1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

(Luận văn thạc sĩ) nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức phân bón đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống chè trung du búp tím tại phú thọ

110 26 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 110
Dung lượng 3,39 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM ĐÀO THANH HẰNG NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CÔNG THỨC PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG GIỐNG CHÈ TRUNG DU BÚP TÍM TẠI PHÚ T

Trang 1

HỌC VIỆN NÔNG NGHIỆP VIỆT NAM

ĐÀO THANH HẰNG

NGHIÊN CỨU ẢNH HƯỞNG CỦA MỘT SỐ CÔNG THỨC PHÂN BÓN ĐẾN SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN, NĂNG SUẤT VÀ CHẤT LƯỢNG GIỐNG CHÈ TRUNG DU BÚP TÍM TẠI PHÚ THỌ

Chuyên ngành: Khoa học cây trồng

Mã số : 60.62.01.10 Người hướng dẫn khoa học: TS Vũ Đình Chính

NHÀ XUẤT BẢN ĐẠI HỌC NÔNG NGHIỆP - 2017

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong luận văn này là trung thực và chưa từng được sử dụng để bảo vệ một học vị nào

Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho việc thực hiện luận văn đã được cảm

ơn, các thông tin trích dẫn trong luận văn này đều được chỉ rõ nguồn gốc

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Đào Thanh Hằng

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành luận văn này, tôi đã nhận được sự hướng dẫn tận tình của các thầy cô giáo giảng dạy, hướng dẫn khoa học, được sự giúp đỡ của cơ quan, các đồng nghiệp và gia đình Tôi xin chân thành bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc và kính trọng đến:

- TS Vũ Đình Chính – Học viện Nông nghiệp Việt Nam

- Ban giám đốc, Ban đào tạo, tập thể giáo viên của khoa Nông học -Học viện Nông nghiệp Việt Nam

- Tập thể lãnh đạo Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc

- Gia đình, bạn bè và các bạn đồng nghiệp đã động viên giúp đỡ tôi trong suốt thời gian học tập, thực hiện đề tài

Hà Nội, ngày tháng năm 2017

Tác giả luận văn

Đào Thanh Hằng

Trang 4

MỤC LỤC

Lời cam đoan i

Lời cảm ơn ii

Mục lục iii

Danh mục chữ viết tắt vi

Danh mục bảng vii

Danh mục hình viii

Trích yếu luận văn ix

Thesis abstract xi

Phần 1 Mở đầu 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.3 Phạm vi nghiên cứu 2

1.4 Những đóng góp mới, ý nghĩa khoa học và thực tiễn 2

1.4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài 2

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài 2

Phần 2 Tổng quan tài liệu 3

2.1 Giới thiệu giống chè trung du búp tím 3

2.2 Cơ sở khoa học của bón phân cho chè 4

2.3 Đặc điểm sinh trưởng, phát triển của cây chè 5

2.3.1 Đặc điểm sinh trưởng của bộ rễ chè 5

2.3.2 Đặc điểm sinh trưởng thân, cành và búp chè 6

2.4 Nhu cầu dinh dưỡng của cây chè và vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng 6

2.4.1 Nhu cầu dinh dưỡng 6

2.4.2 Vai trò của một số nguyên tố dinh dưỡng 7

2.5 Một số kết quả nghiên cứu phân bón cho chè trên thế giới và Việt Nam 8

2.5.1 Một số kết quả nghiên cứu phân bón trên thế giới 8

2.5.2 Một số kết quả nghiên cứu phân bón ở Việt Nam 14

2.6 Tình hình sử dụng phân bón cho chè tại vùng triển khai thí nghiệm 20

2.7 Một số nghiên cứu về sâu hại trên thế giới và Việt Nam 20

2.7.1 Nghiên cứu sâu hại trên thế giới 20

Trang 5

2.7.2 Nghiên cứu sâu hại ở Việt Nam 21

2.8 Một số nhận xét rút ra từ tổng quan 22

Phần 3 Vật liệu và phương pháp nghiên cứu 24

3.1 Địa điểm nghiên cứu 24

3.2 Thời gian nghiên cứu 24

3.3 Đối tượng/ vật liệu nghiên cứu 24

3.3.1 Đối tượng nghiên cứu 24

3.3.2 Vật liệu nghiên cứu 24

3.4 Nội dung nghiên cứu 24

3.5 Phương pháp nghiên cứu 24

3.5.1 Thiết kế thí nghiệm 24

3.5.2 Quy trình nghiên cứu 25

3.5.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp xác định 27

3.5.4 Phương pháp theo dõi 31

Phần 4 Kết quả và thảo luận 32

4.1 Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ bón n,p,k đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống chè trung du búp tím 32

4.1.1 Ảnh hưởng của tỷ lệ bón N,P,K đến một số chỉ tiêu sinh trưởng thân cành giống chè Trung Du búp tím 32

4.1.2 Ảnh hưởng của tỷ lệ bón N,P,K đến sinh trưởng lá 33

4.1.3 Ảnh hưởng của tỷ lệ bón N,P,K đến tốc độ sinh trưởng búp chè 35

4.1.4 Ảnh hưởng của tỷ lệ bón N,P,K đến một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 36

4.1.5 Ảnh hưởng của tỷ lệ bón N,P,K đến chất lượng nguyên liệu búp 39

4.1.6 Ảnh hưởng của tỷ lệ bón N,P,K đến mật độ sâu hại chính 41

4.1.7 Ảnh hưởng của tỷ lệ bón N,P,K đến thành phần sinh hóa chè thành phẩm 43

4.1.8 Ảnh hưởng của tỷ lệ bón N,P,K đến điểm thử nếm cảm quan 45

4.1.9 Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế của tỷ lệ bón N,P,K cho chè Trung Du búp tím 48

4.2 Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón bổ sung MgSO4 và đậu tương đến năng suất, chất lượng giống chè trung du búp tím 49

Trang 6

4.2.1 Ảnh hưởng của liều lượng bón bổ sung MgSO4 và đậu tương đến một số

chỉ tiêu sinh trưởng thân cành 49

4.2.2 Ảnh hưởng của liều lượng bón bổ sung MgSO4 và đậu tương đến sinh trưởng lá chè 52

4.2.3 Ảnh hưởng của liều lượng bón bổ sung MgSO4 và đậu tương đến tốc độ sinh trưởng búp chè 53

4.2.4 Ảnh hưởng của liều lượng bón bổ sung MgSO4 và đậu tương đến một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 54

4.2.5 Ảnh hưởng của liều lượng bón bổ sung MgSO4 và đậu tương đến chất lượng nguyên liệu búp 57

4.2.6 Ảnh hưởng của liều lượng bón bổ sung MgSO4 và đậu tương đến mật độ sâu hại chính 59

4.2.7 Ảnh hưởng của liều lượng bón bổ sung MgSO4 và đậu tương đến thành phần sinh hóa chè thành phẩm 60

4.2.9 Ảnh hưởng của liều lượng bón bổ sung MgSO4 và đậu tương đến điểm thử nếm nếm cảm quan 63

4.2.10 Đánh giá sơ bộ hiệu quả kinh tế việc liều lượng bón bổ sung MgSO4 và đậu tương đến chè Trung Du búp tím 65

Phần 5 Kết luận và kiến nghị 67

5.1 Kết luận 67

5.2 Kiến nghị 67

Tài liệu tham khảo 68

Phụ lục 73

Trang 8

DANH MỤC BẢNG

Bảng 4.1 Ảnh hưởng của tỷ lệ bón N,P,K đến một số chỉ tiêu sinh trưởng

thân cành 32

Bảng 4.2 Ảnh hưởng của tỷ lệ bón N,P,K đến sinh trưởng lá 34

Bảng 4.3 Ảnh hưởng tỷ lệ bón N,P,K đến một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 37

Bảng 4.4 Ảnh hưởng của tỷ lệ bón N,P,K đến chất lượng nguyên liệu búp 39

Bảng 4.5 Ảnh hưởng của tỷ lệ bón N,P,K đến mật độ sâu hại chính 41

Bảng 4.6 Ảnh hưởng tỷ lệ bón N,P,K đến một số chỉ tiêu sinh hóa chè thành phẩm 43

Bảng 4.7 Ảnh hưởng của tỷ lệ bón N,P,K đến chất lượng chè xanh 47

Bảng 4.8 Hiệu quả kinh tế của các công thức bón tỷ lệ N,P,K khác nhau 48

Bảng 4.9 Ảnh hưởng của liều lượng bón bổ sung MgSO4 và đậu tương đến một số chỉ tiêu sinh trưởng thân cành 50

Bảng 4.10 Ảnh hưởng của liều lượng bónbổ sung MgSO4 và đậu tương đến sinh trưởng lá chè 52

Bảng 4.11 Ảnh hưởng của liều lượng bón bổ sung MgSO4 và đậu tương đến một số yếu tố cấu thành năng suất và năng suất 55

Bảng 4.12 Ảnh hưởng của liều lượng bónbổ sung MgSO4 và đậu tương đến chất lượng nguyên liệu búp 57

Bảng 4.13 Ảnh hưởng của liều lượng bón bổ sung MgSO4 và đậu tương đến mật độ sâu hại chính 59

Bảng 4.14 Ảnh hưởng của liều lượng bón bổ sung MgSO4và đậu tương đến một số chỉ tiêu sinh hóa chè thành phẩm 61

Bảng 4.15 Ảnh hưởng của liều lượng bón bổ sung MgSO4 và đậu tương đến điểm thử nếm nếm cảm quan 64

Bảng 4.16 Hiệu quả kinh tế của bón bổ sung MgSO4 và đậu tương 66

Trang 9

DANH MỤC HÌNH

Hình 4.1 Ảnh hưởng của tỷ lệ bón N,P,K đến tốc độ sinh trưởng búp chè vụ hè …… 36 Hình 4.2 Ảnh hưởng của liều lượng bón bổ sung MgSO4 và đậu tương đến tốc độ sinh

trưởng búp chè vụ hè 54

Trang 10

TRÍCH YẾU LUẬN VĂN

Tên tác giả: Đào Thanh Hằng

Tên luận văn: Nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức phân bón đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống chè Trung Du búp tím tại Phú Thọ

Ngành: Khoa học cây trồng Mã số: 60.62.01.10

Tên cơ sở đào tạo: Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Mục đích nghiên cứu

- Xác định được ảnh hưởng của tỷ lệ bón N, P, K và việc bón MgSO4, đậu tương

bổ sung đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng giống chè Trung Du búp tím sản xuất chè xanh

Phương pháp nghiên cứu

Nội dung nghiên cứu:

- Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ bón N, P, K đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống chè Trung Du búp tím

- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO4 và đậu tương bổ sung đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống chè Trung Du búp tím

Vật liệu nghiên cứu:

- Phân đạm Urê Hà Bắc (46% N)

- Phân KCl (60% K2O)

- Phân super lân Lâm Thao (17% P2O5)

- Phân MgSO4

- Đậu tương ngâm

- Phân chuồng hoai mục (từ phân Trâu, phân Bò)

Phương pháp nghiên cứu: Thí nghiệm được bố trí với 4 công thức, với 3 lần nhắc lại Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) Diện tích ô thí nghiệm 50 m2, tổng diện tích toàn thí nghiệm là 1.200 m2.Kết quả chính và thảo luận

