Giới: Là đặc trưng xã hội; do học tập, nghiên cứu mà có; nó mang tính đa dạng, phong phú và có sự khác biệt giữa các vùngmiền, vị trí địa lý,… do các yếu tố xã hội tác động có thể thay đổi được Giới tính: Là đặc trưng sinh học; mang tính bẩm sinhcó sẵn; đồng nhất ở mọi nơi; bất biến và không thay đổi theo thời gian,…do yếu tố sinh học chi phối
Trang 1ĐỀ CƯƠNG GIỚI VÀ PHÁT TRIỂN ( 2 tín)
Câu 1: Định nghĩa về giới và giới tính ? phân tích sự khác biệt giữa giới và giới tính? Ý nghĩa của sự phân biệt này trong nghiên cứ XHH giới?
Câu 2: Phân tích các biểu hiện của giới tính và giới? liên hệ thực tiễn các biểu hiện giới ở VN?
Câu 3: Phân tích sự giống và khác nhau giữa phụ nữ học , khoa học nghiên cứu về giới và XHH giới
Câu 4: Trình bày và phân tích 5 quan điểm của LHQ về vấn đề giới trong thập kỉ LHQ vì phụ nữ
Câu 9: Phân tích Bạo lực gia đình là gì? Các hình thức bạo lực gia đình? Phân tích nguyên nhân của bạo lực gia đình? Liên hệ thực tiễn Việt Nam hoặc địa phương anh/chị sinh sống
Câu 10 Phân tích một trong các chiến lược truyền thông thành công trên thế giới về bình đẳng giới (Soul city in South Afica; Breakthrough in Indian; Coaching boys into men; Men Care; Chiến dịch #Metoo) Khả năng áp dụng các chiến lược này ở Việt Nam Liên hệ thực tiễn
Câu 1: Định nghĩa về giới và giới tính ? phân tích sự khác biệt giữa giới và giới tính? Ý nghĩa của sự phân biệt này trong nghiên cứ XHH giới?
Trang 2 Định nghĩa về giới và giới tính:
- Giới: Chỉ đặc điểm, vị trí, vai trò của nam và nữ trong tất cả cácmối quan hệ xã hội
- Giới tính: Chỉ các đặc điểm sinh học của nam và nữ
Sự khác biệt giữa giới và giới tính
- Giới: Là đặc trưng xã hội; do học tập, nghiên cứu mà có; nómang tính đa dạng, phong phú và có sự khác biệt giữa cácvùng/miền, vị trí địa lý,… do các yếu tố xã hội tác động có thểthay đổi được
- Giới tính: Là đặc trưng sinh học; mang tính bẩm sinh/có sẵn;đồng nhất ở mọi nơi; bất biến và không thay đổi theo thời gian,…
do yếu tố sinh học chi phối
Ý nghĩa của sự phân biệt này?
- Là cơ sở cho BĐG , mỗi con người sinh ra đều không có quyềnlựa chọn giới tính của mình vì vậy mà xã hội phải thay đổi suynghĩ về sự phân biệt đối xử về vẫn đề giới tính
- Ngưng kì thị với những người trong cộng đồng LGBT vì họcũng là những con người bình thường , giới tính không quyếtđịnh đến phẩm chất , trình độ của con người mà giới mới quyếtđịnh điều đó
- Bất kì một giới tính nào cũng có quyền được sống, được làmviệc, sáng tạo, và không ngừng cống hiến
Trang 3- Xã hội chỉ phát triển khi tư duy con người và xã hôi thay đổichứ không phải do giới tính qđ
Giới biểu hiện ở 3 phương diện:
- Biểu hiện qua tính cách và phẩm chất:
+ tính cách nam, nữ
+ quá trình tiếp nhận các thông điệp vs khuôn mẫu giới( trườnghọc , bạn bè, gđ, ttđc )
+ tên gọi và nghề nghiệp
- Biểu hiện qua tư tưởng:
+ Nho giáo: đề cao nam giới, đàn ông có thể bỏ vợ khi (khôngcon, lẳng lơ, không thờ cha mẹ chồng, lắm điều, trộm cắp ,ghen tuông, bệnh hiểm nghèo…)
+ Phật giáo : phật giáo VN thiên về tính nữ ( quan thế âm bồ tát,phật mẫu, bà chúa….)
