1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Luận văn thạc sĩ BIểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện hành vi đe dọa thể hiện trong truyện ngăn Nam Cao

105 145 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 105
Dung lượng 1,79 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNGTRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG BIỂU HIỆN NGÔN NGỮ CỦA CHIẾN LƯỢC LỊCH SỰ ÂM TÍNH KHI THỰC HIỆN HÀNH VI ĐE DỌA THỂ DIỆN TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG

BIỂU HIỆN NGÔN NGỮ CỦA CHIẾN LƯỢC

LỊCH SỰ ÂM TÍNH KHI THỰC HIỆN

HÀNH VI ĐE DỌA THỂ DIỆN TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: NGÔN NGỮ VIỆT NAM

Trang 2

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới sự

hướng dẫn của Tiến sĩ Nguyễn Thị Thuận Các số liệu, kết quả trong luận văn

là trung thực và chưa từng được ai công bố trong bất kỳ công trình nào khác

Hải Phòng, ngày 16 tháng 12 năm 2016

Tác giả luận văn

Edited with the trial version of Foxit Advanced PDF Editor

To remove this notice, visit: www.foxitsoftware.com/shopping

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn chân thành, sâu sắc tới các Thầy giáo,

Cô giáo Viện Ngôn ngữ học, Trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Trường Đại

học Hải Phòng Với những bài giảng sâu sắc, bằng sự tâm huyết, lòng nhiệt

tình, các Thầy Cô đã truyền thụ, bồi dưỡng kiến thức cho học viên chúng tôi

trong suốt thời gian học tập và nghiên cứu khoa học

Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Cô giáo - Tiến sĩ

Nguyễn Thị Thuận, người đã nhiệt tình, tận tụy và đầy trách nhiệm hướng dẫn

khoa học cho tôi trong suốt quá trình thực hiện đề tài

Tôi xin trân trọng cảm ơn Phòng quản lý sau đại học - Trường Đại học

Hải Phòng

Xin cảm ơn các bạn đồng nghiệp và gia đình đã động viên, chia sẻ,

giúp đỡ tôi trong quá trình học tập và nghiên cứu để hoàn thành khóa luận

Trang 4

MỤC LỤC

LỜI CAM ĐOAN i

LỜI CẢM ƠN……… ii

MỤC LỤC……… iii

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv

DANH MỤC BẢNG v

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI………

8 1.1 Lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ……… 8

1.1.1 Khái niệm lịch sự……… 8

1.1.2 Các phương châm lịch sự……… 9

1.1.3 Thể diện……… 10

1.1.4 Chiến lược lịch sự âm tính……… 11

1.1.5 Những biểu hiện ngôn ngữ của phép lịch sự âm tính……… 12

1.2 Vai giao tiếp……… 13

1.2.1 Một số quan điểm về vai giao tiếp……… 13

1.2.2 Các phương tiện thể hiện vai giao tiếp……… 15

1.3 Vị thế xã hội……… 17

1.4 Vị thế giao tiếp…….……… 17

1.5 Lí thuyết về hành động ngôn ngữ ……… 19

1.5.1 Khái niệm về hành động ngôn ngữ……… 19

1.5.2 Phân loại các lớp hành động ngôn ngữ……… 20

1.5.3 Cách sử dụng hành động ở lời……… 20

1.6 Vài nét khái quát về cuộc đời và quan điểm nghệ thuật của Nam Cao………

22 1.6.1 Vài nét về cuộc đời Nam Cao……… 22

Trang 5

1.6.2 Vài nét về quan điểm nghệ thuật của Nam Cao……… 24

1.7 Tiểu kết chương 1……… 25

CHƯƠNG 2: CÁC BIỆN PHÁP THAY THẾ HÀNH VI ĐE DỌA THỂ DIỆN TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO

27 2.1 Nhận xét chung về việc dùng các biện pháp thay thế hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao

27 2.2 Dùng các phương tiện tu từ 29

2.2.1 Ẩn dụ 31

2.2.2 Điệp ngữ và trùng điệp cú pháp 34

2.2.3 Tỉnh lược và im lặng 36

2.2.4 Câu hỏi tu từ 38

2.3 Dùng các phép phủ định lịch sự 41

2.4 Dùng các hành vi ngôn ngữ gián tiếp 42

2.5 Tiểu kết chương 2 45

CHƯƠNG 3: CÁC BIỆN PHÁP ĐI KÈM HÀNH VI ĐE DỌA THỂ DIỆN TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO

47 3.1 Nhận xét chung về việc dùng các biện pháp đi kèm hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao

47 3.2 Dùng biện pháp “tháo ngòi nổ” 49

3.3 Nêu lí do để thanh minh 52

3.4 Dùng yếu tố vuốt ve 54

3.5 Dùng yếu tố rào đón, ướm lời 59

3.6 Dùng kiểu tiền dẫn nhập một hành động bằng câu hỏi 62

3.7 Dùng lời xin lỗi 64

3.8 Tiểu kết chương 3 65

KẾT LUẬN 69

TÀI LIỆU THAM KHẢO 71

Trang 6

DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT

FTA Hành vi đe dọa thể diện

Sp Người tham gia vào hội thoại

Trang 7

2.1 Tổng hợp tần suất sử dụng các biện pháp thay thế hành

vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao

28

2.2 Tổng hợp tần suất sử dụng các phương tiện tu từ trong

truyện ngắn Nam Cao

30

3.1 Tổng hợp tần suất sử dụng các biện pháp đi kèm hành

vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao

47

Trang 8

Từ đầu nửa sau của thế kỉ XX, Ngôn ngữ học đã chuyển mạnh từ kí hiệu học và cấu trúc luận sang tìm hiểu việc sử dụng ngôn ngữ và được gọi là Dụng học trong ngôn ngữ học Dụng học ra đời chẳng những không phủ định các thành tựu trước kia của ngôn ngữ học, mà còn mở ra nhiều vấn đề mới mẻ

và hữu ích Nghiên cứu dụng học (ngôn ngữ trong giao tiếp) mới thấy hết giá trị và tính phức tạp của nó trong thực tế sử dụng ngôn ngữ của con người

Hiện nay bộ môn Ngữ dụng học ngày càng được quan tâm, nghiên cứu nhiều hơn Đặc biệt “Lịch sự” đã trở thành vấn đề được quan tâm nghiên cứu

của nhiều nhà Ngữ dụng học

Các nhà nghiên cứu ngôn ngữ R.Lakoff, P.Brown và G.N.Leech,

S.Levinson thống nhất cho rằng lịch sự là chiến lược hay phương tiện tránh

đụng độ trong giao tiếp Quan niệm này được trình bày rõ ràng nhất trong mô

hình lý thuyết về lịch sự của P.Brown và S.Levinson: “Lịch sự là một chiến lược nhằm sửa đổi, giảm thiểu mức độ “mất thể diện” đã hoặc sẽ xảy ra trong hoạt động giao tiếp của con người” [43, tr.47] Còn theo Từ điển tiếng Việt của Hoàng Phê, “Lịch sự” là “có thái độ nhã nhặn, lễ độ khi giao tiếp

phù hợp với quan niệm và phép tắc xã giao của xã hội” [29, tr.566] Dù là

quan niệm nào chúng ta đều thấy có sự đồng nhất quan điểm rằng Lịch sự là

một phương thức để giảm thiểu sự xung đột trong diễn ngôn Những chiến lược lịch sự có nhiệm vụ đặc biệt là làm cho cuộc tương tác được thuận lợi Chiến lược lịch sự là cách ứng xử ngôn ngữ khôn khéo, tế nhị nhằm tránh xúc

Trang 9

2 phạm hay áp đặt và làm tăng sự vừa lòng đối với người đối thoại để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất

Lịch sự được các nhà nghiên cứu chia thành 2 loại: Lịch sự dương tính

và Lịch sự âm tính trong đó Lịch sự âm tính hướng vào thể diện âm tính, vào

lãnh địa của đối tác, tức là phép lịch sự này có tính né tránh (tránh không dùng những hành vi đe dọa thể diện hoặc bù đắp, giảm nhẹ hiệu lực của các hành vi đe dọa thể diện khi không thể không dùng chúng) Trong thực tế, con người luôn sống trong các quan hệ xã hội đa dạng, phức tạp Các quan hệ này tạo ra môi trường sống của mỗi cá nhân và ảnh hưởng đến sự hình thành nhân cách và xu hướng hành động của họ Chính cuộc sống đòi hỏi mỗi người phải

có cách xử thế đúng đắn, thể hiện qua phép Lịch sự Trong quá trình giao tiếp,

người ta thực hiện hàng loạt các hành động ngôn ngữ có tính đe dọa thể diện Nguyên tắc lịch sự đòi hỏi chúng ta không thực hiện các hành động đó hoặc tìm cách giảm nhẹ tính đe dọa bằng các phương tiện ngôn ngữ khác nhau Không đe dọa thể diện của đối tác là một nguyên tắc tối cao trong giao tiếp

Vì vậy các nguyên tắc lịch sự đã được tạo ra nhằm tránh hoặc làm giảm tính căng thẳng trong giao tiếp

