LỜI CẢM ƠN Trong quá trình thực hiện đề tài “Thiết kế và tổ chức một số dự án học tập gắn với thực tiễn trong dạy học môn Toán lớp 7”, em đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên củ
Trang 1BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHONG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
_
Trang 2BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO UBND THÀNH PHỐ HẢI PHONG
TRƯỜNG ĐẠI HỌC HẢI PHÒNG
ĐỖ THỊ PHƯƠNG THẢO
THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC MỘT SỐ DỰ ÁN HỌC TẬP GẮN VỚI THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC
MÔN TOÁN LỚP 7
LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC
CHUYÊN NGÀNH: LL & PP DẠY HỌC BỘ MÔN TOÁN
MÃ SỐ: 8 14 01 11 Người hướng dẫn khoa học: TS Nguyễn Đức Mạnh
HẢI PHÒNG - 2020
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong quá trình thực hiện đề tài “Thiết kế và tổ chức một số dự án học tập gắn với thực tiễn trong dạy học môn Toán lớp 7”, em đã nhận được sự hướng dẫn, giúp đỡ, động viên của các cá nhân và tập thể Em xin chân thành cảm ơn tới tất cả các cá nhân và tập thể đã tạo điều kiện giúp đỡ
em trong quá trình học tập và nghiên cứu
Em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Đức Mạnh, người thầy đã tận tình hướng dẫn, chỉ bảo em trong suốt quá trình làm luận văn
Em xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, Khoa Toán, Phòng Đào tạo trường Đại học Hải Phòng đã tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và làm luận văn
Em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu, các GV nhóm Toán, các em
HS trường THCS Cao Minh – Hải Phòng đã giúp đỡ, tạo điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình học tập và thực nghiệm tại trường
Dù đã rất cố gắng nhưng luận văn cũng không tránh khỏi những thiếu sót, tác giả mong nhận được sự góp ý của các thầy, cô giáo và các bạn học viên để luận văn được hoàn thiện hơn
Hải Phòng, tháng 8 năm 2020
Tác giả luận văn
Đỗ Thị Phương Thảo
Trang 5MỤC LỤC Trang
LỜI CAM ĐOAN i
LỜI CẢM ƠN ii
MỤC LỤC iii
DANH MỤC TỪ VIẾT TẮT iv
DANH MỤC BẢNG vii
DANH MỤC HÌNH viii
MỞ ĐẦU 1
1 Lý do chọn đề tài 1
2 Mục đích nghiên cứu 4
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 4
4 Giả thuyết khoa học 4
5 Phương pháp nghiên cứu 5
6 Cấu trúc của luận văn 5
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 6
1.1 Vấn đề đổi mới PPDH 6
1.2 PPDH theo dự án 8
1.2.1 Dự án và dự án học tập 8
1.2.2 Quan niệm về DHTDA 9
1.2.3 Mục tiêu của DHTDA 11
1.2.4 Đặc điểm của DHTDA 11
1.2.5 Phân loại DHTDA 13
1.2.6 Quy trình DHTDA 14
1.2.7 Vai trò của GV và HS trong DHTDA 16
1.2.8 Ưu điểm và hạn chế của DHTDA 17
1.2.9 Đánh giá trong DHTDA 18
1.3 Toán học gắn liền với thực tiễn 19
Trang 61.3.1 Toán học có nguồn gốc từ thực tiễn 19
1.3.2 Toán học được phản ánh từ thực tiễn 20
1.3.3 Toán học là công cụ để giải quyết vấn đề trong thực tiễn 21
1.4 Thực trạng việc vận dụng PPDH theo dự án trong dạy học môn Toán lớp 7 21
1.4.1 Kết quả điều tra GV 21
1.4.2 Kết quả điều tra HS 24
1.5 Kết luận chương 1 25
CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC MỘT SỐ DỰ ÁN HỌC TẬP GẮN VỚI THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN 26
2.1 Nguyên tắc thiết kế dự án 26
2.1.1 Đảm bảo phù hợp với nhu cầu của HS và tạo cơ hội để HS tự thực hiện 26
2.1.2 Đảm bảo nội dung chương trình, nội dung SGK và mối quan hệ liên môn 26
2.1.3 Đảm bảo tính thiết thực, gần gũi trong đời sống và sản xuất 26
2.1.4 Đảm bảo thể hiện giá trị sống và kỹ năng sống 27
2.2 Thiết kế một số dự án liên hệ toán học với thực tiễn 27
2.2.1 Dự án 1: “Vận dụng kiến thức về biểu thức đại số trong giải quyết một
số vấn đề thực tiễn” 27
2.2.2 Dự án 2: “Vận dụng kiến thức về định lí Py-ta-go trong giải quyết một số vấn đề thực tiễn” 33
2.3 Tổ chức thực hiện một số dự án 39
2.4 Kết luận chương 2 45
CHƯƠNG 3 THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 46
3.1 Mục đích thực nghiệm sư phạm 46
3.2 Kế hoạch và đối tượng thực nghiệm sư phạm 46
3.2.1 Kế hoạch thực nghiệm 46
Trang 73.2.2 Đối tượng thực nghiệm 46
3.3 Nội dung thực nghiệm sư phạm 46
3.4 Phương pháp thực nghiệm 46
3.5 Những thuận lợi và khó khăn trong quá trình thực nghiệm sư phạm 47
3.5.1 Thuận lợi 47
3.5.2 Khó khăn 47
3.6 Phân tích kết quả thực nghiệm 48
3.6.1 Phân tích về mặt định tính 48
3.6.2 Phân tích về mặt định lượng 50
3.7 Kết luận chương 3 53
KẾT LUẬN 54
KIẾN NGHỊ, ĐỀ XUẤT 55
TÀI LIỆU THAM KHẢO 56 PHỤ LỤC
Trang 8DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
Trang 91.1 Kết quả điều tra thực trạng vận dụng phương pháp
DHTDA trong dạy học môn Toán lớp 7
21
1.2 Kết quả điều tra việc HS tham gia vào phương pháp
DHTDA trong học tập bộ môn Toán
24
3.1 Bảng danh sách các kỹ năng HS được phát triển sau khi
tham gia thực hiện dự án
Trang 103.1 Đồ thị biểu diễn phân phối tần suất điểm số 51
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Ngày nay, trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão, khi
mà trí tuệ đã trở thành yếu tố hàng đầu thể hiện quyền lực và sức mạnh của mỗi quốc gia, thì ở Việt Nam cũng như các nước khác trên thế giới đều coi giáo dục thực sự là đòn bẩy quan trọng để phát triển kinh tế, thúc đẩy xã hội tiến bộ Các cuộc cách mạng công nghiệp nối tiếp nhau ra đời, kinh tế tri thức phát triển mạnh đem lại cơ hội phát triển vượt bậc, đồng thời cũng đặt ra những khó khăn và thách thức không nhỏ với sự nghiệp giáo dục Bối cảnh thời đại mới tạo cơ hội và điều kiện thuận lợi để nền giáo dục nước nhà tiếp cận với các tri thức mới, những mô hình giáo dục hiện đại, những phương tiện dạy học tiên tiến; từ đó người dạy có ý thức và trách nhiệm đổi mới nội dung, phương pháp và hình thức tổ chức dạy học, đáp ứng nhu cầu của xã hội và mỗi cá nhân HS