+ Hồi giáo:
Trang 4Y phục: phụ nữ phải mặc che kín hoàn toàn , không được để lộmột phần nào của thân thể trước mặt bất cứ người đàn ông nào,bao gồm cả mặt và tay
Đàn ông có quyền với đàn bà , được phép lấy nhiều vợ
Đàn bà tốt phải biết vâng lời đàn ông, chỉ đc lấy 1 chồng
+ Thiên chúa giáo:
Đàn ông không được che đầu vì là hình ảnh vinh quang củaChúa còn đàn bà là vinh quang của đàn ông
Phụ nữ phải dữ im lặng trong nhà thờ , vì họ không được phépnói, nếu họ muốn biết một điều gì đó thì hãy hỏi chồng họ lúc
đe dọa…
- Tái sản xuất xã hội:
Trang 5+ Làm tất cả công việc nhà+ Công việc xã hội
+ cường độ lao động liên tục, tốn nhiều time+ thời gian làm các công việc của nam và nữ khác nhau
Các đặc điểm của giới mang tính di truyền, bẩm sinh do yêu tố sinhhọc chi phối và không thể thay đổi được
Biểu hiện của giới tính
- Tình dục ở phụ nữ chỉ là để phục vụ cho nam giới
- Nam giới có quyền chủ động trong tình yêu, tình dục
- Việc không sinh được con trai hoàn toàn là do phụ nữ không biết đẻ
- Thiên chức của phụ nữ là sinh đẻ, nuôi con và làm nội trợ
- Để phụ nữ chăm sóc người ốm là thích hợp nhất
- Để phụ nữ thực hiện tránh thai là phù hợp vì họ liên quan đến việcsinh đẻ, nuôi con nhiều hơn nam giới
Trang 6- Nam giới có thể vào quán bia thư giãn vào buổi chiều còn phụ nữ thìphải về nhà nấu cơm và dọn dẹp.
- Nam giới có đầu óc quyết đoán, do vậy họ là những người ra quyếtđịnh; còn phụ nữ cần phục tùng các quyết định cũng như yêu cầu của namgiới
Một số ca dao, tục ngữ mang định kiến giới:
Đàn ông nông nổi giêng khơi Đàn bà sâu sắc như cơi đựng trầu.
Đàn ông rộng miệng thì sang Đàn bà rộng miệng tan hoang cửa nhà “.
Khôn ngoan cũng thể đàn bà Dẫu rằng vụng dại cũng là đàn ông”.
100 con gái không bằng cái… của con trai”.
Gái goá lo việc triều đình “.
Gà mái gáy thay gà trống”.
Câu 3: Phân tích sự giống và khác nhau giữa phụ nữ học , khoa học nghiên cứu về giới và XHH giới
Trang 7Nghiên cứu các đạc điểm, yếu tố, tính chất làm nảy sinh , biến đổi
và phát triển vị trí, vai trò của mối tương quan giữa nam và nữ
Khoa học nghiên cứu về giới:
Là lĩnh vực nghiên cứu khoa học về mối quan hệ tương quan giữa giới nam và giới nữ trong xã hội
Nhằm nâng cao sự công bằng xã hội giữa nam và nữ
Đối tượng: quy luật, đặc điểm và tính chất của mối quan hệ giới hay tương quan giới trong xã hội
Giống nhau:
Mục tiêu nghiên cứu
- Phụ nữ học xuất hiện với tư cách là lĩnh vực nghiên cứu của phụ nữ, chủ yếu do phụ nữ thực hiện để giải quyết những vấn đề liên quan đến phong trào phụ nữ, các vấn
đề lợi ích chính trị- xã hội, văn hoá của phụ nữ
- Khoa học về giới xuất hiện như một cành nhánh của cây phụ nữ học, chứ khống phải một giai đoạn phát triển tiếp theo của phụ nữ học
- Hiện nay đang tồn tại cả hai lĩnh vực khoa học về phụ nữ
và về giới liên quan mật thiết và hữu cơ với nhau
- Hướng giải quyết những vấn đề thực tiễn đời sống xã hội hiện đại, đó là vấn đề bình đẳng nam nữ
Phương pháp nghiên cứu:
Coi trọng yếu tố lịch sử vấn đề, yếu tố định tính, tình huống và đặcbiệt là những trải nghiệm của khách thể nghiên cứu
Khác nhau
Các lý thuyết phụ nữ học đều bắt nguồn bằng phân biệt khái niệm giống
Trang 8 Các lý thuyết giới nhấn mạnh nội dung bản sắc xã hội của mối quan hệ tương quan.