Nam Cao là cây bút xuất sắc của văn học hiện thực phê phán Việt Nam giai đoạn 1930-1945 Ông đã để lại cho đời những tác phẩm bất hủ, đặc biệt

là thể loại truyện ngắn Đã gần một thế kỉ trôi qua, nhưng những nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao vẫn sống mãi với thời gian bởi nét độc đáo trong nghệ thuật giao tiếp Hệ thống các nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao đã phản ánh một cách sống động bức tranh hiện thực của xã hội đương thời Có thể khẳng định rằng chiến lược lịch sự trong cách sử dụng ngôn ngữ của các nhân vật chính là một nét đặc sắc trong nghệ thuật sáng tác của nhà văn Nam Cao Như đã nói chiến lược lịch sự là cách ứng xử ngôn ngữ khôn khéo, tế nhị nhằm tránh xúc phạm hay áp đặt và làm tăng sự vừa lòng đối với người đối thoại để đạt hiệu quả giao tiếp cao nhất Sở dĩ nhà văn Nam Cao được đánh giá là một bậc thầy trong sử dụng ngôn ngữ tiếng Việt chính là bởi ông đã

Trang 10

3 sáng tạo ngôn ngữ nhân vật trong truyện ngắn của mình với chiến lược giao tiếp lịch sự được biểu hiện hết sức phong phú

Đã có nhiều công trình nghiên cứu, tìm hiểu về truyện ngắn Nam Cao nhưng theo những tài liệu mà chúng tôi đã có dịp tìm hiểu thì tính đến thời điểm này chưa có một công trình nào tìm hiểu về những biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện Đây là một vấn đề mà chúng tôi cho rằng rất hấp dẫn trong việc tìm hiểu ngôn ngữ nhân vật của ngòi bút Nam Cao Với cương vị là một giáo viên dạy Ngữ văn

ở nhà trường phổ thông, tôi rất muốn đi sâu tìm hiểu phương diện này để có thêm kiến thức giúp học sinh của mình khám phá các tầng giá trị của ngôn

ngữ văn chương Vì vậy, tôi đã chọn “Biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch

sự âm tính khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao”

làm đối tượng nghiên cứu của đề tài Từ đó, góp thêm một tiếng nói nhằm khẳng định giá trị của lí thuyết giao tiếp qua nghệ thuật sử dụng ngôn từ trong truyện ngắn Nam Cao

đi sâu tìm hiểu như Đại cương ngôn ngữ học, Tập 2 và giáo trình Ngữ dụng học của Đỗ Hữu Châu, Ngôn ngữ học xã hội của Nguyễn Văn Khang, giáo trình Ngữ dụng học của Đỗ Thị Kim Liên, giáo trình Ngữ dụng học của

Nguyễn Thị Thuận Nhìn chung các tác giả này đều có chung quan điểm coi lịch sự là chiến lược hay phương tiện để tránh đụng độ trong giao tiếp Các

công trình này đều chỉ ra được các biểu hiện ngôn ngữ của siêu chiến lược lịch sử âm tính nhưng vẫn chỉ là các công trình lí luận chung, mang tính hàn

lâm, chưa có một công trình nào vận dụng lí luận để xem xét các biểu hiện

Trang 11

4 ngôn ngữ của chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện trong tác phẩm cụ thể Có một số công trình nghiên cứu cụ thể nhưng mới chỉ

là các công trình nghiên cứu về chiến lược lịch sự nói chung như một số bài

viết trên tạp chí Ngôn ngữ, đề tài luận văn thạc sĩ và luận án tiến sĩ như “Khái niệm thể diện và ý nghĩa đối với việc nghiên cứu ứng xử lịch sự” của Vũ Thị Thanh Hương, “Vai giao tiếp và phép lịch sự trong tiếng Việt” của Tạ Thị Thanh Tâm, “Tính lịch sự của hành động cầu khiến trên tư liệu truyện ngắn Nguyễn Công Hoan” của Nguyễn Thị Thuận, Bùi Thị Hường, “Lịch sự trong tiếng Việt và giới tính” của Vũ Tiến Dũng, “Lịch sự trong hành động cầu khiến

tiếng Việt” của Lê Thị Kim Đính

2.2 Về truyện ngắn Nam Cao

Cho đến nay đã có nhiều công trình với quy mô lớn nhỏ khác nhau nghiên cứu về truyện ngắn Nam Cao Riêng lĩnh vực ngôn ngữ học đã có

nhiều bài viết, luận văn và công trình nghiên cứu như “Vai giao tiếp trong truyện ngắn của Nam Cao” của Bùi Khánh Chi (Luận văn thạc sĩ, ĐH Hải Phòng); “Hàm ngôn lời thoại nhân vật trong một số truyện ngắn trước Cách mạng của Nam Cao” của tác giả Vũ Thị Thu Giang (Luận văn Thạc sĩ, Đại học Hải Phòng); “Hành động ngôn ngữ độc thoại trong một số tác phẩm của Nam Cao” của tác giả Đặng Quỳnh Nga (Luận văn Thạc sĩ, Đại học Hải Phòng)…

và rất nhiều các bài viết khác đăng trên các tạp chí chuyên ngành Ngôn ngữ

như “Sự tình phát ngôn trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao” của Lê Thị Thơm, “Chức năng chỉ dẫn trong đoạn mở đầu truyện ngắn Nam Cao” của Nguyễn Thái Hòa (Tạp chí Ngôn ngữ số 6); “Từ xưng hô trong một số sáng tác của Nam Cao” của Nguyễn Thị Hương (Ngữ học trẻ 2002 diễn đàn học tập và nghiên cứu); “Đặc điểm sử dụng đơn vị từ vựng đồng nghĩa trong văn xuôi Nam Cao” của Nguyễn Thúy Liễu (Tạp chí Ngôn ngữ số 3 - 2007);

“Các biểu thức ngôn ngữ đồng sở chỉ biểu thị nhân vật trong tác phẩm của Chí Phèo” của Nguyễn Thúy Quyên (Tạp chí Ngôn ngữ số 6 - 2008); “Ngôn ngữ nhân vật trong mối kì duyên Chí Phèo - Thị Nở” của Tạ Văn Thông (Tạp

Trang 12

5

chí Ngôn ngữ 17 – 2004); “Vẻ đẹp của ngôn ngữ văn chương qua tác phẩm Chí Phèo - Nam Cao” của Trần Thị Thanh (Tạp chí Ngôn ngữ 12 - 2001) và nhiều bài viết khác như “Tiểu từ tình thái trong tác phẩm của Nam Cao từ góc nhìn ngôn ngữ học”; “Hành vi ngôn ngữ chào hỏi trong truyện ngắn của Nam Cao”; “Đại từ nhân xưng trong truyện ngắn Nam Cao”…vv

Các bài viết và các đề tài này đã đi vào nghiên cứu một số vấn đề cụ thể của tính lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ nhưng chưa có một công trình nào tìm

hiểu về biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện hành

vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đề tài nghiên cứu biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch sự âm tính

khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao

3.2 Phạm vi nghiên cứu

Những biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện được P.Brown và S.Levinson gọi là các biện pháp dịu hóa Đây là các biện pháp làm giảm hiệu lực đe dọa thể diện người nghe Chúng bao gồm:

- Các biện pháp thay thế cho các hành vi đe dọa thể diện

- Các biện pháp đi kèm các hành vi đe dọa thể diện

Do đó phạm vi nghiên cứu của đề tài này là tìm hiểu những biểu hiện ngôn ngữ cụ thể của các biện pháp thay thế cho các hành vi đe dọa thể diện

và các biện pháp đi kèm các hành vi đe dọa thể diện

Các ngữ liệu khảo sát và trình bày trong luận văn này được thu thập từ

“Tuyển tập truyện ngắn Nam Cao - Tập 1, 2”, NXB Văn học, Hà Nội, 1999

4 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích nghiên cứu

Tính lịch sự hay chiến lược lịch sự đang trở thành mối quan tâm lớn của ngôn ngữ học nói chung và ngữ dụng học nói riêng Việc nghiên cứu

Trang 13

6 phép lịch sự khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện trong một tác phẩm văn học đang thu hút sự chú ý quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà nghiên cứu ngôn

ngữ Mục đích của luận văn này là ứng dụng lí thuyết giao tiếp vào xem xét biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao nhằm nghiên cứu nghệ thuật giao

tiếp của các nhân vật trong truyện ngắn Nam Cao Từ đó tác giả tìm hiểu sâu hơn về lí thuyết giao tiếp nói chung, qua đó hiểu thêm về đặc điểm phong cách của nhà văn Nam Cao trên lĩnh vực truyện ngắn nói riêng

4.2 Nhiệm vụ nghiên cứu

Để đạt được mục đích trên, đề tài cần giải quyết các nhiệm vụ sau:

- Tìm hiểu những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài

- Tìm hiểu các biện pháp thay thế hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao

- Tìm hiểu các biện pháp đi kèm hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao

5 Phương pháp nghiên cứu

Để giải quyết được các nhiệm vụ trên, đề tài sẽ sử dụng các phương pháp và thủ pháp sau:

Phương pháp phân tích diễn ngôn: Luận văn sử dụng phương pháp

phân tích diễn ngôn để phân tích làm rõ các biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn

Nam Cao

Phương pháp miêu tả: Luận văn sử dụng phương pháp miêu tả để

phân tích, miêu tả các biện pháp thay thế hành vi đe dọa thể diện, các biện pháp đi kèm hành vi đe dọa thể diện