1 Các công thức bón phân khoáng có ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống chè Trung Du búp tím Công thức 3 (bón N = 40 kg/tấn sản phẩm với tỷ lệ 3:1:2) cho các chỉ tiêu sinh trưởng (chiều cao cây: 88,43 cm, chiều rộng tán: 95,17 cm, độ dày tán: 18,52cm và đường kính gốc: 6,35 cm) đạt lớn nhất, cao hơn so với đối chứng

Trang 11

Năng suất búp công thức 3 đạt cao nhất 6,26 tấn/ha,thấp nhất là công thức đối chứng chỉ đạt 5,86 tấn/ha

Đánh giá chất lượng công thức 3 có hàm lượng tanin thấp nhất (26,52%), một số chỉ tiêu khác đạt cao nhất Thử nếm cảm quan, công thức 3 có điểm thử nếm đạt cao nhất (16,52 điểm) Lợi nhuận kinh tế của công thức 3 đạt 48.963.000đ/ha cao nhất, thấp nhất là công thức đối chứng

2 Bón bổ sung hàm lượng MgSO4 và đậu tương có ảnh hưởng đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng của giống chè Trung Du búp tím Công thức 4 (bón

N = 40 kg/tấn sản phẩm tỷ lệ 3:1:2) + 75 kg MgSO4/ha + 1000 kg đậu tương ngâm/ha) có các chỉ tiêu sinh trưởng lớn nhất (chiều cao cây: 89,53 cm, rộng tán: 98,06 cm, dày tán: 18,63cm và đường kính gốc: 5,78 cm)

Công thức 4 cho năng suất cao nhất đạt 6,87 tấn/ha, thấp nhất là công thức đối chứng chỉ đạt 5,91 tấn/ha

Hàm lượng tanin ở công thức 4 là thấp nhất (26,96%), một số chỉ tiêu khác có xu hướng ngược Kết quả thử nếm cảm quan, công thức 4 có tổng điểm cao nhất (16,86 điểm), thấp nhất là công thức đối chứng chỉ đạt 16,10 điểm Lợi nhuận kinh tế của công thức 4 đạt 51.038.000 đồng/ha đạt 51,9% tỷ suất lợi nhuận trên tổng chi phí cao hơn công thức đối chứng

Trang 12

THESIS ABSTRACT

Master candidate: Hang Dao Thanh

Thesis title: Studying the effect of the fertilizer treatments on the growth, the development, the productivity, the quality of Trung Du tea varieties (has purple bub) in Phu Tho

Major: Crop Science Code: 60.62.01.10

Education organization: Vietnam National University of Agriculture (VNUA)

Research objective

Determining the changes of the growth, the development, the quantity and the quality of Trung du variety (which has purple bub) that affected by N:P:K ratio and add MgSO4, soybean

Materials and Methods

- Cattle manure (from feces of buffalo and cow)

Methods: We conducted with 4 treatments, each of treatment contained 3 replication.The experiment was arranged in randomized complete block design (RCBD) Experiment plot area was 50m2, the total area for experiment was 1200m2.Main findings and conclusions

All of treatments use mineral fertilizers which effects to the growing, the development, the productivity and the quality of “ purple bub” Trung du variety In the treatment 3 (N = 40 kg/ton of product with NPK ratio is 3:1:2), they have indicators highly more than the control treatment (the height of tea tree is 88,43cm, the halo width

is 95,17cm, the halo thickness is 18,52cm and the stem diameter is 6,35cm)

Trang 13

The highest productivity is 6.26 tons/ha of treatment 3, but the control’s productivity is lowest, is 5.86 tons/ha

The lowest tanin content (26,52%) in treatment 3, but some biochemical indicators are highest From the sensory evaluation, treatment 3 has highest score (16,52) Profits earned in the formula 3 (48.963.000vnd / ha) was the highest compared with the others

2 The adding of MgSO4 and soybean which effects to the growing, the development, the productivity and the quality of “ purple bub” Trung du variety.The treatment 4 (N = 40 kg/ton of product with NPK ratio is 3:1:2) + 75 kg MgSO4/ha +

1000 kg soybean in water/ha ), this treatment has highest value (the height of tea tree is 89,53 cm, the halo width is 98,06 cm, the halo thickness is 18,63 cm and the stem diameter 5,78 cm)

The treatment 4 has the highest productivity, 6.87 tons/ha The control treatment has the lowest productivity, 5.91 tons/ha

In treatment 4, the tanin content is lowest (26,96%), other indicators is highest From the sensory evaluation, treatment 4 has highest score (16,86), however, the treatment 1 has lowest score (16,10) Profits earned in the formula 4 (51.038.000vnd / ha) was the highest compared with the control treatment

Trang 14

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1.1 TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI

Cây chè (Camellia sinensis (L) O kuntze) là cây công nghiệp lâu năm,

có nguồn gốc nhiệt đới và á nhiệt đới, sinh trưởng và phát triển trong điều kiện khí hậu nóng ẩm, có đời sống kinh tế lâu dài, mau cho sản phẩm, có hiệu quả kinh tế cao Sản phẩm từ cây chè đang được sử dụng rộng rãi trên khắp thế giới dưới nhiều công dụng khác nhau phổ biến nhất là đồ uống ngoài ra chè còn được sử dụng để làm đồ ăn, làm đẹp và còn là nguồn dược liệu quý hiếm đang được nhà nước quan tâm bảo tồn, phát triển trong đó tiêu biểu là giống chè Trung Du búp tím

Việt Nam có lịch sử trồng chè lâu đời nhưng cây chè mới chỉ được trồng

và phát triển với quy mô lớn từ khoảng 100 năm nay Với đặc điểm là loại cây công nghiệp lâu năm, dễ trồng, dễ chăm sóc với nhiệm kỳ kinh tế dài 30 - 40 năm, phù hợp với điều kiện tự nhiên ở các vùng đất dốc của Việt Nam Sản phẩm chè là mặt hàng xuất khẩu quan trọng của ngành nông nghiệp ở các tỉnh Trung

Du miền núi Sản xuất chè cho thu nhập chắc chắn, ổn định góp phần quan trọng trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp

Năng suất và chất lượng của búp chè chủ yếu phụ thuộc đặc tính di truyền của giống, bên cạnh đó các yếu tố ngoại cảnh cũng ảnh hưởng rõ rệt đến chất lượng búp chè Với các điều kiện tự nhiên như: Đất đai, khí hậu, giống chè, chế

độ bón phân hợp lý sẽ ảnh hưởng lớn đến sản lượng và chất lượng nguyên liệu Việc bón tổng hợp 3 nguyên tố N, P, K sẽ mang lại hiệu quả cao hơn việc chỉ bón đơn lẻ 1 nguyên tố nào đó Bón phân đầy đủ, cân đối có ý nghĩa to lớn để tạo năng suất, chất lượng và duy trì tuổi thọ lâu bền của nương chè.Tác dụng của phân bón không những làm tăng sản lượng nguyên liệu chè mà còn nâng cao được chất lượng nguyên liệu chè Nếu bón phân không cân đối như bón đơn độc nitơ mà thiếu kali và phospho sẽ gây ảnh hưởng không tốt đến chất lượng chè thành phẩm Ngoài các loại phân đa lượng, thì phân vi lượng cũng ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng búp chè, chủ yếu ảnh hưởng đến hoạt tính của hệ men

Giống chè Trung Du là giống thuộc loại hình thân gỗ, chất lượng búp khá và khả năng chống chịu tốt Giống Trung Du búp tím là giống chè được chọn từ quần thể Trung Du, có khả năng thích ứng với điều kiện bất thuận và có khả năng chịu các loài sâu bệnh hại Đặc biệt giống chè Trung Du búp tím vừa được sử dụng làm khai thác nguyên liệu chế biến chè vừa được sử dụng tách

Trang 15

chiết các hợp chất anthocyan phục vụ cho dinh dưỡng và dược thảo, đây là giống bản địa do đó cũng rất cần nghiên cứu chọn lọc để bảo tồn và phát triển góp phần phát triển nông nghiệp bền vững ở Việt Nam Nhưng những nghiên cứu về chè Trung Du búp tím còn rất ít đặc biệt là nghiên cứu về bón phân Trong đó vấn đề sử dụng Mg và đậu tương cho chè đã được một số nước quan tâm với mục đích sản xuất như Đài Loan, Trung Quốc rất có hiệu quả Nhưng kết quả nghiên cứu ở Việt Nam còn hạn chế Để góp phần giải quyết vấn đề trên chúng tôi tiến hành làm đề tài

“Nghiên cứu ảnh hưởng của một số công thức phân bón đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống chè Trung Du búp tím tại Phú Thọ” 1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU

- Xác định được ảnh hưởng của tỷ lệ bón N, P, K và việc bón MgSO4, đậu tương bổ sung đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, chất lượng giống chè Trung

Du búp búp tím sản xuất chè xanh

1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU

Đề tài tập trung nghiên cứu ảnh hưởng của các công thức phân bón đến sinh trưởng, phát triển, năng suất, phẩm cấp nguyên liệuvà chất lượng chè xanh thành phẩm giống chè Trung Du búp tím tại huyện Thanh Ba, tỉnh Phú Thọ 1.4 NHỮNG ĐÓNG GÓP MỚI, Ý NGHĨA KHOA HỌC VÀ THỰC TIỄN 1.4.1 Ý nghĩa khoa học của đề tài

- Kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ cung cấp các dẫn liệu khoa học nghiên cứu về việc sử dụng một số công thức phân bón đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống chè Trung Du búp tím để sản xuất chè xanh tại Phú Thọ

- Kết quả của đề tài sẽ bổ sung tài liệu cho công tác nghiên cứu khoa học, giảng dạy và chuyển giao cho sản xuất

1.4.2 Ý nghĩa thực tiễn của đề tài

- Xác định được công thức phân bón hợp lý có tác dụng làm tăng sinh trưởng, năng suất và chất lượng giống chè Trung Du búp tím tại Phú Thọ

- Kết quả của đề tài sẽ được khuyến cáo cho bà con nông dân trồng chè tại địa phương và các vùng lân cận thực hiện, nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè

Trang 16

PHẦN 2.TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 GIỚI THIỆU GIỐNG CHÈ TRUNG DU BÚP TÍM

Giống chè Trung Du thuộc thứ chè Trung Quốc lá to (Camellia sinensis Var Macrophilla), chiếm diện tích lớn trong cơ cấu giống tại vùng trung du và đồi núi thấp Tại các địa phương giống Trung Du được gọi tên với các tên khác nhau như Trung Du Phú Thọ, Tân Cương, Gay, Hoóc Môn hoặc gọi theo màu màu sắc lá như Trung Du xanh, Trung Du vàng, Trung Du tím…

Giống chè Trung Du từ lâu đã được coi là giống chè bản địa của cây chè Việt Nam Theo các kết quả nghiên cứu chè Trung Du được di thực từ Vân Nam (Trung Quốc) vào Việt Nam từ rất lâu, đã thích nghi và phù hợp với điều kiện đất đai thổ nhưỡng vùng Trung Du, được mặc nhiên mang tên chè Trung Du Cây chè Trung Du gắn liền với tập quán sinh sống của người nông dân vùng Trung

Du miền núi phía Bắc Những vùng chè Trung Du nổi tiếng như Thanh Ba – Phú Thọ, Tân Cương – Thái Nguyên,…

Trong quần thể chè Trung Du do trước đây được trồng bằng hạt vì vậy quần thể chè phân ly về hình thái khác nhau: Loại búp trắng, loại búp xanh và loại búp tím Những năm 90 của thế kỉ trước tại Phú Thọ và Thái Nguyên đã có