Câu 4: Trình bày và phân tích 5 quan điểm của LHQ về vấn đề giới trong thập kỉ LHQ vì phụ nữ
Trang 9- Tìm cách đáp ứng nhu cầu chiến lược thông qua sự can thiệp trựctiếp của Nhà nước và các tổ chức quốc tế trao quyền tự trị về kinh tế vàchính trị cho phụ nữ
Quan điểm này không được phổ biến trong các Chính phủ, đặc biệt làđạo Hồi và bị chỉ trích là chủ nghĩa nữ quyền phương Tây Phụ nữ được coinhư người tích cực tham gia vào sự phát triển
3 Chống nghèo khổ: Quan điểm thứ hai của thập kỷ phụ nữ.
Quan điểm này giải thích về sự bình đẳng dịu hơn quan điểm trên
- Đảm bảo cho phụ nữ nghèo tăng năng suất lao động
- Tình trạng nghèo khổ của phụ nữ được coi là một vấn đề của tìnhtrạng kém phát triển chứ không phải là tình trạng phụ nữ phải chịu địa vịthấp kém (công nhận vai trò sản xuất to lớn của phụ nữ)
- Tìm cách đáp ứng nhu cầu thực dụng của giới là có thu nhập đặc biệt
tà trong các dự án có quy mô nhỏ Quan điểm này phổ biến trong các tổ chứcNGO
4 Hiệu quả: Quan điểm thứ ba của thập kỷ phụ nữ.
- Đảm bảo phong trào thực sự và có hiệu quả của phụ nữ
- Công nhận sự đóng góp về kinh tế của phụ nữ
- Sự tham gia của phụ nữ gắn với vấn đề bình đẳng
- Đáp ứng các nhu cầu thực dụng của giới
Quan điểm này phổ biến và chiếm ưu thế, đặc biệt là từ cuộc khủnghoảng kinh tế năm 1980
Trang 105 Giành quyền lực: Quan điểm mới nhất do phụ nữ thế giới thuộc
thế giới thứ ba nêu ra
- Phụ nữ có quyền lực thông qua sự tự tin và sự hợp tác có thiện chícủa các Chính phủ và nam giới
- Vị trí thấp kém của phụ nữ được coi là vấn đề lớn của con người, làhậu quả của sự áp bức của thực dân cũ và mới
- Đáp ứng nhu cầu chiến lược của giới thông qua việc vận động từ cơ
sở lên Công nhận 3 vai trò của phụ nữ
Quan điểm này là phổ biến trong các tổ chức NGO của phụ nữ thuộcthế giới thứ 3
Câu 5:Phân tích quan điểm “phụ nữ trong phát triển” với “giới và phát triển”phân tích sự khác biệt của 2 quan điểm này?
Phương pháp tiếp cận “Phụ nữ trong phát triển”
Phụ nữ trong phát triển (Women in development - WID) là một phương pháptiếp cận xuất hiện từ những năm 70 của thế kỷ XX, sau khi cuốn sách “Vaitrò của phụ nữ trong phát triển kinh tế” của E Bô-sơ-ấp được xuất bản.Cuốn sách tập trung phân tích ảnh hưởng của các dự án phát triển đối vớiphụ nữ ở các nước đang phát triển Một phát hiện quan trọng của E Bô-sơ-
ấp là hầu hết các dự án phát triển, đặc biệt là các dự án về kỹ thuật tinh xảođều bỏ qua vai trò của người phụ nữ, hạn chế các cơ hội và sự tự chủ về kinh
tế của phụ nữ Các dự án này hầu như chỉ cải thiện cơ hội và kiến thức chonam giới và làm giảm sự tiếp cận của phụ nữ tới kỹ thuật hiện đại và cơ hộiviệc làm Các kết quả này đã đi ngược lại với quan điểm trước đó cho rằng,những lợi ích từ các dự án phát triển sẽ tự động mang lại lợi ích cho phụ nữ
Trang 11và làm tăng cường bình đẳng giới ở các quốc gia phát triển Sau đó, thuậtngữ “Phụ nữ trong phát triển” được Ủy ban phụ nữ của Mỹ sử dụng nhằmkêu gọi sự chú ý của các nhà làm chính sách Mỹ đối với khái niệm này vàvận động hành lang đối với Chính phủ Mỹ trong việc gây ảnh hưởng tới các
tổ chức chính sách phát triển kinh tế
Phương pháp tiếp cận WID bao gồm các biện pháp xây dựng các dự án tíndụng và đào tạo dành riêng cho phụ nữ WID chú trọng vào phụ nữ, vào cácvấn đề của phụ nữ nảy sinh trong quá trình phát triển như: cơ hội có việclàm, được học hành, bình đẳng tham gia vào các hoạt động chính trị, xã hội
