Sp2 Người nghe
HTPP Hiện thực phê phán
TXH Từ xưng hô
TSXH Tần suất xuất hiện
FTA Hành vi đe dọa thể diện (Face threatening acts) THPT Trung học phổ thông
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG
Số hiệu
2.1 Tổng hợp tần suất xuất hiện các phương tiện xưng hô
của nhân vật phản diện vợ chồng Nghị Quế 36 2.2 Bảng tổng hợp các nghệ thuật sử dụng từ xưng hô của
nhân vật phản diện vợ chồng Nghị Quế 37 2.3 Tổng hợp tần suất xuất hiện các phương tiện xưng hô
của nhân vật phản diện Bá Kiến
48
2.4 Bảng tổng hợp các nghệ thuật sử dụng từ xưng hô của
nhân vật phản diện Bá Kiến
49
3.1 Bảng tổng hợp các chiến lược giao tiếp sử dụng phép
lịch sự của các nhân vật phản diện vợ chồng Nghị Quế
và Bá Kiến
65
Trang 9MỞ ĐẦU
1 Lí do lựa chọn đề tài
1.1 Với sự phát triển của ngữ dụng học và những đóng góp ngày càng quan trọng của lĩnh vực này vào việc nghiên cứu ngôn ngữ và văn học, chiến lược giao tiếp đã thu hút được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu Nó không chỉ là một phạm trù quan trọng của ngôn ngữ học đương đại, thể hiện xu hướng mở rộng đối tượng nghiên cứu của khoa học này vượt khỏi giới hạn
“trong bản thân nó và vì nó” của hệ thống ngôn ngữ (Saussure 1916), giúp
nhà nghiên cứu khảo sát ngôn ngữ trong hành chức, mà còn là một cầu nối quan trọng đưa khoa học ngôn ngữ đến với nghiên cứu văn học Chiến lược giao tiếp không chỉ đựợc tiếp cận từ góc độ một hiện tượng giao tiếp đơn thuần mà còn được nghiên cứu như một thành tố của diễn ngôn văn học, giúp soi sáng nhiều đặc điểm của tác phẩm văn học và phong cách của nhà văn [33; tr 1] Hướng nghiên cứu này mở ra những triển vọng mới để giải mã văn bản văn học một cách khoa học hơn Đặc biệt, trong thực tế ở Việt Nam, khi hiện tượng tách biệt giữa ngôn ngữ học và văn học vẫn còn tồn tại thì việc ứng dụng phạm trù chiến lược giao tiếp vào nghiên cứu văn bản văn học ngày càng có ý nghĩa Điều đó gợi ý chúng tôi lựa chọn hướng nghiên cứu chiến
lược giao tiếp của một số nhân vật phản diện trong tác phẩm Tắt đèn (Ngô Tất Tố) và Chí Phèo (Nam Cao)
1.2 Văn học hiện thực phê phán Việt Nam (1930 – 1945) là mảnh đất màu
mỡ để lại nhiều tên tuổi của các nhà văn xuất sắc như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng, Nam Cao… với các tác phẩm
tiêu biểu Tắt đèn, Bước đường cùng, Đồng hào có ma, Giông tố, Bỉ vỏ, Chí
Phèo…Từ khi các tác phẩm đó ra đời đến nay đã thu hút rất nhiều sự quan
tâm của các nhà nghiên cứu, phê bình, giảng dạy và đông đảo độc giả trên bình diện phê bình lí luận văn học, thi pháp học Tuy nhiên, cho đến nay, chưa có một công trình nào nghiên cứu chiến lược giao tiếp một cách toàn
Trang 10diện ở bình diện ngôn ngữ học và cụ thể hơn là ngữ dụng học – một lĩnh vực khoa học mới mẻ của ngôn ngữ học
Nhìn ở góc độ lí luận, điều làm nên thành công của một tác phẩm văn học hiện thực phê phán đó là nhà văn phải tôn trọng nguyên tắc sáng tác xây dựng nhân vật điển hình trong hoàn cảnh điển hình Có thể thấy các nhà văn hiện thực giai đoạn 1930 - 1945 đã thể hiện rất thành công nguyên tắc trên Khi đọc các tác phẩm, độc giả không chỉ biết đến những số phận khốn khổ, điêu đứng của người nông dân Việt Nam bị đẩy vào bước đường cùng như chị Dậu, anh Pha, thị Mịch, con mẹ Nuôi, Chí Phèo… mà còn ấn tượng sâu sắc
về các nhân vật phản diện như vợ chồng Nghị Quế, Nghị Lại, Nghị Hách, Quan Huyện Hinh và Bá Kiến Đây thực sự là các nhân vật phản diện tiêu biểu trong các tác phẩm văn học hiện thực phê phán Việt Nam Nhưng phản ánh đầy đủ, điển hình nhất bản chất thâm hiểm, xảo quyệt đầy mưu mô của tầng lớp thống trị, quan lại, cường hào ở nông thôn Việt Nam phải kể đến
nhân vật Vợ chồng Nghị Quế trong Tắt đèn (Ngô Tất Tố) và Bá Kiến trong
Chí Phèo (Nam Cao) Tuy nhiên việc tìm hiểu về các nhân vật này mới chỉ dừng
lại góc độ văn chương, ở những phần nhỏ của các bài viết, chưa hệ thống Vì vậy, thiết nghĩ quan tâm đến hệ thống các nhân vật phản diện trong dòng văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930-1945 cũng là vấn đề quan trọng giúp chúng ta hiểu sâu sắc hơn giá trị của các tác phẩm văn học
Để xây dựng thành công nhân vật phản diện vợ chồng Nghị Quế, Bá Kiến, các nhà văn đã thể hiện biệt tài trong việc sử dụng ngôn ngữ nhân vật
có khả năng cá tính hóa cao, khắc họa thành công bản chất xấu xa, nham hiểm, gian xảo, mưu mô của tầng lớp thống trị cường hào, ác bá ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng Vận dụng những cơ sở lí thuyết về ngôn ngữ và ngữ dụng học, phong cách học chúng ta sẽ thấy được sự điển hình của nhân vật thông qua chiến lược giao tiếp và sự tài hoa trong sử dụng ngôn ngữ góp phần quan trọng hình thành phong cách riêng của nhà văn
Trang 112 Tổng quan vấn đề nghiên cứu
2.1 Về chiến lược giao tiếp
Từ những năm 70, trên thế giới, các công trình nghiên cứu về giao tiếp trong văn học được thực hiện khá nhiều Tiêu biểu là các công trình của Porter (1979), Fish (1980), Leech and Short (1981), Nash (1989), Cook (1994), Lowe (1994), Herman (1998), Simpson (1998), Culpeper (1998, 2001, 2005), Leech (2008), Rossen-Knill (2009), Bowles (2010), Thomas (2012) Nhờ những thành tựu ngữ dụng học và phân tích diễn ngôn, các nhà nghiên cứu đã vượt qua khỏi giới hạn của những phát ngôn riêng lẻ để khảo sát hội thoại trong văn học như một hệ thống qua đó mối quan hệ xã hội của nhân vật được xác lập trong quá trình tương tác đa dạng (Dẫn theo [31; tr.9])
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu chiến lược giao tiếp trong tác phẩm văn học chưa được sự quan tâm đúng mức Tuy nhiên, đã có một số chuyên luận đề cập đến những vấn đề chung của phân tích hội thoại, phân tích diễn ngôn, phân tích cấu trúc của truyện kể và “ngữ pháp của truyện” như công trình của Diệp Quang Ban (1998, 2003, 2009) , Nguyễn Hòa (2008) Bên cạnh đó còn có các công trình phong cách học của Cù Đình Tú (1983), Đinh Trọng Lạc (2000), các tài liệu về ngôn ngữ học xã hội và giao tiếp ngôn ngữ mà tiêu biểu là công trình của Nguyễn Văn Khang (1999) Những công trình này cùng với một số giáo trình ngữ dụng học như Nguyễn Đức Dân (1998), Đỗ Hữu Châu (2001, 2003), Nguyễn Thiện Giáp (2000), Đỗ Thị Kim Liên (2005) … đóng vai trò quan trọng trong việc thu hút giới ngôn ngữ học Việt Nam nghiên cứu về giao tiếp nói chung và giao tiếp trong văn học nói riêng Trong các công trình trên, các tác giả đều chú trọng giới thiệu những lí thuyết quan trọng làm nền tảng cho nghiên cứu giao tiếp trong văn học Nhiều phương diện của giao tiếp cũng được đề cập đến như ngữ cảnh, hành động ngôn từ, hàm ngôn, hiệu chỉnh lời thoại, và các nguyên tắc hội thoại … Liên quan đến cấu trúc hội thoại trong truyện kể, ngoài các khái niệm cơ bản trong phân tích hội thoại còn có những khái niệm trong phong cách học như yếu tố trung tâm, điểm nhìn trần thuật, tính cấu trúc của ngôn ngữ nghệ
Trang 12thuật… Các khái niệm này cũng rất hữu ích đối với việc nghiên cứu chiến lược giao tiếp trong văn bản văn học (Dẫn theo [33;tr.13])
Những nghiên cứu cụ thể về giao tiếp trong tác phẩm văn học từ góc độ của ngôn ngữ học chủ yếu là các luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ Những công trình này tập trung khảo sát một loại hành động ngôn từ trong tác phẩm văn học nhằm tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ và văn hóa ứng xử, hoặc nhằm xác định cấu trúc, ngữ nghĩa của biểu thức ngôn hành thể hiện hành động ngôn từ đó Việc nghiên cứu vấn đề chiến lược giao tiếp chỉ mới dừng lại ở chiến lược thực hiện một loại hành động ngôn từ nào đó Có thể kể đến luận
án Tiến sĩ Ngữ văn của Cao Xuân Hải (2010) Hành động trần thuật qua lời
thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu, Chu Lai, Lê Lựu; luận
văn thạc sĩ của Đậu Thị Thúy Quỳnh (2009) Ngữ nghĩa và phương tiện thể
hiện hành động cầu khiến qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Minh Châu; Trịnh Thị Ngọc (2011) Khảo sát hành động van xin qua lời thoại nhân vật trong truyện ngắn Nguyễn Công Hoan; Lê Thị Hoài Mai
(2011) Biểu thức ngữ vi thể hiện hành động cầu mong và chúc (qua lời thoại
nhân vật trong truyện ngắn Việt Nam hiện đại); Đối chiếu các phương tiện dùng để xưng hô trong truyện ngắn của Nguyễn Huy Thiệp và truyện ngắn của Nguyễn Ngọc Tư; bài viết của Lương Thị Hiền (2010) Giá trị văn hóa – quyền lực được đánh dấu qua hành động cầu khiến trong giao tiếp gia đình người Việt dựa trên 114 cuộc giao tiếp trong các tác phẩm của Nam Cao,
Nguyễn Công Hoan, Vũ Trọng Phụng [Dẫn theo 33; tr.14]
Đặc biệt, có một số công trình đi sâu tìm hiểu các khía cạnh của giao tiếp, hội thoại Từ chỗ tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ của tác giả với những sáng tạo
của họ như có thể thấy qua luận án tiến sĩ Mai Thị Hảo Yến (2001); Nhận
diện, miêu tả cấu trúc hình thức thoại dẫn (trực tiếp, gián tiếp) trong truyện ngắn của Nam Cao, hay đề tài Ngôn ngữ tác giả trong truyện Nguyễn Tuân
của Đặng Lưu (2006) các học viên cao học, nghiên cứu sinh về sau cũng đã nghiên cứu chức năng giao tiếp trong tác phẩm văn học Luận văn thạc sĩ của
Trang 13Giáp Thị Thủy (2009); Hội thoại trong Dế mèn phiêu lưu ký, khảo sát đặc
điểm về hình thức và chức năng của các cuộc thoại, đoạn thoại, cặp thoại, tham thoại với các tiêu chí nhận diện như hình thức hội thoại, vai giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, đích giao tiếp…Đồng thời, luận văn còn tìm hiểu các phương tiện ngôn ngữ biểu hiện phép lịch sự như biểu thức rào đón, từ ngữ xưng hô, từ tính thái, các loại hành động ngôn từ khác nhau…Luận án tiến sĩ
của Vũ Văn Lăng (2013) đã tập trung phân tích tác phẩm Chí Phèo và Sống
mòn của Nam Cao dưới ánh sáng của phân tích diễn ngôn và ngữ dụng học
Công trình này cho thấy giới nghiên cứu rất quan tâm đến cách thức diễn ngôn, trong đó có diễn ngôn nghệ thuật, được sử dụng thế nào để đạt mục tiêu
nhất định Như tác giả có nêu, “quan tâm đến ý định và cách sử dụng ngôn
ngữ như thế nào để đạt được ý định đó có một hệ quả quan trọng đối với việc nghiên cứu diễn ngôn” [18; tr 2] Tuy nhiên, do nghiên cứu từ nhiều bình
diện của phân tích diễn ngôn và ngữ dụng học nên tác giả chưa có điều kiện khảo sát kĩ chiến lược giao tiếp trong tác phẩm văn học Gần đây nhất,
Nguyễn Thị Thái (2015) trong luận án Tiến sĩ Ngữ văn với đề tài Đặc điểm
ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai cũng đã vận dụng lí thuyết hội
thoại để tìm hiểu đặc điểm ngôn ngữ nhân vật trong tiểu thuyết Chu Lai qua
từ xưng hô, từ thông tục, quán ngữ và thành ngữ; Nguyễn Hòa Mai Phương
(2015) trong luận án Tiến sĩ chuyên ngành Lý luận ngôn ngữ với đề tài Chiến
lược hội thoại trong một số truyện ngắn tiêu biểu của Somerset Maugham tập
trung vào các chiến lược vận dụng nguyên tắc về lượt lời, nguyên tắc cộng tác hội thoại và nguyên tắc lịch sự, có nhắc qua chiến lược giao tiếp của nhân vật
Bá Kiến khi Chí Phèo đến nhà ăn vạ trong sự so sánh với các chiến lược giao tiếp trong một số truyện ngắn tiêu biểu của Somerset Maugham [Dẫn theo 33; tr.106]
Trang 142.2 Về hai tác phẩm Tắt đèn (Ngô Tất Tố) và Chí Phèo (Nam Cao)
Ngô Tất Tố thuộc thế hệ nhà văn gạo cội của văn học hiện thực Việt Nam giai đoạn 1930 -1945 Ông được độc giả biết đến với các tác phẩm gây tiếng vang lớn trên diễn đàn văn học hiện thực Việt Nam bấy giờ Đặc biệt khi tiểu
thuyết Tắt đèn xuất hiện đã thu hút rất nhiều sự quan tâm của bạn đọc và giới
phê bình, nghiên cứu văn học Trong đó có một số bài nghiên cứu lẻ tẻ, thoáng qua về các loại nhân vật phản diện, in trong một số cuốn sách, một số cuốn Tạp
chí văn học…Tiêu biểu là Một nhà văn của dân quê - Ngô Tất Tố trong Tắt đèn
của tác giả Trần Minh Tước in trong cuốn Ngô Tất Tố - tác giả - tác phẩm
(1999); Tắt đèn của Ngô Tất Tố của nhà văn Vũ Trọng Phụng; Tắt đèn - tiểu
thuyết của Ngô Tất Tố của tác giả Phú Hương; Đọc Tắt đèn của Ngô Tất Tố của
nhà văn Nguyễn Công Hoan; Tắt đèn - cuốn tiểu thuyết hiện thực xuất sắc của Hồng Chương; Những đóng góp của Ngô tất Tố trong Tắt đèn của tác giả Phong Lê; Tắt đèn của Ngô Tất Tố của Nguyễn Đăng Mạnh; Tắt đèn của giáo sư Phan
Cự Đệ, Ở bình diện ngôn ngữ học, có nhiều công trình nghiên cứu, luận văn tốt
nghiệp đã đề cập tới tác phẩm này, có thể kể ra Đặc điểm ngôn ngữ nhân vật
trong Tắt đèn (2013) của Nguyễn Thị Loan hoặc về một phương diện ngôn ngữ
của tác phẩm như: Đặc điểm từ xưng hô qua lời thoại nhân vật trong tác phẩm
Tắt đèn (2012) trong luận văn Thạc sĩ của Dương Hương Lan; Đặc điểm ngôn ngữ giới qua hành vi hỏi trong tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố (2015) trong
luận văn Thạc sĩ của Nguyễn Thị Huệ; hay khóa luận tốt nghiệp Tín hiệu ngôn
ngữ phi lời trong tiểu thuyết Tắt đèn (2013) của tác giả Nguyễn Hồng Sen …
Ngoài ra còn có các nội dung nghiên cứu để làm nổi bật được phong cách viết
truyện của nhà văn Ngô Tất Tố như khóa luận tốt nghiệp Phong cách tiểu thuyết
trong Tắt đèn (2003) của Nguyễn Thị Thành…
Là nhà văn thuộc thế hệ sau nhưng Nam Cao được xem là đỉnh cao của văn học hiện thực phê phán Việt Nam Tác phẩm của ông được viết với hai mảng đề tài lớn: người nông dân và người trí thức trong hoàn cảnh xã hội Việt Nam trước Cách mạng Ở các sáng tác đó, Nam Cao đã thể hiện bút lực dồi dào, tinh thần
Trang 15lao động nghệ thuật nghiêm túc, bằng tấm lòng của nhà văn “đứng trong lao
khổ, mở hồn ra đón lấy tất cả những vang động của đời" (Trăng sáng) Bởi thế,
tác phẩm của Nam Cao chính là sự kết tinh sâu sắc những giá trị hiện thực và nhân đạo của văn học hiện thực 1930 – 1945 với những nhân vật đạt đến sự điển hình Có rất nhiều công trình nghiên cứu, báo cáo khoa học về sự nghiệp sáng
tác của Nam Cao nói chung và tác phẩm Chí Phèo nói riêng như bài viết của Nguyễn Đăng Mạnh về Cái đói và miếng ăn trong truyện ngắn Nam Cao, Lê Đình Kỵ với bài viết Nam Cao con người và xã hội cũ, tác giả Nguyễn Thái Hòa với tiểu luận Chất giọng Nam Cao trong Chí Phèo; Mối quan hệ xã hội trong
làng Vũ Đại của Đức Mậu; Qua truyện ngắn Chí Phèo bàn thêm về cái nhìn hiện thực của Nam Cao của Trần Tuấn Lộ Các nghiên cứu trên đã phân tích, đánh
giá về nội dung, tư tưởng, ý nghĩa xã hội, phong cách nghệ thuật của Nam Cao
qua tác phẩm Chí Phèo Bên cạnh đó, còn có nhiều khóa luận tốt nghiệp, luận văn thạc sĩ khai thác tìm hiểu tác phẩm Chí Phèo từ bình diện phương pháp giảng dạy như Dạy học tác phẩm Chí Phèo, Đời thừa của Nam Cao theo đặc
trưng thể loại; hay tìm hiểu về một phương diện sử dụng từ ngữ trong bài viết
của Tiến sĩ Trần Kim Phượng, Đại học Sư phạm Hà Nội về Các từ xưng hô
trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao… Bên cạnh đó, còn có các bài viết có
nhắc đến thoáng qua nhân vật phản diện Bá Kiến như Qua truyện ngắn Chí Phèo
bàn thêm về cái nhìn hiện thực của Nam Cao, (Trần Tuấn Lộ); Con người bị từ chối làm người trong truyện Chí Phèo của Nam Cao (Nguyễn Văn Trung)…
Ngoài những công trình nghiên cứu riêng lẻ về từng tác phẩm Tắt đèn và Chí Phèo, còn có luận văn chuyên ngành Ngữ văn nghiên cứu chung các tác phẩm ở cùng một đề tài Nhân vật phản diện trong văn học hiện thực phê phán Việt Nam 1930 -1945 của Vũ Thị Lan (2005) Ở luận văn này, tác giả đã tìm