đề tài tiến hành điều tra chọn lọc và phân dạng cây theo màu sắc của búp

Đặc điểm giống chè Trung Du búp tím thuộc loại hình thân gỗ nhỡ, có thân chính rõ rệt, chiều cao phân cành thấp Giống chè Trung Du búp tím có lá to trung bình, chiều dài lá từ 12 cm - 14 cm, chiều rộng lá 5 cm - 7 cm Khối lượng của búp là 0,7 gam - 0,78 gam/búp Do trồng bằng hạt, không được chọn lọc nên quần thể cây trồng không đồng đều, năng suất thấp (bình quân chỉ đạt 5 tấn – 6 tấn/ha) Chất lượng búp thuộc loại khá, thích hợp để chế biến chè xanh, chè đen Theo Đỗ Văn Ngọc (2012), chè Trung Du búp tím có từ lâu đời ở vùng Trung Du miền núi phía Bắc tập trung chủ yếu là Phú Thọ và Thái Nguyên Qua phân tích các chỉ tiêu sinh hóa, chất lượng nguyên liệu, chế biến mẫu và thử nếm cảm quan cho thấy đây là một giống chè quý Ở Việt Nam, chưa có một nghiên cứu quy mô, chính thức nào về chè búp tím nhưng theo phân tích của Viện nghiên cứu Chè Kenya cho thấy chè búp tím có chất lượng rất cao, chè thành phẩm có giá bán cao hơn chè bình thường Trong chè búp tím có nồng độ chất chống oxy hóa cao hơn các giống chè khác, có thể tách chiết các chất chống oxy hóa trong chè búp tím làm chất bảo quản thực phẩm và làm thuốc bồi bổ sức khỏe

Trang 17

Tác giả Đỗ Văn Ngọc (2012), cho biết giống chè Trung Du búp tím quý hiếm này nếu được phát triển sẽ tạo ra một thương hiệu riêng, một loại chè đặc biệt cao cấp không chỉ dùng làm nước uống mà còn có tác dụng trong y học phòng chữa một số bệnh, đặc biệt là ngăn ngừa phóng xạ, chống ung thư

Qua các kết quả khảo sát và nghiên cứu của Viện Khoa học kỹ thuật nông lâm nghiệp miền núi phía Bắc từ năm 2004 đến nay, cây chè Trung Du búp tím không chỉ có giá trị sản xuất hàng hóa với sản phẩm chè Trung Du búp tím chất lượng cao mà còn có giá trị về nguồn gen, phục vụ hữu ích cho công tác nghiên cứu chọn tạo giống chè mới, lưu giữ nguồn giống bản địa Cây chè Trung Du búp tím có vai trò quan trọng trong thu nhập kinh tế nông hộ, năng suất chè hàng năm khoảng 10 tấn búp tươi/ha, giá bán chè búp tươi 15.000 đồng/kg đến 20.000 đồng/kg Người trồng chè tại Thái Nguyên, Phú Thọ coi thu nhập từ cây chè Trung Du nói chung và chè Trung Du búp tím nói riêng là nguồn thu chính Cùng với lợi thế về điều kiện khí hậu và địa hình, giá trị từ cây chè Trung Du búp tím luôn ổn định và mở rộng thị trường tiêu thụ hơn các mặt hàng nông nghiệp khác 2.2 CƠ SỞ KHOA HỌC CỦA BÓN PHÂN CHO CHÈ

Cây chè nói riêng và cây trồng nói chung hàng năm luôn đòi hỏi một lượng chất dinh dưỡng để nuôi cây, tái tạo phần vật chất mất đi do thu hoạch hoặc do sự già cỗi của cơ thể Vốn cây chè là một cây sản phẩm thu hoạch là búp

và lá non vì vậy hàng năm cây cần có một lượng dinh dưỡng nhất định để bù lại khối lượng đã thu hoạch

Chè có khả năng hấp thu dinh dưỡng liên tục trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển ngay cả trong điều kiện mùa đông nhiệt độ thấp, cây chè tạm ngừng sinh trưởng song vẫn yêu cầu một lượng dinh duỡng nhất định, vì thế việc cung cấp dinh dưỡng cho cây chè vẫn phải tiến hành thuờng xuyên trong năm (Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương, 2000)

Cây chè có khả năng thích ứng với điều kiện dinh dưỡng rất rộng, nó có thể sống ở nơi đất màu mỡ song cũng có thể sống ở nơi đất cằn cỗi, nghèo kiệt dinh duỡng mà vẫn cho năng suất nhất định Tuy nhiên, để có nương chè cho năng suất cao, chất luợng tốt và có nhiệm kỳ kinh tế dài cần phải xây dựng chế

độ phân bón hợp lý cho chè (Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương, 2000)

Bón phân có thể đẩy mạnh sinh trưởng của cây chè tăng năng suất và cải thiện chất lượng nguyên liệu chè búp tươi Việc bón phân hữu cơ có ảnh hưởng tích cực đến các hợp chất hóa học có lợi trong sản phẩm chè Bón phân cân đối,

Trang 18

đúng tỉ lệ, liều lượng làm năng suất chè tăng 14% - 20%, với hệ số lãi là 2,8 - 3,9 lần Bón phân đúng còn làm tăng hàm lượng tanin thêm 2,0% - 6,5%, chất hoà tan tăng 1,5% - 3,5%, hương vị chè được cải thiện

Các nguyên tố magie và kali có vai trò quan trọng trong việc tạo nên chất lượng chè Bón bổ sung magie và kali có tác dụng cải thiện vị ngon của sản phẩm, chúng có mối quan hệ chặt chẽ với hàm lượng magie trong nguyên liệu búp Hàng năm, một lượng dinh dưỡng đáng kể bị nước mưa rửa trôi do vậy cần phải bổ sung lượng thiếu hụt cho phù hợp để cây chè sinh trưởng phát triển tốt

Với mục đích bón bổ sung phân magie và đậu tương làm thay đổi diệp lục

tố, làm tăng phẩm chất chè nguyên liệu góp phần nâng cao chất lượng chè thành phẩm, từ đó làm tăng hiệu quả kinh tế trong sản xuất chè hiện nay Đó là cơ sở khoa học cho sự lựa chọn kỹ thuật bón phân hợp lý của các giống chè được tiến hành nghiên cứu để từ đó có thể nâng cao năng suất chất lượng giống chè phù hợp với địa phương

2.3 ĐẶC ĐIỂM SINH TRƯỞNG, PHÁT TRIỂN CỦA CÂY CHÈ

2.3.1 Đặc điểm sinh trưởng của bộ rễ chè

Bộ rễ thực vật nói chung và cây chè nói riêng là cơ quan dinh dưỡng của cây dưới đất, nó có nhiệm vụ làm giá đỡ cho cây, giữ chặt cây vào đất, hút nước

và các chất dinh dưỡng cung cấp cho các hoạt động sống của cây Trong nhiều trường hợp rễ còn làm chức năng dự trữ, tổng hợp các hợp chất hữu cơ khác nhau cần thiết cho sự sinh trưởng và phát triển của cây (Lê Đình Giang, 1998)

Sự phát triển của bộ rễ, lá có quan hệ chặt chẽ với nhau và hỗ trợ nhau Theo tài liệu ở Trung Quốc, về mùa đông khi cành lá ngừng sinh trưởng thì bộ rễ phát triển, mùa xuân khi búp chè sinh trưởng mạnh, thì bộ rễ phát triển chậm lại, tiếp tục như vậy khi bộ rễ phát triển chậm thì lá và búp sẽ sinh trưởng nhanh và ngược lại Tóm lại, quá trình phát triển bộ rễ có 4 – 5 đỉnh cao trong 1 năm, sinh trưởng lúc nhanh lúc chậm, xen kẽ với sự phát triển của bộ lá, lúc chậm lúc nhanh Mặt khác sự phát triển của bộ rễ chè theo chiều sâu và chiều ngang phụ thuộc vào giống, tuổi chè, chất đất, chế độ canh tác và bón phân, Bên cạnh đó, phương thức trồng chè cũng ảnh hưởng lớn đến sự phân bố hệ rễ chè, các biện pháp canh tác như bón phân, tưới nước, tủ đất, có khả năng điều tiết chế độ nước, nhiệt, dinh dưỡng trong đất, nên cũng tác động đến độ sâu và chiều ngang

hệ rễ (Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương, 2000)

Trang 19

2.3.2 Đặc điểm sinh trưởng thân, cành và búp chè

Thân và cành chè tạo nên khung tán của cây chè, nếu cây chè có bộ khung tán khỏe, các cành phân bố hợp lý là tiền đề cho năng suất cao Vì vậy, trong thực tế sản xuất cần nắm những đặc điểm sinh trưởng của cành chè áp dụng các biện pháp kỹ thuật đốn, hái hợp lý góp phần tạo cơ sở cho việc tăng sản lượng thu hoạch

Búp chè là giai đoạn non của một cành chè Búp chè được hình thành từ các mầm sinh dưỡng, gồm có tôm (phần lá non trên đỉnh chưa xòe) và 2 hoặc 3 lá non Quá trình sinh trưởng của búp chi phối của nhiều yếu tố bên ngoài lẫn bên trong, khối lượng búp thay đổi tùy giống Vườn chè bón nhiều phân, búp sẽ lớn hơn vườn chè thiếu phân Ngoài giống và phân bón, thì khối lượng búp chè còn phụ thuộc vào một số yếu tố kỹ thuật canh tác khác như đốn, hái và điều kiện địa

lý nơi trồng trọt (Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Văn Tạo, 2006)

2.4.NHU CẦU DINH DƯỠNG CỦA CÂY CHÈ VÀ VAI TRÒ CỦA CÁC NGUYÊN TỐ DINH DƯỠNG

2.4.1 Nhu cầu dinh dưỡng

Cây chè thích hợp trồng trên đất chua vừa đến chua ít, độ dày tầng đất càng sâu thì cây chè sinh trưởng, phát triển tốt và tuổi thọ của cây chè càng kéo dài So với các cây trồng khác thì cây chè có khả năng sống ở những nơi đất cằn cỗi, nghèo dinh dưỡng mà vẫn cho thu nhập Tuy nhiên muốn cây chè cho năng suất cao, chất lượng tốt có nhiệm kì kinh tế dài thì cần phải bón phân đầy đủ sao cho đất trồng chè cần đạt những yêu cầu :

Phân bón có vai trò quan trọng đối với sinh trưởng và năng suất chè Nhiều công trình nghiên cứu của các nhà khoa học trong và ngoài nước đều cho

Trang 20

thấy: Hiệu quả của phân bón cho chè chiếm từ 50% – 60% tổng hiệu quả của các biện pháp nông học đối với năng suất chè

2.4.2 Vai trò của một số nguyên tố dinh dưỡng

- Đạm (N): Trong chè tập trung ở các bộ phận còn non như: Búp và lá non, N tham gia vào sự hình thành các axit amin và protein Bón đủ N lá chè có màu xanh quang hợp tốt, cây chè sinh trưởng tốt cho nhiều búp, búp to Thiếu N chồi mọc ít, lá vàng, búp nhỏ, năng suất thấp Nếu quá nhiều N thì hàm lượng tanin và cafein giảm, hàm lượng ancolit tăng, chè có vị đắng Nguồn cung cấp N cho đất là do quá trình khoáng hóa chất hữu cơ và mùn trong đất, do hoạt động

cố định đạm của các loại vi sinh vật đặc biệt là do con người bón vào đất…

- Lân (P2O5): Trong búp non của chè có 1,5% P2O5 Lân tham gia vào thành phần cấu tạo của tế bào, trong axit nucleic, lân có vai trò quan trọng trong việc tích lũy năng lượng cho cây, có tác dụng thúc đẩy sự phát triển của cây chè, nâng cao chất lượng chè, làm tăng khả năng chống rét, chống hạn cho chè Thiếu lân lá chè xanh thẫm, có vết nâu hai bên gân chính, búp nhỏ, năng suất thấp