và được hưởng dịch vụ chăm sóc sức khỏe và đời sống WID đã tập trungvào việc làm thế nào để phụ nữ có thể được tham gia tốt hơn vào các sángkiến phát triển hiện có WID nhấn mạnh vai trò quan trọng của phụ nữ trongquá trình xây dựng và phát triển đất nước, đề cao vai trò của phụ nữ trongviệc tiếp cận và kiểm soát các nguồn lực, coi đó như là một cách thức quantrọng để giúp họ có thể thoát khỏi sự lệ thuộc vào nam giới, cải thiện vị trícủa mình trong xã hội Tuy nhiên, WID chủ yếu thúc đẩy sự tham gia củaphụ nữ với tư cách là người thụ hưởng chứ chưa phải là tác nhân của côngcuộc phát triển, là một chủ thể của công cuộc phát triển, vì vậy, hạn chế khảnăng phát huy tính chủ động, sáng tạo của phụ nữ WID mới chỉ tập trungvào phụ nữ, còn những vấn đề xã hội, kinh tế, chính trị và văn hóa lại đượcxem xét một cách độc lập hoặc tách biệt Do đó, vô hình chung đã tách phụ
nữ ra khỏi quá trình ra quyết định của chính quyền
Một số nội dung chủ yếu của WID bao gồm: Tuyệt đại đa số các dự án đều
có sự kỳ thị đối với phụ nữ, sự tham gia của phụ nữ vào trong lĩnh vực kinh
tế và sự hưởng thụ lợi ích của phụ nữ rất hạn chế; Các vai trò thực tế của phụ
nữ hầu như không nhận được sự đánh giá cao của các quá trình chính sách;
Trang 12Phụ nữ bị nghèo đói hóa và “ngoài lề hóa” WID nhấn mạnh vai trò của phụ
nữ trong lĩnh vực kinh tế, nhưng không tán đồng việc theo đuổi các lợi íchmột cách đơn thuần, vì như thế đồng nghĩa với việc tạo thêm gánh nặngcông việc cho phụ nữ
WID đã đánh dấu một bước tiến quan trọng trong thời kỳ đầu của công cuộcđấu tranh vì sự bình đẳng nam nữ của toàn nhân loại Nhờ có WID mà cácvấn đề về giới thu hút được sự quan tâm của cả các nhà chính trị và các nhàkhoa học WID thúc đẩy các cơ quan phát triển và chính phủ các nước đưaphụ nữ hòa nhập vào quá trình phát triển
Trong những năm qua, ở Việt Nam xuất hiện nhiều dự án phát triển xã hội cómục tiêu hướng tới việc tăng cường khả năng tiếp cận và kiểm soát cácnguồn lực của phụ nữ Các dự án này bao gồm việc cung cấp các gói tíndụng cho phụ nữ, trang bị kiến thức về khoa học kỹ thuật, trang bị kỹ năngnghề nghiệp… nhằm giúp cho phụ nữ có thể độc lập và tự chủ về mặt kinh
tế, thoát khỏi sự lệ thuộc vào nam giới Các dự án này ban đầu được thựchiện bởi các tổ chức quốc tế tại Việt Nam dưới ảnh hưởng của cách tiếp cậnWID và cho đến nay vẫn tiếp tục được thực hiện
Các dự án hỗ trợ phụ nữ hiện nay không đơn giản chỉ dừng lại ở lĩnh vựckinh tế, trong lĩnh vực chính trị, nhiều dự án nâng cao năng lực dành riêngcho nữ ứng cử viên Quốc hội, nữ ứng cử viên đại biểu Hội đồng nhân dâncác cấp, nữ cán bộ, công chức cũng đã được triển khai thực hiện nhằm nângcao tỷ lệ và thúc đẩy vai trò của phụ nữ trong chính trị
Phương pháp tiếp cận “Phụ nữ và phát triển”
Trang 13Vào nửa sau những năm 70, khái niệm “Phụ nữ và phát triển” (Women anddevelopment) nổi lên từ một bài phê bình lý thuyết hiện đại hóa và phươngpháp tiếp cận WID Khái niệm này dựa trên nhận định rằng, phụ nữ luôn làmột phần của các quá trình phát triển Phụ nữ và tiến trình phát triển có mốiliên hệ với nhau và trên thực tế, không phải là không có biện pháp để đưaphụ nữ vào trong chiến lược của quá trình phát triển.