Điều 31, Luật giáo dục 2019 nêu rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc trưng từng môn học, lớp học và đặc điểm đối tượng học sinh; bồi dưỡng phương pháp tự học, hứng thú học tập, kỹ năng hợp tác, khả năng tư duy độc lập; phát triển toàn diện phẩm chất và năng lực của người học; tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông vào quá trình giáo dục” [12]
Đổi mới PPDH đang chuyển hướng từ việc quan tâm HS học được điều
gì đến chỗ quan tâm HS vận dụng được cái gì vào thực tiễn thông qua việc học, nghĩa là chương trình giáo dục chuyển từ việc tiếp cận nội dung sang tiếp cận năng lực của người học [10] Để đảm bảo được điều đó, phải thực hiện chuyển từ PPDH theo lối "truyền thụ một chiều" sang việc tổ chức cho HS học tập trong hoạt động và bằng hoạt động một cách tự giác, tích cực, chủ động và sáng tạo Học thông qua hoạt động là cách hiệu quả nhất để vận dụng kiến thức trên lớp vào giải quyết những vấn đề trong cuộc sống, từ đó HS
Trang 12thấy được việc học trở nên thú vị, có ý nghĩa, tạo động lực để các em tìm tòi, khám phá và dần dần hình thành, phát triển thái độ, ý thức học tập cả đời
Điều 3, Luật giáo dục 2019 xác định: “Hoạt động giáo dục được thực hiện theo nguyên lý học đi đôi với hành, lý luận gắn liền với thực tiễn, giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội” [12]
Nội dung, cấu trúc của chương trình, SGK mới theo Thông tư số 32/2018/TT-BGDĐT ngày 28/6/2018 và Thông tư số 33/2017/TT-BGDĐT ngày 22/12/2017 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định ưu tiên những kiến thức cơ bản, hiện đại nhưng gắn bó, thiết thực với những đòi hỏi của cuộc sống hàng ngày, tránh hàn lâm/kinh viện Ưu tiên thực hành/vận dụng, tránh lý thuyết suông; tăng cường hứng thú, hạn chế quá tải
Vậy nên, trong công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá của nước ta hiện nay, giáo dục đào tạo thực hiện mục đích: “Nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài” hình thành đội ngũ có tri thức, có tay nghề, có năng lực hành động, tự chủ, năng động sáng tạo Giáo dục gắn liền với thực hành, những điều HS học trong nhà trường sẽ gắn với nghề nghiệp và cuộc sống trong tương lai của các em
Thế nhưng, hiện nay ở phần lớn các trường phổ thông, PPDH chủ yếu vẫn là thuyết trình, thầy giảng – trò ghi Theo đó, HS thụ động tiếp thu kiến thức một chiều thông qua SGK và GV, dẫn tới khuynh hướng tư duy đóng thiếu tính sáng tạo của người học Đặc biệt là đối với môn toán, có khối lượng kiến thức khá lớn thì cách học này đã khiến việc học toán đã trở thành một áp lực nặng nề đối với HS Hầu hết HS đều nghĩ rằng phần lớn các kiến thức toán học đều rất trừu tượng, cao siêu dẫn đến tình trạng học đối phó, học toán với mục đích duy nhất là để thi cử Ngoài những điều trên, HS không biết rằng toán học còn có nhiều ứng dụng rất hữu ích và sâu sắc trong thực tế; nó thể hiện rất rõ trong cuộc sống hằng ngày của con người
Trong hoạt động xây dựng và triển khai chương trình giáo dục đào tạo mới, SGK các môn học nói chung và môn toán nói riêng ở bậc phổ thông sau
Trang 13năm 2015, thì “phát triển năng lực của người học” được xem là nội dung cốt lõi, là định hướng trung tâm để thực hiện mục tiêu đổi mới Vì vậy, trong các trường phổ thông, việc dạy học toán cần nhanh chóng thay đổi theo hướng lấy
“người học làm trung tâm”, HS là chủ thể tiếp thu kiến thức và làm chủ kiến thức, nhằm phát triển các năng lực như: năng lực tư duy, năng lực giải quyết vấn đề, năng lực mô hình hóa toán học, năng lực giao tiếp toán học, năng lực
sử dụng các công cụ và phương tiện học toán và năng lực tự học toán
Đổi mới PPDH là giải pháp vô cùng quan trọng để phát triển năng lực người học, mà DHTDA, là một PPDH gắn lý thuyết và thực hành, tư duy và hành động, nhà trường và xã hội; kích thích động cơ và hứng thú cho người học; phát huy tính tự lực và tính trách nhiệm; phát triển khả năng sáng tạo; rèn luyện khả năng giải quyết những vấn đề phức hợp; rèn luyện năng lực cộng tác làm việc; rèn luyện năng lực đánh giá Đặc biệt, điểm nổi bật nhất của DHTDA là tập trung vào một câu hỏi lớn hoặc một vấn đề quan trọng có thể có nhiều quan điểm liên quan tới nhiều lĩnh vực khoa học khác nhau tạo điều kiện cho HS phát triển kỹ năng giải quyết vấn đề, hợp tác, giao tiếp, nghiên cứu và tự học Vì vậy, DHTDA là PPDH cần được phổ biến trong các trường phổ thông trên phạm vi cả nước nhằm đào tạo nguồn nhân lực có chất lượng để phát triển đất nước ngày càng giàu mạnh
Mục tiêu của giáo dục phổ thông được quy định tại Điều 29 Luật Giáo dục 2019, “Giáo dục trung học cơ sở nhằm củng cố và phát triển kết quả của giáo dục tiểu học; bảo đảm cho học sinh có học vấn phổ thông nền tảng, hiểu biết cần thiết tối thiểu về kỹ thuật và hướng nghiệp để tiếp tục học trung học phổ thông hoặc chương trình giáo dục nghề nghiệp” [12] Vì vậy, mục đích chính của giáo dục THCS là phải phát huy được tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc trưng của từng môn học, đặc điểm của từng đối tượng HS, điều kiện của từng lớp học; bồi dưỡng cho các em phương pháp tự học; rèn luyện kĩ năng hợp tác, kĩ năng phát hiện và giải
Trang 14quyết vấn đề, kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tư tưởng, tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú và trách nhiệm học tập cho HS
Do đó với mục đích giúp cho HS thay đổi cách nhìn nhận về môn toán, khơi gợi niềm đam mê yêu thích toán học, thấy được toán học rất gần gũi với cuộc sống xung quanh và việc tiếp thu các kiến thức toán ở nhà trường là công cụ hữu ích để giải quyết các vấn đề, các tình huống đơn giản trong thực
tế chúng tôi lựa chọn đề tài nghiên cứu: “Thiết kế và tổ chức một số dự án học tập gắn với thực tiễn trong dạy học môn Toán lớp 7”
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận về DHTDA để tổ chức vận dụng PPDH theo