Thủ pháp cải biến: Luận văn sử dụng thủ pháp cải biến trong trường

hợp tìm hiểu các biểu hiện ngôn ngữ của phép lịch sự âm tính khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện

Trang 14

7

Thủ pháp thống kê, phân loại: Luận văn sử dụng thủ pháp thống kê,

phân loại để thống kê, phân loại tần suất xuất hiện của các hành động ngôn ngữ gián tiếp, các phương tiện tu từ, các phép phủ định lịch sự cũng như các công thức đi kèm trong các hành động ngôn ngữ, kiểu tiền dẫn nhập một hành động bằng các câu hỏi và một số biện pháp khác Đó là những biểu hiện ngôn ngữ cụ thể của chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện Từ đó có cơ sở nền tảng đánh giá những biểu hiện ngôn ngữ của chiến

lược lịch sự âm tính trong truyện ngắn Nam Cao

Thủ pháp so sánh, đối chiếu: Luận văn sử dụng thủ pháp so sánh đối

chiếu để so sánh đối chiếu tần suất xuất hiện của các biện pháp thay thế và các biện pháp đi kèm hành vi đe dọa thể diện của phép lịch sự âm tính trong truyện ngắn Nam Cao

6 Cấu trúc của luận văn

Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, Tài liệu tham khảo và Phần phụ lục, Nội dung luận văn gồm 3 chương:

Chương 1: Một số vấn đề lí luận liên quan đến đề tài

Chương 2: Các biện pháp thay thế hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao

Chương 3: Các biện pháp đi kèm hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao

Trang 15

8

Chương 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN LIÊN QUAN ĐẾN ĐỀ TÀI

1.1 Lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ

1.1.1 Khái niệm lịch sự

Lịch sự (politeness) là một nhân tố quan trọng trong giao tiếp xã hội Vì thế khái niệm này đã có mặt từ rất lâu trong nhiều ngôn ngữ khác nhau trên thế giới và sử dụng ngôn ngữ một cách lịch sự cũng không phải xa lạ với các nền văn hóa Trong hội thoại, ngoài quan hệ trao đổi thông tin (miêu tả, trần thuật những thông tin được đánh giá theo tiêu chí đúng sai logic) còn có quan

hệ liên cá nhân (quan hệ giữa các vai trong giao tiếp) Liên quan trực tiếp đến quan hệ liên cá nhân là vấn đề lịch sự trong giao tiếp Sau đây là một số cách hiểu về lịch sự:

- Theo Thomas, “… phép lịch sự được xem là một (hay một loạt chiến lược) được người nói dùng đề hoàn thành một số mục đích như thiết lập hoặc duy trì những quan hệ hài hòa.” [4, tr.256]

- Theo Lakoff, “… lịch sự như là một phương thức để giảm thiểu sự xung đột trong diễn ngôn ( ); Những chiến lược lịch sự có nhiệm vụ đặc biệt

là làm cho cuộc tương tác được thuận lợi.” [4, tr.256]

- Theo Leech, “Phép lịch sự liên quan tới quan hệ giữa hai người tham

gia mà chúng ta có thể gọi là ta và người.” [4, tr.256]

Cụ thể hơn, phép lịch sự có chức năng: “Gìn giữ sự cân bằng xã hội và quan hệ bạn bè, những quan hệ này khiến chúng ta có thể tin rằng người đối thoại với chúng ta tỏ ra trước hết là cộng tác với chúng ta.” [4, tr.256] “Phép lịch sự là hệ thống những phương thức mà người nói đưa vào hoạt động nhằm điều hòa và gia tăng giá trị của đối tác của mình.” [4, tr.280]

Trang 16

9 Tóm lại, lịch sự trong giao tiếp là vấn đề ứng xử giữa người nói và người nghe, nhờ đó mà quan hệ liên cá nhân được tạo lập và duy trì, qua cách

sử dụng ngôn ngữ khôn khéo nhằm bảo toàn được thể diện của cả hai phía Hiểu một cách chung nhất phép lịch sự là một biểu hiện qua mối quan hệ liên nhân trong tương tác, làm cho cuộc tương tác xã hội được hài hòa, các cá nhân tham dự cảm thấy dễ chịu, thoải mái và góp phần đưa cuộc tương tác đến thành công

Lịch sự là một vấn đề được nhiều nhà nghiên cứu ngôn ngữ quan tâm

và tìm hiểu ở nhiều góc độ khác nhau

1.1.2 Các phương châm lịch sự

Để hoạt động giao tiếp đạt hiệu quả, những người tham gia vào quá

trình giao tiếp cần phải tuân thủ những nguyên tắc nhất định Đó là “giảm tới mức tối thiểu những cách nói không lịch sự và tăng tới mức tối đa những cách nói lịch sự” (G.Leech) [4, tr.260]

- Như vậy, để có một phát ngôn lịch sự, người nói cần điều chỉnh mức lợi - thiệt nhằm đảm bảo sự cân bằng trong quan hệ liên cá nhân giữa người nói và người nghe Dựa trên bốn phương châm hội thoại của P.Grice (phương châm về lượng, phương châm về chất, phương châm quan hệ, phương châm cách thức) G.Leech đã cụ thể hóa nguyên tắc trên thành sáu phương châm lịch

sự như sau:

< 1> Phương châm khéo léo:

- Giảm đến mức tối thiểu những điều thiệt cho người

- Tăng tối đa những điều lợi cho người

< 2> Phương châm hào hiệp (rộng rãi):

- Giảm đến mức tối thiểu những điều lợi cho ta

- Tăng tối đa những điều thiệt cho ta

<3> Phương châm tán thưởng:

- Giảm đến mức tối thiểu những lời chê đối với người

- Tăng tối đa những lời khen cho người

Trang 17

10

<4> Phương châm khiêm tốn:

- Giảm tối thiểu việc khen ta

- Tăng tối đa việc chê ta

<5> Phương châm tán đồng:

- Giảm đến mức tối thiểu sự bất đồng giữa ta và người

- Tăng tối đa sự đồng ý giữa ta và người

<6> Phương châm cảm thông (thiện cảm):

- Giảm đến mức tối thiểu ác cảm giữa ta và người

- Tăng tối đa thiện cảm giữa ta và người

Phương châm khéo léo và phương châm hào hiệp được sử dụng khi thực hiện hành động thỉnh cầu hay cam kết còn phương châm tán thưởng thường được sử dụng trong hành vi biểu cảm

Điểm chung giữa các phương châm khiêm tốn, tán đồng, cảm thông là

sự tương phản giảm - tăng về việc khen - chê, bất đồng - tán đồng, không thiện cảm - thiện cảm hướng về người nói và người nghe

Trong thực tế, nhiều tình huống mà người tham gia giao tiếp khó có thể tuân thủ trọn vẹn tất cả các phương châm này Trong trường hợp ấy, họ sẽ sử dụng các chiến lược lịch sự dương tính và lịch sự âm tính để đảm bảo cho cuộc thoại thành công

1.1.3 Thể diện

1.1.3.1 Khái niệm thể diện

P.Brown và S.Levinson xây dựng lý thuyết của mình trên khái niệm thể diện mượn của Goffman Thể diện được P.Brown và S.Levinson định nghĩa là

“hình ảnh về ta công cộng mà mỗi thành viên (trong xã hội) muốn mình có

được” [4, tr.264]

1.1.3.2 Thể diện âm tính

Theo tác giả G.Yule thì thể diện âm tính là “nhu cầu được độc lập, tự

do trong hành động, không bị người khác áp đặt” [4, tr.264]

1.1.3.3 Hành vi đe dọa thể diện

Trang 18

11 Trong giao tiếp người nói luôn có ý thức “giữ thể diện” cho người khác Thế nhưng phần lớn các hành vi ngôn ngữ đều tiềm ẩn khả năng làm thương tổn đến thể diện người khác P.Brown & S.Levinson gọi chúng là những hành vi đe dọa thể diện (Face threatening acts) Các tác giả này đã phân chia hành vi đe dọa thể diện thành bốn loại sau:

- Hành vi đe dọa thể diện âm tính của người thực hiện nó như: tặng, biếu, hứa hẹn

- Hành vi đe dọa thể diện dương tính của người thực hiện như xin lỗi, thú nhận, cám ơn, tự phê bình…

- Hành vi đe dọa thể diện âm tính của người tiếp nhận như ra lệnh, chỉ bảo, khuyên răn, dọa nạt, dặn dò…

- Hành vi đe dọa thể diện dương tính của người tiếp nhận như phê bình, chê bai, chửi bới, chế giễu…

Khi một hành vi đe dọa thể diện được thực hiện thì nó có thể đồng thời

đe dọa tất cả các khía cạnh của thể diện đã nêu

1.1.4 Chiến lược lịch sự âm tính

1.1.4.1 Khái niệm lịch sự âm tính

Là những phương châm, cách thức sử dụng hành vi ngôn ngữ nhằm bày

tỏ sự tôn trọng, nhấn mạnh tầm quan trọng, chú ý đến những điều người khác quan tâm

1.1.4.2 Các chiến lược lịch sự âm tính

<1> Dùng lối nói gián tiếp đã thành quy ước

<2> Dùng các yếu tố rào đón hay tình thái hóa

Trang 19

1.1.5 Những biểu hiện ngôn ngữ của phép lịch sự âm tính

Mục đích của phần này là tìm ra các biểu hiện ngôn ngữ nhằm thực hiện chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện các FTA đã trình bày ở trên Các biểu hiện ngôn ngữ của siêu chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện các hành vi