Chương pháp tiếp cận này cho rằng phụ nữ luôn là một tác nhân kinh tếquan trọng trong xã hội, công việc mà phụ nữ thực hiện cả trong gia đình vàngoài gia đình đóng vai trò trung tâm trong việc duy trì xã hội, nhưng sự hòanhập này chỉ góp phần duy trì cơ cấu của sự bất bình đẳng hiện nay trên bìnhdiện quốc tế Tình trạng bất bình đẳng của phụ nữ hiện nay ở cấp độ quốc tế.Nếu như trên bình diện quốc tế, vấn đề bình đẳng được cải thiện thì địa vịcủa phụ nữ sẽ được nâng lên Trong các lĩnh vực kinh tế, chính trị và kết cấu
xã hội đều thiếu hụt sự đại diện của phụ nữ, con đường để giải quyết vấn đềnày, đó là thông qua việc xây dựng các chiến lược có sự tham dự của phụ
nữ, chứ không phải là thông qua biện pháp biến đổi căn bản các quan hệgiới
Cũng giống như WID, WAD đã quá chú trọng vào lĩnh vực sản xuất, chútrọng vào chiến lược tham dự và việc triển khai các hoạt động tạo thu nhập
mà không xem xét đến việc thực hiện các chiến lược này sẽ tạo thêm áp lực
và gánh nặng cho phụ nữ Các quan điểm của WAD bị phê phán là đã khôngcoi lao động gia đình như một giá trị kinh tế và WAD đã áp dụng các thànhkiến và các giả định của phương Tây vào các nước đang phát triển
Ở Việt Nam, trong những năm qua, mặc dù bình đẳng giới và sự tiến bộ củaphụ nữ đã đạt được những thành tựu to lớn, tuy nhiên trong hầu hết các lĩnh
Trang 14vực, phụ nữ vẫn chưa có được địa vị tương xứng với tiềm năng và đóng gópthực tế của họ Trong lĩnh vực chính trị, tỷ lệ phụ nữ tham gia các cấp ủyđảng còn thấp (ở nhiệm kỳ khóa XII, tỷ lệ này ở cấp Trung ương là 10%, cấptỉnh là 13,3%, cấp huyện là 14,3% và cấp xã là 19,69% Tỷ lệ nữ tham giaQuốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp cũng không cao, ở nhiệm kỳ 2016 -
2021, tỷ lệ nữ đại biểu Quốc hội là 26,72%, tỷ lệ nữ đại biểu Hội đồng nhândân các cấp cụ thể như sau: cấp tỉnh là 26,4%, cấp huyện là 27,5%, cấp xã là26,7%)
Phương pháp tiếp cận “Giới và phát triển”
Theo kết quả nghiên cứu và kinh nghiệm từ các phương pháp tiếp cận WID
và WAD, vào đầu những năm 90 của thế kỷ trước, người ta ngày càng nhậnthấy rằng, rào cản đối với sự bình đẳng chủ yếu do các yếu tố xã hội tạo nên
và tồn tại bởi một loạt những di chứng lịch sử, tư tưởng, văn hóa, kinh tế vàtôn giáo Những rào cản này ăn sâu và khó thay đổi Song, một số bằngchứng lại cho thấy, những ảnh hưởng này có thể thay đổi được Sự bất bìnhđẳng của phụ nữ thường do nhiều yếu tố kết hợp lại (xã hội, kinh tế, chính trị
và văn hóa), tác động tới đời sống của phụ nữ và nam giới một cách khácnhau Do đó, cần phải hệ thống và lý giải mối quan hệ giữa phụ nữ và namgiới trong các bối cảnh xã hội khác nhau và xây dựng các chiến lược thayđổi có tính đến các mối quan hệ này
GAD quan niệm, phụ nữ và nam giới cùng có vai trò trong xây dựng và duytrì xã hội, cùng quyết định phân công lao động xã hội Tuy nhiên, họ lạikhông bình đẳng trong việc hưởng thụ lợi ích và trong việc đối mặt vớinhững khó khăn, điều này là do phụ nữ là nhóm yếu thế, vv́ vậy, cần phải tậptrung sự quan tâm dành cho phụ nữ Mặc dù giữa phụ nữ và nam giới có mối
Trang 15quan hệ nương tựa vào nhau, tuy nhiên phương thức và phạm vi hoạt độngcủa họ trong xã hội lại không giống nhau, có những vai trò khác nhau trongnhững lĩnh vực xã hội khác nhau Vì vậy, mỗi giới đều có những vấn đề ưutiên riêng, có cách nhìn nhận sự vật riêng Trong quan hệ vai trò giới, namgiới có thể hạn chế hoặc mở rộng những khó khăn của phụ nữ Phát triển cóảnh hưởng khác nhau tới phụ nữ và nam giới, đồng thời, nam giới và phụ nữcũng có những ảnh hưởng khác nhau đối với các dự án sản xuất, để thúc đẩylợi ích và phúc lợi của xã hội, phụ nữ và nam giới phải có cùng cách nhìnnhận về các vấn đề và cùng tìm ra phương thức để giải quyết các vấn đề đó.Phương pháp tiếp cận GAD cung cấp cơ sở lý luận cho việc xem xét vai tròcủa phụ nữ trong mối tương quan với vai trò của nam giới trong phát triểncộng đồng trên các lĩnh vực hoạt động khác nhau GAD xem phụ nữ như làchủ thể của quá trình biến đổi chứ không coi phụ nữ như nhóm đối tượng thụhưởng bị động Phương thức thực hiện là thông qua trao quyền, tăng cườngsức mạnh nội tại của phụ nữ, thực hiện năng lực cải tạo xã hội của phụ nữ.