dự án trong dạy học một số nội dung Toán ở lớp 7 nhằm phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của HS, phát triển tư duy, rèn luyện khả năng giải quyết các vấn đề thực tiễn cho HS lớp 7
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
i Đối tượng nghiên cứu: Các dự án học tập liên hệ toán học với thực tiễn
ii Phạm vi nghiên cứu:
- Kiến thức về biểu thức đại số (phần đại số lớp 7)
- Kiến thức về định lí Py-ta-go (phần hình học lớp 7)
4 Giả thuyết khoa học
Nếu GV thiết kế và tổ chức thực hiện được một số dự án học tập gắn với thực tiễn trong dạy học môn Toán ở lớp 7 thì sẽ góp phần phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo, giúp HS làm chủ kiến thức và trang bị những kĩ năng cần thiết cho cuộc sống trong một xã hội công nghệ cao dựa trên tri thức Đồng thời tạo động lực để HS tìm tòi, khám phá, từ đó khơi gợi niềm đam mê, yêu thích toán học của HS Qua đó nâng cao chất lượng học tập môn Toán, phát triển các năng lực toán học và kỹ năng vận dụng toán học vào thực
tế, đáp ứng mục tiêu giáo dục
Trang 155 Phương pháp nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu lí luận: Nghiên cứu một số văn bản, tài liệu liên quan đến đổi mới chương trình, đổi mới nội dung SGK; đổi mới PPDH, PPDH theo dự án; các tài liệu giáo dục học và lí luận dạy học bộ môn Toán có liên quan đến đề tài
Phương pháp quan sát: Dự giờ, quan sát những biểu hiện của GV và
HS (về nhận thức, thái độ, hành vi) trong hoạt động dạy và học, tham khảo ý kiến của những đồng nghiệp có kinh nghiệm trong việc DHTDA
Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Phân tích dự án của từng nhóm; phân tích phiếu đánh giá của cá nhân HS, của nhóm trưởng đối với các thành viên trong nhóm và phiếu đánh giá chéo giữa các nhóm HS
Thực nghiệm sư phạm: Tổ chức TN sư phạm để kiểm chứng tính khả thi và hiệu quả của đề tài
Phương pháp thống kê toán học: Phân tích các số liệu điều tra thực trạng và số liệu TN sư phạm, kiểm định giả thuyết thống kê
6 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần “Mở đầu”, “Kết luận” và “Danh mục tài liệu tham khảo”, nội dung chính của luận văn được trình bày trong ba chương:
Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn
Chương 2: Thiết kế và tổ chức một số dự án học tập gắn với thực tiễn trong dạy học môn Toán lớp 7
Chương 3: Thực nghiệm sư phạm
Trang 16Trong một khoảng thời gian tương đối dài, thầy cô chúng ta đã được trang bị phương pháp để truyền thụ tri thức cho HS theo quan hệ một chiều: Thầy nói – trò nghe, thầy truyền đạt – trò tiếp nhận Kết quả là HS học tập một cách thụ động, đối phó, thiếu khả năng thuyết trình, lười tư duy, thiếu tính độc lập sáng tạo trong quá trình học tập
Vì vậy, việc đổi mới PPDH để HS chủ động, tích cực, sáng tạo trong học tập là việc làm cần thiết và không thể thiếu được Đổi mới PPDH sẽ giúp chúng ta góp phần khắc phục những biểu hiện trì trệ trong giáo dục hiện nay; góp phần quan trọng nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo và cũng như tạo
cơ hội cho chúng ta tiếp cận phương pháp giáo dục mới theo quan điểm giáo dục hiện đại Một PPDH phù hợp sẽ tạo điều kiện để người dạy, người học phát huy tối đa khả năng của bản thân trong việc truyền đạt, lĩnh hội kiến thức
và phát triển tư duy Một PPDH khoa học sẽ thay đổi vai trò của người thầy đồng thời tạo nên sự say mê, hứng thú, kích thích tính sáng tạo của người học
Đổi mới PPDH không phải là phủ nhận hoàn toàn PPDH truyền thống
mà là cần phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế của nó Đổi mới PPDH là đổi mới cách dạy, cách truyền đạt kiến thức cho HS (Phát triển năng lực vốn có của người học, thay đổi vai trò đồng thời đổi mới mối quan hệ thầy - trò…), biết cách ứng dụng các phương tiện và thiết bị hiện đại, ứng dụng CNTT vào quá trình dạy học
Trang 17Để đạt hiệu quả cao trong việc nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu của xã hội, có thể thấy định hướng chung của việc đổi mới PPDH đó là:
- Tăng cường tính chủ động của HS
- Giáo dục, bồi dưỡng HS thành những người có năng lực thực hành, có năng lực tư duy sáng tạo, năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề
- Không phủ nhận những PPDH truyền thống nhưng sử dụng chúng theo tinh thần mới thông qua việc kích thích vai trò chủ động nhận thức và hành động của HS
- Bổ sung các PPDH mới như: thảo luận, điều tra, đóng vai, truyền đạt
- Đổi mới phương tiện dạy học
- Đổi mới kiểm tra và đánh giá trong các môn học, hoạt động giáo dục Đánh giá tập trung vào phẩm chất, năng lực HS, trong đó coi trọng thái độ và khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế
Từ những định hướng trên có thể đề ra một số biện pháp đổi mới PPDH như sau:
- Cải tiến các PPDH truyền thống
Trang 18Mặc dù định hướng cơ bản của việc đổi mới PPDH đó là phát huy tính tích cực, chủ động và sáng tạo của HS, xác định rõ và tôn trọng vai trò chủ thể của HS Nhưng cũng không vì thế mà chúng ta coi nhẹ vai trò của người thầy
Vậy nên để đảm bảo tính khả thi của đổi mới PPDH, vai trò kiến tạo của GV thể hiện trong công việc tổ chức, hướng dẫn hoạt động học tập trong môi trường thân thiện và những tình huống có vấn đề nhằm khuyến khích người học tích cực tham gia, khơi gợi và khuyến khích người học tự khẳng định nhu cầu và năng lực của bản thân, đồng thời rèn cho người học thói quen
và khả năng tự học, tích cực phát huy tiềm năng và vận dụng hiệu quả những kiến thức, kỹ năng đã được tích luỹ Từ đó, tạo tiền đề để phát triển toàn diện nguồn nhân lực trong bối cảnh phát triển của cách mạng công nghiệp 4.0, hướng tới một nền giáo dục Việt Nam hiện đại và hội nhập quốc tế
Ngày nay, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về dự án như:
Theo tiêu chuẩn của cộng đồng Châu Âu “dự án là một kế hoạch, một
dự tính, về cơ bản được đặc trưng bởi tính duy nhất của các điều kiện trong tính tổng thể của nó, ví dụ có mục đích định trước, giới hạn về thời gian, nhân lực và các điều kiện khác; phân biệt với các dự án khác; có tổ chức dự án chuyên biệt” [14]