hiểu các nhân vật phản diện Nghị lại (Bước đường cùng – Nguyễn Công Hoan), Nghị Hách (Giông tố - Vũ Trọng Phụng), Nghị Quế (Tắt đèn – Ngô Tất Tố) và
Bá Kiến (Chí Phèo – Nam Cao) Mặc dù nghiên cứu một hệ thống các nhân vật
phản diện tiêu biểu của văn học hiện thực 1930 - 1945 nhưng tác giả xem xét
Trang 16dưới bình diện văn học: tìm hiểu các loại nhân vật phản diện trong văn học hiện thực phê phán, các thủ pháp xây dựng nhân vật phản diện và chỉ ra cách xây dựng nhân vật phản diện ở mỗi nhà văn.Vấn đề ngôn ngữ học và ngữ dụng học chưa được quan tâm và tìm hiểu thấu đáo…
Các nghiên cứu được điểm qua trên đây cho thấy đề tài luận văn của chúng tôi là một vấn đề còn bỏ ngỏ Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn sử dụng các tài liệu trên làm cơ sở cho phần Lịch sử vấn đề, Những vấn đề lí luận liên quan đến đề tài
Và trong quá trình thực hiện, những tài liệu này còn là gợi ý tốt cho hướng triển khai nghiên cứu
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài này là Chiến lược giao tiếp của một số nhân
vật phản diện trong tác phẩm Tắt đèn (Ngô Tất Tố) và Chí Phèo (Nam Cao)
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Chiến lược giao tiếp được biểu hiện ở nhiều phương tiện khác nhau nhưng luận văn này chưa có điều kiện bao quát hết tất cả các vấn đề liên quan đến chiến lược giao tiếp mà chỉ tập trung khảo sát và tìm hiểu các chiến lược giao tiếp qua việc sử dụng từ xưng hô, các chiến lược sử dụng quy tắc chi phối quan hệ liên nhân - phép lịch sự
Nhân vật phản diện trong hai tác phẩm Tắt đèn và Chí Phèo của Ngô Tất Tố
và Nam Cao xuất hiện khá phong phú… Song do phạm vi của một đề tài thạc sĩ,
luận văn chỉ tìm hiểu chiến lược giao tiếp của hai vợ chồng Nghị Quế (Tắt đèn – Ngô Tất Tố) và Bá Kiến (Chí Phèo – Nam Cao) Đây là các nhân vật phản diện
điển hình, khái quát được rõ nhất bản chất của tầng lớp thống trị, cường hào ở xã hội nông thôn Việt Nam trước Cách mạng Do đó, nguồn ngữ liệu khảo sát sẽ được lấy từ hai tác phẩm tiêu biểu của văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai
đoạn 1930 -1945 là Tắt đèn của Ngô Tất Tố, NXB Văn học, năm 2012 và tác phẩm Chí Phèo của Nam Cao in trong Tuyển tập truyện ngắn Nam Cao – NXB
Văn học, năm 2002
Trang 174 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
Đồng thời, chúng tôi ứng dụng kết quả nghiên cứu như một giải pháp tốt vào công việc giảng dạy môn Ngữ văn trong trường THPT một cách có cơ sở khoa học, đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản toàn diện Giáo dục và Đào tạo
4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu trên, luận văn cần thực hiện các nhiệm
vụ sau:
- Hệ thống hóa những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài
- Khảo sát, miêu tả và nhận xét việc sử dụng từ xưng hô – một chiến lược
giao tiếp của một số nhân vật phản diện trong Tắt đèn (Ngô Tất Tố) và Chí Phèo
(Nam Cao)
- Khảo sát, miêu tả và nhận xét việc sử dụng phép lịch sự - một chiến lược
giao tiếp của một số nhân vật phản diện trong Tắt đèn (Ngô Tất Tố) và Chí Phèo
(Nam Cao)
5 Phương pháp nghiên cứu
Để giải quyết được các nhiệm vụ trên, đề tài đã sử dụng các phương pháp
và thủ pháp sau:
- Phương pháp miêu tả: Phương pháp miêu tả được áp dụng để miêu tả
các cuộc giao tiếp của ba nhân vật vợ chồng Nghị Quế và Bá Kiến trong hai
Trang 18tác phẩm Tắt đèn và Chí Phèo gắn với ngữ cảnh Phương pháp này nhằm làm
nổi bật vai trò của các phương tiện ngôn ngữ trong việc kiến tạo nên các chiến lược giao tiếp Nó cũng giúp làm sáng tỏ một số phương diện ngữ dụng có liên quan đến những phương tiện này như tư xưng hô, hành động nói, lượt lời, phương châm hội thoại, phạm trù thể diện và lịch sự
- Phương pháp phân tích hội thoại: Luận văn sử dụng phương pháp phân tích hội thoại như một phần quan trọng của đề tài Ở một mức độ nhất định, phương pháp này có điểm gần gũi với phương pháp miêu tả ở trên Tuy nhiên, khác với phương pháp miêu tả, phương pháp phân tích hội thoại tập trung vào sự tương tác có tính xã hội của giao tiếp ngôn ngữ trong đời sống hàng ngày Trong luận văn này, dựa trên cơ sở ngữ liệu là các cuộc thoại của ba nhân vật phản diện
trong hai tác phẩm Tắt đèn và Chí Phèo, người viết xác định các phương tiện
giao tiếp mà ba nhân vật thừờng sử dụng, đặc biệt là đặt chúng trong mối quan
hệ với ngữ cảnh xã hội, ngữ cảnh văn hóa và ngữ cảnh tình huống
Khác với giao tiếp đời thường, giao tiếp trong văn học không chỉ dừng ở việc chia sẻ nội dung thông tin hay thực hiện chức năng giao tiếp, mà còn có chức năng phản ánh thế giới nội tâm cũng như mối quan hệ xã hội của nhân vật thông qua những phương tiện ngôn ngữ mang giá trị nghệ thuật Điều này được chúng tôi chú ý khi áp dụng phương pháp phân tích hội thoại để tìm
hiểu chiến lược giao tiếp của ba nhân vật phản diện trong hai tác phẩm Tắt
đèn và Chí Phèo, đồng thời thấy được hiệu quả nghệ thuật của những chiến
lược giao tiếp với việc sử dụng từ xưng hô và sử dụng quy tắc chi phối mối quan hệ liên nhân, phép lịch sự
- Thủ pháp thống kê: Người viết sử dụng thủ pháp thống kê để làm rõ một
số đặc điểm có thể lượng hóa được các chiến lược giao tiếp của nhân vật vợ
chồng Nghị Quế (Tắt đèn – Ngô Tất Tố) và Bá Kiến (Chí Phèo – Nam Cao)
Cụ thể hơn, người viết sẽ thực hiện một vài thống kê có liên quan đến cuộc thoại, lượt lời và các phương tiện ngôn ngữ phục vụ cho chiến lược giao tiếp, qua đó làm rõ vị thế giao tiếp và hiệu quả của các chiến lược giao tiếp mà
Trang 19mỗi nhân vật sử dụng trong từng tình huống giao tiếp cụ thể
- Thủ pháp so sánh: Thủ pháp này được thực hiện nhằm làm rõ nét đặc
trưng của chiến lược giao tiếp của vợ chồng Nghị Quế (Tắt đèn) với Bá Kiến
(Chí Phèo) Việc so sánh có tác dụng làm nổi bật phong cách sử dụng ngôn
ngữ của hai nhà văn Ngô Tất Tố và Nam Cao
- Thủ pháp cải biến: Luận văn sử dụng thủ pháp cải biến quen thuộc là lược
bỏ, thay thế hoặc cải biến đồng nghĩa cú pháp (điều kiện cải biến là phát ngôn được bảo toàn đích ngôn trung và được đánh giá theo tình huống giao tiếp thực tế của nó) Thủ pháp này được dùng trong trường hợp tìm hiểu ở hiệu quả giao tiếp và mức độ lịch sự của hành động nói
6 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Tài liệu tham khảo, nội dung luận văn gồm ba chương:
- Chương 1: Một số vấn đề về lý luận liên quan đến đề tài
- Chương 2: Sử dụng từ xưng hô – chiến lược giao tiếp của một số nhân
vật phản diện trong Tắt đèn (Ngô Tất Tố) và Chí Phèo (Nam Cao)
- Chương 3: Sử dụng phép lịch sự - chiến lược của nhân vật phản diện
trong Tắt đèn (Ngô Tất Tố) và Chí Phèo của (Nam Cao)
CHƯƠNG 1
Trang 20MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN CÓ LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI
1.1 Khái quát chung về giao tiếp
1.1.1 Khái niệm giao tiếp
Trong ngôn ngữ học, giao tiếp được quan tâm khi ngôn ngữ học chuyển sang nghiên cứu mặt sử dụng của ngôn ngữ Cũng từ đó mà giao tiếp có nhiều cách định nghĩa khác nhau tùy vào hệ thống kiến thức chung của từng hướng
nghiên cứu Theo tác giả Diệp Quang Ban: “Giao tiếp được hiểu là quá trình
thông tin diễn ra giữa ít nhất là hai người giao tiếp trao đổi với nhau, gắn với một ngữ cảnh và một tình huống nhất định.”[3; tr.18]
Giao tiếp có thể tiến hành bằng nhiều phương tiện khác nhau, trong đó ngôn
ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất “Giao tiếp bằng ngôn ngữ là việc
thông báo cho nhau, trao đổi với nhau những tin tức nào đó hoặc bộc lộ với nhau những niềm vui, nỗi buồn nào đó bằng phương tiện ngôn ngữ.”[18; tr.9]
Giao tiếp ngôn ngữ luôn luôn bị chi phối bởi các nhân tố giao tiếp: nhân vật giao tiếp, hoàn cảnh giao tiếp, nội dung giao tiếp, mục đích giao tiếp, phương tiện