Để thực hiện trao quyền, nội dung căn bản nhất là lập kế hoạch giới, GADnhấn mạnh trong thực hiện các dự án phát triển quốc tế, phát triển đất nước,phát triển khu vực cần phải thực hiện tổng hợp yếu tố giới Vấn đề côngbằng phải được thể hiện trong thực tiễn chứ không phải chỉ trên khẩu hiệu.GAD đã phát triển một số khái niệm cơ bản như: lập kế hoạch giới, lợi íchgiới, nhu cầu giới (bao gồm nhu cầu giới chiến lược và nhu cầu giới thựctiễn)
Trong công trình “Sự lệ thuộc dai dẳng của phụ nữ trong tiến trình pháttriển” (năm 1978), Whitehead chỉ ra rằng, nghiên cứu phụ nữ và phát triểnkhông thể chỉ đứng trên quan điểm xem xét các vấn đề của phụ nữ, mà phải
Trang 16xem xét cả phụ nữ và nam giới, đặc biệt phải chú trọng xem xét mối quan hệgiữa hai giới
Một đại biểu tiêu biểu khác của GAD là K Young, đã tổng kết các vấn đề lýluận của GAD trên sáu phương diện:
Một là, lý luận của GAD là khi các vấn đề liên quan đến phụ nữ xuất hiện,
chúng ta không phải bàn đến các vấn đề của phụ nữ mà phải quan tâm đếnmối quan hệ giới Mối quan hệ này luôn bị các nhà xã hội học gọi là mốiquan hệ phụ thuộc, vị trí quan hệ này được quyết định trong gia đình hoặctrong hệ thống xã hội phụ hệ (như quan hệ cha con hoặc quan hệ hôn nhân),cũng có một số quan hệ được hình thành từ trong lĩnh vực kinh tế, chính trị,
xã hội Hai loại quan hệ này có mối liên hệ lẫn nhau dưới ảnh hưởng của cácyếu tố như giai cấp, chủng tộc, dân tộc và tôn giáo
Hai là, lý luận của GAD không coi phụ nữ như những đối tượng thụ hưởng
một cách bị động mà coi phụ nữ như là những thành phần chủ động tham giavào quá trình phát triển, nhưng không giả định rằng, phụ nữ hiểu biết mộtcách đầy đủ và toàn diện về địa vị xã hội của họ Lý luận của GAD giả định,phụ nữ hoàn toàn biết được địa vị phụ thuộc của họ nhưng không giải thíchđược căn nguyên của sự kì thị và phụ thuộc Lý luận của GAD cũng chorằng, nam giới biết được vị trí chủ đạo của họ trong xã hội, nhưng khôngphải tất cả nam giới đều cố gắng nỗ lực để dành và giữ lấy vị trí chủ đạo đó.Không phải tất cả hành vi và mục tiêu của phụ nữ đều là đúng đắn, khôngnghi ngờ, cũng không phải tất cả nam giới đều là những người “gian ác”.Nhưng GAD cho rằng, nếu như không có sự nỗ lực tuyên truyền, vận động,nam giới sẽ không sẵn sàng ủng hộ sự tiến bộ và phát triển của phụ nữ,
Trang 17Ba là, lý luận của GAD có được cái nhìn toàn diện GAD đã đứng trên tổng
thể kinh tế, chính trị, tổ chức của xã hội để giải thích từng phương diện, từngvấn đề của xã hội Ví dụ, để tìm hiểu mô hình đời sống của phụ nữ, GADkhông chỉ quan tâm đến vai trò sinh sản của phụ nữ (vai trò làm mẹ, chămsóc con cái của phụ nữ) Hay khi phân tích đời sống kinh tế - xã hội, GADkhông chỉ đơn giản quan tâm đến từng công việc, như trao đổi và sản xuấtcác sản phẩm, các loại dịch vụ của các công xưởng hay các bệnh viện MàGAD đã quan tâm đến mối quan hệ giữa gia đình, các công việc gia đình vàcác hình thức tổ chức kinh tế… Nói một cách cụ thể hơn, đứng dưới góc độgiới, chỉ khi thấu hiểu các lĩnh vực, các vấn đề trong gia đình mới có thể giảithích được cơ chế cơ bản để các công việc hằng ngày của lĩnh vực sản xuất
có thể hoàn thành
Bốn là, GAD nhìn nhận phát triển như là một quá trình phức tạp của tiến bộ
văn hóa, kinh tế, chính trị, xã hội của cá nhân và xã hội Ở đây tiến bộ để chỉtrong mỗi bối cảnh lịch sử nhất định, các thành viên được thỏa mãn đầy đủ
về nhu cầu vật chất, tình cảm và năng lực sáng tạo Để kiểm chứng ảnhhưởng của phát triển kinh tế đối với mỗi xã hội, GAD sẽ quan tâm đến cácvấn đề: Ai là người được hưởng lợi ích? Ai là người phải chịu ảnh hưởng,thiệt thòi? Tiến hành giao dịch như thế nào? Quyền lợi và nghĩa vụ của phụ
nữ và nam giới và sự cân bằng giữa các nhóm xã hội đặc thù như thế nào?