Theo trang web của tổ chức Vietnam Foundation – đơn vị tài trợ dự án Tài nguyên giáo dục mở: “Dự án là một tập hợp các công việc, được thực hiện bởi một tập thể nhằm đạt được một kết quả dự kiến trong một thời gian dự kiến với một kinh phí dự kiến” [9]
Trang 19Do đó ta có thể hiểu “Dự án là một tổng thể các hoạt động dự kiến được
bố trí theo một trình tự chặt chẽ với nguồn lực và thời gian cần thiết cũng như địa điểm xác định nhằm thực hiện những mục tiêu đã được đề ra”
1.2.1.2 Dự án học tập
Trong bối cảnh nền giáo dục đang không ngừng đổi mới hiện nay thì dự
án đã không còn là khái niệm chỉ dùng trong các lĩnh vực kinh tế xã hội mà còn được sử dụng rộng rãi trong lĩnh vực giáo dục - đào tạo, không chỉ hiểu là các dự án phát triển, nâng cao chất lượng giáo dục, con người mà còn được sử dụng như một phương pháp hay hình thức dạy học [15]
Vì vậy, ta có thể hiểu dự án học tập là những thiết kế có chủ đích để thu hút tư duy của HS xung quanh các kỳ vọng, nội dụng và các kĩ năng mà HS cần biết
1.2.2 Quan niệm về DHTDA
Trên thế giới, khái niệm “dự án” trong dạy học đã được sử dụng từ thế
kỉ XVI tại các trường dạy nghề kiển trúc ở Ý từ đó lan rộng sang các nước châu Âu khác và Mĩ từ thế kỉ XVIII Cuối thế kỉ XIX – đầu thế kỉ XX, DHTDA được coi là PPDH quan trọng để thực hiện quan điểm dạy học lấy
HS làm trung tâm và được sử dụng trong dạy học phổ thông tại Mĩ [3] Ngày nay, DHTDA được ứng dụng trong mọi cấp học từ giáo dục phổ thông, đào tạo nghề cho đến bậc đại học ở các nước phát triển trên thế giới [1]
Tại Việt Nam từ những đòi hỏi mạnh mẽ về đổi mới PPDH, tích cực vận dụng CNTT và truyền thông vào dạy học, DHTDA đã được nhiều sinh viên, GV, nhà nghiên cứu giáo dục tìm hiểu để vận dụng linh hoạt, hiệu quả vào thực tế nước ta Trong bài “Dạy học dự án – từ lí luận đến thực tiễn” các tác giả Trịnh Văn Biểu, Phan Đồng Châu Thuỷ, Trịnh Lê Hồng Phương đã trình bày một cách hệ thống những vấn đề cơ bản nhất về dạy học dự án: khái niệm, phân loại, cấu trúc, đặc điểm, tác dụng, ưu nhược điểm, cách tiến hành, đánh giá và những bài học kinh nghiệm để thành công [3] Trong bài “Nhiệm
vụ, thách thức của giáo viên, học sinh Việt Nam trong dạy học theo dự án”,
Trang 20tác giả Phan Đồng Châu Thủy đã làm rõ những nhiệm vụ và thách thức mà
GV và HS phải đối mặt khi sử dụng phương pháp DHTDA đồng thời đề ra một số giải pháp giúp người dạy và người học vượt qua các thách thức đó [13] Đặc biệt, trong tài liệu Dự án Việt Bỉ “Dạy và học tích cực – Một số phương pháp và kĩ thuật dạy học” đã giới thiệu rất chi tiết về DHTDA, bao gồm các bước thực hiện, tiêu chí đánh giá [4]
Hiện nay có nhiều quan niệm, cách định nghĩa, cách hiểu khác nhau về DHTDA như:
Theo K.Frey, học giả hàng đầu dạy học dự án của Cộng hòa Liên bang Đức: “Dạy học theo dự án (Project Based Learning - PBL) là một hình thức của hoạt động học tập trong đó, nhóm người học xác định một chủ đề làm việc, thống nhất về một nội dung làm việc, tự lập kế hoạch và tiến hành công việc để dẫn đến một sự kết thúc có ý nghĩa, thường xuất hiện một sản phẩm có thể trình ra được Học theo dự án nhấn mạnh vai trò của người học” [11]
Theo định nghĩa của Bộ Giáo dục Singapore: “Học theo dự án (Project work) là hoạt động học tập nhằm tạo cơ hội cho học sinh tổng hợp kiến thức
từ nhiều lĩnh vực học tập, và áp dụng một cách sáng tạo vào thực tế cuộc sống” [11]
Theo tác giả Trịnh Văn Biều, Phan Đồng Châu Thủy, Trịnh Lê Hồng Phương (2011): “Dạy học dự án là một hình thức dạy học hay PPDH phức hợp trong đó dưới sự hướng dẫn của giáo viên, người học tiếp thu kiến thức
và hình thành kĩ năng thông qua việc giải quyết một bài tập tình huống (dự án) có thật trong cuộc sống, theo sát chương trình học, có sự kết hợp giữa lí luận và thực hành và tạo ra sản phẩm cụ thể” [3]
Qua những quan điểm nêu trên, có thể thấy những điểm chung trong quan điểm về khái niệm DHTDA như sau:
- DHTDA hướng vào HS, lấy HS làm chủ thể của hoạt động dạy học
- Trong DHTDA, GV chỉ đóng vai trò là người quan sát, hướng dẫn, chứ không phải “cầm tay chỉ việc” cho HS
Trang 21- HS phải có các biện pháp khả thi để giải quyết vấn đề, tình huống được đặt ra
- Các tình huống đưa ra phải có giá trị thực tiễn, có sử dụng kiến thức liên môn và bám sát phân phối chương trình học
Từ các phân tích trên, theo chúng tôi: “DHTDA là PPDH lấy người học làm trung tâm, trong đó người học dưới sự hướng dẫn của GV, tự mình tìm ra các biện pháp phù hợp để giải quyết các tình huống liên quan đến vấn đề thực tiễn trong cuộc sống,bám sát chương trình học Từ đó, người học lĩnh hội được kiến thức và hình thành kĩ năng, đồng thời tạo ra những sản phẩm học tập nhất định” Trong luận văn này, chúng tôi sử dụng khái niệm này
1.2.3 Mục tiêu của DHTDA
DHTDA là một trong những PPDH tích cực đang được sử dụng ở nhiều nước trên thế giới trong đó có Việt Nam với các mục tiêu cơ bản sau:
- Tất cả các nội dung của môn học đều hướng tới các vấn đề của thực tiễn, gắn nội dung học trên lớp với thực tiễn cuộc sống
- Giúp HS lĩnh hội đầy đủ các kiến thức quan trọng của môn học và hiểu được ý nghĩa sâu rộng hơn của nội dung bài học thông qua các hoạt động của dự án học tập
- Phát triển cho người học kĩ năng phát hiện và giải quyết vấn đề; kĩ năng tư duy bậc cao (phân tích, tổng hợp, đánh giá)
- Rèn luyện cho HS nhiều kĩ năng cần có của người lao động ở thế kỉ XXI (tổ chức, kĩ năng sống, kĩ năng làm việc theo nhóm, giao tiếp…)
- Cho phép HS làm việc “độc lập” để hình thành, bồi dưỡng kiến thức
và tạo ra những sản phẩm thực tế
- Giúp người học nâng cao kĩ năng sử dụng CNTT vào quá trình học tập và tạo ra sản phẩm
1.2.4 Đặc điểm của DHTDA