và cách thức giao tiếp
1.1.2 Các nhân tố tham gia hoạt động giao tiếp
1.1.2.1 Nhân vật giao tiếp
Nhân vật giao tiếp gồm người nói, người viết (người phát tín hiệu) và người nghe, người đọc (người nhận tín hiệu) Một cuộc giao tiếp được diễn ra
ít nhất là giữa hai nhân vật giao tiếp Tuy nhiên, nhân vật giao tiếp không nhất thiết phải là giữa hai người khác nhau mà kể cả trường hợp một người có thể
tự giao tiếp với chính bản thân mình, như khi suy nghĩ, băn khoăn, về một việc gì và tự đưa ra ý kiến của mình và tự biện luận với chính ý kiến của mình
để tìm giải pháp
Nhân vật giao tiếp có vai trò nhất định trong cuộc giao tiếp Cương vị của
họ đối với nhau là cơ sở để xét đến các cách họ nói năng với nhau, có bắt buộc phải theo quy thức hay không theo quy thức
1.1.2.2 Hoàn cảnh giao tiếp
Trang 21Hoàn cảnh giao tiếp có thể được hiểu một cách cụ thể bao gồm các yếu tố không gian, thời gian, xã hội, tâm lí, văn hóa, quan hệ giữa các nhân vật giao tiếp… mà ở đó hoạt động giao tiếp diễn ra Hiểu khái quát thì hoàn cảnh giao tiếp bao gồm từ hoàn cảnh xã hội đến hoàn cảnh tự nhiên, từ hoàn cảnh tâm lí chung của cộng đồng đến bối cảnh lịch sử…
1.1.2.3 Nội dung giao tiếp
Nội dung giao tiếp chính là mảng hiện thực được các nhân vật giao tiếp
đề cập tới trong quá trình giao tiếp Nội dung đó có thể là những sự vật, hiện tượng của tự nhiên, của xã hội (những hiện thực trong thực tế khách quan bên ngoài con người) được người phát nhận thức hay cũng có thể là những hiện thực thuộc về nội tâm con người (như tư tưởng, tình cảm …của người phát) hoặc đó cũng có thể là chính ngôn ngữ Nội dung giao tiếp có thể là thực tế cuộc sống đang diễn ra hàng ngày hoặc cũng có thể là thế giới hoang đường, thần linh, ma quái do người phát tưởng tượng ra
1.1.2.4 Mục đích giao tiếp
Có thể có nhiều mục đích giao tiếp khác nhau tùy thuộc từng hoạt động giao tiếp cụ thể Mục đích giao tiếp được xác định qua những câu hỏi như : Nói (viết) để làm gì? Nhằm mục đích gì? Một cách khái quát, có thể thấy hoạt động giao tiếp nhằm thực hiện một số mục đích sau:
+Mục đích thông tin
+Mục đích bộc lộ tình cảm và quan hệ liên nhân
+Mục đích hành động
1.1.2.5 Phương tiện và cách thức giao tiếp
Con người có thể giao tiếp với nhau bằng nhiều phương tiện nhưng phương tiện quan trọng nhất là ngôn ngữ Song ngôn ngữ cũng có nhiều phong cách khác nhau như: hội thoại, khoa học, hành chính, nghệ thuật…, nhiều vùng miền khác nhau: ngôn ngữ địa phương hay ngôn ngữ toàn dân Cách thức giao tiếp có thể được thực hiện bằng hình thức nói hay viết Các
Trang 22cách thức giao tiếp này đều ảnh hưởng đến việc lựa chọn ngôn ngữ cho phù hợp để tạo nên hiệu quả giao tiếp
1.2 Vai giao tiếp và chiến lược giao tiếp
1.2.1 Khái niệm vai giao tiếp
Tác giả Đỗ Hữu Châu quan niệm trong một cuộc giao tiếp luôn có sự phân vai Ông dùng kí hiệu Sp để chỉ người tham gia vào hội thoại Sp1 là vai người nói, Sp2 là người nghe Cuộc đối thoại thông thường là sự luân chuyển giữa hai vai với nhau (Sp1 < > Sp2).[Dẫn theo 40; tr.10]
Nhìn từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, tác giả Nguyễn Văn Khang cho rằng
để có thể giao tiếp được với nhau, giữa những người tham gia giao tiếp phải
xác định “vai” cho mình dựa trên mối quan hệ qua lại nhất định nào đó Quan
hệ giao tiếp này được xây dựng trên cơ sở hệ thống các mối quan hệ xã hội
chung, trên cơ sở cấu trúc của xã hội đó “Mỗi ngôn ngữ nói chung và trong
một ngôn ngữ nói riêng đều chịu sự chi phối của nhiều nhân tố như truyền thống dân tộc, cấu trúc xã hội, ý thức cộng đồng và tương ứng với khoảng cách về nhân thân cũng như mức độ thân sơ giữa những người giao tiếp.”
[20; tr.201 - 202]
Tạ Thị Thanh Tâm đã đưa ra định nghĩa: “Vai giao tiếp là một thuật ngữ dùng
để biểu thị vị thế xã hội của các nhân vật tham gia hội thoại” [Dẫn theo 40; tr.10]
Như vậy, dù hiểu theo cách nào, vẫn có thể thấy rằng các quan điểm trên đều có sự nhất quán ở chỗ vai giao tiếp được hình thành dựa trên các mối quan
hệ xã hội và con người là“một thực thể đa chức năng” Tùy theo từng hoàn cảnh
nói năng mà một vai cụ thể được thiết lập [Dẫn theo 40; tr.10]
1.2.2 Các phương tiện thể hiện vai giao tiếp
Vai giao tiếp được hình thành từ quan hệ liên nhân và thể hiện thông qua các phương tiện sau:
1.2.2.1 Phương tiện phi ngôn ngữ
Yếu tố phi ngôn ngữ bao gồm: các cử chỉ, điệu bộ, khoảng cách không gian,
tiếp xúc cơ thể, tư thế cơ thể, vẻ mặt, ánh mắt
Trang 23Thông qua phương tiện phi ngôn ngữ mà thái độ, tình cảm của người tham gia giao tiếp được bộc lộ
1.2.2.2 Phương tiện ngôn ngữ
- Yếu tố kèm lời
Trong cuộc thoại, người ta còn sử dụng những yếu tố kèm lời để làm phương tiện biểu thị vai giao tiếp
Những yếu tố kèm lời là những yếu tố như ngữ điệu, trọng âm, cường
độ, độ dài, đỉnh giọng Các yếu tố này được cụ thể hóa bằng một thuật ngữ mang tính chất thông dụng - giọng điệu
- Yếu tố ngôn ngữ
Nếu như yếu tố phi ngôn ngữ và yếu tố kèm lời được coi là những yếu tố phụ lời thì yếu tố ngôn ngữ được coi là hạt nhân của lời nói Vai giao tiếp được bộc lộ chủ yếu qua các nhân tố từ ngữ xưng hô, hành động ngôn ngữ, từ tình thái
1.2.3 Chiến lược giao tiếp
Con người khi sinh ra đã có thể giao tiếp bằng cách đưa ra các kí hiệu hay tiếp xúc nhưng không bằng tri thức, kĩ năng - điều được xem là năng lực giao tiếp Mỗi một cá nhân khi trưởng thành, chín chắn thì năng lực giao tiếp càng trở nên vô cùng cần thiết Khả năng giao tiếp một cách hiệu quả, thích hợp phải được rèn luyện thông qua nói, nghe, đọc, viết cùng với các thành viên khác trong xã hội Giao tiếp như thế nào cho thực sự hiệu quả liên quan tới nhiều yếu tố, mà những yếu tố này chỉ được hoàn thiện cùng với quá trình lớn lên của cá nhân Mỗi người tích luỹ kinh nghiệm từ cuộc sống hàng ngày, mài giũa kỹ năng giao tiếp qua các mối quan hệ, tương tác trong xã hội
Theo quan điểm của các nhà nhân loại học, năng lực giao tiếp phải bao gồm ít nhất ba yếu tố chính: kiến thức ngôn ngữ, kỹ năng tương tác và hiểu biết về văn hoá Những yếu tố này giúp người nói biết cách chọn mã ngôn ngữ một cách phù hợp trong các trường hợp giao tiếp cụ thể, hay nói cách khác là những chiến lược giao tiếp cụ thể trong những tình huống mang tính
xã hội khác nhau để đạt tới một mục đích giao tiếp nhất định
Trang 24Trong cuốn “Dictionary of language teaching & applied linguistics”,
“chiến lược” được định nghĩa là “một cách thức để đạt tới một cái đích nhất định” (a way of reaching a goal) Cụ thể hơn, “chiến lược giao tiếp được hiểu như một kế hoạch cụ thể cho một mục đích giao tiếp nhất định trong một trường hợp giao tiếp nhất định, được thực hiện thông qua việc lựa chọn những phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ.” [33; tr.23]
Theo tác giả Nguyễn Thiện Giáp, “chiến lược giao tiếp là phương châm
và các biện pháp sử dụng các hành vi ngôn ngữ trong giao tiếp nhằm giữ thể diện và tránh đe dọa thể diện của người tham gia giao tiếp.” [11; tr.34]
Có thể thấy rằng, chiến lược giao tiếp bao gồm chiến lược giao tiếp bằng các phương tiện ngôn ngữ và phi ngôn ngữ Hai chiến lược giao tiếp này được phân biệt rạch ròi với nhau Trong phạm vi của luận văn, chúng tôi chỉ đi vào khảo sát chiến lược giao tiếp được thể hiện qua việc sử dụng từ xưng hô và sử dụng quy tắc mối quan hệ liên nhân, phép lịch sự
1.2.4 Mối quan hệ giữa vai giao tiếp và chiến lược giao tiếp
Để thể hiện đích giao tiếp, người nói có thể lựa chọn những cách thức diễn đạt khác nhau: nói vòng vo hay thẳng vấn đề Tuy nhiên, không phải mọi chuyện đều có thể gây khó khăn cho người tiếp nhận Hoặc có thể làm cho hiệu quả cuộc giao tiếp thấp Để cuộc giao tiếp diễn ra thuận lợi, đạt hiệu quả, các nhân vật đối thoại thường lựa chọn cho mình những chiến lược giao tiếp