Năm là, lý luận của GAD cho rằng, phúc lợi, chống nghèo đói và bình đẳng
không phải là ba vấn đề đối lập, không thể đồng thời lựa chọn Mà ngượclại, phúc lợi và chống nghèo đói chính là tiền đề của bình đẳng Điều thenchốt của cách tư duy này là làm thế nào để các cách thức thực hiện phúc lợi
có thể phục vụ được cho mục tiêu bình đẳng Cách tư duy này đã tiến thêmmột bước: thông qua cải cách để có thể đạt được mục đích, hoặc tất yếu phải
Trang 18thông qua biến đổi xã hội một cách cấp tiến mới có thể đạt được mục đíchtrên Bất luận lựa chọn cách nào ở trên đều phải tiến hành một loạt các lựachọn và quyết sách, mà những lựa chọn và quyết sách này đều gặp phảinhững ảnh hưởng từ những bối cảnh chính trị, lịch sử nhất định.
Sáu là, về mặt chiến lược, GAD tập trung quan tâm đến việc phụ nữ trở
thành những cá thể hay những nhóm có thu nhập GAD có thái độ khôngtích cực đối với vai trò phân phối lợi ích của thị trường GAD nhấn mạnh,phụ nữ cần được liên kết thành các tổ chức nhằm tăng cường năng lựcthương thuyết của mình trong hệ thống kinh tế Cụ thể hơn, việc liên kếtthành các tổ chức sẽ giúp cho phụ nữ tăng cường uy tín GAD nhấn mạnhvai trò của tổ chức, đặc biệt nhấn mạnh vai trò của các tổ chức của riêng phụ
nữ nhằm nâng cao quyền lực chính trị cho phụ nữ trong các hệ thống kinh tế
Có thể nói, trong các nghiên cứu về phụ nữ ở Việt Nam, đặc biệt trongnhững năm gần đây, phương pháp tiếp cận GAD có những ảnh hưởng tớinhiều tác giả và nhiều công trình nghiên cứu Các nghiên cứu về phụ nữkhông chỉ đơn thuần là mô tả các vấn đề của phụ nữ mà thường xuyên đặtcác vấn đề của phụ nữ trong mối tương quan với các vấn đề của nam giới đểthấy được sự khác biệt và chỉ ra những vấn đề, những bất bình đẳng, nhữngthiệt thòi và cả những áp lực mà phụ nữ đang thật sự phải đối mặt Từ kếtquả của các công trình nghiên cứu này và dưới tác động của các nhà nghiêncứu về phụ nữ, các nhà nghiên cứu giới, nội dung của GAD đã hiện diệntrong các lĩnh vực khác nhau của đời sống xã hội, chẳng hạn như lĩnh vựcban hành và thực thi chính sách xã hội… Các khái niệm trao quyền cho phụ
nữ, lập kế hoạch giới và lồng ghép giới hiện nay đã trở nên khá phổ biến ởViệt Nam Trong quá trình xây dựng chính sách, luật pháp và xây dựng các
dự án đều phải xem xét yếu tố giới Về mặt nguyên tắc, việc lồng ghép giới,
Trang 19bảo đảm cơ hội bình đẳng cho cả phụ nữ và nam giới trong tất cả các lĩnhvực của đời sống xã hội trở thành yếu tố bắt buộc trong quy trình xây dựng
và thực thi chính sách ở Việt Nam Nghị quyết 23-NQ/TW về phát huy sứcmạnh đại đoàn kết toàn dân tộc vì dân giàu nước mạnh, xã hội công bằng,dân chủ, văn minh, ngày 12-03-2003, của Ban Bí thư Trung ương Đảng nêurõ: “tiếp tục nâng cao nhận thức của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội vềcông tác phụ nữ và vấn đề bất bình đẳng giới, khẩn trương cụ thể hóa cácchủ trương của Đảng thành luật pháp, chính sách, lồng ghép giới trong quátrình xây dựng và hoàn thiện các chương trình, kế hoạch chung… Tạo điềukiện để phụ nữ tham gia ngày càng nhiều vào các hoạt động xã hội, các cơquan lãnh đạo và quản lý các cấp”