Các nhà sư phạm Mĩ đầu thế kỉ XX khi xác lập cơ sở lí thuyết cho PPDH này đã nêu ra 3 đặc điểm cốt lõi của DHTDA: định hướng HS, định
Trang 22hướng thực tiễn và định hướng sản phẩm [8] Có thể cụ thể hoá các đặc điểm của DHTDA như sau [17]:
- Định hướng thực tiễn: Đề tài của dự án xuất phát từ những tình huống của thực tiễn xã hội, thực tiễn nghề nghiệp cũng như thực tiễn đời sống Nhiệm vụ dự án cần chứa đựng những vấn đề phù hợp với trình độ và năng lực của người học Các dự án học tập gắn việc học trong nhà trường với việc giải quyết những vấn đề của thực tiễn đời sống
- Định hướng hứng thú người học: HS được tham gia hoặc có thể trực tiếp đề xuất và lựa chọn chủ đề, nội dung học tập phù hợp với khả năng và hứng thú cá nhân dựa trên sự định hướng của GV Những chủ đề được chọn phải mang tính thiết thực, gần gũi, có ý nghĩa, đặt ra những nhiệm vụ vừa sức với HS Ngoài ra, cần tiếp tục kích thích, khơi gợi sự hứng thú của người học trong quá trình thực hiện dự án
- Định hướng hành động: Trong quá trình thực hiện dự án có sự kết hợp giữa tìm hiểu lí thuyết và vận dụng nó vào hoạt động thực hành, thực tiễn Từ
đó có thể kiểm tra, củng cố đồng thời mở rộng kiến thức lí thuyết cũng như rèn luyện kĩ năng hành động, kinh nghiệm thực tiễn của người học
- Định hướng sản phẩm: Trong quá trình thực hiện và hoàn thành dự
án, các sản phẩm được tạo ra ngoài những thu hoạch lí thuyết còn có những sản phẩm vật chất của hoạt động thực tiễn, thực hành Những sản phẩm này
có thể sử dụng, công bố, giới thiệu Đây cũng là một trong các tiêu chí để GV kiểm tra, đánh giá quá trình thực hiện dự án của HS
- Định hướng kĩ năng mềm: Làm việc theo dự án sẽ hỗ trợ phát triển những kĩ năng mềm quan trọng của con người trong thế kỉ XXI như: kĩ năng thích ứng, lắng nghe, hợp tác làm việc; tự giám sát, thu thập, phân tích dữ liệu và đánh giá thông tin
- Tính phức hợp, liên môn: Nội dung của dự án có sự kết hợp tri thức của nhiều lĩnh vực hoặc nhiều môn học khác nhau nhằm giải quyết một nhiệm
vụ mang tính phức hợp
Trang 23- Tính tự lực cao của người học: Trong DHTDA, người học cần tham gia một cách chủ động, tích cực và tự lực vào các giai đoạn của quá trình dạy học với mục đích tìm kiếm, bồi dưỡng tri thức; rèn luyện kĩ năng học tập và
kĩ năng xã hội cần thiết GV chỉ có vai trò tư vấn, hướng dẫn, giúp đỡ Tuy nhiên, mức độ tự lực cần phù hợp với khả năng, năng lực, kinh nghiệm của
HS cũng như mức độ khó khăn của nhiệm vụ
- Cộng tác làm việc: Các dự án học tập thường được thực hiện theo nhóm; trong đó có sự hợp tác, phân công nhiệm vụ, công việc giữa các thành viên trong nhóm DHDA đòi hỏi và rèn luyện ý thức trách nhiệm, tính sẵn sàng, kỉ luật; kĩ năng hợp tác, lắng nghe giữa các thành viên, giữa HS và GV cũng như với các lực lượng xã hội khác
1.2.5 Phân loại DHTDA
Tuỳ theo các phương diện, có thể phân loại DHTDA theo nhiều cách khác nhau Sau đây là một số cách phân loại [5]:
i Phân loại theo quỹ thời gian
Theo K.Frey thì theo quỹ thời gian DHTDA có thể phân loại như sau:
- Dự án nhỏ: là dự án thực hiện trong một số giờ học (2 đến 6 giờ)
- Dự án trung bình: là dự án thực hiện trong một số ngày (dưới 40 giờ)
- Dự án lớn: là dự án được thực hiện với quỹ thời gian lớn, ít nhất là một tuần, có thể kéo dài nhiều tuần
ii Phân loại theo chuyên môn
- Dự án trong một môn học: Trọng tâm nội dung nằm trong một môn học
- Dự án liên môn: Trọng tâm nội dung nằm ở nhiều môn học khác nhau
- Dự án ngoài chuyên môn: Là các dự án không phụ thuộc trực tiếp vào các môn học
iii Phân loại theo sự tham gia của người học
Dự án cho cá nhân, dự án cho nhóm người học, dự án cho một lớp học,
dự án dành cho một khối lớp và dự án toàn trường
Trang 24iv Phân loại theo sự tham gia của GV
Dự án dưới sự hướng dẫn của một GV hoặc dự án với sự cộng tác hướng dẫn của nhiều GV
v Phân loại theo nhiệm vụ dự án
Dựa theo nhiệm vụ trọng tâm của dự án, có thể phân loại các dự án theo các dạng sau:
- Dự án tìm hiểu: là dự án khảo sát thực trạng đối tượng
- Dự án nghiên cứu: là dự án nhằm giải quyết vấn đề, giải thích các hiện tượng, các quá trình
- Dự án kiến tạo: là dự án chú trọng vào việc tạo ra sản phẩm vật chất hoặc hoạt động thực tiễn để thực hiện các nhiệm vụ như trang trí, biểu diễn, trưng bày, biểu diễn, sáng tác
- Dự án hỗn hợp: là các dự án có nội dung kết hợp các dạng nêu trên Các loại dự án trên không tách biệt hoàn tàn với nhau Trong từng lĩnh vực chuyên môn có thể phân loại các dạng dự án theo đặc thù riêng
1.2.6 Quy trình DHTDA
Tuỳ theo các dạng dự án khác nhau để xây dựng cấu trúc, các chi tiết riêng khác nhau Trong luận văn này, chúng tôi trình bày quy trình DHTDA với 5 bước làm như sau [14, 17]:
Bước 1: Xây dựng mục tiêu dự án –Lựa chọn chủ đề
- GV và HS cùng nhau đề xuất, xác định đề tài và mục tiêu của dự án
- Tìm trong chương trình học tập các nội dung có liên quan hoặc có thể ứng dụng vào thực tế
- GV phân chia lớp học thành các nhóm, hướng dẫn HS đề xuất, xác định tên đề tài Đó là dự án có liên hệ giữa nội dung học tập với thực tiễn đời sống xã hội; trong đó chứa đựng những nhiệm vụ cần giải quyết, phù hợp với năng lực và kinh nghiệm của các em
- GV có thể giới thiệu hướng đề tài để HS lựa chọn và cụ thể hóa
Trang 25Bước 2: Xây dựng kế hoạch
- HS với sự hướng dẫn của GV xây dựng kế hoạch cho việc thực hiện
dự án
- Nhóm HS cần xác định các nhiệm vụ cần làm, thời gian dự kiến, vật liệu, kinh phí, phương pháp tiến hành, dự kiến sản phẩm và phân công công việc trong nhóm và ghi trong sổ dự án
- Việc xây dựng kế hoạch có vai trò hết sức quan trọng vì nó sẽ định hướng hoạt động cho cả quá trình thực hiện, thu thập kết quả, trình bày sản phẩm và đánh giá dự án
Bước 3: Thực hiện dự án
- Các thành viên thực hiện công việc theo kế hoạch đã đề ra cho nhóm
và cá nhân
- HS tiến hành các hoạt động trí tuệ và hoạt động thực tiễn, thực hành