thích hợp với tình huống cụ thể Chiến lược giao tiếp mang dấu ấn cá nhân
của từng người Mỗi người giao tiếp có ý thức cố gắng thực hiện phép lịch sự,
cố gắng làm giảm tính đe dọa thể diện của người nghe Theo đó việc sử dụng ngôn từ ít nhiều mang tính nghệ thuật Thứ nghệ thuật này đã được các nhà nghiên cứu chuyên môn nâng lên thành chiến lược giao tiếp
Bất cứ một cuộc thoại nào cũng có mục đích Khi tham gia giao tiếp, người nói và người nghe đều phải hướng vào mục đích của mình Tổ chức sắp xếp từ ngữ ra sao cho phù hợp để tránh đe dọa thể diện của đối tượng giao tiếp Việc làm này chính là thực hiện chiến lược giao tiếp
Trang 25Nhân vật tham gia giao tiếp tùy thuộc vào quan hệ vai của mình như thế nào sẽ lựa chọn cho mình một chiến lược giao tiếp cụ thể Do đó, có thể nói vai giao tiếp có quan hệ chặt chẽ với chiến lược giao tiếp Đây là mối quan hệ thuận chiều, con người ở trong vai giao tiếp nào thì sẽ lựa chọn cho mình một chiến lược giao tiếp phù hợp với vị thế giao tiếp của mình
Chẳng hạn trong mối quan hệ gần gũi, thân cận như: anh, chị - em; bạn bè người ta thường chọn cách nói năng thoải mái, nhưng khi có sự chênh lệch lớn về tuổi tác cũng như địa vị xã hội thì cách nói năng lịch sự lại là sự lựa chọn hàng đầu.[Dẫn theo 40; tr.12 - 13]
1.3 Lý thuyết hội thoại
Hội thoại là hình thức giao tiếp phổ biến nhất và cũng là hình thức cơ sở của mọi hoạt động ngôn ngữ khác Các hình thức hành chức khác của ngôn ngữ đều được giải thích dựa vào hình thức căn bản này Đối với ngôn ngữ học, hội thoại dù được nghiên cứu muộn hơn nhưng từ khi xuất hiện, hội thoại luôn được chú ý nhiều và được nghiên cứu phổ biến nhiều nơi Hình thức giao tiếp thông dụng và giản đơn này thực ra chứa đựng nhiều vấn đề thú vị
Lý thuyết hội thoại là một phạm trù ngôn ngữ khá rộng Liên quan đến đề tài luận văn, người viết chỉ trình bày một số nội dung sau:
1.3.1 Quy tắc luân phiên lượt lời
Do bản chất tuyến tính nên sự giao tiếp bằng lời đòi hỏi phải giảm thiểu đến mức thấp nhất sự dẫm đạp lên lượt lời của nhau Nghĩa là, các lời thoại của các bên tham gia hội thoại phải diễn ra suôn sẻ, có trình tự, không chồng
lấn lên nhau Đó chính là các nguyên tắc điều hành luân phiên lượt lời Quy
tắc này có một số đặc điểm sau:
- Các thoại nhân lần lượt, luân phiên đổi vai nhau (vai nói và vai nghe) trong một cuộc thoại Việc mỗi thoại nhân giữ lượt lời của mình ít hay nhiều thời gian tùy theo hoàn cảnh diễn ra cuộc thoại, như cuộc trò chuyện, tán gẫu giữa bạn bè khác với các cuộc phỏng vấn, cuộc tọa đàm; hoàn cảnh không quy thức khác với hoàn cảnh quy thức
Trang 26- Người nói cần đưa ra dấu hiệu cho biết lượt lời của mình sắp kết thúc
để báo cho thoại nhân khác cơ hội nhận lượt lời
- Thông thường, chỉ một thoại nhân được nói Tuy nhiên, cũng có trường hợp tại một thời điểm mà có hơn một thoại nhân cùng nói Tình trạng này, các nhà chuyên môn gọi là “hiện tượng gối đầu” nhưng quãng “gối đầu” này thường không mấy khi kéo dài (hiện tượng này xảy ra nhiều hơn khi cãi vã, át lời của nhau)
- Điểm ngừng cho việc chuyển từ thoại nhân này sang thoại nhân khác thường không dài
- Trật tự phát lời của các thoại nhân nhìn chung thường không ổn định, hay thay đổi Vì vậy, cần có biện pháp để phân phối và điều chỉnh trật tự này (kiểu như các cuộc họp, cuộc hội thảo hay tọa đàm thường có người chủ tọa điều khiển; trong lớp học khi có hơn một học sinh đưa tay xin phát biểu )
1.3.2 Quy tắc điều hành nội dung của hội thoại
Theo tác giả Đỗ Hữu Châu [5; tr.228] nội dung của một cuộc hội thoại được phân phối thành nội dung của các lượt lời Nội dung cuộc hội thoại không chỉ gồm nội dung miêu tả, nội dung thông tin mà còn gồm nội dung liên nhân, nội dung ngữ dụng cho nên các quy tắc điều hành nội dung của hội thoại điều hành cả nội dung miêu tả và nội dung liên nhân, ngữ dụng của nó Trong bất cứ lời nói nào, lượt lời nào cũng có nghĩa tường minh, nghĩa được nói ra trực tiếp theo câu chữ và những nghĩa hàm ẩn, không được nói ra trực tiếp, chỉ được suy ra từ nghĩa trực tiếp Quy tắc điều hành nội dung hội thoại do đó phải điều hành không chỉ nghĩa trực tiếp theo câu chữ mà còn điều hành cả nghĩa hàm ẩn
Cũng theo tác giả Đỗ Hữu Châu [5; tr.229] thuộc các quy tắc điều hành nội dung của hội thoại là hai nguyên tác cộng tác hội thoại và nguyên tắc quan yếu Trong luận văn này, chúng tôi chỉ xin đề cập tới nguyên tắc cộng tác hội thoại
Trang 271.3.3 Nguyên tắc cộng tác hội thoại
Nguyên tắc cộng tác hội thoại là những nguyên tắc cần được tuân thủ để tiến hành cuộc thoại có kết quả mong muốn Theo nguyên tắc này, các bên tham gia hội thoại thông thường sẽ phải cố gắng hợp tác với nhau, tìm đến điểm chung trong ý định và cách hiểu để thiết lập được sự đồng thuận về mặt nghĩa Thông thường, hai bên tham gia hội thoại có quan điểm khác nhau vẫn
có thể tìm được tiếng nói chung trong hội thoại, khi hai bên có được điểm chung trong ý định và cách hiểu nội dung sự việc được bàn đến
Nguyên tắc cộng tác hội thoại do Paul Grice đề xướng vào 1967, được
phát biểu tổng quát như sau: Hãy làm cho phần đóng góp của bạn đúng như
nó được đòi hỏi, đúng vào giai đoạn nó xuất hiện, bởi cái mục đích hoặc cái phương hướng đã được chấp nhận của lần trao đổi bằng lời mà các bạn được tham dự [Dẫn theo 42; tr.66]
Nguyên tắc này gồm 4 phạm trù: phạm trù lượng, phạm trù chất, phạm trù quan hệ , phạm trù cách thức Mỗi phạm trù ứng với một nguyên tắc mà Grice gọi là phương châm: phương châm về lượng, phương châm về chất, phương châm quan hệ, phương châm cách thức
1.3.4 Phép lịch sự
Để giao tiếp thành công, ngoài việc thực hiện nguyên tắc cộng tác, người tham gia giao tiếp còn phải đảm bảo sử dụng quy tắc chi phối quan hệ liên nhân – phép lịch sự
Chúng tôi nhận thấy, đã có khá nhiều lí thuyết được đưa ra chung quanh
thuật ngữ “lịch sự” Lakoff cho rằng: “Có thể định nghĩa lịch sự như là một
phương thức để giảm thiểu sự xung đột trong diễn ngôn( ) Những chiến lược lịch sự có nhiệm vụ đặc biệt là làm cho cuộc tương tác được thuận lợi”
[Dẫn theo 33; tr.37 - 38]
Quan điểm của Brown và Levinson cho rằng lịch sự là một chiến lược nhằm sửa đổi, giảm thiểu mức độ “mất thể diện” đã hoặc sẽ xảy ra trong hoạt động giao tiếp của con người Hay nói khác đi, phép lịch sự đòi hỏi khi tham
Trang 28gia giao tiếp phải hướng tới việc tôn trọng thể diện của cả người nói và người nghe Thể diện là “cái hình ảnh của ta trước công chúng (the public self - image) của một con người” Theo định nghĩa này thì thể diện không nằm trong bản thân một cá nhân nào, mà nó chỉ xuất hiện trong quá trình tương tác
xã hội Điều này đòi hỏi người tham gia giao tiếp, bên cạnh việc bảo vệ thể diện của mình, còn cần chú ý ứng xử sao cho không làm tổn hại đến thể diện của người khác Thể diện liên quan mật thiết với vị thế xã hội Vị thế xã hội càng cao thì phạm vi hoạt động của thể diện càng lớn Điều này có nghĩa là cùng một cách nói nhưng có thể làm tổn hại thể diện của mỗi người ở mức độ khác nhau Vì vậy khi giao tiếp, mỗi cá nhân đều cần giữ thể diện hoặc tránh không làm phương hại đến thể diện của người khác và điều này được thực
hiện thông qua các chiến lược lịch sự Chiến lược lịch sự được hiểu là những
phương thức, những ý định sử dụng ngôn ngữ sao cho đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất Chiến lược lịch sự là những giải pháp sử dụng hành động ngôn ngữ của người nói nhằm gìn giữ thể diện, bảo toàn thể diện cho mình cũng như người cùng tham gia giao tiếp [7; tr.271 - 274]