- Kali (K2O): Kali trong tất cả các bộ phận của cây chè nhất là thân cành

và các bộ phận đang sinh trưởng Nó tham gia vào quá trình trao đổi chất cho cây, làm tăng hoạt động của các men, làm tăng tích lũy gluxit và axit amin, tăng khả năng giữ nước của tế bào, tăng năng suất, chất lượng chè, làm tăng khả năng chống chịu cho chè Hàm lượng K2O trong đất phụ thuộc vào đá mẹ, điều kiện phong hóa đá, hình thành đất, chế độ canh tác và bón phân

- Magiê (Mg): Cấu tạo diệp lục tố, enzym chuyển hóa hydratcacbon và axit nucleic Thúc đẩy hấp thụ, vận chuyển lân, đường trong cây, giúp cây cứng chắc, phát triển cân đối, tăng năng suất và chất lượng chè thành phẩm Thiếu magie cây xuất hiện những vệt màu xanh tối hình tam giác ở giữa lá, lá già dần chuyển vàng, hạn chế khả năng ra búp, giảm năng suất

- Phân hữu cơ có vai trò rất quan trọng, không những cung cấp đầy đủ chất dinh dưỡng trực tiếp cho cây chè mà còn cải thiện lý tính đất như làm cho đất tơi xốp, có kết cấu viên, làm tăng hoạt động của các vi sinh vật trong đất, Nhưng thực trạng hiện nay việc sử dụng phân hữu cơ cho chè còn gặp nhiều khó khăn, do phải cạnh tranh nguồn hữu cơ với các cây trồng khác, đồi chè thường xa nhà, cây chè vào giai đoạn kinh doanh đã khép tán nên việc vận chuyển và bón phân thường gặp khó khăn Những giải pháp để tăng cường hữu cơ cho chè là làm phân tự chế bằng cách đào hố ủ ngay tại vườn chè, trồng cây xanh, cây họ

Trang 21

đậu để lấy thân lá ép xanh cho chè, ép xanh cành, lá già sau khi đốn chè, ngoài ra việc bón phân cho chè phải được chú ý ngay từ khi bón lót trước khi trồng

2.5 MỘT SỐ KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU PHÂN BÓN CHO CHÈ TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

2.5.1 Một số kết quả nghiên cứu phân bón trên thế giới

Cây chè bình thường sinh trưởng yêu cầu có một môi trường sinh thái tốt, cung cấp các chất dinh dưỡng là một trong những yếu tố quan trọng nhất để có được năng suất cao và chất lượng chè, bón phân là một biện pháp kỹ thuật cần thiết

Quan hệ giữa đất đến năng suất, chất lượng chè rất phức tạp Chất lượng chè

do nhiều yếu tố quyết định và tác dụng một cách tổng hợp Điều kiện dinh dưỡng ảnh hưởng rất nhiều đến năng suất, chất lượng chè, do vậy ngoài việc sử dụng nguồn dinh dưỡng sẵn có trong đất, thì việc bón phân cho chè là một biện pháp

có hiệu quả

2.5.1.1 Phân bón hữu cơ

Đối với cây chè phân hữu cơ có vai trò rất quan trọng, không những cung cấp chất dinh dưỡng trực tiếp cho cây chè mà nó còn cải thiện lý tính của đất như làm tăng độ tơi xốp, có kết cấu viên, làm tăng khả năng thấm và giữ nước của đất, làm cho tăng sự hoạt động của các hệ vi sinh vật trong đất

Từ năm 1992 – 1997, Quỹ Kellogg đã thử nghiệm phân bón hữu cơ được

bổ sung thêm một số loài vi sinh vật có ích thuộc 2 chi: Bacillus, Pseudomonas

có khả năng phân giải lân tại 2 vùng trồng chè trọng điểm của Srilanka và nhận thấy rằng năng suất chè tăng 9% – 14% so với đối chứng có bón phân hữu cơ và tăng 17% so với đối chứng không sử dụng 2 loại phân bón này

Kết quả nghiên cứu của tác giả Enwall (2005), ngoài tác dụng làm gia tăng sản lượng và cung cấp dưỡng chất trực tiếp cho cây Phân hữu cơ có thể cải thiện sự đa dạng sinh học, khả năng sản xuất lâu dài của đất và là nơi lưu giữ phần lớn lượng carbon dioxide thừa Dinh dưỡng hữu cơ làm tăng sự màu mỡ của đất, cung cấp dinh dưỡng cho nấm mycorrhiza (giúp các loại cây hấp thu dinh dưỡng), có thể làm giảm đáng kể lượng thuốc trừ sâu, năng lượng và phân bón, nhưng không làm giảm sản lượng thu hoạch

Theo Xu and Li (2006), cho rằng khi sử dụng phân bón chuyên dùng và phân hữu cơ sinh học có hiệu quả thúc đẩy tăng số lượng chồi nảy mầm của cây chè, số lá non mới và khối lượng 100g/búp, nâng cao sản lượng chè So với sử

Trang 22

dụng 45% phân bón phức hợp vô cơ, sử dụng phân gà, phân bón chuyên dùng cây chè sản lượng đã tăng lần lượt là 8,4% và 20,3%; còn sử dụng phân hữu cơ sinh học sản lượng đã tăng lần lượt là 1,7% và 12,8%, đặc biệt hàm lượng nội chất trong lá chè nhiều và chất lượng chè chế biến tốt hơn

Zhang et al (2000),cho rằng bón phân hữu cơ kết hợp với phân vô cơ có thể thúc đẩy cây chè sinh trưởng nhanh, tăng khả năng sản xuất và chất lượng chè

Ô long với tỷ lệ bón kết hợp tốt nhất là 3N: 1P: 3K: 3 phân hữu cơ hoặc 2N: 2P: 2K: 3 phân hữu cơ Hiệu quả của N, P, K và phân hữu cơ ở các giai đoạn sinh trưởng của cây chè là khác nhau trong đó P là nguyên tố chủ yếu làm tăng đường kính của cây chè con N giữ vai trò quan trọng nhất đến năng suất của cây chè kinh doanh, sau đó đến K

Ở Đài Loan, biện pháp kỹ thuật canh tác cho cây chè, người ta chú ý đến bón phân hữu cơ +1.000 – 1.500 kg đậu tương + 500 - 1.000 kg bột cá/ha cho sản xuất nguyên liệu chè Ô long

Các giống chè khác nhau đều yêu cầu một chế độ bón phân khác nhau, đặc biệt là chế độ bón phân hữu cơ cho cây chè đạt được năng suất cao và chất lượng tốt Năm 2010, nhà nghiên cứu Trung Quốc khi nghiên cứu về hiệu quả của phân hữu cơ trên cây chè kết quả cho thấy khu vực sản xuất chè Mao Tiêm – Tín Dương, vườn chè không sử dụng phân bón hợp lý dẫn đến đất bị chai cứng lại, độ màu mỡ của đất giảm, đặc biệt ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng chè Mao Tiêm – Tín Dương Điều đó chứng tỏ rằng sử dùng phân hữu cơ không chỉ có khả năng cải tạo đất mà còn có khả năng nâng cao năng suất và chất lượng chè

Theo Zhao et al (2005), tại tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc cho thấy tình hình sử dụng phế phụ phẩm nông nghiệp ủ thành phân bón hữu cơ trong sản xuất nông nghiệp đã tăng dần Khoảng 77% nông dân sử dụng 60% sản phẩm phụ của cây trồng vụ trước cho các cây trồng vụ sau, 18% hộ nông dân sử dụng 90% sản phẩm phụ cho cây trồng vụ sau

Tác giả Ono and Watanabe (1994), khuyên nông dân trồng chè của mình nên tận dụng nguồn phế phụ phẩm nông nghiệp làm phân bón hữu cơ cho cây chè để tăng hàm lượng mùn trong đất

Lý tính đất trồng chè có vai trò đặc biệt quan trọng trong canh tác chè trên đất dốc Quá trình rửa trôi, đi lại chăm sóc đã làm cho đất chặt cứng, không thuận

Trang 23

lợi cho cây chè sinh trưởng và phát triển.Vì vậy, bón phân hữu cơ là biện pháp giúp cải tạo lý tính đất, làm tăng khả năng giữ nước và lưu thông chất dinh dưỡng của đất chè được coi là quan trọng hơn cải thiện hóa tính

2.5.1.2 Phân bón đa lượng (NPK)

Trên thế giới đã có nhiều công trình nghiên cứu về vai trò của các nguyên

tố dinh dưỡng cho cây chè và kỹ thuật bón phân

Kết quả nghiên cứu của Zhang (2008), phân bón là nền tảng vật chất cơ bản của việc nâng cao năng suất và chất lượng chè Phân bón có tác dụng quan trọng đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng chè Mặt khác, bón phân có tương quan mật thiết với sản lượng và chất lượng chè, phân đạm nâng cao sản lượng, có hiệu quả nâng cao hàm lượng caffeine và hàm lượng axit amin Trong khi phối hợp lân, kali, đã nâng cao hàm lượng tea polyphenol, caffeine và protein, vừa có khả năng thúc đẩy nâng cao chất lượng lá chè, cải thiện chất lượng chè

Ở Trung Quốc, nếu thu hoạch 7,5 tấn búp/ha, cần phải cung cấp N: 37,5

kg, P2O5: 75kg và K2O: 112 - 150 kg Nghiên cứu vai trò của các nguyên tố dinh dưỡng tham gia vào quá trình sinh trưởng cây chè đã được các tác giả Bonheure et al (1992) công bố 5 nguyên tố chiếm tỷ lệ lớn: Đạm (N) từ 1,69 – 5,95%; lân (P) từ 0,09 – 0,61%; kali (K) từ 0,02 – 2,64%; canxi (Ca) từ 0,06 – 2,42%; magie (Mg) từ 0,07 – 1,40%; các nguyên tố khác chiếm số lượng ít từ 8 – 3.700 ppm và sắp xếp theo thứ tự giảm dần là lưu huỳnh (S), clo (Cl), nhôm (Al), mangan (Mn), natri (Na), kẽm (Zn), đồng (Cu), Bo (B) và sắt (Fe) (Bonheure et al., 1992)

Theo Qamar et al (2011), khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân đạm đến sinh trưởng, phát triển của cây chè trưởng thành đã cắt tỉa tán bằng và tán mâm xôi, cho thấy công thức đối chứng (không bón phân), NPK: 125-125-75, 187,5-125-75, 225-125-75, 312,5-125-75 và 375-125-75 kg/ha Tất cả P và K đã được