để hoàn thành sản phẩm dự án Các hoạt động gồm: Thu thập thông tin, tìm câu trả lời cho câu hỏi nghiên cứu từ các nguồn khác nhau
- Nếu HS lấy thông tin qua thực nghiệm hoặc quan sát, phỏng vấn, cần thiết kế trước các hoạt động và xác định rõ mục tiêu, PP, các bước tiến hành thí nghiệm hoặc quan sát, kết quả, thảo luận kết quả và kết luận
- Xử lí thông tin: Sau khi thu thập các dữ liệu, cần tiến hành phân tích
và giải thích các kết quả bằng một số cách như: lập bảng, biểu đồ, so sánh và đối chiếu, giải thích các nguyên nhân, thu thập các bài báo, sắp xếp nội dung
để tạo sản phẩm
- Thảo luận với các thành viên khác và trao đổi với GV
Bước 4: Thu thập kết quả, công bố sản phẩm
- Sản phẩm của dự án có thể được viết dưới dạng ấn phẩm (thu hoạch, báo cáo, bản tin, tạp chí, áp phích, …), được trình bày trên Power Point, hoặc thiết kế thành trang Web…
- Sản phẩm của dự án có thể được trình bày giữa các nhóm trong một lớp, có thể giới thiệu trước toàn trường hay ngoài xã hội
Trang 26- Tất cả người học cần được tạo điều kiện để trình bày kết quả cùng với kiến thức mới mà họ đã tích lũy thông qua dự án (theo nhóm hoặc cá nhân)
Bước 5: Đánh giá dự án, rút kinh nghiệm
- GV và người học đánh giá quá trình thực hiện và kết quả dự án dựa trên những sản phẩm thu được, tính rõ ràng và hợp lý trong cách trình bày của các em
- GV hướng dẫn HS rút ra những kinh nghiệm cho việc thực hiện các
1.2.7.1 Vai trò của GV
Khác với PPDH truyền thống, lấy người dạy làm trung tâm, GV là chuyên gia và có nhiệm vụ chính là truyền đạt kiến thức; trong DHTDA, GV chỉ là người hướng dẫn và tham vấn chứ không phải là “cầm tay chỉ việc” cho
HS Theo đó, GV không giảng dạy nội dung học tập theo cách truyền thống
mà từ nội dung đó nhìn ra sự liên quan của nó tới các vấn đề trong thực tiễn cuộc sống, hình thành ý tưởng về một dự án liên quan đến nội dung học, tạo nhiệm vụ và vai trò cho HS trong dự án, làm cho nhiệm vụ và vai trò của HS gắn liền với nội dung cần học
Tóm lại, GV trở thành người hướng dẫn, người giúp đỡ HS, tổ chức và tạo môi trường thuận lợi nhất cho các em trên con đường thực hiện dự án 1.2.7.2 Vai trò của HS
- Đầu tiên, HS là người được tham gia hoặc trực tiếp đề xuất, lựa chọn
đề tài của dự án
- HS là người quyết định cách tiếp cận vấn đề cũng như phương pháp
Trang 27và các hoạt động cần phải tiến hành để giải quyết vấn đề đó
- HS bước đầu tập giải quyết các vấn đề của cuộc sống thực tiễn bằng các kĩ năng của người lớn thông qua làm việc theo nhóm
- Chính HS là người tìm kiếm, lựa chọn những thông tin, dữ liệu từ nhiều nguồn khác nhau đó, rồi tổng hợp, phân tích, sử dụng và tích lũy kiến thức từ quá trình làm việc của bản thân các em
- HS hoàn thành nội dung học tập với các sản phẩm cụ thể (dự án) và có thể trình bày, bảo vệ sản phẩm đó
- HS cũng là người trình bày những kiến thức mà họ đã bồi dưỡng, tích lũy thông qua dự án
- Cuối cùng, bản thân HS là người đánh giá và được đánh giá dựa trên những gì đã thu thập được, dựa trên tính khúc chiết, tính hợp lý trong cách thức trình bày của các em theo những tiêu chí đã xây dựng trước đó
1.2.8 Ưu điểm và hạn chế của DHTDA
1.2.8.1 Ưu điểm
Các đặc điểm của DHTDA đã thể hiện những ưu điểm của PPDH này
Có thể tóm tắt những ưu điểm cơ bản sau đây của DHTDA [3]:
i DHTDA làm cho nội dung học tập trở nên có ý nghĩa hơn
- Chuyển từ kiến thức lí thuyết sang kiến thức thực tiễn gắn liền với cuộc sống xung quanh các em
- Kích thích động cơ, sự say mê, hứng thú học tập của người học
ii DHTDA góp phần đổi mới PPDH, thay đổi phương thức đào tạo
- DHTDA chuyển giảng dạy từ "GV nói" thành "HS làm" Họ hợp tác theo nhóm, lên kế hoạch, tổ chức hoạt động, tiến hành nghiên cứu, phát hiện
và giải quyết vấn đề, tổng hợp thông tin, tổ chức thời gian và phản ánh về việc học của mình
- DHTDA là hình thức quan trọng để thực hiện phương thức đào tạo theo hướng phát triển con người một cách toàn diện, kết hợp giữa lí thuyết và thực hành, giữa học tập và nghiên cứu khoa học
Trang 28- Tập trung vào hoàn cảnh mà cung cấp nhiều điều kiện, cơ hội học tập cho HS
iii DHTDA phát huy tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo của HS
- DHTDA lấy người học làm trung tâm, vừa tạo điều kiện, vừa buộc người học phải làm việc tích cực hơn
- Dạy học dự án cho phép người học tự chủ nhiều hơn trong công việc,
từ xây dựng kế hoạch đến việc thực hiện dự án, tạo ra các sản phẩm
iv DHTDA tạo ra môi trường thuận lợi cho người học rèn luyện và phát triển
- Rèn luyện và phát huy tính tự lực, tính trách nhiệm
- Cho phép HS tự bồi dưỡng kiến thức cũng như tích luỹ kinh nghiệm
- Tạo điều kiện cho nhiều phong cách học tập khác nhau
- DHTDA giúp HS tự tin hơn khi ra trường do các em được phát triển những kỹ năng sống cần thiết trong thế kỉ XXI như: khả năng đưa ra những quyết định chính xác; khả năng giải quyết những vấn đề phức tạp; khả năng làm việc tốt với người khác; sự chủ động, linh hoạt và sáng tạo
Ngoài những ưu điểm trên, DHTDA còn là PPDH cho phép tích hợp CNTT một cách tối đa ở cả hoạt động dạy của thầy và hoạt động học của trò 1.2.8.2 Hạn chế [3]
- DHTDA không phù hợp trong việc truyền thụ tri thức lý thuyết mang tính trừu tượng, hệ thống vì như vậy HS sẽ kó liên tưởng cũng như khó thực hiện được dự án
- Để chuẩn bị cho một dự án học tập GV cần rất nhiều thời gian, công sức và lên kế hoạch chu đáo Đồng thời đòi hỏi người dạy phải có kiến thức chuyên môn vững vàng và kinh nghiệm sư phạm phong phú
- Không thể áp dụng DHTDA tràn lan mà chỉ có thể áp dụng với những nội dung nhất định trong những điều kiện, hoàn cảnh cho phép Vì vậy DHTDA không thay thế hoàn toàn cho PP thuyết trình và luyện tập, mà là PPDH bổ sung cần thiết cho các PPDH truyền thống
- DHTDA đòi hỏi phương tiện vật chất và kinh phí phù hợp
Trang 29- HS đã quen thụ động trong những phương pháp và hình thức tổ chức dạy học truyền thống nên những thói quen cũ sẽ cản trở các em khi thực hiện các dự án học tập