đe dọa thể diện được P.Brown và S.Levinson gọi là các biện pháp dịu hóa Labov và Fanshel gọi là các biện pháp mềm hóa; Keller gọi là các yếu tố pha loãng; Fillmore gọi là các yếu tố bôi trơn

Các biện pháp dịu hóa là biện pháp làm giảm hiệu lực đe dọa thể diện của người nghe Chúng bao gồm: các biện pháp thay thế cho các hành vi đe dọa thể diện và các biện pháp đi kèm Sau đây là nội dung cụ thể

1.1.5.1 Các biện pháp thay thế cho các hành vi đe dọa thể diện

Các biện pháp thay thế cho các hành vi đe dọa thể diện gồm:

a Các hành vi ngôn ngữ gián tiếp Ví dụ, thay vì nói toạc: Cho mượn quyển sách, lại nói: Bạn có thể cho mình mượn quyển sách được không?

b Các phương tiện tu từ như nói giảm, nói vòng,…

c Các phép phủ định lịch sự như: Không sớm lắm đâu, không lấy gì làm, không phải là thông minh cho lắm,…

1.1.5.2 Các biện pháp đi kèm

Các biện pháp đi kèm gồm:

a Các công thức đi kèm thường dùng trong câu cầu khiến như: Làm ơn,

phiền cậu (ông, bà, anh, chị,…) giúp cho, hộ, hộ cho, cảm phiền,…

b Dùng biện pháp giảm xốc một hành vi đe dọa thể diện gây ra cho người tiếp nhận là dùng cách báo trước hành vi đó bằng các kiểu tiền dẫn

nhập Ví dụ: Tiền dẫn nhập một thỉnh cầu: Cậu (ông, bà,…) có thể giúp tôi (mình, cháu,…) một việc không? Tiền dẫn nhập một hành động hỏi bằng một

Trang 20

13

câu hỏi như: Tôi có thể hỏi bạn được không? Tiền dẫn nhập một lời đánh giá, nhận xét, phê bình cũng bằng câu hỏi kiểu như: Mình có thể nhận xét một

chút không? Hoặc bằng hành động xin phép Cho mình góp ý nhé!

c Có thể giảm nhẹ hiệu lực đe dọa thể diện bằng lời xin lỗi, bằng cách nêu lí do để thanh minh,…

d Giảm thiểu hiệu quả xấu bằng cách nói: Một ít, một chút, một lát, một tí tì ti thôi, chút xíu thôi, chẳng là bao đâu,…

đ Tình thái hóa như: Tôi nghĩ rằng, tôi thấy rằng, có lẽ là, theo tôi nghĩ… Những công thức tình thái hóa này thường dùng trong các hành động

xác tín, khẳng định, đánh giá

e Biện pháp “tháo ngòi nổ” Khi dự đoán rằng hành động sắp thực hiện có thể gây hiệu quả xấu cho người nghe thì người nói có thể tháo ngòi nổ cho người nghe bằng cách nói trước cái hiệu quả xấu đó ra như:

Tôi rất băn khoăn phải phiền anh, nhưng…

Mình biết cậu không muốn rời mắt khỏi màn hình một phút, nhưng…

f Những yếu tố vuốt ve làm cho người nghe nuốt trôi những viên thuốc đắng Đây là cách nói nêu ra ưu điểm của người nhận trước khi nêu ra

hành vi đe dọa thể diện Ví dụ: Cô bạn thủ khoa văn ơi, giảng hộ mình đề văn này với

Vì các hành động nói hoặc chính thức có, hoặc đều tiềm ẩn khả năng đe dọa thể diện cho nên các biện pháp ngôn ngữ để biểu hiện chúng có số lượng không thể kể xiết trong tất cả các ngôn ngữ

Những biểu hiện ngôn ngữ của phép lịch sự âm tính trên đây sẽ là cơ sở

để chúng tôi khảo sát biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao

1.2 Vai giao tiếp

1.2.1 Một số quan điểm về vai giao tiếp

Con người trong giao tiếp ngôn ngữ không chỉ là người nói hoặc người nghe mà là các thành viên của hệ thống giao tiếp xã hội cụ thể Mỗi cá nhân

Trang 21

14

có thể tham gia đồng thời nhiều hệ thống và nhiều nhóm xã hội khác nhau Không có cá nhân đứng ngoài nhóm Nói cách khác, mỗi cá nhân bao giờ cũng ứng với một tọa độ xã hội nhất định trong hệ phân tầng vi mô và vĩ mô của xã hội Tọa độ xã hội của cá nhân sẽ được quy định bởi các mối quan hệ

xã hội của cá nhân đó với các thành viên trong nhóm, trong tập đoàn và trong toàn xã hội, vốn nằm ngoài ý chí của cá nhân Đến lượt mình, tọa độ xã hội ấy lại quy định các thuộc tính xã hội, tâm lí, nhân cách, lối sống, ứng xử xã hội

và ứng xử ngôn ngữ của cá nhân trong nhóm và trong tập đoàn

Điều này có nghĩa là một con người cụ thể luôn đảm nhiệm nhiều vai, tùy theo các mối quan hệ xã hội của cá nhân nhiều hay ít sẽ quy định số vai

mà cá nhân đó đảm nhiệm Nói cách khác, các mối quan hệ của cá nhân càng rộng, càng đa hướng thì số vai của anh ta càng phong phú

Mỗi con người bao giờ cũng có một “bộ vai xã hội” theo từng cặp đối xứng phản ánh quan hệ ứng xử xã hội của cá nhân đó Khi cá nhân chuyển từ vai nọ sang vai kia thì bắt buộc phải chuyển mã giao tiếp cho phù hợp với quan hệ vai mới

Tác giả Đỗ Hữu Châu [4, tr.205] quan niệm trong một cuộc giao tiếp luôn có sự phân vai Ông dùng kí hiệu Sp để chỉ người tham gia vào hội thoại Sp1 là vai người nói, Sp2 là vai người nghe Cuộc đối thoại thông thường là

sự luân chuyển giữa hai vai với nhau (Sp1 < > Sp2) Trong đó Sp1 và Sp2 có thể tồn tại ở hai dạng Sp1 gồm chủ ngôn, thuyết ngôn và Sp2 gồm đích ngôn, tiếp ngôn Đôi khi người nói trực tiếp không phải là người nói thực sự và người nghe trực tiếp cũng không phải người tiếp nhận thông tin thực sự Nhưng dù thế nào đi chăng nữa, Sp1 và Sp2 đều phải cùng hướng vào mục đích giao tiếp chung và có niềm tin vào chính cuộc giao tiếp đó Thông qua hình ảnh tinh thần

về người đối thoại mà cá nhân có thể hình thành vai giao tiếp cho phù hợp với vị thế của người cùng tham gia giao tiếp

Nhìn từ góc độ ngôn ngữ học xã hội, tác giả Nguyễn Văn Khang cho rằng để có thể giao tiếp được với nhau, giữa những người tham gia giao tiếp

Trang 22

15 phải xác định “vai” cho mình dựa trên mối quan hệ qua lại nhất định nào đó Quan hệ giao tiếp này được xây dựng trên cơ sở hệ thống các mối quan hệ xã

hội chung, trên cơ sở cấu trúc của xã hội đó “Mỗi ngôn ngữ nói chung và trong một ngôn ngữ nói riêng đều chịu sự chi phối của nhiều nhân tố như truyền thống dân tộc, cấu trúc xã hội, ý thức cộng đồng và tương ứng với khoảng cách về nhân thân cũng như mức độ thân sơ giữa những người giao tiếp” [19, tr.201-202]

Bất kì một sự kiện nói năng nào, người nói và người nghe phải lựa chọn câu hỏi và câu trả lời phù hợp với vị thế xã hội của mình Muốn có sự lựa chọn đúng đắn thì bắt buộc người tham gia giao tiếp phải tính đến mối quan hệ giữa bản thân với đối tượng giao tiếp

Như vậy vai giao tiếp là một thuật ngữ dùng để biểu thị vị thế xã hội của các nhân vật tham gia hội thoại

Con người trong giao tiếp ngôn ngữ không chỉ bó hẹp trong vai người nói (Sp1) hoặc người nghe (Sp2) mà là các thành viên của hệ thống giao tiếp

xã hội cụ thể

Vị thế xã hội của con người luôn chi phối tới vai giao tiếp Ở vị thế xã hội này thì cá nhân đóng vai này, ở vị thế khác lại chuyển vai giao tiếp khác Mỗi lần chuyển vai là thực hiện chuyển mã ngôn ngữ cho phù hợp với địa vị mới

Tóm lại, dù hiểu theo cách nào đi nữa, ta vẫn có thể thấy rằng các quan điểm trên đều có sự nhất quán ở chỗ vai giao tiếp được hình thành dựa trên các mối quan hệ xã hội và con người là “một thực thể đa chức năng” nên mỗi người có nhiều vai khác nhau Tùy theo từng hoàn cảnh nói năng mà một vai

cụ thể được thiết lập

1.2.2 Các phương tiện thể hiện vai giao tiếp

Vai giao tiếp được hình thành từ quan hệ liên nhân và thể hiện thông quan các phương tiện sau:

Trang 23

16

1.2.2.1 Phương tiện phi ngôn ngữ

Yếu tố phi ngôn ngữ bao gồm: các cử chỉ, điệu bộ, khoảng cách không gian, tiếp xúc cơ thể, tư thế cơ thể, vẻ mặt, ánh mắt Tùy thuộc vào mối quan

hệ với đối tượng giao tiếp mà người nói có thể chọn cho mình tư thế giao tiếp phù hợp với vai đảm nhiệm Chẳng hạn, khi giao tiếp với bề trên, người dưới

có tư thế cúi đầu, khoanh tay nhằm thể hiện sự lễ phép, còn khi nói chuyện với bạn bè cùng trang lứa thường có những cử chỉ đi kèm như: khoác vai, bá

cổ, bắt tay tạo sự thân thiện

Thông qua phương tiện phi ngôn ngữ mà thái độ, tình cảm của người tham gia giao tiếp được bộc lộ

1.2.2.2 Phương tiện ngôn ngữ

a Yếu tố kèm lời

Trong cuộc thoại, ngoài yếu tố phi ngôn ngữ và các yếu tố ngôn ngữ, người ta còn sử dụng những yếu tố kèm lời để làm phương tiện biểu thị vai giao tiếp

Yếu tố kèm lời là các yếu tố mặc dầu không có đoạn tính nhưng đi kèm với các yếu tố đoạn tính như âm vị và âm tiết Không một yếu tố đoạn tính nào được phát âm ra mà không có yếu tố kèm lời đi theo Được kể vào các yếu tố kèm lời là những yếu tố như ngữ điệu, trọng âm, cường độ, độ dài, đỉnh giọng Các yếu tố này được cụ thể hóa bằng một thuật ngữ mang tính chất thông dụng - giọng điệu

Mỗi cá nhân khi thực hiện vai giao tiếp của mình đều có yếu tố giọng điệu đi kèm để biểu thị ý nghĩa lời nói Chúng là yếu tố gắn chặt với hành động lời nói của nhân vật

Trong đối thoại, không phải mọi lúc, mọi nơi người ta đều có một giọng điệu giống nhau mà có khi nhỏ nhẹ, trầm ấm, cũng có khi gắt gỏng, rin rít Tùy theo từng đối tượng giao tiếp khác nhau mà giọng điệu có sự thay đổi cho phù hợp

Trang 24

17

b Yếu tố ngôn ngữ

Nếu như yếu tố phi ngôn ngữ và yếu tố kèm lời được coi là những yếu

tố phụ lời thì yếu tố ngôn ngữ được coi là hạt nhân của lới nói Khi nghiên cứu vai giao tiếp, chúng tôi thấy nó được bộc lộ chủ yếu qua các nhân tố sau đây:

“Vị thế giao tiếp là địa vị, tư thế của một người nào đó trong bối cảnh

cụ thể của cuộc giao tiếp mà người đó tham gia” (22, tr.52)

Vị thế giao tiếp được tạo thành bởi các nhân tố: vị thế xã hội + mục đích phát ngôn

Vị thế giao tiếp có khi trùng với vị thế xã hội nhưng có khi không trùng vói vị thế xã hội

Ví dụ 1: Tôi cấm anh không được sử dụng máy tính của tôi

Ví dụ 2: Mẹ xin con cố gắng ăn thêm bát nữa cho lại sức

Ở ví dụ 1, người nói có vị thế xã hội cao hơn người nghe vì anh ta có

quyền ra lệnh cho người nghe “không được sử dụng máy tính” Xét về vị thế

giao tiếp, người nói cũng ở vị thế giao tiếp cao hơn người nghe căn cứ vào mục đích phát ngôn ra lệnh mà người nói thể hiện qua động từ ngôn hành cầu

khiến “cấm” cho nên vị thế giao tiếp trùng với vị thế xã hội

Trang 25

18

Ở ví dụ 2, người mẹ luôn có vị thế xã hội cao hơn con (căn cứ vào tuổi tác, quan hệ huyết thống, vai trò của người mẹ trong gia đình theo thang độ đánh giá của xã hội) Nhưng vị thế giao tiếp của người mẹ trong hoàn cảnh cụ thể này (có thể là đứa con đang ốm) lại thấp hơn con do mục đích là nài xin

người nghe thực hiện hành động “ăn thêm bát nữa” nên phải dùng hành động

ngôn trung có sắc thái cầu Vì thế vị thế xã hội và vị thế giao tiếp ở ví dụ này không trùng nhau

Như vậy vị thế xã hội có ảnh hưởng đến vị thế giao tiếp nhưng không phải nhân tố liên quan trực tiếp đến hội thoại Nhân tố liên quan trực tiếp đến hội thoại phải là vị thế giao tiếp Thông thường vị thế xã hội chi phối vị thế giao tiếp Mối quan hệ giữa vị thế xã hội và vị thế giao tiếp có thể có các khả năng sau:

Vị thế xã hội cao  Vị thế giao tiếp cao

Vị thế xã hội cao  Vị thế giao tiếp ngang bằng

Vị thế xã hội cao  Vị thế giao tiếp thấp

Vị thế xã hội thấp  Vị thế giao tiếp thấp

Vị thế xã hội thấp  Vị thế giao ngang bằng

Ít xảy ra trường hợp vị thế xã hội thấp mà vị thế giao tiếp cao vì đặc điểm ứng xử của người Việt thể hiện qua ngôn ngữ thường là xưng - khiêm,

hô - tôn (tự xưng thì khiêm tốn, hô gọi thì tôn trọng) Do vậy, khi gặp trường hợp người nói sử dụng ngôn từ không phù hợp với vị thế xã hội và vị thế giao tiếp của mình, người nghe sẽ phản bác ngay

Ví dụ:

- Lấy cho con cái bút, mẹ! (1)

- Mày ra lệnh cho tao đấy à?

- Đâu có, con nhờ mẹ đấy chứ

Câu (1) có hành động ngôn trung là ra lệnh được biểu thị bằng hành động cầu khiến nguyên cấp: cấu trúc đề - thuyết có danh từ mẹ ở ngôi thứ hai

và cũng là chủ thể hành động “lấy” và vị từ “lấy + cho” chính là phương tiện

Trang 26

19 nguyên cấp chỉ dẫn lực ngôn trung cầu khiến Hành động này đòi hỏi vị thế xã hội và vị thế giao tiếp của người nói phải cao hơn người nghe Nhưng ở đây,

vị thế xã hội và vị thế giao tiếp của người con đều thấp hơn mẹ nên không thể dùng hành động ra lệnh Chính vì người con không dùng lời cầu khiên tường minh (lời cầu khiến chứa vị từ ngôn hành cầu khiến ra lệnh) nên khi người mẹ hỏi lại nhằm xác định hành động ngôn trung tường minh mà người con định dùng thì người con vội chối và cải chính bằng cách dùng vị từ ngôn hành biểu

thị hành động cầu khiến tường minh “nhờ”

1.5 Lí thuyết về hành động ngôn ngữ (hành vi ngôn ngữ)

1.5.1 Khái niệm về hành động ngôn ngữ

Nhà ngôn ngữ học nổi tiếng người Anh J.L.Austin và sau này là J.Searle đã phát hiện ra rằng: nói năng trước hết cũng là một dạng hoạt động của con người cũng như hoạt động vật lí khác Khi chúng ta nói năng là chúng

ta hành động, chúng ta thực hiện một loại hành động đặc biệt mà phương tiện

là ngôn ngữ Với công trình “How to do things with words” (Người ta hành động như thế nào bằng lời nói), J.L.Austin đã phát hiện ra bản chất hành vi

của ngôn ngữ và xây dựng nên lí thuyết về hành vi ngôn ngữ - một lí thuyết được coi là xương sống của ngữ dụng học Sau này dần dần được các nhà ngôn ngữ học trên thế giới bổ sung và hoàn thiện

Ở Việt Nam, vào những năm đầu thập kỉ của thế kỷ XX, nhiều nhà ngôn ngữ học đã quan tâm đến vấn đề này như nhà ngôn ngữ học Hoàng Phê,

Đỗ Hữu Châu, Nguyễn Đức Dân, Nguyễn Thiện Giáp, Diệp Quang Ban, Nguyễn Văn Khang Các nhà ngôn ngữ học Việt Nam đã nghiên cứu và đưa

ra các khái niệm về hành động ngôn ngữ (còn gọi là hành vi ngôn ngữ)

Theo Đỗ Hữu Châu: “Hành động ngôn ngữ được thực hiện khi người nói (hoặc người viết) Sp1 nói ra một phát ngôn cho người nghe (hoặc người đọc) Sp2 trong ngữ cảnh C” [4, tr.88]

Tác giả Nguyễn Thiện Giáp gọi hành vi ngôn ngữ là hành động ngôn

từ, ông cho rằng: “Các hành động được thực hiện bằng lời gọi là hành động

Trang 27

20

ngôn từ (speech act) Hành động ngôn từ chính là ý định về mặt chức năng của một phát ngôn” [12, tr.42]

Tác giả Diệp Quang Ban dùng thuật ngữ hành động nói và cho rằng

“Hành động nói là hành động được thực hiện trong việc nói ra một điều gì, nhằm tác động đến người nhận, như hỏi, sai khiến, hứa, v.v ” [2, tr.110]