áp dụng cùng một mức bón, trong khi N ở dưới dạng của amonisulfat Kết quả cho thấy cắt tỉa tán bằng là có ý nghĩa và tốt nhất Phân đạm ở mức 375 kg đã làm năng suất lá tươi tăng đáng kể (từ 6,796 đến 8,797 kg/ha), năng suất chè (từ 1.352 đến 1.760 kg/ha) và chiều dài búp (từ 35 cm đến 71 cm) cao hơn so với đối chứng Trong trường hợp kết hợp, 375 kg N với cắt tỉa tán bằng thì năng suất lá tươi là cao nhất (9.286,66 kg/ha) và năng suất chè đen (1.875 kg/ha) với chiều búp dài 70,33 cm so với cắt tỉa tán mâm xôi (giá trị lần lượt là 8.307,33 kg lá tươi, 1.661,33 kg chè đen và chiều dài búp là 72,33 cm)

Trang 24

Saharia and Bezbaruah (1984), đưa ra kỹ thuật bón phân chủ yếu dựa vào sản lượng thu hoạch chè hàng năm: Vùng Bắc Ấn Độ bón phân cho chè con theo

tỷ lệ bón NPK là 10:5:10 và mức bón theo cây là 15, 25, 40 và 70 (g/cây) tương đương với các tuổi 1, 2, 3 và 4; còn bón phân cho chè kinh doanh theo tỷ lệ bón NPK là 10:2:4 hoặc 12:4:8 và mức bón 100 – 200 kg N/ha tùy thuộc vào đất, tuổi

và sản lượng chè; vùng Nam Ấn Độ bón phân cho chè con theo tỷ lệ bón NPK 1:2:2 và mức bón 90 kg N/ha; còn bón phân cho chè kinh doanh dựa vào sản lượng để bón, họ chia ra 3 mức sản lượng dưới 2.000, từ 2.000 – 3.000 và trên 3.000 (kg khô/ha) tương ứng các mức bón là 10, 5, 4 (kg N/100kg chè), hàng năm có phun sulphat kẽm 11 kg/ha lên lá

Mặt khác, các nghiên cứu về ảnh hưởng của các mức đạm (N) khác nhau đối với năng suất và chất lượng chè cũng được nhiều tác giả nghiên cứu Các mức N khác nhau ảnh hưởng rõ đến năng suất và chất lượng chè, một tỷ

lệ N hợp lý sẽ nâng cao được năng suất và cải thiện được chất lượng Năng suất chè sẽ tăng chậm khi sử dụng liều lượng đạm bón trên 360 kg/ha Ở cùng một nền đất giống nhau, khi sử dụng N đầu tiên năng suất chè tăng, sau đó giảm, giữa năng suất và N có mối quan hệ parabol Khi đánh giá về chất lượng cho thấy mức N thích hợp có thể cải thiện hàm lượng axit amin tự do, caffeine, nước và chlorophyll trong lá chè, trong khi hàm lượng polyphenol giảm dần (Su et al.,2011)

Theo Lin et al (1991),bón phân thúc đẩy sự sinh trưởng, tăng năng suất

và cải thiện chất lượng nguyên liệu chè búp tươi Hàm lượng axit amin, polyphenol, catechin, đường tổng số có trong nguyên liệu chè búp tươi thích hợp, chất lượng chè Olong thành phẩm tốt nhất đạt được khi cung cấp các loại phân đạm, lân, kali,…với liều lượng và tỷ lệ hợp lý Hiệu quả của việc bón kali đến chất lượng sản phẩm chè Olong rõ hơn so với bón đạm và lân Do vậy, việc bón tăng tỷ lệ phân kali trong hỗn hợp phân bón đạm - lân - kali cho vườn chè sản xuất nguyên liệu chế biến chè Olong là việc làm quan trọng

Kết quả nghiên cứu của Su and Li (2005) cho rằng sử dụng phân kali thì năng suất chè tăng từ 8,3 – 16,7% so với không sử dụng phân kali, đồng thời cải thiện chất lượng chè và tăng khả năng chống chịu với điều kiện ngoại cảnh Nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đến chỉ tiêu sinh hóa chất lượng búp chè Tác giả Zheng et al (2012) cho rằng sự thiếu hụt P đã làm giảm chất lượng điểm thử nếm và hóa sinh của chè xanh Khi phân tích lá chè và đất trồng chè ở Liên Xô (cũ) cho thấy: Ở cây chè thiếu lân, hàm lượng lân (P2O5) trong lá

Trang 25

là 0,27 - 0,28%, trong búp là 0,5 - 0,75% Cây chè đủ dinh dưỡng hàm lượng lân tương ứng là 0,33 - 0,39% và 0,82 - 0,86% Nếu trong đất hàm lượng P2O5 là 30 – 32 mg/100g thì đất thiếu nhiều lân

2.5.1.3 Phân bón trung lượng

Sử dụng hàm lượng phân bón magie và lưu huỳnh ở khu vực trồng chè khi đánh giá thành phần hương thơm trong sản phẩm chè như nerolidol, ethyl alcohol, vinyl cool, linalool trong đó, hàm lượng nerolidol tăng rất nhiều ở công thức sử dụng phân magie cao hơn so với đối chứng 23%, nerolidol là vật chất hóa học quan trọng của hương chè, ảnh hưởng có tính quyết định đối với hình thành hương; Hàm lượng nerolidol cao, thì chè Ôlong tuyệt hảo (Zhang, 2008)

Ruan et al (1997), khi bón bổ sung kali và magie, năng suất chè búp tươi tăng đáng kể, tỷ lệ tăng đạt 9 - 38% sau 2 năm thử nghiệm Hàm lượng axit amin

tự do và cafein trong nguyên liệu chè tươi cũng tăng Hàm lượng polyphenol trong nguyên liệu búp thu từ vườn chè bón kali tăng nhưng trong nguyên liệu búp thu từ vườn chè bón magie giảm rõ ràng Tỷ lệ polyphenol/axit amin tự do trong nguyên liệu lấy từ vườn chè bón cả kali và magie đều giảm, điều này có lợi cho chất lượng chè thành phẩm Một số hợp chất thơm quan trọng (nerolidol…) đều tăng Điều này cho thấy, việc bón bổ sung kali và magie có tác dụng cải thiện đặc tính hương thơm của sản phẩm chè Chất lượng sản phẩm chè thương phẩm có mối tương quan chặt chẽ với hàm lượng magie trong nguyên liệu búp Bón bổ sung kali và magie sẽ là một biện pháp nông học có hiệu quả, thúc đẩy khả năng sinh trưởng trong kiện đất thiếu kali và magie dễ tiêu

Tác giả Huang and He (2005), cho rằng công thức khi bón bổ sung phân magie sulphat và kali sulphat có hiệu quả tốt nhất đối với sinh trưởng của cây chè

so với công thức chỉ sử dụng phân nitơ, phôt pho, vì vậy đã thúc đẩy sinh trưởng cây chè, tăng số lượng lá, tỷ lệ này tăng lần lượt là 6,23% và 11,1%; tỷ lệ diện tích lá chè tăng 11,17%; mật độ búp, khối lượng búp 100g tăng lần lượt là 28,88% và 21,43%; năng suất búp chè tươi tăng 14,27%

Theo Zhang (2011), ảnh hưởng của phân kali và phân magie đối với hàm lượng axit amin trong chè xanh, cho rằng chè xanh có hàm lượng axit amin cao thì chè xanh có chất lượng tốt Khi bón phân đạm hợp lý, kết hợp sử dụng hợp lý phân bón kali và magie để có hiệu quả cân bằng trong việc cung cấp dinh dưỡng cho cây chè, cải thiện đáng kể hàm lượng axit amin trong chè, cuối cùng là nâng

Trang 26

cao chất lượng chè xanh Tuy nhiên, khi thiếu nguyên tố kali và magie trong đất thì hàm lượng axit amin trong chè và lượng phân bón kali, magie có mối tương quan thuận với nhau

Việc hình thành axit amin của cây chè, với axit amin L-Theanin chiếm tỷ

lệ cao đạt 70%, magie là yếu tố cần thiết trong quá trình hình thành L-Theanin, magie có một ý nghĩa kép trong quá trình hình thành của caffeine Một vài nghiên cứu cho thấy, thiếu magie ở vườn chè già (lâu năm) và khi sử dụng phân magie đã thể hiện rõ nâng cao hàm lượng catechin trong chè, cải thiện chất lượng chè Bón phối hợp kali, magie, sản lượng chè xanh, chè Ôlong có thể tăng từ 10 – 20%, nâng cao được nội chất trong búp chè tươi như axit amin, caffeine và polyphenol (Zhang and Chen, 2005)

Khi bón bổ sung magie có tác dụng làm tăng đáng kể năng suất nguyên liệu, tăng chất lượng của một số sản phẩm chè chính: Chè xanh, chè Ôlong hàm lượng các chất axit amin tự do, polyphenol, caffeine cũng như theaflavin và thearubigin tăng đáng kể, cải thiện hương thơm của sản phẩm chè Ôlong Chất lượng sản phẩm chè Ôlong có mối tương quan chặt chẽ với hàm lượng magie trong nguyên liệu búp (Zhang et al., 2000)

2.5.1.4 Phân bón vi lượng

Phân vi lượng hiện nay đang bắt đầu được sử dụng rộng rãi trong thực tế nông nghiệp và được coi là một khả năng tiềm tàng góp phần đẩy mạnh sự phát triển của ngành trồng trọt và chăn nuôi Song việc nghiên cứu và sử dụng phân vi lượng cho chè còn rất ít

Tác giả Shahram et al (2009), nghiên cứu tác động của nitơ (N), kali (K), magie (Mg) và phân bón vi lượng (Zn và Cu) cải thiện năng suất và chất lượng chè Iran, kết quả cho thấy áp dụng phân bón vi lượng, với công thức: MgSO4

+ZnSO4 đã có ảnh hưởng đáng kể (p < 0,01) đối với năng suất Áp dụng phân urea đã có tác động đáng kể (p < 0,05) tanin và chất hòa tan Sự tác động qua lại với nhau giữa nitơ, kali và phân vi lượng có hiệu quả đáng kể caffeine (p < 0,01) Phân bón nitơ có ảnh hưởng đáng kể đến hàm lượng tanin và chất hòa tan (p < 0,01) Bón phân vi lượng cho thấy tác động đáng kể P, Zn và Cu Sự kết hợp của

N + K + phân vi lượng có hiệu quả caffeine (p<0,01)

Theo Jayaganesh and Venkatesan (2010), hàm lượng axit amin ở trong lá chè tăng lên vì đất sử dụng phân magie, và khi phun vi lượng có magie lên mặt lá trong thời gian dài thì đã làm giảm hàm lượng axit amin so với đối chứng Hàm

Trang 27

lượng catechin tăng khi bón 300kg phân magie và sau đó giảm 50% bón phân kali Chỉ số hương thơm của chè ở các ô thí nghiệm bón magie cũng cao hơn so với đối chứng chỉ bón NPK Hàm lượng magie ở trong lá chè có tương quan với axit amin và axit amin chuyển hóa thành enzymes

Kết quả nghiên cứu của Napaporn et al (2012), cho rằng Se và Al đã thúc đẩy các acid ascorbic, chlorophylls, carotenoids, phenolic tổng số và hàm lượng axit béo trong lá chè Hàm lượng phenolic và chất lượng hóa học cao nhất được tìm thấy ở trong lá 19 chè khi nhận được 50ppm của Se Các dẫn xuất của catechin cao nhất, cụ thể là (+)-galloca-techin (GC), (-)-epigallocatechingallate (EGCG), (+)-gallocatechingallate (GCG), (-)-epicatechingallate (ECG) and (+)-catechingallate (CG) ở trong cây chè được xử lý với Al lớn hơn so với cây chè được xử lý với Se Hàm lượng phenolic tổng số tăng với sự tăng dần của chất diệp lục tổng số, catechin tổng số và các dẫn xuất của nó