1.2.9 Đánh giá trong DHTDA
1.2.9.1 Mục đích của đánh giá trong DHTDA
Một trong những mục đích quan trọng của đánh giá là xác định mức độ đạt được của mục tiêu Đánh giá giúp điều chỉnh quá trình, đánh giá mức độ đạt được của mục tiêu, điều chỉnh trở lại mục tiêu Có thể nói mục đích của đánh giá là điều chỉnh, hợp lí hóa quá trình dạy và học [18]
Đánh giá dự án không chỉ đơn thuần là đánh giá sản phẩm của dự án
mà còn phải đánh giá mức độ hiểu, khả năng nhận thức và kĩ năng của HS đồng thời theo dõi sự tiến bộ ở các em
1.2.9.2 Các công cụ đánh giá trong DHTDA
GV sẽ căn cứ vào mục đích đánh giá và xây dựng các chỉ số đánh giá cụ thể mà quyết định sử dụng những loại công cụ nào cho thích hợp Sau đây là hai bộ công cụ đánh giá được sử dụng nhiều nhất trong DHTDA [18]
Công cụ thứ nhất là rubric (bảng chỉ tiêu đánh giá)
“Bảng tiêu chí đánh giá là những hướng dẫn, quy tắc, nguyên tắc mà dựa vào đó HS phản ánh, tạo ra kết quả hoặc những hoạt động cần được đánh giá” (Judith Arter, 2000) Nó được thực hiện qua một loạt các tiêu chí thay vì một con điểm
Công cụ thứ hai là hồ sơ quá trình học tập
Hồ sơ này được thể hiện dưới hình thức sổ theo dõi dự án Nó là bằng chứng về kết quả hoạt động của từng cá nhân trong nhóm gồm:
- Các ý tưởng ban đầu
Trang 30- Biên bản thảo luận trong nhóm và kết quả đạt được
- Bảng nhìn lại quá trình thực hiện dự án
- Thông tin phản hồi của GV
Như vậy, khi sử dụng hồ sơ quá trình học tập, GV có thể đánh giá cả quá trình học tập của HS một cách hữu hiệu nhất
1.2.9.3 Các yêu cầu bắt buộc phải đạt được với một dự án [3]
- Dự án phải gắn với nội dung dạy học của chương trình
- Dự án phải gắn với thực tiễn đời sống
- Thiết kế được các hoạt động (việc làm) cụ thể cho người học
- Thông qua hoạt động của dự án người học sẽ tiếp thu được kiến thức của môn học
- Có tính khả thi tức là phù hợp với điều kiện thực tế và năng lực của người học
- Có các sản phẩm cụ thể
1.3 Toán học gắn liền với thực tiễn
1.3.1 Toán học có nguồn gốc từ thực tiễn
Toán học là một trong các khoa học xuất hiện rất sớm, là ngành khoa học có tính trừu tượng cao và tính thực tiễn phổ dụng Môn Toán ra đời từ yêu cầu của thực tiễn, do nhu cầu cải tạo tự nhiên và nâng cao năng suất lao động của con người Chẳng hạn như:
Từ thời cổ đại để xác định số lượng động vật trong một bầy, số lượng hoa màu thu hoạch được trong một mùa, , mà này sinh ra phép đếm (do đó làm xuất hiện khái niệm số) Hình học xuất hiện do nhu cầu đo đạc lại ruộng đất sau những trận lụt bên bờ sông Nin (Ai Cập) [13]
Đến thời kỳ Phục hưng, sự phát triển mạnh mẽ của kỹ nghệ và sự hình thành quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa đòi hỏi phải phát triển cơ học và ngành này đã thúc đẩy phải hoàn chỉnh phép tính vi phân và tích phân; sự phát triển của hội hoạ và kiến trúc đòi hỏi nhiều ở phương pháp vẽ phối cảnh
do đó nảy sinh ra môn hình học xạ ảnh [13]
Trang 31Trong mấy chục năm trở lại đây do sự phát triển của kỹ thuật từ cơ khí hoá lên tự động hoá và sự ra đời của kỹ thuật tự động hoá, có nhiều bộ môn toán học mới đã ra đời và phát triển vô cùng nhanh chóng như thông tin học, lý thuyết các chương trình toán học, lý thuyết đại số về các sơ đồ liên lạc
về điều khiển [13]
1.3.2 Toán học được phản ánh từ thực tiễn
Thực tiễn không chỉ là nguồn gốc, nguyên nhân quyết định phát triển của toán học mà còn là tiêu chuẩn chân lý của mỗi một lí thuyết toán học [14] Đây là kết quả của quá trình phân tích những điều kiện cụ thể của quá trình phát triển của đối tượng và ý nghĩa của toán học Mỗi lí thuyết toán học đều trực tiếp hoặc gián tiếp phản ánh những hiện tượng, đại lượng, quy luật, những mối quan hệ có trong cuộc sống thực tiễn
VD: Khái niệm số nguyên phản ánh các đại lượng có 2 hướng ngược nhau (nhiệt độ trên 00
- nhiệt độ dưới 00
, số tiền có - số tiền nợ, thời gian trước Công nguyên - thời gian sau Công nguyên, ) Khái niệm thống kê phản ánh việc thu thập, xử lý và phân tích các con số của hiện tượng kinh tế - xã hội để tìm hiểu bản chất và tính quy luật vốn có của chúng trong điều kiện thời gian
và không gian cụ thể Khái niệm tập hợp phản ánh một nhóm hữu hạn hay vô hạn các vật, các đối tượng trong thực tế,…
1.3.3 Toán học là công cụ để giải quyết vấn đề trong thực tiễn
Toán học là ngành khoa học có tính trừu tượng cao độ và tính thực tiễn phổ dụng Thực tiễn là cơ sở để nảy sinh, phát triển các lý thuyết toán học; thực tiễn đặt ra những bài toán và toán học chính là công cụ để giải quyết những bài toán này VD như:
Ứng dụng thực tế của toán học trong hình học lớp 7- phần các trường hợp bằng nhau của tam giác vuông, hình học lớp 8 - phần tam giác đồng dạng, cho HS thấy việc vận dụng iến thức đã học để đo những khoảng cách không trực tiếp tới được như khoảng cách từ bờ sông bên này đến bờ sông bên kia, độ cao của một tòa nhà cao tầng, của ngọn tháp, của một cái cây
Trang 321.4 Thực trạng việc vận dụng PPDH theo dự án trong dạy học môn Toán lớp 7
Để tiến hành nghiên cứu thực trạng việc vận dụng phương pháp DHTDA trong dạy học môn Toán lớp 7, chúng tôi đã tiến hành điều tra, khảo sát bằng phiếu hỏi đối với GV và HS trường THCS Cao Minh - huyện Vĩnh Bảo - thành phố Hải Phòng với mục đích: Thu thập thông tin, phân tích thuận lợi, khó khăn của thực trạng DHTDA và việc tổ chức các dự án
1.4.1 Kết quả điều tra GV
Bảng 1.1 Kết quả điều tra thực trạng vận dụng phương pháp
DHTDA trong dạy học môn Toán lớp 7
1 Thầy, cô biết đến phương pháp DHTDA từ nguồn nào?
Phương án lựa chọn Kết quả lựa chọn (%)
b Từ tài liệu tập huấn chương trình, SGK 60
d Từ internet, sách báo, tài liệu tham khảo 80
2 Trong quá trình vận dụng DHTDA có những khó khăn, thuận lợi như thế nào?
Thuận lợi Ít thuận lợi Khó khăn
Trang 333 Trong DHTDA HS tham gia bài học như thế nào?