Các chiến lược lịch sự chịu sự chi phối của ba nhân tố: quyền lực tương đối của người nghe đối với người nói, khoảng cách xã hội giữa họ, mức độ áp đặt của việc thực hiện hành động đe dọa thể diện Dựa theo mức độ đe dọa thể diện, Brown và Levinson phân loại các chiến lược lịch sự thành các nhóm chính gọi là siêu chiến lược: lịch sự dương tính, lịch sự âm tính, nói gián tiếp (nói kín) và không thực hiện hành động đe dọa thể diện, nói trắng, cụ thể:
- Dùng chiến lược lịch sự dương tính thông qua việc rút ngắn khoảng cách xã hội giữa họ qua các hành động ngôn ngữ như bày tỏ sự chú ý, tán dương, đồng tình, cảm thông, gia tăng sự quan tâm, xưng hô thân mật, mời mọc, tỏ vẻ lạc quan
- Dùng chiến lược lịch sự âm tính bằng cách tôn trọng lãnh địa riêng của đối ngôn bằng cách nói kín, dùng biện pháp xoa dịu hay mềm hóa làm giảm hiệu lực đe dọa thể diện của người nghe
Trang 29- Dùng chiến lược nói kín có thể được sử dụng để tránh không bị quy kết trách nhiệm khi thực hiện hành động đe dọa thể diện Người nói có thể dùng chiến lược nói kín và để cho đối ngôn tự diễn giải hành động đó Chiến lược này được thực hiện qua hành động gợi ý, nói bóng gió, nói giảm, nói quá, nói lửng lơ, mơ hồ
- Dùng chiến lược nói trắng là chiến lược có thể gây phương hại đến thể diện của người khác, được thể hiện chủ yếu ở những hành động ngôn ngữ trực tiếp Chiến lược này cho thấy năng lực giao tiếp không chỉ đơn thuần thể hiện
ở kĩ năng, chiến lược tạo lập, duy trì quan hệ liên nhân hài hòa mà còn thể hiện ở bản lĩnh tự vệ và bảo vệ người khác khi gặp đối phương quá hung hăng, ngang ngược trong giao tiếp liên nhân Có những trường hợp buộc phải
hy sinh nguyên tắc giữ thể diện của người này để giữ gìn thể diện của người khác Bản lĩnh giao tiếp của một người là biết dùng những lời lẽ cứng rắn, kiên quyết để chế ngự hành động ngôn ngữ của đối phương mà vẫn không hạ thấp mình qua hành động ngôn ngữ của đối phương
Trong những tương tác xã hội hàng ngày, mọi người luôn mong muốn
hình - ảnh - ta trước công chúng hay nhu cầu thể diện của họ được tôn trọng
Khi người nói nói điều gì đó tỏ ra có sự đe doạ những mong muốn về hình
-ảnh- ta của người khác thì hành động đó được coi là hành động đe doạ thể
diện Còn trong trường hợp bắt buộc phải gây nên một hành động nào đó đe doạ tới thể diện của người khác, người nói dùng cách nói một điều gì đó để giảm nhẹ sự đe doạ có thể xảy ra đó thì hành động này được coi là hành động giữ thể diện
Từ các khía cạnh của thể diện, ta cần phân biệt rõ thêm lịch sự dương tính
và lịch sự âm tính Theo tác giả Đỗ Hữu Châu, “Phép lịch sự âm tính hướng
vào thể diện âm tính, vào lãnh địa của đối tác Phép lịch sự dương tính hướng vào thể diện dương tính của người tiếp nhận” [6; tr.34]
Phép lịch sự âm tính có tính lảng tránh có nghĩa là tránh không dùng hành động đe doạ thể diện, hoặc có tính bù đắp, có nghĩa là bù đắp lại những tổn
Trang 30hại về thể diện khi không thể tránh mà bắt buộc phải thực hiện một hành động
đe doạ thể diện nào đó
Phép lịch sự dương tính thực hiện những hành động tôn vinh thể diện người nhận, tỏ ra quan tâm đến người này
1.4 Xưng hô trong giao tiếp
1.4.1 Khái niệm xưng hô
Để cuộc thoại có thể tiến hành, đầu tiên chủ thể giao tiếp phải tìm cách đưa mình và đối tượng vào diễn ngôn bằng cách lựa chọn những từ xưng hô thích hợp Do đó, trong một cuộc thoại đầy đủ và đảm bảo tính lịch sự thì xưng hô có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc thiết lập quan hệ liên nhân
và xác định thái độ, tình cảm giữa các vai giao tiếp Khái niệm phạm trù
“xưng hô” cũng được hiểu và lý giải theo nhiều cách khác nhau
Diệp Quang Ban cho rằng: “Đại từ xưng hô dùng thay thế và biểu thị các
đối tượng tham gia quá trình giao tiếp” [4; tr.111] Theo tác giả thì đối tượng
tham gia quá trình giao tiếp (người, vật) được chỉ ra một cách chung nhất ở cương vị ngôi (đại từ xưng hô dùng ở một ngôi xác định: ngôi 1, ngôi 2, ngôi
3 và đại từ xưng hô dùng ở nhiều ngôi linh hoạt)
Theo tác giả Bùi Minh Yến “Khái niệm xưng hô được ý thức như là một
hành vi ngôn ngữ có chức năng xác lập vị thế xã hội của những người tham gia giao tiếp và tương quan tâm thế giữa họ với nhau trong quá trình giao tiếp Khi thực hiện chức năng này, hành vi ngôn ngữ xưng hô đồng thời đảm nhận nhiệm
vụ khởi sự tạo sự tương tác ngôn ngữ cho cuộc thoại, điều chỉnh cuộc thoại theo đích đã định, bảo đảm hiệu lực hành vi” [44; tr.17]
Đồng tình với quan điểm của Đỗ Hữu Châu, Phạm Ngọc Thưởng đã cắt nghĩa và xác định vai trò của từng yếu tố như sau:
- “Xưng” là hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa mình
vào trong lời nói, để người nghe biết rằng mình đang nói và mình chịu trách nhiệm về lời nói của mình Đó là hành động tự quy chiếu của người nói (ngôi 1)
[41; tr.12]
Trang 31- “Hô” là hành động người nói dùng một biểu thức ngôn ngữ để đưa người nghe
vào trong lời nói (ngôi 2) [41; tr.12]
Trong hoạt động giao tiếp, các vai giao tiếp phải trực tiếp giao thiệp với nhau bằng lời, trong đó các phương tiện xưng hô sẽ được sử dụng Do đó, những nhân vật, những đối tượng không trực tiếp tham gia vào hoạt động giao tiếp trong cuộc thoại sẽ không được chú ý, không phải là đối tượng khảo sát của luận văn
Bằng cách lựa chọn từ “xưng” và “hô” mà chủ thể giao tiếp đã định ra cho đối tượng giao tiếp và chính bản thân mình một khung quan hệ liên nhân Và để thay đổi khung giao tiếp này, người giao tiếp phải dùng từ xưng hô để thương lượng dưới sự hợp tác của đối tượng tham gia giao tiếp
Các nhà nghiên cứu chỉ ra các yếu tố chi phối từ xưng hô bao gồm:
- Xưng hô phải thể hiện vai giao tiếp Dựa vào việc dùng từ xưng hô mà người nghe biết được người nói đặt mình trong quan hệ và vị thế xã hội như thế nào
- Xưng hô phải thể hiện được quan hệ quyền uy Đó cũng là cách xưng hô thể hiện được sự tôn trọng đối với vai có địa vị cao hơn mình hoặc thể hiện vai trò, ảnh hưởng đối với vai thấp hơn mình trong giao tiếp
- Xưng hô phải thể hiện quan hệ thân cận Chủ yếu cách xưng hô này thể hiện trong giao tiếp gia đình hay những giao tiếp ngoài xã hội đã được “thương lượng” dùng những từ xưng hô mang xu hướng “gia đình hoá”
- Xưng hô phải phù hợp với ngữ vực Mỗi một từ xưng hô nếu có một ngữ điệu thể hiện cho phù hợp sẽ làm tăng hiệu lực giao tiếp
- Xưng hô phải thích hợp với thoại trường Yêu cầu này cho thấy, cùng một từ xưng hô nhưng ở trong những hoàn cảnh khác nhau lại mang nghĩa khác nhau Do đó, từ xưng hô cũng phải biến đổi linh hoạt cho thích nghi với hoàn cảnh giao tiếp
- Xưng hô phải thể hiện được tình cảm của người nói đối với người nghe Trong giao tiếp, người nói thường hướng người đối thoại vào hai thái độ: lịch sự/ không lịch sự mà từ đó lựa chọn từ xưng hô tương ứng
Trang 32Do xưng hô là một hành động ngôn ngữ nên tuỳ theo sự biến động của sáu nhân tố trong ngữ cảnh cụ thể mà các đối tượng tham gia giao tiếp sẽ lựa chọn những từ xưng hô để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất
Xưng hô không phải là yếu tố cố định, bất biến mà có sự thay đổi theo lịch sử, theo diễn biến của cuộc giao tiếp
Tóm lại, xưng hô là một hành động ngôn ngữ mà ở đó các nhân vật giao tiếp dùng biểu thức quy chiếu để đưa mình và người đối thoại vào trong lời nói
1.4.2 Các phương tiện dùng để xưng hô
1.4.2.1 Đại từ nhân xưng
Trong xưng hô, đại từ nhân xưng đều có mặt trong tất cả các ngôn ngữ trên
thế giới Theo Phạm Ngọc Thưởng thì “những đại từ nào chỉ rõ vai nhân vật