2.5.2 Một số kết quả nghiên cứu phân bón ở Việt Nam

2.5.2.1 Phân bón hữu cơ

Hiện nay, đất trồng chè của Việt Nam rất nghèo chất hữu cơ, đất chua, hàm lượng các chất dinh dưỡng NPK tổng số và dễ tiêu đều rất nghèo Muốn canh tác chè có hiệu quả cần phải thâm canh ngay từ khi bắt đầu trồng chè Phân hữu cơ không thể thiếu khi thâm canh chè Bón phân sao cho có hiệu quả

là vấn đề cần quan tâm, vừa không thiếu dinh dưỡng, không lãng phí khi đất bị rửa trôi xói mòn Khi bón cùng một lượng phân nhưng ở thời điểm bón khác nhau chắc chắn hiệu quả sử dụng phân bón của mỗi giống chè sẽ khác nhau vì nhu cầu dinh dưỡng của từng giống là khác nhau

Theo tác giả Lê Văn Đức (1997); Lê Văn Đức và Đỗ Văn Ngọc (2004), đất trồng chè ở Việt Nam phần lớn là đất feralit vàng đỏ được phát triển trên đá granit, gnai, phiến thạch sét và mica Hiện nay đất trồng chè của Việt Nam rất nghèo chất hữu cơ, đất chua, hàm lượng các chất dinh dưỡng NPK tổng số và dễ tiêu đều rất nghèo Muốn canh tác chè có hiệu quả cần phải thâm canh ngay từ khi bắt đầu trồng chè, bón phân hữu cơ là yêu cầu không thể thiếu khi thâm canh

Năm 1966 – 1969, Viện nghiên cứu chè Phú Hộ đã nghiên cứu cho thấy phân hữu cơ (phân ủ, cành lá chè đốn) đều có hiệu lực tăng năng suất chè đáng

kể và cải thiện hóa lý tính đất trồng chè rõ rệt Cành lá chè đốn tốt hơn cây phân xanh trồng xen giữa hàng chè

Trang 28

Lê Tất Khương (1997), nghiên cứu biện pháp kỹ thuật nâng cao năng suất, chất lượng chè vụ đông xuân ở Bắc Thái, kết quả cho thấy, sản lượng chè có tủ bằng các chất hữu cơ có sẵn (rơm rạ, bồm, cẫng), tưới nước và tủ + tưới nước, của 3 tháng 10, 11, 12 tăng tương ứng từ 17% đến 110% Tỷ trọng vụ chè đông xuân so cả năm, của đối chứng đốn ngày 25/12 không tưới ủ là 22,9%, có tưới là 32,2%; đốn 25/02 có tưới là 37,0%; đốn 25/04 có tưới là 56,7%… Đốn chè vào tháng 4 năm sau có tưới + ủ, sản lượng chè đông xuân thu trong 3 tháng 10, 11,

12 cao nhất đạt 2,271kg/ha so với đối chứng đạt 210,7% Hiệu quả kinh tế lớn nhất vì chè bán trước tết với giá cao nên lãi lớn

Theo Nguyễn Thị Ngọc Bình và Nguyễn Văn Toàn (2007), khi nghiên cứu thử nghiệm phân hữu cơ vi sinh Sông Gianh cho cây chè Trung Du trồng tại Tân Cương, Thái Nguyên cho thấy 6 công thức có bón phân hữu cơ vi sinh đều làm tăng mật độ búp so với công thức đối chứng không bón phân vi sinh Sự sai khác trong các nhóm công thức là có ý nghĩa Trong đa số trường hợp khi thêm 30% lượng phân khoáng bằng phân hữu cơ tương ứng đều làm tăng mật độ búp ngoại trừ với trường hợp phân hữu cơ Fito

Nguyễn Thị Ngọc Bình và cs (2009), khi nghiên cứu sử dụng vật liệu hữu

cơ che phủ cho một số loại hình chè Trung Quốc nhập nội cho thấy sử dụng vật liệu che phủ đã làm giảm lượng xói mòn đất đáng kể, hạn chế tối đa sự suy giảm

độ phì đất từ đó làm tăng năng suất cũng như chất lượng chè

Theo báo cáo kết quả khảo nghiệm phân bón NPK hữu cơ thế hệ mới (Grow-A02, Grow - Mix) và phân bón sinh học Bồ Đề 688 trên giống chè Phúc Vân Tiên tháng 8 năm 2012, kết quả cho thấy: Phân bón Grow-A02, Grow – Mix kết hợp với phân sinh học Bồ Đề 688 đã góp phần làm tăng mật độ búp, trọng lượng búp, từ đó làm tăng năng suất chè so với đối chứng từ 20,0 – 24,5% Thành phần sinh hóa trong búp chè được cải thiện, hàm lượng tannin và chất hòa tan giảm

so với đối chứng, còn hàm lượng axit amin, catechin và đường tổng số tăng hơn so với đối chứng Kết quả đánh giá cảm quan đối với chè xanh đạt loại khá

Hoàng Thị Lệ Thu và cs (2013), cho rằng bón phân và đốn có ảnh hưởng

rõ rệt đến năng suất và chất lượng nguyên liệu chế biến chè Ô long Bón 15 tấn phân chuồng + 5 tấn phân gà/ha/năm, đốn cao cách mặt đất 55 cm, cho chất lượng nguyên liệu và sản phẩm chè Ô long đạt cao nhất

Tác giả Trần Thị Tuyết Thu (2014), trong điều kiện sản xuất chè ở Phú Hộ

để duy trì và cải thiện chất hữu cơ trong đất nên sử dụng tế guột ở mức 25 tấn/ha

Trang 29

và chu kỳ lặp lại sau 3 năm được xem là hợp lý nhất Trong trường hợp sử dụng cành lá chè đốn nên áp dụng ở mức 15 tấn/ha với chu kỳ bón bổ sung hàng năm

Theo Nguyễn Tử Siêm và Thái Phiên (1999), thí nghiệm về hiệu lực của phân chuồng và phân đạm đối với chè búp cho thấy bón phối hợp hai loại đã tăng năng suất chè lên 2 - 2,5 lần so với không bón

Kết quả nghiên cứu của Nguyễn Thị Ngọc Bình và cs (2009), các phế phụ phẩm nông nghiệp chủ yếu ở nước ta bao gồm vỏ trấu, lõi ngô, bã mía, mùn cưa,

vỏ dừa, bã thải nhà máy đường, nhà máy sắn Tổng sản lượng phế thải sinh khối hằng năm ở nước ta có thể đạt 8 - 11 triệu tấn Trong đó, riêng công nghiệp mía đường khoảng 2,5 - 3 triệu tấn bã mía, 0,25 - 0,3 triệu tấn bùn mía Công nghiệp cà phê mỗi năm tạo ra khoảng 0,2 - ,025 triệu tấn vỏ cà phê Vùng Tây Bắc có tới 55.000 tấn đến 60.000 tấn mùn cưa từ việc khai thác và chế biến gỗ Tính riêng lượng vỏ sắn thải ra từ các nhà máy sắn đóng trên địa bàn 3 tỉnh: Phú Thọ, Yên Bái, Tuyên Quang mỗi năm lần lượt là 4.500 tấn; 11.000 tấn và 2.200 tấn

Việc sử dụng phân hữu cơ có tầm quan trọng đặc biệt đối với sản xuất nông nghiệp, không những làm cho đất tơi xốp, dễ canh tác, giữ nước và chống được xói mòn, mà còn trả lại cho đất những phần dinh dưỡng mà cây lấy đi, giảm thiểu được việc lạm dụng phân bón hóa học, góp phần xây dựng một nền nông nghiệp hữu cơ, an toàn

2.5.2.2 Phân bón đa lượng (NPK)

Năm 1969 - 1979, trại thí nghiệm chè Phú Hộ đã tiến hành làm thí nghiệm bón phân N, P, K cho chè Theo tác giả Đỗ Ngọc Quỹ và Nguyễn Văn Toàn (2009), bón N và nhất là bón kali có tác dụng rất rõ đến việc làm tăng năng suất chè Bón lân năng suất ít chênh lệch so với đối chứng, bón kali tăng pHKCl của đất

Theo Phạm Kiến Nghiệp (1984), nghiên cứu mức bón phân đạm trên 2 giống chè Shan TB11 và TB14 ở vùng chè Bảo Lộc – Lâm Đồng đã kết luận với lượng bón đạm đơn độc với lượng cao (từ 100 – 400 kg N/ha) cho thấy: Lượng đạm bón tăng dẫn tới năng suất tăng theo, nhưng hiệu quả sử dụng 1kg N lại giảm và mức bón 400 kg N/ha hiệu quả giảm 33% so mức bón 100 kg N/ha

Tác giả Vũ Cao Thái (1996), việc sử dụng phân bón cân đối là tiền đề duy trì năng suất cao và tiết kiệm phân bón Sử dụng phân bón không cân đối có thể dẫn tới thoái hóa đất và suy giảm sức sản xuất của đất Mục tiêu của sử dụng phân bón cân đối là tăng năng suất cây trồng, chất lượng nông sản, hiệu chỉnh sự

Trang 30

thiếu hụt các chất dinh dưỡng của cây trồng mà đất thiếu, duy trì, cải thiện độ phì nhiêu của đất

Cây chè là cây thu hoạch búp lá do đó trong sản xuất hiện nay vẫn áp dụng cách tính lượng bón N cho chè theo tấn búp thu hoạch Khi bón lượng đạm tăng dần từ 20N đến 40N/tấn sản phẩm, năng suất chè tăng ở mức có ý nghĩa; khi bón ở mức 35N đến 40N/tấn sản phẩm, lượng đạm càng tăng, tốc độ tăng năng suất giảm dần Bón 35N/tấn sản phẩm với tỷ lệ N:P:K = 3:1:1 trên chè (sản xuất kinh doanh) ở mức trên 10 tấn/ha là thích hợp Khi thay thế 80% đạm vô cơ bằng đạm hữu cơ cho chất lượng chè chế biến cao nhất, điểm thử nếm cảm quan đạt 16,37 điểm, nhất là hương thơm và vị của chè được cải thiện Bón N:P:K:Mg tỷ lệ 3:1:1:0,3 trên nền phân ủ, tăng mật độ búp, giảm tỷ lệ búp

mù xòe và năng suất chè tăng 15,93% so với đối chứng (Đ/C) Như vậy, bón phân NPK tỷ lệ 3:1:1 (35kg N/tấn sản phẩm), kết hợp với Mg và thay thế một phần đạm vô cơ bằng đạm hữu cơ, có ảnh hưởng tốt đến năng suất và chất lượng chè (Đỗ Văn Ngọc, 2006)

Canh tác chè ở nước ta trong thời gian qua do sử dụng lượng phân bón, thuốc trừ sâu hóa học với mật độ quá lớn và trong thời gian quá dài, đặc biệt là bón quá nhiều đạm urê lên lá để rút ngắn thời gian thu hái đã làm cây chè bị suy thoái, tăng nguy cơ dư lượng chất độc hại trong sản phẩm, khiến chất lượng chè giảm mạnh Không chỉ vậy, đất đai vùng chè từ đó cũng bị suy kiệt dinh dưỡng,