6 Mức độ quan tâm của thầy, cô với phương pháp DHTDA?
Phương án lựa chọn Kết quả lựa chọn (%)
Trang 34Như vậy qua khảo sát ta thấy:
- Phương pháp DHTDA chưa được tổ chức tập huấn cho toàn thể GV Các thầy cô biết đến phương pháp này chủ yếu qua nguồn tài liệu tham khảo
và đồng nghiệp Hầu hết các GV đều nhận thấy lợi ích của PPDH này nên có
kế hoạch vận dụng phương pháp này trong quá trình dạy học
- Trong quá trình vận dụng DHTDA, GV đã phát hiện những thuận lợi
và khó khăn của các khâu trong quy trình thực hiện của các phần kiến thức khác nhau trong môn Toán THCS nói chung và môn Toán lớp 7 nói riêng
- Phần lớn HS thể hiện thái độ tích cực nhất định khi tham gia học tập theo dự án Tuy nhiên mức độ tích cực và hiệu quả của giờ học còn tương đối hạn chế Điều này có thể là vì PPDH này chưa được áp dụng rộng rãi và chưa được sử dụng một cách thường xuyên
1.4.2 Kết quả điều tra HS
Thống kê điều tra với 216 HS vào việc tham gia vào phương pháp DHTDA trong học tập môn Toán cho một số kết quả sau:
Bảng 1.2 Kết quả điều tra việc HS tham gia vào phương pháp DHTDA
trong học tập bộ môn Toán Câu hỏi 1: Trong quá trình học tập ở trường THCS em đã bao giờ được tham gia thực hiện các dự án học tập chưa?
Trang 35d Thực hành vận dụng toán học vào đời sống thực tiễn 9.7
e Làm các bài tập trắc nghiệm kỹ năng tính toán nhanh 35.2
Câu hỏi 3: Em thấy việc học toán như hiện nay giúp ích cho sự phát triển năng lực và kỹ năng nào của cá nhân em?
a Phát triển năng lực phát hiện và giải quyết vấn đề 81.5
d Phát triển kỹ năng Công nghệ thông tin 0
Như vậy qua khảo sát ta thấy:
- Phần lớn HS đều chưa được thường xuyên thực hiện dự án học tập
- Trong các giờ học toán trên lớp hiện nay phương pháp thuyết trình được 100% GV sử dụng làm phương pháp giảng dạy chính Các PPDH tích cực lấy HS làm trung tâm như: thảo luận, thuyết trình hay làm việc nhóm chủ yếu được lựa chọn cho HS các lớp chọn
- Kết quả điều tra cho thấy, phần lớn HS đều có suy nghĩ chung là việc học trên lớp phục vụ rất nhiều cho việc phát triển các kỹ năng tư duy nhưng lại không có nhiều tác dụng trong việc phát triển các kỹ năng xã hội, kỹ năng làm việc - những kỹ năng quan trọng sẽ giúp ích các em trong công việc cũng như trong cuộc sống sau này
Trang 36Kết luận
Tóm lại, phương pháp DHTDA chưa được áp dụng nhiều trong quá trình dạy học môn Toán ở trường THCS hiện nay Trong những tiết học trên lớp thì các PPDH truyền thống vẫn đóng vai trò chủ đạo, không phát huy hết được tính chủ động, tích cực, sáng tạo học tập của HS Điều đó dẫn đến việc
HS vận dụng kiến thức đã học vào thực tiễn còn gặp rất nhiều khó khăn Từ
cơ sở lí luận và kết quả điều tra trên chúng tôi nhận thấy để phát huy tính chủ động, tích cực, phát triển năng lực cũng như các kỹ năng xã hội cho HS trong dạy học thì việc tổ chức DHTDA là một trong những biện pháp hay và hiệu quả, đặc biệt là việc vận dụng kiến thức để giải quyết các vấn đề thực tiễn 1.5 Kết luận chương I
Trong chương này chúng tôi đã trình bày các vấn đề sau: Vấn đề về việc đổi mới PPDH, phân tích các cơ sở lí luận về DHTDA, phân tích mối liên hệ giữa toán học với thực tiễn cũng như điều tra về tình trạng vận dụng DHTDA ở trường THCS hiện nay Những cơ sở lí luận và thực tiễn trên sẽ được chúng tôi áp dụng trong quá trình thiết kế và thực hiện một số dự án học tập gắn với thực tiễn trong giảng dạy môn Toán ở lớp 7 ở chương 2 nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Toán nói riêng và dạy học nói chung
Trang 37CHƯƠNG 2 THIẾT KẾ VÀ TỔ CHỨC MỘT SỐ DỰ ÁN HỌC TẬP
GẮN VỚI THỰC TIỄN TRONG DẠY HỌC MÔN TOÁN 2.1 Nguyên tắc thiết kế dự án
2.1.1 Đảm bảo phù hợp với nhu cầu của HS, tạo cơ hội để HS tự thực hiện
DHTDA là một trong những phương thức dạy học tích cực, nó phát huy cao độ tính tích cực, tự lực, chủ động, sáng tạo… của HS trong quá trình học tập Nguyên tắc này nhằm đảm bảo sự hứng thú, tính tự lực và phát triển tư duy cho HS Một DAHT chỉ được thực hiện có hiệu quả và thành công khi
HS có thể tự xác định các chủ đề DAHT (có sự định hướng của GV), hiểu rõ
về nó, có hứng thú tham gia vào các hoạt động triển khai thực hiện, được hợp tác làm việc với mọi người trong quá trình hoàn thành DAHT và được quyền quyết định về sản phẩm DAHT của mình
2.1.2 Đảm bảo nội dung chương trình, nội dung SGK và mối quan hệ liên môn
Dự án học tập được lựa chọn có thể xuất phát từ một phần, nhiều phần hay toàn bài học; nguyên một chương hoặc kết hợp nhiều chương;…vẫn phải thể hiện nội dung cơ bản của môn học Đảm bảo nguyên tắc này đồng nghĩa với việc đảm bảo được kỹ năng xác định chính xác mục tiêu cơ bản của bài dạy trong kế hoạch bài dạy của mỗi dự án
Toán học là một môn khoa học cơ bản có liên quan đến nhiều môn khoa học khác, vì vậy việc đảm bảo mối quan hệ liên môn được xác định như một nội dung quan trọng và đặc biệt phù hợp với DHTDA khi xét đến bản chất của PPDH này
2.1.3 Đảm bảo tính thiết thực, gần gũi trong đời sống và sản xuất
DHTDA giúp cho HS được vận dụng những kiến thức, những kinh nghiệm, những kĩ năng vào thực tế; được tìm hiểu, được nghiên cứu, được giải quyết những vấn đề mang tính xã hội và tính thời đại Khi tổ chức DHTDA cho HS nói chung và trong dạy học môn Toán ở lớp 7 nói riêng, GV cần lựa chọn những nội dung, chủ đề gắn liền với thực tiễn, để khơi gợi ở HS