Như vậy, hành động ngôn ngữ, một lần nữa được khẳng định là hành động nói năng của con người và nó cũng là một hành động mang tính chất xã hội

1.5.2 Phân loại các lớp hành động ngôn ngữ

J.L.Austin đã phân loại ra năm phạm trù hành động ngôn từ: phán xử, hành xử, cam kết, trình bày, ứng xử Bảng phân loại của J.L.Austin được xem

về cơ bản là phân loại từ vựng các động từ ngôn hành tiếng Anh

Theo J.Searle, việc phân loại ngôn ngữ cần dựa vào mười hai tiêu chí, trong đó có bốn tiêu chí quan trọng là:

- Đích ở lời;

- Hướng khớp ghép giữa lời với hiện thực mà lời đề cập đến;

- Trạng thái tâm lí được thể hiện;

- Nội dung mệnh đề

Trên cơ sở những tiêu chí phân loại trên, J.Searle đã đưa ra năm phạm trù lớn của hành động ở lời: hành động biểu hiện (khảo nghiệm, miêu tả, thông tin); hành động điều khiển (ra lệnh, yêu cầu, hỏi); hành động cam kết (hứa, hẹn, thề); hành động biểu cảm; hành động tuyên bố

Trang 28

21

Tác giả Nguyễn Thiện Giáp cũng đưa ra nhận định: “Hành động ngôn ngữ trực tiếp là hành động ngôn từ được thực hiện ở những phát ngôn có quan hệ trực tiếp giữa một cấu trúc và một chức năng” [12, tr.390]

Tác giả Đỗ Hữu Châu thì cho rằng “Những hành vi ngôn ngữ được sử dụng đúng với mục đích, đúng với điều kiện chân thành của chúng là những hành vi ở lời trực tiếp” [4, tr.75]

Còn tác giả Diệp Quang Ban thì nhận định “khi một kiểu câu được dùng đúng với chức năng vốn có của nó, thì nó hoạt động với tư cách hành động nói trực tiếp” [2, tr.109]

Phương tiện để thể hiện hành động ngôn ngữ trực tiếp là các kiểu câu

có hình thức, chức năng phù hợp với hiệu lực ở lời của hành động nói đó

1.5.3.2 Hành động ở lời gián tiếp

Trong thực tế giao tiếp, một phát ngôn thường không phải chỉ có một

đích ở lời mà theo Labor và Fansel: “Đại bộ phận các phát ngôn được xem như là thực hiện đồng thời một số hành vi ” [4, tr.18] Hiện tượng người

giao tiếp sử dụng trên bề mặt hành động ở lời này nhưng lại nhằm hiệu quả của một hành động ở lời khác được gọi là hiện tượng sử dụng hành động ngôn ngữ theo lối gián tiếp

Hành động ở lời gián tiếp được J.L.Austin khởi xướng và J.Searle kế

tục Theo J.Searle “ một hành vi ở lời được thực hiện gián tiếp thông qua sự thực hiện một một hành vi ở lời khác sẽ được gọi là một hành vi gián tiếp”

Trang 29

22

Nguyễn Đức Dân trong cuốn Lôgích và tiếng Việt, Nxb Giáo dục cho rằng: “Một hành vi tại lời này nhằm đến một hiệu lực tại lời là một hành vi khác, thì hành vi này được gọi là một hành vi gián tiếp” [7, tr.35]

Tác giả Diệp Quang Ban cũng cho rằng: “Khi một kiểu câu hoạt động với một chức năng không phải vốn có của kiểu câu đó thì nó hoạt động vói tư cách là hành động nói gián tiếp” [2, tr.109]

Ở Việt Nam, định nghĩa về hành động ngôn ngữ gián tiếp chủ yếu được chia sẻ theo ý kiến của J.Searle hoặc của G.Yule

Theo tác giả Đỗ Hữu Châu: “Một hành vi được sử dụng gián tiếp là một hành vi trong đó người nói thực hiện một hành vi ở lời này nhưng lại nhằm làm cho người nghe dựa vào những hiểu biết ngôn ngữ và ngoài ngôn ngữ chung cho cả hai người, suy ra hiệu lực ở lời của một hành vi khác” [4,

tr.146]

1.6 Vài nét về cuộc đời và quan điểm nghệ thuật của Nam Cao

1.6.1 Vài nét về cuộc đời Nam Cao

Nam Cao (1917 - 1951) là một nhà văn hiện thực lớn (trước Cách mạng), một nhà báo kháng chiến (sau Cách mạng), một trong những nhà văn tiêu biểu nhất thế kỷ 20 của Việt Nam Ông có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện phong cách truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam ở nửa đầu thế kỷ 20

Nam Cao tên thật là Trần Hữu Tri, sinh năm 1915 Quê ông là làng Đại Hoàng, tổng Cao Đà, huyện Nam Sang, phủ Lí Nhân (nay là xã Hòa Hậu, huyện Lý Nhân, Hà Nam) Ông đã ghép hai chữ của tên tổng và huyện làm bút danh Nam Cao Ông xuất thân từ một gia đình Công giáo bậc trung Thuở nhỏ, ông học sơ học ở trường làng Đến cấp tiểu học và bậc trung học, gia đình gửi ông xuống Nam Định học ở trường Cửa Bắc rồi trường Thành Chung (nay là trường THPT Chuyên Lê Hồng Phong - Nam Định) Nhưng vì thể chất yếu, chưa kịp thi Thành Chung, ông đã phải về nhà chữa bệnh, rồi cưới vợ năm 18 tuổi

Trang 30

23 Nam Cao từng làm nhiều nghề, chật vật kiếm sống và đến với văn chương đầu tiên vì mục đích mưu sinh Năm 18 tuổi vào Sài Gòn, ông nhận

làm thư ký cho một hiệu may, bắt đầu viết các truyện ngắn Cảnh cuối cùng, Hai cái xác Ông gửi in trên tuần báo Tiểu thuyết thứ bảy, trên báo Ích Hữu các truyện ngắn Nghèo, Đui mù, Những cánh hoa tàn, Một bà hào hiệp với bút danh Thúy Rư Có thể nói, các sáng tác “tìm đường” của Nam

Cao thời kỳ đầu còn chịu ảnh hưởng của trào lưu văn học lãng mạn đương thời

Trở ra Bắc, sau khi tự học lại để thi lấy bằng Thành chung, Nam Cao dạy học ở Trường tư thục Công Khanh, trên đường Thụy Khuê, Hà Nội Ông

đưa in truyện ngắn Cái chết của con Mực trên báo Hà Nội tân văn và in thơ

cùng trên báo này với các bút danh Xuân Du, Nguyệt

Năm 1941, tập truyện đầu tay Đôi lứa xứng đôi, tên trong bản thảo

là Cái lò gạch cũ, với bút danh Nam Cao do Nhà xuất bản Đời mới - Hà Nội

ấn hành, được đón nhận như là một hiện tượng văn học thời đó Sau này khi

in lại, Nam Cao đã đổi tên là Chí Phèo

Phát xít Nhật thâm nhập Đông Dương, trường sở bị trưng dụng, ông rời

Hà Nội về dạy học ở Trường tư thục Kỳ Giang, tỉnh Thái Bình, rồi về lại làng quê Đại Hoàng Thời kỳ này, Nam Cao cho ra đời nhiều tác phẩm Ông

in truyện dài nhiều kỳ Truyện người hàng xóm trên tờ Trung Bắc Chủ nhật, viết xong tiểu thuyết Chết mòn, sau đổi là Sống mòn

Tháng 4 - 1943, Nam Cao gia nhập Hội Văn hóa cứu quốc và là một trong số những thành viên đầu tiên của tổ chức này Bị địch khủng bố gắt gao, ông phải lánh về quê

Năm 1945, Cách mạng tháng Tám thành công, Nam Cao tham gia cướp chính quyền ở phủ Lý Nhân, rồi ông được cử làm Chủ tịch xã của chính quyền mới ở địa phương, Ông cho in truyện ngắn Mò sâm banh trên Tạp chí Tiên Phong Năm 1946, Nam Cao ra Hà Nội hoạt động trong Hội Văn hóa

Cứu quốc Tiếp đó, ông vào miền Nam với tư cách phóng viên Tại Nam Bộ,

Trang 31

sản Việt Nam

Năm 1950 Nam Cao chuyển sang làm việc ở Hội Văn nghệ Việt Nam,

làm việc trong toà soạn Tạp chí Văn nghệ Tháng 6, ông thuyết trình về vấn

đề ruộng đất trong hội nghị học tập của văn nghệ sĩ, sau đó ông được cử làm

Ủy viên tiểu ban văn nghệ của Trung ương Đảng Trong năm đó, ông tham gia Chiến dịch Biên giới

Tháng 5 năm 1951, Nam Cao và Nguyễn Huy Tưởng về dự Hội nghị văn nghệ Liên khu 3, sau đó hai nhà văn cùng vào công tác khu 4 Nam Cao tham gia đoàn công tác thuế nông nghiệp, vào vùng địch hậu khu 3 Ông có ý định kết hợp lấy thêm tài liệu cho cuốn tiểu thuyết sẽ hoàn thành Trên đường

đi công tác, ông bị quân Pháp phục kích và bắn chết vào ngày 28 tháng

11 năm 1951 (30 tháng Mười âm lịch), tại Hoàng Đan (Ninh Bình) Sau khi ông mất, mộ phần bị thất lạc Mặc dù vậy, ảnh hưởng của ông đến văn học Việt Nam vẫn đáng kể