độ chua và bạc màu tăng cao ảnh hưởng lâu dài đến quy hoạch vùng sản xuất chè an toàn Mặt khác, bón phân khoáng cân đối và bổ sung phân hữu cơ đều làm tăng sản lượng chè Nhưng liều lượng NPK thích hợp cho nương chè còn phụ thuộc vào tính chất lý hóa của đất, tuổi chè và yếu tố tác động các các yếu tố sinh thái (Nguyễn Văn Hùng và Nguyễn Văn Tạo, 2006)

Tác giả Đinh Thị Ngọ (1996), khi nghiên cứu ảnh hưởng của phân khoáng đến sinh trưởng, phát triển và chất lượng chè giống PH1, TH3, TRI-777 cho thấy: Các nguyên tố NPK có tác dụng tăng sinh khối có thể xếp thứ tự như sau: N>P>K Tỷ lệ phối hợp N:P:K = 2:2:1 chè cho năng suất cao và hiệu quả kinh tế nhất Cũng theo Đinh Thị Ngọ (2009), cho rằng khi bón phân NPK phối hợp cho chè Shan vùng thấp với tỷ lệ 3:1:2 và 3:1:1 cho năng suất cao Nguyên liệu chế biến chè đen tỷ lệ phối hợp 2:1:2 và 3:2:1 cho chất lượng cao Nguyên liệu chế biến chè xanh tỷ lệ phối hợp 2:1:2 và 3:1:2

Trang 31

Nguyễn Xuân Cường (2010), nghiên cứu lượng bón N + P2O5 + K2O =

300 kg, được phối hợp NPK theo 4 tỷ lệ: 2:1:1; 3:1:1; 3:1:2; 3:2:1, cho hai giống chè Shan Chất Tiền và Phúc Vân Tiên 4 tuổi cho thấy: Tỷ lệ phối hợp 3:1:2 cho số búp trên cây, năng suất cao nhất và sản phẩm chè xanh cho chất lượng chè xanh ngon hơn (giống Shan Chất Tiền đạt 15,55 điểm, giống Phúc Vân Tiên đạt 17,74 điểm) Với sản phẩm chè đen bón phân theo tỷ lệ 3:2:1 cho chất lượng chè ngon hơn (đều đạt điểm cao, 17,55 điểm trên giống Shan Chất Tiền, 16,82 điểm trên giống Phúc Vân Tiên), trong đó điểm về hương và vị cao hơn các tỷ lệ phối hợp khác

Ở Việt Nam vấn đề sử dụng phân khoáng cho chè còn gặp nhiều khó khăn, phần lớn đất trồng chè rất nghèo dinh dưỡng, địa hình đa dạng và phức tạp, khả năng đầu tư phân bón cho chè còn hạn chế Kỹ thuật bón phân cho chè của nông dân ở Việt Nam biến động rất lớn Có một khoảng cách rất xa từ sự khuyến cáo của các cơ quan chuyên môn so với thực tế bón phân cho chè của dân Lượng đạm khuyến cáo bón cho chè chỉ dưới 200kg N/ha/năm, trong khi thực tế nông dân thâm canh có thể bón đến 400 – 500 kg N/ha/năm, có khi lên đến cả 1000 kg N/ha/năm và đạt năng suất rất cao (15 – 20 tấn chè búp/ha, tương đương 3 - 4 tấn chè thương phẩm) Phân kali được khuyến cáo bón rất cao nhưng nông dân lại bón rất thấp vì sợ chè ra nhiều quả

Thông thường, cây trồng sau mỗi vụ thu hoạch hút đi từ đất tới 20 nguyên

tố hóa học, nhưng trong các hướng dẫn khuyến nông hiện nay chủ yếu khuyến cáo người dân bón cân đối 3 loại dinh dưỡng đa lượng là N (đạm), P (lân) và K (kali) mà rất ít khi đề cập tới các yếu tố trung lượng và vi lượng vô cùng quan trọng khác như: Mg (magiê), Si (silic), Zn (kẽm), Fe (sắt), Cu (đồng)…Đặc biệt, địa hình canh tác cây chè chủ yếu là đồi núi dốc nên các khoáng chất hay bị rửa trôi vào mùa mưa và bị khoáng hóa vào mùa khô nên đất ngày càng nghèo dinh dưỡng do ít bổ sung phân chuồng, chất hữu cơ…

Nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đối với cây trồng, hầu hết các tác giả chú trọng đến các loại phân đa lượng như N, P, K còn các loại phân trung lượng (Ca, Mg, S), kết quả nghiên cứu còn hạn chế

Như vậy, bón phân là một trong những biện pháp kỹ thuật được thực hiện phổ biến, mang lại hiệu quả lớn, nhưng cũng chiếm phần khá cao trong chi phí sản xuất nông nghiệp Nhu cầu phân bón đối với cây chè phụ thuộc nhiều vào độ tuổi

Trang 32

cây và năng suất thu hái hàng năm Chè có khả năng hấp thu dinh dưỡng liên tục trong suốt quá trình sinh trưởng và phát triển Bón phân hợp lý góp phần tăng thu nhập cho nông dân, tạo điều kiện cải thiện đời sống và làm giàu cho nông dân Với mục tiêu bón phân cân đối và tỷ lệ thích hợp cho cây chè theo hướng nâng cao năng suất nhưng không làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguyên liệu chè và giảm chi phí phân bón cho 1 tấn sản phẩm (chè búp) Một yếu tố quan trọng trong việc hạ giá thành, đang được những nhà sản xuất chè quan tâm

Nghiên cứu về phân bón cho chè ở Việt Nam chưa có cho một giống chè cụ thể do đó cần tăng cường hơn nữa sự quan tâm của các nhà nghiên cứu về vấn đề

sử dụng phân bón cho chè để áp dụng vào sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao 2.5.2.3 Phân bón trung lượng

Nghiên cứu về ảnh hưởng của phân bón đối với cây trồng, hầu hết các tác giả chú trọng đến các loại phân đa lượng như N, P, K còn các loại phân trung lượng (Ca, Mg, S), kết quả nghiên cứu còn hạn chế

Tác giả Hà Thị Thanh Đoàn (2008), khi nghiên cứu ảnh hưởng của MgSO4 đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng của hai giống chè Shan Chất Tiền và LDP1, kết quả cho thấy khi bón NPK kết hợp với bón bổ sung 50 kg MgSO4/ha đối với giống chè Shan Chất Tiền (giai đoạn kiến thiết cơ bản) và giống chè LDP1 (giai đoạn sản xuất kinh doanh) đều làm tăng năng suất và chất lượng chè

Theo Đỗ Văn Ngọc (2012), khi nghiên cứu ảnh hưởng của MgSO4 đến sinh trưởng, năng suất và chất lượng giống chè Kim Tuyên khi bón 30 tấn phân hữu cơ + 1000 kg đậu tương + 75 kg MgSO4/ha chè để sản xuất nguyên liệu chè

Ô long, về lượng bón và tỷ lệ bón NPK (3:1:2) với 30kg N/tấn sản phẩm đều làm tăng năng suất và chất lượng chè

Ở Việt Nam bước đầu đang nghiên cứu ảnh hưởng của một số nguyên tố

vi lượng như Zn, B, Mo, Mn, Cu, đối với sự sinh trưởng và phát dục của chè,

Trang 33

hoặc dùng H3BO4 (0,02%) phun phối hợp với urê (2%) để trừ sâu và thúc đẩy sinh trưởng cho chè càng cho kết quả tốt

2.6 TÌNH HÌNH SỬ DỤNG PHÂN BÓN CHO CHÈ TẠI VÙNG TRIỂN KHAI THÍ NGHIỆM

Vùng triển khai thí nghiệm tuy là vùng mà cây chè đã gắn bó với đời sống của người dân từ nhiều đời nay, tuy nhiên đại đa số ở đây người ta chỉ canh tác chè dựa vào kinh nghiệm từ đời này sang đời khác Các biện pháp kĩ thuật canh tác như đốn, hái, chế biến sản phẩm đều dựa vào kinh nghiệm Việc bón phân cho nương chè tùy thuộc vào điều kiện kinh tế của các hộ Tuy nhiên một điểm chung là phân bón cho cây chè được sử dụng không cân đối, người ta chủ yếu quan tâm tới yếu tố đạm (N) mà rất ít khi bón Lân (P) và Kali (K) Người dân đã bón với lượng 40N/tấn sản phẩm (3:1:1) cao hơn so với quy trình hiện hành (quy trình 30N/tấn sản phẩm)

Bón phân như thế nào nhằm đạt năng suất cây trồng cao, phẩm chất tốt và quan trọng hơn đạt lợi nhuận cao nhất cho trồng trọt mà không làm cho đất bị suy thoái và ảnh hưởng xấu tới môi trường thì ta cần xây dựng một quy trình bón phân phù hợp với cây trồng trong điều kiện cụ thể Quy trình bón phân hợp lý cho cây trồng là toàn bộ những quy định về loại phân, dạng phân bón, lượng phân bón, thời kỳ bón phân, phương pháp bón phân phù hợp với đặc điểm của cây trồng, đất trồng, khí hậu thời tiết và các vấn đề khác liên quan đến cây trồng được bón phân

2.7 MỘT SỐ NGHIÊN CỨU VỀ SÂU HẠI TRÊN THẾ GIỚI VÀ VIỆT NAM

Một trong những nguyên nhân quan trọng khiến năng suất chè của ta thấp

là vì sâu bệnh phá hoại Do khí hậu thích hợp, cây chè sinh trưởng hầu như quanh năm nên sâu bệnh phát triển rất đa dạng và liên tục, gây khó khăn cho công tác phòng trừ

2.7.1 Nghiên cứu sâu hại trên thế giới

Những nghiên cứu về sâu hại chè đã được nhiều tác giả trên thế giới quan tâm Theo Ruttan (1992), có tới trên 200 loài côn trùng và nhện đã được biết trên chè ở Châu Phi, nhưng chỉ có một số ít loài quan trọng Sâu hại lá chè là quan trọng nhất, tác hại của chúng làm suy yếu cây chè và trực tiếp làm giảm năng suất

Fruhlich and Rodewald (1970), cũng cho biết ở vùng nhiệt đới có các loài

Trang 34

sâu hại chè quan trọng như: Sâu đục thân mình đỏ (Zeuzera coffeae), mọt đục cành (Xyleborus sp.), nhện hại có 5 loài, bọ trĩ có Dendothrips bispinosus và Physothrips setiventris, rầy xanh (Emposca flavcens Fabr), bọ xít muỗi (Mosquito bug),…

Theo Othieno (1994), ở Kenya có những loài sâu nếu không áp dụng các biện pháp ngăn chặn sẽ trở thành sâu có tầm quan trọng kinh tế như bọ trĩ, và các loài nhện đỏ

Theo Srivastava and Butani (1987), ở Ấn Độ đã định danh trên 200 loài sâu hại chè, chúng hại thân, lá, rễ búp chè Quan trọng nhất là các sâu dưới đất, sâu chích hút và các loại sâu ăn lá

Để hạn chế tác hại của sâu hại chè, có nhiều biện pháp tác động Theo tác giả Eden (1958), cho rằng biện pháp đầu tiên là làm giảm nguồn thức ăn của chúng Có thể chia làm 3 hướng như sau:

Tăng cường các giống không hấp dẫn đối với sâu hại

Sản sinh ra các mô độc bằng cách thấm thuốc

Dùng biện pháp trồng trọt tránh giai đoạn mẫn cảm của cây trồng trùng với cao điểm của dịch hại