tham gia trực tiếp vào hành vi xưng hô mới được coi là những đại từ xưng hô thực thụ.” [41; tr.45] Để phân biệt ranh giới giữa xưng hô và đại từ, Benveniste
gọi ngôi thứ nhất và ngôi thứ hai là các đại - nhân vật (pro - personne) và ngôi thứ ba là đại - danh từ (pro - nom) Do đó, trong tiếng Việt, những đại từ chỉ ngôi thứ nhất (tôi, tao, tớ, ) và đại từ chỉ ngôi thứ hai (mày, mi, ) mới được coi là đại từ xưng hô thực thụ
Hệ thống đại từ nhân xưng trong tiếng Việt rất hạn chế về số lượng.Điểm
đặc biệt nữa là do “ý nghĩa liên cá nhân và ý nghĩa biểu cảm trong các đại từ
xưng hô của tiếng Việt quá đậm nên chúng chỉ được dùng trong ngữ vực thân tình với thái độ từ thân mật đến suồng sã hoặc khinh rẻ” [6; tr.76]
Trong hệ thống từ xưng hô tiếng Việt, đáng chú ý là sự xuất hiện của từ xưng hô chuyên ngôi và kiêm ngôi Những từ chuyên ngôi là những từ chỉ được
dùng cho một ngôi nhất định (ví dụ: tôi, tao, mày, tớ, …) Từ kiêm ngôi là những
từ được dùng ở nhiều ngôi (ví dụ: mình, …) Tuỳ từng ngữ cảnh cụ thể mà các
phương tiện được dùng để xưng hô sẽ đảm nhiệm các ngôi khác nhau
Cũng như một số ngôn ngữ khác trên thế giới, trong tiếng Việt còn có đại
từ xưng hô ngôi thứ nhất số nhiều bao gộp và không bao gộp Đại từ xưng hô ngôi thứ nhất số nhiều bao gộp là đại từ chỉ một nhóm người (cả người nói và
Trang 33người nghe) cùng hướng tới một hành vi (chúng ta, ) Đại từ xưng hô ngôi
thứ nhất số nhiều không bao gộp là đại từ chỉ một nhóm người hướng tới một
hành vi nhưng không bao gồm cả người nghe (chúng tao, chúng tôi, )
1.4.2.2 Danh từ thân tộc
Trong gia tộc, cơ sở để gắn kết mọi người là dựa trên quan hệ về mặt huyết thống trực tiếp hay gián tiếp của các thành viên Do đó xưng hô trong gia tộc không chỉ với mục đích xưng hô mà còn thực hiện chức năng miêu tả Theo đó, Đỗ Hữu Châu đã chia các danh từ thân tộc thành ba nhóm:
- Nhóm 1: u, bầm, bủ, cha, má, (dùng để xưng hô)
- Nhóm 2: anh, chị, em, chú, bác, (dùng để xưng hô và để miêu tả
sử dụng nhiều ở ba sắc thái biểu cảm: lịch sự (khi các nhân vật giao tiếp “làm quen” với nhau, ), trung hoà, vừa phải (lúc này danh từ thân tộc chủ yếu dùng với chức danh miêu tả), thân mật, suồng sã (khi các nhân vật đã có mối quan hệ thân thiết hoặc phục vụ chiến lược giao tiếp cá nhân) Cũng có khi danh từ thân tộc kèm theo ngữ điệu lời nói được dùng ở sắc thái thô tục, khinh thường, mỉa mai,
Ví dụ: (em gái nói với chị)
- Bà chị hôm nay ở nhà học bài cơ đấy!
Sự kết hợp giữa hai danh từ thân tộc bà + chị, kèm theo ngữ cảnh và ngữ điệu
mà phát ngôn trên mang sắc thái mỉa mai, châm chọc,
Danh từ thân tộc làm phương tiện xưng hô không chỉ được sử dụng trong gia đình mà còn được sử dụng một cách rộng rãi và chiếm ưu thế trong các mối quan
hệ xã hội, giới nghiên cứu gọi đó là xu hướng “gia đình hoá” các danh từ thân tộc trong xưng hô
Trang 34Phát ngôn trên cho thấy đối tượng mà nó nhắc đến bao gồm những thông tin sau: giới tính (nam giới), nghề nghiệp (bộ đội – có thể căn cứ vào bộ quân phục) Ngược lại, lớp từ chỉ chức vị lại có thể đứng độc lập để xưng hô mà không cần yếu tố đi kèm nào Điều đặc biệt là lớp từ chỉ chức vị thường chỉ được dùng ở một phía, khi người có chức vị thấp dùng để “hô” với người có chức vị cao hơn mình, ví dụ:
1.4.2.4.Tên riêng
Thông thường một cấu trúc đầy đủ về tên của người Việt bao gồm ba yếu
tố: họ + tên đệm (lót) + tên riêng Tuy nhiên, vì “vai trò của tên lót không có
tính bắt buộc nên nhiều khi có thể vắng mặt” [5; tr.94] Chúng ta bắt gặp
nhiều tên như: Nguyễn Huyền, Nguyễn Duy, Đỗ Thái, Việc sử dụng họ và tên riêng trong xưng hô ở tiếng Việt cũng có nhiều điều đáng lưu ý Trong tiếng Việt, cả ba yếu tố (họ + tên đệm + tên riêng) đều có thể đứng độc lập làm từ xưng hô Tuy nhiên, mức độ sử dụng của chúng cũng khác nhau:
- Dùng họ để xưng hô chủ yếu phổ biến trong xã hội phong kiến Hiện nay cách xưng hô này chỉ tồn tại trong giao tiếp của người nước ngoài ở Việt Nam
- Yếu tố đệm thường chỉ mang tính chất “trang trí” hay phân biệt giữa những người trùng họ, trùng tên nhưng khác tên đệm Cách gọi “tên đệm + tên riêng” thường dùng chủ yếu trong môi trường giáo dục giúp phân biệt đối
Trang 35tượng học sinh Ví dụ: (Trong giờ học thể dục, giáo viên gọi học sinh lên thực hành): Viết Nam lên đẩy tạ, Xuân Nam chuẩn bị!
- Việc dùng tên riêng để xưng hô khá phổ biến trong giao tiếp của người Việt, nó phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: mối quan hệ giữa các cá nhân, hoàn cảnh giao tiếp, Xưng hô bằng tên riêng giúp tạo sự thân mật và đạt hiệu quả giao tiếp cao Tuy nhiên, trong hoàn cảnh giao tiếp có tính quy thức
và đối với những người có vị thế xã hội cao hơn mình hay căn cứ vào “chức
vị trong gia đình mà chủ thể giao tiếp thường có sự kết hợp “danh từ thân tộc, danh từ chỉ quan hệ xã hội + tên riêng” Ví dụ: cậu Hùng, cô Vân, ; đồng chí Hoa, bạn Hằng, ; bố thằng Tuấn, mẹ Vân,
1.4.2.5 Kiểu loại xưng hô khác
Ngoài các nhóm chính, trong tiếng Việt còn sử dụng một số kiểu loại xưng hô khác lâm thời làm phương tiện xưng hô Tính lâm thời thể hiện ở nhóm này khá rõ nét, nếu tách các yếu tố này khỏi ngôn cảnh thì ta khó xác định được vai trò của yếu tố đó (nhất là đối với các cụm từ lâm thời làm phương tiện xưng hô)
Theo nghiên cứu của chúng tôi, để cho giao tiếp phát triển và tạo sự hứng thú đối với đối phương, ngoài bốn nhóm đóng vai trò là từ xưng hô chủ yếu thì chủ thể giao tiếp còn sử dụng rộng rãi các nhóm từ sau:
- Các danh từ chỉ nơi chốn: đây, ấy, đó, đằng ấy, đằng này,
- Các danh từ chỉ quan hệ xã hội: bạn, đồng chí, đồng niên,
- Một số động từ, tính từ chuyển hoá như: cưng, nhỏ, bé, mập, móm,
sứt, bồi,
- Cụm từ (chủ yếu tồn tại trong cách “hô” và trong ngữ cảnh cụ thể, ít lặp
lại trong một cuộc thoại): đồ quỷ tha ma bắt, đồ điên, người yêu, con cún bé nhỏ
Trang 36động như thế nào bằng lời nói) và được một nhà Triết học khác là J.Searle phát triển Hai ông đã xác nhận rằng khi sử dụng ngôn ngữ, chúng ta không chỉ tạo ra những phát ngôn có chứa mệnh đề về những đối tượng, thực thể, sự kiện… mà còn thực hiện những chức năng như: yêu cầu, phủ nhận, cảm ơn, xin lỗi, đảm bảo… Chúng ta có thể nhận dạng ra hành động ngôn ngữ do một phát ngôn nào
đó thực hiện khi biết được ngữ cảnh mà phát ngôn đó diễn ra Hành động ngôn ngữ chính là ý định về mặt chức năng của mỗi phát ngôn
Hiểu một cách thông thường, hành động ngôn ngữ (hành động nói) là
“một hành động được thực hiện trong việc nói ra một cái gì đó, như tạo một lời hứa, nêu một câu hỏi, đặt một cái tên” [3; tr.89]
1.5.2 Các hành động ngôn ngữ
Khi chúng ta nói năng là khi chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt bằng phương tiện là ngôn ngữ Một hành động ngôn ngữ được thực hiện khi SP1 dùng các hành động ngôn ngữ: hành động tạo lời (Locutionary Act); hành động mượn lời (Illocutionary Act); hành động ở lời (Perlocutionary Act)
1.5.3 Phân loại hành động ngôn ngữ
Searle đã dùng bốn tiêu chí: đích ở lời; hướng khớp ghép lời với hiện thực
mà lời đề cập đến; trạng thái tâm lý được thể hiện; nội dung mệnh lệnh để phân biệt năm phạm trù hành động ở lời khác nhau:
Các nhóm hành động trên có thể được sử dụng trực tiếp hoặc gián tiếp
- Hành động ngôn ngữ trực tiếp: Là những hành động ngôn ngữ được thể hiện đúng với đích ở lời, đúng với điều kiện sử dụng của chúng
- Hành động ngôn ngữ gián tiếp: Khi người nói sử dụng hành động ngôn ngữ này nhưng lại nhằm đến đích ở lời của hành động ngôn ngữ khác, hành
Trang 37động đó gọi là hành động ngôn ngữ gián tiếp Các hành động ngôn ngữ gián tiếp là một trong những phương thức tạo ra tính mơ hồ về nghĩa trong lời nói Những hành động ngôn ngữ của các nhân vật phản diện trong phạm vi luận văn nghiên cứu sẽ được thống kê và phân tích cụ thể ở chương 3