Năm 1956, tiểu thuyết Sống mòn của ông được xuất bản lần đầu

Năm 1996, Nam Cao được truy tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh về văn học và nghệ thuật ngay trong đợt 1

1.6.2 Vài nét về quan điểm nghệ thuật của Nam Cao

Nam Cao có nhiều đóng góp quan trọng đối với việc hoàn thiện truyện ngắn và tiểu thuyết Việt Nam trên quá trình hiện đại hóa ở nửa đầu thế kỉ XX

Trở thành nhà văn, Nam Cao có quan điểm “nghệ thuật vị nhân sinh” (nghệ

thuật phải viết về con người và hướng đến những điều tốt đẹp của con người);

ông phê phán quan niệm “nghệ thuật vị nghệ thuật”

Trang 32

25

Trước Cách mạng tháng Tám, Nam Cao thường viết về hai đề tài chính: Người trí thức nghèo và Người nông dân nghèo

Sau Cách mạng tháng Tám, nhà văn tích cực tham gia kháng chiến và

có sự thay đổi trong quan niệm nghệ thuật: nhìn nhận hướng đi mới cho nhân vật Những tác phẩm văn chương của Nam Cao đã trở thành những tuyên ngôn nghệ thuật cho giới nghệ sĩ đương thời

Ông có phong cách nghệ thuật triết lí trữ tình sắc lạnh Các nhà nghiên cứu phê bình đã chỉ ra phong cách nghệ thuật của Nam Cao giống với phong cách nghệ thuật của nhà văn Lỗ Tấn - Trung Quốc Phong cách nghệ thuật của Nam Cao thể hiện ở chỗ, ông luôn đề cao con người tư tưởng, đặc biệt chú ý tới hoạt động bên trong của con người, coi đó là nguyên nhân của những hoạt động bên ngoài Đây là phong cách rất độc đáo của Nam Cao: quan tâm tới

đời sống tinh thần của con người, luôn hứng thú khám phá “con người trong con người” Tâm lý nhân vật trở thành trung tâm của sự chú ý, là đối tượng

trực tiếp của ngòi bút Nam Cao

Ông thường viết về những cái nhỏ nhặt, xoàng xĩnh Từ cái sự tầm

thường quen thuộc trong đời sống hàng ngày của Những truyện không muốn viết, tác phẩm của Nam Cao làm nổi bật vấn đề xã hội có ý nghĩa triết lý sâu sắc về con người, cuộc sống và nghệ thuật

Văn phong của ông luôn có giọng điệu riêng, buồn thương, chua chát

1.7 Tiểu kết chương 1

Đối tượng nghiên cứu của luận văn là “Biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao” Để tìm hiểu vấn đề này, chúng tôi đã vận dụng các cơ sở lí thuyết

sau:

- Lí thuyết về lịch sự trong giao tiếp ngôn ngữ: Trong đó, chúng tôi trình bày khái niệm về lịch sự (lí thuyết lịch sự của R.Lakoff, G.Leech, P.Brown và S.Levinson là căn cứ phân tích chiến lược lịch sự trong giao tiếp),

Trang 33

26 các phương châm lịch sự, thể diện, chiến lược lịch sự âm tính, những biểu hiện ngôn ngữ của phép lịch sự âm tính

- Lí thuyết về vai giao tiếp: Trong đó, chúng tôi trình bày một số quan điểm về vai giao tiếp; các phương tiện thể hiện vai giao tiếp

- Lí thuyết về vị thế xã hội và vị thế giao tiếp: Trong đó, chúng tôi trình bày cách hiểu về vị thế xã hội, vị thế giao tiếp và mối quan hệ tương tác giữa các khái niệm này

- Lí thuyết về hành động ngôn ngữ: Trong đó, chúng tôi trình bày khái niệm về hành động ngôn ngữ, phân loại các lớp hành động ngôn ngữ và cách

sử dụng hành động ở lời

Những cơ sở lí thuyết trên đây được xây dựng dựa trên tài liệu của tác giả Đỗ Hữu Châu, các giáo trình dùng cho sinh viên và học viên sau đại học, cùng với kiến thức mà chúng tôi đã tổng hợp qua một số công trình nghiên cứu của các tác giả Nguyễn Văn Khang, Nguyễn Thiện Giáp, Nguyễn Đức Dân, Vũ Thị Thanh Hương, Nguyễn Thị Thuận… Những cơ sở lí thuyết ấy sẽ

là căn cứ để chúng tôi nhận diện, miêu tả và phân tích một số biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao

Trên cơ sở lí thuyết đã trình bày trên, luận văn sẽ tiến hành thống kê,

phân loại, phân tích và mô tả một số biểu hiện ngôn ngữ của chiến lược lịch

sự âm tính khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao

theo các nội dung tương ứng với hai chương như sau:

- Các biện pháp thay thế hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao;

- Các biện pháp đi kèm hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao

Trang 34

27

Chương 2 CÁC BIỆN PHÁP THAY THẾ HÀNH VI ĐE DỌA

THỂ DIỆN TRONG TRUYỆN NGẮN NAM CAO

Một trong những biểu hiện ngôn ngữ của siêu chiến lược lịch sự âm tính khi thực hiện hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao là các biện pháp thay thế hành vi đe dọa thể diện Do đó, để giải quyết vấn đề này, chương 2 của luận văn dành cho việc tìm hiểu các nội dung sau:

- Nhận xét chung về các biện pháp thay thế hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao

- Tìm hiểu những biểu hiện của các biện pháp thay thế hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao

Sau đây là nội dung cụ thể:

2.1 Nhận xét chung về việc dùng các biện pháp thay thế hành vi đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao

Chương 1 đã đề cập lịch sự trong giao tiếp là vấn đề ứng xử giữa người nói và người nghe, nhờ đó mà quan hệ liên cá nhân được tạo lập và duy trì, qua cách sử dụng ngôn ngữ khôn khéo nhằm bảo toàn được thể diện của cả hai phía Hiểu một cách chung nhất, phép lịch sự là một biểu hiện qua mối quan hệ liên nhân trong tương tác, làm cho cuộc tương tác xã hội được hài hòa, các cá nhân tham dự cảm thấy dễ chịu, thoải mái và góp phần đưa cuộc thoại đến thành công

Trong giao tiếp người nói luôn có ý thức “giữ thể diện” cho người khác Thế nhưng phần lớn các hành vi ngôn ngữ đều tiềm ẩn khả năng làm thương tổn đến thể diện người khác P.Brown & S.Levinson gọi chúng là những hành vi đe dọa thể diện (Face threatening acts)

Trang 35

28 Biểu hiện ngôn ngữ của phép lịch sự âm tính khi thực hiện các hành vi

đe dọa thể diện (FTA) theo P.Brown và S.Levinson được gọi là biện pháp dịu hóa Biện pháp dịu hóa là biện pháp làm giảm hiệu lực đe dọa thể diện của người nghe Để thay thế FTA người nói có thể dùng:

<1> Các hành vi ngôn ngữ gián tiếp, các công thức gián tiếp của hành

vi ngôn ngữ đe dọa thể diện

<2> Các biện pháp hình thái học ở các ngôn ngữ biến hình

<3> Các phương tiện tu từ như nói giảm, nói tránh, nói vòng

<4> Các phép phủ định lịch sự

Căn cứ vào lí thuyết nói trên, chúng tôi đã khảo sát 31 truyện ngắn của Nam Cao trước Cách mạng tháng Tám, kết quả cho thấy có 118/313 trường hợp sử dụng các biện pháp thay thế hành vi đe dọa thể diện, chiếm 37.7 % và được sử dụng trong 3 nhóm sau:

<1> Các phương tiện tu từ

<2> Các hành vi ngôn ngữ gián tiếp

<3> Các phép phủ định lịch sự với các tần suất khác nhau

Kết quả cụ thể được tổng hợp bằng bảng sau:

Bảng 2.1

Tổng hợp tần suất sử dụng các biện pháp thay thế hành vi

đe dọa thể diện trong truyện ngắn Nam Cao

Trang 36

29

Trong truyện ngắn Nam Cao, 3 nhóm biện pháp dùng các phương tiện

tu từ, dùng các phép phủ định lịch sự và dùng các hành vi ngôn ngữ gián tiếp

có tần suất xuất hiện không đều Cụ thể các phương tiện tu từ có tần suất xuất hiện cao nhất (103/118 trường hợp, chiếm 87.3%); các phép phủ định lịch sự

có tần suất xuất hiện cao thứ hai (9/118 trường hợp, chiếm tỉ lệ 7.62%); xuất

hiện ít nhất là các hành vi ngôn ngữ gián tiếp (chỉ có 6/118 trường hợp, chiếm

cả người nói và người nghe càng cao thì việc dùng các phương tiện tu từ càng

cần thiết Thêm nữa tâm lí người Việt là “dĩ hòa vi quí” nên càng tránh mất thể diện bao nhiêu thì càng được cho là khéo léo, ăn nói dễ nghe bấy nhiêu