2.7.2 Nghiên cứu sâu hại ở Việt Nam

Theo tác giả Đỗ Ngọc Quỹ và Lê Tất Khương (2000), đã xác định 28 loài sâu bệnh hại chè, trong đó sâu hại có 25 loài Các tỉnh phía Bắc Việt Nam có các loài quan trọng như: bọ xít muỗi (Mosquito bug), nhện đỏ (Oiigonychus coffeae Nictner), rầy xanh (Emposca flavcens Fabr), sâu đục thân mình đỏ (Zeuzera coffeae)

Năm 1967-1968 sau cuộc tổng điều tra công trùng ở các tỉnh phía Bắc, Viện Bảo vệ thực vật đã có danh mục sâu hại chè gồm 34 loài Các loài thường xuất hiện nhiều như: sâu chum, sâu cuốn lá; rệp sáp xanh, rầy xanh, bọ xít muỗi,

bọ xít hoa, mối

Trạm nghiên cứu chè tiếp tục nghiên cứu thành phần sâu hại chè các năm 1986-1987 đã cho biết: Các loài quan trọng và phổ biến có rầy xanh, nhện đỏ và bọ trĩ, còn bọ xít muỗi chỉ hại cục bộ ở một số khu vực và một số giống chè nhất định ở Phú Hộ Ở vùng song Cầu (Thái Nguyên), Phạm Thị Vượng và Nguyễn Văn Hành (1989) cho biết rầy xanh, bọ trĩ, nhện đỏ và mối

là 4 loại sâu hại chủ yếu

Mật độ trung bình của sâu hại qua một thời gian dài được gọi là điểm cân

Trang 35

bằng EP (Equilibrium Position) và số lượng của chúng dao động quanh điểm cân bằng đó Mật độ quần thể thấp nhất gây thiệt hại kinh tế được gọi là mức thiệt hại kinh tế EIL (Ecomomic Injury Level) Ở giai đoạn này, giá thành của việc phòng trừ ngang bằng với giá trị mất đi do dịch hại Ngưỡng kinh tế ET (Ecomomic Threshold) là mật độ quần thể dịch hại ở đó cần phải áp dụng các biện pháp phòng trừ để ngăn chặn mật độ dịch hại không tăng tới mức thiệt hại kinh tế (EIL) Như vậy ET luôn luôn thấp hơn EIL (Nguyễn Công Thuật, 1995)

2.8 MỘT SỐ NHẬN XÉT RÚT RA TỪ TỔNG QUAN

Những kết quả nghiên cứu đã khẳng định sự cần thiết bón phân đủ lượng

và cân đối giữa các nguyên tố Trong đó, cho thấy vai trò hàng đầu của N đối với cây chè, nhưng N có hiệu lực tốt đến năng suất, chất lượng chè chỉ trên cơ sở bón cân đối với P và K cùng các nguyên tố bán đa lượng và vi lượng khác như Mg và

Bo Các kết quả còn cho thấy kỹ thuật bón phân phụ thuộc vào giống chè, đất đai, tuổi cây, vùng trồng,…Về lượng bón N,P,K cho nương chè sản xuất nguyên liệu chế biến chè xanh, chè Ô long ở Việt Nam còn thấp hơn so với lượng bón NPK ở các vùng chè Trung Quốc, Nhật Bản và Đài Loan

Ở Việt Nam việc sử dụng phân bón cho chè còn nhiều vấn đề cần giải quyết, phần lớn đất trồng chè rất nghèo dinh dưỡng, địa hình đa dạng và phức tạp, khả năng đầu tư phân bón thâm canh cho chè rất hạn chế, kết quả nghiên cứu chưa nhiều Theo kết quả điều tra tại các tỉnh trồng chè Trung Du và miền núi phía Bắc của Viện Nghiên cứu chè Việt Nam 2004, cho thấy: Tỷ lệ sử dụng N:P:K mất cân đối, nhìn chung chú ý nhiều lượng bón N mà ít chú ý đến các nguyên tố khác, vì thế đã không phát huy được hiệu quả của bón phân, đặc biệt chất lượng nguyên liệu chè giảm Lượng bón phân vô cơ ở Việt Nam thấp hơn các nước Nhật Bản, Srilanka Do vậy việc nghiên cứu liều lượng, tỷ lệ bón của một số yếu tố phân bón cho chè là rất cần thiết trong thâm canh chè hiện nay

Các nghiên cứu trước đây chủ yếu nghiên để đưa ra quy trình chung cho các giống vì vậy có những giống sinh trưởng tốt, có những giống chưa phù hợp Nghiên cứu liều lượng và tỷ lệ phân bón cho một giống chè cụ thể còn chưa được chú ý

Nghiên cứu về chế độ bón phân cho cây chè Trung Du búp tím còn ở mức hạn chế, để nâng cao năng suất, chất lượng và phát triển giống chè Trung Du búp tím thì việc nghiên cứu chế độ bón phân phù hợp cho giống chè này là việc làm rất cần thiết

Trang 36

Tập trung vào hướng nâng cao hàm lượng dinh dưỡng cho đất, bổ sung các nguyên tố cần thiết cho cây chè N, P, K và Mg trong đó tăng tỷ lệ kali Mặt khác, do hàm lượng các chất hữu cơ trong đất trồng chè thấp cần bổ sung hàm lượng chất hữu cơ cho chè, bổ sung đậu tương ngâm để nâng cao cải thiện lý hóa cho đất trồng chè Với mục tiêu bón phân cân đối và tỷ lệ thích hợp cho cây chè phát triển theo hướng nâng cao năng suất nhưng không làm ảnh hưởng xấu đến chất lượng nguyên liệu chè

Trang 37

PHẦN 3 VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 ĐỊA ĐIỂM NGHIÊN CỨU

Các thí nghiệm được bố trí tại xã Hanh Cù – huyện Thanh Ba - tỉnh Phú Thọ, độ cao so với mặt nước biển là 25m, thuộc vùng Trung du Bắc Bộ, có khí hậu nhiệt đới gió mùa

3.2 THỜI GIAN NGHIÊN CỨU

Thời gian nghiên cứu từ tháng 12/2015 – đến tháng 12/2016

3.3 ĐỐI TƯỢNG/ VẬT LIỆU NGHIÊN CỨU

3.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Giống chè Trung Du búp tím tuổi 10 trồng bằng hạt, năng suất hiện tại đạt

6 tấn/ha

3.3.2 Vật liệu nghiên cứu

- Phân đạm Urê Hà Bắc (46% N)

- Phân KCl (60% K2O)

- Phân super lân Lâm Thao (17% P2O5)

- Phân MgSO4 H2O thương phẩm (17% Mg)

- Đậu tương ngâm

Đậu tương được nghiền nhỏ, trộn đều với nước sao cho đủ ẩm Ngâm ủ trong thùng nhựa đậy kín nắp Cứ 10 ngày mở ra đảo đều, cho thêm nước Thời gian ngâm ủ 60 ngày Khi bón thì hòa vào nước, dùng ô doa tưới vào giữa hai hàng chè

- Phân chuồng hoai mục (từ phân Trâu, phân Bò)

3.4 NỘI DUNG NGHIÊN CỨU

- Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ bón N, P, K đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống chè Trung Du búp tím

- Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón MgSO4 và đậu tương bổ sung đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống chè Trung Du búp tím 3.5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.5.1 Thiết kế thí nghiệm

Thí nghiệm được bố trí với 4 công thức và 3 lần nhắc lại Thí nghiệm được bố trí theo phương pháp khối ngẫu nhiên đầy đủ (RCBD) Diện tích ô thí nghiệm 50 m2,

Trang 38

tổng diện tích toàn thí nghiệm là 1.200 m2 Các công thức thí nghiệm cách nhau 1 hàng chè

3.5.2 Quy trình nghiên cứu

Thí nghiệm 1: Nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ bón N, P, K đến sinh trưởng, phát triển, năng suất và chất lượng giống chè Trung Du búp tím

Thí nghiệm gồm 4 công thức: Các công thức bón phân cho giống chè Trung Du búp tím năng suất 6 tấn/ha, trên nền 30 tấn phân chuồng

CT1: Bón 240 kg N + 80 kg P2O5 + 80 kg K2O/ha (N = 40 kg/tấn sản phẩm; NPK 3:1:1) (Đối chứng)

CT2: Bón 240 kg N + 160 kg P2O5 + 80 kg K2O/ha (N = 40 kg/tấn sản phẩm; NPK 3:2:1)

CT3: Bón 240 kg N + 80 kg P2O5 + 160 kg K2O/ha (N = 40 kg/tấn sản phẩm; NPK 3:1:2)

CT4: Bón 240 kg N + 160 kg P2O5 + 160 kg K2O/ha (N = 40 kg/tấn sản phẩm; NPK 3:2:2)

Số lần bón: Lượng phân được chia làm 4 lần

Trang 39

Thí nghiệm 2: Nghiên cứu ảnh hưởng của liều lượng bón bổ sung

lượng giống chè Trung Du búp tím

Thí nghiệm gồm 4 công thức: Các công thức bón phân cho giống chè Trung Du búp tím năng suất 6 tấn/ha, trên nền 30 tấn phân chuồng

CT1: Bón 240 kg N + 80 kg P2O5 + 160 kg K2O/ha (N = 40 kg/tấn sản phẩm; NPK 3:1:2) (Đối chứng)

CT2: Bón 240 kg N + 80 kg P2O5 + 160 kg K2O/ha (N = 40 kg/tấn sản phẩm; NPK 3:1:2) + 75 kg MgSO4/ha

CT3: Bón 240 kg N + 80 kg P2O5 + 160 kg K2O/ha (N = 40 kg/tấn sản phẩm; NPK 3:1:2) + 1000 kg đậu tương ngâm/ha

CT4: Bón 240 kg N + 80 kg P2O5 + 160 kg K2O/ha (N = 40 kg/tấn sản

Số lần bón: Lượng phân được chia làm 4 lần

Các kĩ thuật khác áp dụng theo tiêu chuẩn hiện hành

Trang 40

3.5.3 Các chỉ tiêu nghiên cứu và phương pháp xác định

Các chỉ tiêuvà phương pháp nghiên cứu theo quy phạm QCVN 01 – 124: 2013/BNNPTNT

3.5.3.1 Các chỉ tiêu sinh trưởng

Chọn những cây chè có kích thước trung bình đại diện cho ô thí nghiệm Mỗi ô chọn 5 cây (có đánh dấu cây) theo phương pháp đường chéo, với 3 lần nhắc lại là 15 cây Các chỉ tiêu theo dõi gồm:

- Chiều cao cây (cm)

Thời gian đo: Theo dõi 2 lần, trước khi tiến hành thí nghiệm (tháng 12/2015) và khi kết thúc thí nghiệm (tháng 12/2016)

Phương pháp đo: Dùng một khung vuông có kích thước bằng diện tích tán chè đặt lên mặt tán thăng bằng song song với mặt đất, chiều cao cây đo từ mặt đất đến khung vuông

- Chiều dài búp 1 tôm 2 lá (cm)

Chiều dài búp là chiều dài từ điểm giữa lá 2 và lá 3 đến đỉnh sinh trưởng búp Mỗi ô chọn 5 điểm theo phương pháp đường chéo, mỗi điểm hái ngẫu nhiên

và đo 10 búp Tính số liệu trung bình

Ngày đăng: 17/07/2021, 07:09

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w