1.6 Ngữ cảnh
Ngữ cảnh là một khái niệm bao gồm các thành tố như các nhân vật giao tiếp cùng với những đặc điểm lứa tuổi, giới tình, sắc tộc…, bối cảnh không gian và thời gian, và đôi khi cả văn cảnh (các biểu thức ngôn ngữ nằm trước hay sau biểu thức ngôn ngữ đang xét) Hymes (1967) đề ra mô hình ngữ cảnh Speaking, gồm các kí tự đầu tiên của các từ chỉ yếu tố cấu thành mô hình: khung cảnh và không khí giao tiếp (setting and scene), người tham gia giao tiếp (participants), mục tiêu giao tiếp hay ý định của người nói (ends), diễn biến (acts sequence), giọng điệu(key), phong cách (instrumentalities), qui tắc ngôn giao (norms), thể
loại, loại hành động ngôn từ (genre) [Dẫn theo 33; tr.22]
Halliday (1998) định nghĩa ngữ cảnh theo ba thành tố: trường diễn ngôn (field), chủ thể giao tiếp (tenor) và phương thức (mode) Trường diễn ngôn chỉ lĩnh vực được nói đến, ví dụ như bàn về một chủ đề hay đề tài cụ thể nào đó Chủ thể chỉ người tham gia vào cuộc giao tiếp Phương thức chỉ cách thức ngôn ngữ được sử dụng Nhưng ngữ cảnh ở đây chỉ là ngữ cảnh tình huống (context of situation) Halliday còn nói đến khái niệm rộng hơn, đó là ngữ cảnh văn hóa (context of culture) bao gồm các mối quan hệ xã hội, niềm tin, tập quán, ý thức hệ,… chi phối hoạt động giao tiếp
Theo nhận xét của Jones (2012), những quan niệm về ngữ cảnh đã nêu ở trên thường bỏ qua một đặc điểm quan trọng của ngữ cảnh, đó là tính năng động Trong khi tìm cách định nghĩa các phương diện khác nhau của ngữ cảnh người ta dễ ngộ nhận khi cho rằng ngữ cảnh là cố định, có thể xác định trước, chứ không phải là kết quả của quá trình thương lượng qua tương tác Nguyễn Hòa (2008) cũng nêu rõ “ngữ cảnh luôn thay đổi và được tái tạo ra
trong quá trình giao tiếp” [Dẫn theo 33; tr.22]
Trang 38Tóm lại, ngữ cảnh giao tiếp trong tương tác xã hội không phải là một khái niệm tĩnh tại mà là một hình thức năng động gắn với thế giới tri nhận, phản ánh quá trình chuyển biến tâm lí ở người tham gia hội thoại qua đó ta thấy được những đổi thay trong niềm tin, ý định của họ khi tương tác
1.7 Vài nét về nhân vật phản diện trong văn học hiện thực phê phán Việt Nam
Nhân vật văn học là con người được nhà văn miêu tả trong tác phẩm bằng phương tiện văn học Xét về phương diện hệ tư tưởng, về quan hệ đối với lí tưởng, các nhân vật lại có thể chia ra làm nhân vật chính diện và phản diện
Sự phân biệt nhân vật chính diện và phản diện gắn liền với những mâu thuẫn đối kháng trong đời sống xã hội, hình thành trên cơ sở đối lập giai cấp và quan điểm tư tưởng Nếu nhân vật chính diện là nhân vật đại diện cho lực
lượng chính nghĩa trong xã hội, cho cái thiện, cái tiến bộ thì ”nhân vật phản
diện là đại diện cho lực lượng phi nghĩa, cho cái ác, cái lạc hậu, phản động, nhân vật tiêu cực, cần bị lên án.” [28; tr.286]
Đầu thế kỉ XX, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, biến xã hội Việt Nam trở thành thực dân nửa phong kiến Chúng cấu kết với địa chủ phong kiến đàn áp nhân dân ta về quân sự, chuyên chế về chính trị, bóc lột về kinh tế
và đầu độc về văn hoá Những thay đổi đó ngày càng làm cho mâu thuẫn giai cấp và mâu thuẫn dân tộc trở nên gay gắt Giai cấp địa chủ phong kiến và giai cấp nông dân có sự mâu thuẫn đối kháng với nhau Sở dĩ như vậy là vì giai cấp địa chủ phong kiến từ địa vị thống trị dân tộc, đã trở thành tay sai cho đế quốc, phản lại dân tộc Trong khi đó, giai cấp nông dân Việt Nam chiếm đa số trong dân cư Họ chịu ba tầng áp bức, bị phá sản hàng loạt nhưng không có lối thoát, bị đẩy vào bước đường cùng bế tắc
Văn học là người thư kí trung thành của thời đại, chính vì thế, các nhà văn một mặt đã tạo nên những điển hình người nông dân nghèo khổ, bị bần cùng hóa, bị tước đoạt cả đời sống vật chất và tinh thần, mặt khác xây dựng thành công những điển hình của tầng lớp địa chủ, cường hào ác bá ở nông thôn như
Trang 39một đối cực để khẳng định giá trị Hiện thực – Phê phán của các tác phẩm văn học giai đoạn 1930 -1945
Văn học luôn phản ánh cuộc sống một cách toàn vẹn và sinh động nhất
Vì vậy, văn học có khả năng vươn tới sự khái quát, nắm bắt sự vận động bên trong của đời sống hiện thực Để phản ánh hiện thực đó, văn học hình thành hai tuyến nhân vật: chính diện và phản diện
Trong văn học HTPP Việt Nam có những nhân vật phản diện không có tên tuổi, lai lịch rõ rệt, chỉ mới được phác hoạ vài nét về hình dáng, ngôn ngữ
và hành động Các nhân vật phản diện này chủ yếu chúng được gọi bằng những chức danh trong bộ máy thống trị: Chánh tổng, Lý trưởng, Chánh hội, Phó lý, Lý cựu, Cai lệ, Biện lệ, Lính cơ Nhà văn không đặt tên cho các nhân vật là có ngụ ý: khái quát một hệ thống bộ máy thống trị bạo lực ở nông thôn Việt Nam đương thời
Ở giai đoạn văn học 1930 – 1945, đặc biệt các tác phẩm Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Giông tố của Vũ Trọng Phụng, Chí Phèo của Nam Cao đã thể hiện các nhân vật phản diện một cách
sâu sắc Nhiều loại nhân vật phản diện có tên tuổi, lai lịch rõ ràng được tác giả
mô tả cụ thể qua hình dáng, ngôn ngữ, hành động Tất cả làm cho người đọc hình dung ra bản chất và tính cách riêng của từng nhân vật
Cho dù ở loại nào thì nhân vật phản diện luôn hiện nguyên hình là kẻ ngồi trốc ăn trên, cấu kết với thực dân để bóc lột nhân dân và trong mọi hoàn cảnh, đều thể hiện rõ bản chất xấu xa của giai cấp thống trị Các nhân vật phản diện kể trên cũng có những nét riêng biệt điển hình không thể lẫn với bất cứ nhân vật nào Ở trong khuôn khổ luận văn này, người viết xin được đưa ra cách tiếp cận, tìm hiểu tính điển hình của nhân vật phản diện ở bình diện Ngữ dụng học, cụ thể
là chiến lược giao tiếp được khai thác từ việc sử dụng từ xưng hô; sử dụng quy tắc chi phối quan hệ liên nhân - phép lịch sự của Vợ chồng Nghị Quế và Bá Kiến
trong hai tác phẩm Tắt đèn (Ngô Tất Tố) và Chí Phèo (Nam Cao)
Trang 401.8 Tiểu kết chương 1
Tóm lại, người viết đã phân tích các vấn đề có liên quan đến chiến lược giao tiếp như: khái niệm về giao tiếp, các nhân tố tham gia vào hoạt động giao tiếp, ngữ cảnh giao tiếp, mối quan hệ giữa vai giao tiếp và chiến lược giao tiếp; từ xưng hô, hành động ngôn ngữ
Người viết cũng chỉ ra những yếu tố căn bản của lý thuyết hội thoại để vận dụng phân tích hội thoại của các nhân vật phản diện Bên cạnh đó, chúng tôi tìm hiểu những kiến thức về các phương tiện, cách thức đạt được chiến lược giao tiếp như từ phương diện sử dụng từ xưng hô và hành động nói vận dụng quy tắc chi phối quan hệ liên nhân, phép lịch sự Qua đó, xác lập khung
lí thuyết cho việc nghiên cứu chiến lược giao tiếp của một số nhân vật phản
diện trong tiểu thuyết Tắt đèn (Ngô Tất Tố) và Chí Phèo (Nam Cao) Khi đưa
ra những khái niệm, luận văn cố gắng trình bày quan điểm của một số tác giả
để có được cách nhìn toàn diện những vấn đề lí thuyết Tất nhiên, những quan điểm được trình bày chọn lọc làm cơ sở quan yếu cho những vấn đề nghiên
cứu chiến lược giao tiếp của nhân vật phản diện vợ chồng Nghị Quế (Tắt đèn)
và Bá Kiến (Chí Phèo) qua việc sử dụng từ xưng hô và hành động nói vận
dụng quy tắc chi phối quan hệ liên nhân, phép lịch sự
Tiếp theo, ở chương 2 người viết tập trung vào khảo sát và phân tích chiến lược giao tiếp của các nhân vật phản diện thông qua việc sử dụng từ xưng hô Chúng ta sẽ thấy trong lời thoại của các nhân vật phản diện, nhà văn đã tạo ra những bất thường trong sử dụng từ xưng hô nhằm mang lại hiệu quả của chiến lược giao tiếp, cũng như thể hiện bản chất, tính cách riêng của từng nhân vật