Và một lí do nữa khi Nam Cao lựa chọn đa dạng các phương tiện tu từ như

vậy là do truyện ngắn Nam Cao, đặc biệt là những truyện ngắn sáng tác trước năm 1945 được đánh giá chủ yếu là có kết cấu tâm lý Kết cấu này hướng vào chiều sâu nội tâm của nhân vật, mà việc hướng vào nội tâm thì không thể

dùng cách thể hiện nào hiệu quả hơn dùng các phương tiện tu từ - các cách

nói ẩn ý Rất nhiều truyện thành công nhờ cách sử dụng kiểu kết cấu tâm lý

và để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc

Sau đây chúng tôi đi vào phân tích một số biện pháp thay thế hành vi

đe dọa thể diện trong ngôn ngữ nhân vật ở chiến lược lịch sự âm tính được

Nam Cao sử dụng với tần suất xuất hiện cao

Trang 37

Chiến lược lịch sự trong giao tiếp dùng các phương tiện tu từ là để

tránh đe dọa thể diện của người đối thoại

Khảo sát truyện ngắn Nam Cao, chúng tôi thấy các biện pháp thay thế

hành vi đe dọa thể diện bằng các phương tiện tu từ xuất hiện với tần suất cao

Tổng hợp tần suất sử dụng các phương tiện tu từ

trong truyện ngắn Nam Cao

Kết quả tổng hợp trên cho thấy các phương tiện tu từ có tần suất xuất

hiện không đồng đều Trong các phương tiện tu từ thì ẩn dụ là phương tiện tu

từ được sử dụng nhiều nhất Cụ thể có 27/103 trường hợp, chiếm 26.2%; tiếp

theo là trùng điệp cú pháp với 17/103 lần xuất hiện chiếm 16.5%, tỉnh lược có 15/103 lần xuất hiện, chiếm 14.5% và câu hỏi tu từ có 9/103 lần xuất hiện,

Trang 38

31 chiếm 8.7% và tổng các phương tiện tu từ khác được sử dụng là 32/103 trường hợp, chiếm 34.1%

Sau đây chúng tôi xin đi vào phân tích một số trường hợp sử dụng

phương tiện tu từ tiêu biểu trong truyện ngắn Nam Cao

2.2.1 Ẩn dụ

Ẩn dụ là một phương thức chuyển nghĩa, là sự định danh thứ hai mang

ý nghĩa hình tượng, dựa trên sự tương đồng hay giống nhau giữa khách thể A được định danh với khách thể B có tên gọi được chuyển sang dùng cho A

[22, tr.52]

Cũng theo tác giả Diệp Quang Ban thì ẩn dụ có một số biến thể được gọi là cải danh, nhân hóa, vật hóa, phúng dụ

Trong 31 truyện ngắn của Nam Cao được khảo sát, chúng tôi thấy

phương tiện tu từ được sử dụng nhiều nhất là ẩn dụ Cụ thể có 27/103 trường

hợp, chiếm 26.2%

Ví dụ:

“Trời nắng lắm, nên đường vắng Hắn cứ đi, cứ chửi, cứ dọa giết

“nó”, và cứ đi Bây giờ đến nhà cụ Bá Hắn xông xông đi vào

[…]

Những lúc như thế, thì một người dẫu khôn ngoan cũng không bình tĩnh được Nhất là khi trông thấy một thằng chỉ đến vòi tiền uống rượu như Chí Phèo Tuy vậy, cụ móc sẵn năm hào Thà móc sẵn để tống nó đi cho chóng Nhưng móc rồi, cụ cũng phải quát một câu cho nhẹ người

- Chí Phèo đấy hở? Lè bè vừa thôi chứ, tôi không phải là cái kho

Rồi ném bẹt năm hào xuống đất, cụ bảo hắn:

- Cầm lấy mà cút đi cho rảnh Rồi làm mà ăn chứ cứ báo người ta mãi thế à?” [51, tr.53]

Truyện ngắn Chí Phèo kể về ba lần Chí Phèo đến nhà Bá Kiến sau khi

ra tù Đây là đoạn đối thoại của lần thứ ba Chí Phèo đến nhà Bá Kiến Sau khi nhận được tình yêu thương chân thành của Thị Nở, Chí Phèo đã thức tỉnh và

Trang 39

32 muốn quay trở lại sống cuộc sống lương thiện, nhưng sự từ chối của Thị Nở hay của chính những định kiến xã hội phong kiến đã ngăn cản không cho Chí Phèo được quay trở lại làm người Song Bá Kiến thì vẫn không biết và vẫn nghĩ Chí Phèo chỉ đến nhà lão ăn vạ, xin tiền như bao lần khác Câu nói của

Bá Kiến ở đoạn thoại này là một ẩn dụ thể hiện cách nói rất khôn ngoan của

hắn: “Chí Phèo đấy hở? Lè bè vừa thôi chứ, tôi không phải là cái kho.” Từ

“cái kho” trong câu nói của Bá Kiến rất hàm nghĩa Người đọc cũng như Chí Phèo không khó để nhận ra hàm ý của cụ Bá Sử dụng hình ảnh ẩn dụ “Cái

kho” trong câu “tôi không phải là cái kho” là Bá Kiến muốn ngầm thông báo

với Chí Phèo rằng “tôi không phải là người lắm tiền nhiều của, tôi không có nhiều tiền để lúc nào cũng có thể cho anh” Giả sử Bá Kiến không dùng lối nói ẩn dụ trên mà lại nói “Tôi không có tiền” có nghĩa là Bá Kiến đã trực tiếp

đe dọa đến thể diện của Chí Phèo, coi thường Chí Phèo không biết làm gì chỉ biết đến xin tiền Điều xúc phạm này rất có thể sẽ đẩy Chí Phèo đến một hành

động khôn lường Cách thức nói ẩn dụ thông qua biểu tượng “cái kho”, sự chủ

ý vi phạm phương châm cách thức, thể hiện cách trả lời rất khôn khéo, kín đáo của cụ Bá về việc không cho tiền Chí Phèo nữa nhưng cũng không làm mất thể diện của Chí Phèo

Như vậy sử dụng phương tiện tu từ ẩn dụ là một biện pháp thay thế

hành vi đe dọa thể diện của chiến lược lịch sự âm tính trong giao tiếp giúp Bá Kiến giảm mức độ đe dọa thể diện Chí Phèo, nhưng lại ngăn chặn hành vi xin tiền - ăn vạ của Chí Phèo, từ đó chúng ta thấy Bá Kiến đã dụ dỗ để Chí Phèo trở thành tay sai cho hắn nếu muốn có tiền Cách nói của Bá Kiến ở đây có tác dụng vừa bảo vệ được thể diện của chính mình trước mọi sự đe dọa của đối tác vừa có cơ hội cứu vớt được thể diện của mình khi thể diện đó có thể bị mất bởi một hành động liều lĩnh nào đó của Chí Phèo - một thằng say rượu, không đếm xỉa gì đến thể diện

Một ví dụ khác:

“Ông cựu đã hơi bực mình, sừng sộ:

Trang 40

33

- Tại sao không uống? Người ta uống thuốc nó đầy ra đấy

- Người ta uống mặc người ta!

Rồi chưa thấy chồng kịp nói gì, bà chíp chíp môi:

- Ối chao! Chuông khánh còn chẳng ăn ai, nữa là mảnh chĩnh bỏ

ngoài bờ tre

Ông chồng cau mặt:

- Dở lắm! Biết thế nào là chuông khánh? Biết thế nào là mảnh chĩnh?

Mình đã uống thuốc của nó đâu mà biết?” [51, tr.258]

Đoạn trích trên là cuộc đối thoại của vợ chồng ông bà cựu trong truyện

ngắn Lang Rận Truyện kể lang Rận là một thày lang, tin đồn chữa bệnh giỏi

Ông cựu muốn thuyết phục bà vợ cho lang Rận đến ở gia đình mình hòng trục lợi chữa bệnh không mất tiền nên tìm cách ca ngợi khả năng của lang Rận theo tin đồn đại Song bà cựu không đồng tình nên trong cuộc đối thoại với chồng, bà chọn cách nói ẩn ý, dùng ẩn dụ Giả sử câu nói của bà cựu không

dùng hình ảnh ẩn dụ “mảnh chĩnh”, “chuông khánh” mà nói thẳng rằng “giỏi còn chưa ăn ai nữa là…” thì câu nói này như một lời sỉ nhục làm tăng mức

độ đe dọa thể diện của bà vợ ông cựu với người được nói đến trong phát ngôn

là lang Rận và làm xấu mặt cả ông cựu nên cách nói ẩn dụ của bà cựu được

hiểu là ông lang Rận không phải “chuông khánh” - chỉ thứ cao quý, giá trị mà chỉ là “mảnh chĩnh” - chỉ thứ bỏ đi, vô giá trị Cách nói hàm ẩn ấy của bà cựu

là cách nói tránh làm mất thể diện ông cựu khi ông một mực khen lang Rận

Có thể nói cách sử dụng các phương tiện tu từ trong chiến lược giao tiếp của ngôn ngữ nhân vật đã tạo ra các cuộc đối thoại sinh động, rất gần gũi với đời thực Các nhân vật ấy đã giao tiếp với nhau bằng thứ ngôn ngữ của đời thường Trường hợp này chúng tôi thấy xuất hiện khá phổ biến trong các

truyện ngắn Nam Cao như Nửa đêm, Con mèo, Quái dị, Mua danh, Điếu

văn

Ngày đăng: 04/01/2020, 12:42

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w