Để cụ thể hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng, năm 2006, Luật Bìnhđẳng giới đã được Quốc hội thông qua và có hiệu lực Việc ra đời của LuậtBình đẳng giới là một dấu mốc quan trọng, thể hiện sự quyết tâm của Đảng
và Chính phủ trong việc thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ của phụ nữ ViệtNam Đảng và Chính phủ luôn tạo mọi điều kiện cho phụ nữ được tham gia
và phát huy năng lực của mình trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, trong
đó có lĩnh vực chính trị
Mặc dù đã đạt được những bước tiến dài trong lĩnh vực bình đẳng giới, tuynhiên do tác động của nhiều nguyên nhân, bất bình đẳng giới vẫn còn tồn tạitrong tất cả các lĩnh vực của đời sống xã hội, đặc biệt trong lĩnh vực chínhtrị Để phụ nữ có thể khẳng định được vai trò, vị trí và phát huy hết tiềmnăng của mình cho xã hội, xóa bỏ hoàn toàn khoảng cách giới đòi hỏi sự nỗlực không ngừng của toàn xã hội trong thời gian tiếp theo./
Trang 20Câu 6: Phân tích Bình đẳng giới là gì? Đặc điểm của bình đẳng giới? Nội dung của bình đẳng giới và chính sách bình đẳng giới ở VN.
- Quan điểm bình đẳng khi chưa có nhận thức giới
- Quan điểm bình đẳng khi có nhận thức giới
Quan điểm bình đẳng khi chưa có nhận thức về giới: Theo Từ điển Bách
khoa Việt Nam (1995) tập I thì: Bình đẳng là sự được đối xử như nhau vềcác mặt chính trị, kinh tế, văn hoá, không phân biệt thành phần và địa vị xãhội, trong đó trước tiên và cơ bản nhất là bình đẳng trước pháp luật Theo
đó, bình đẳng giới sẽ được hiểu là sự đối xử như nhau giữa nam và nữ trênmọi phương diện, không phân biệt, hạn chế, loại trừ quyền của bất cứ giớinam hay giới nữ Quan điểm trên, sau này được nhiều nhà nghiên cứu vềgiới cho rằng là một loại “bình đẳng giới mà không tôn trọng sự khác biệt vềgiới tính”
Nguyên tắc đối xử như nhau, không phân biệt là điều hết sức cần thiết,
song có lẽ chưa đủ để phụ nữ được bình đẳng thực sự Ở nhiều quốc gia trênthế giới trong đó có Việt Nam, xuất phát từ vấn đề quyền con người, hiếnpháp đã ghi nhận quyền bình đẳng giữa nam và nữ trên mọi phương diện.Điều đó là một sự tiến bộ lớn, tuy nhiên, nếu chỉ dừng lại ở mức độ này, phụ
nữ vẫn chưa được bình đẳng thực sự Thực tế cho thấy, trong quá trình pháttriển, giữa nam và nữ đã không có cùng một điểm xuất phát, cho nên cơ hội
mở ra như nhau nhưng phụ nữ khó nắm bắt được như nam giới Ví dụ, khi
cơ hội tìm việc làm, có thu nhập cao mở ra cho cả nam và nữ thì phụ nữ khó
có thể đón nhận được cơ hội đó như nam giới (vì lý do sức khoẻ, công việcgia đình, các quan niệm cứng nhắc trong phân công lao động); ngay cả khi
có điểm xuất phát như nhau (do đã được tạo điều kiện) thì quá trình phát
Trang 21triển tiếp theo của phụ nữ cũng gặp nhiều khó khăn, cản trở hơn so với namgiới.
Ví dụ, hai sinh viên nam và nữ cùng tốt nghiệp đại học, mười năm sau, trình
độ, khả năng thăng tiến giữa họ lại rất khác nhau Trong thời gian này, namgiới cớ thể chuyên tâm vào học tập, nâng cao trình độ, còn phụ nữ lại phảichi phối hơn cho việc sinh đẻ và nuôi con nhỏ Vậy là đối xử như nhaukhông thể đem lại sự bình đẳng giữa hai giới nam và nữ vốn rất khác nhau
về mặt tự nhiên và xã hội (do lịch sử để lại)
Quan điểm bình đẳng với nhận thức giới: Theo chúng tôi, khi đã thừa nhận
phụ nữ có những khác biệt cả về tự nhiên và xã hội so với nam giới, thì đối
xử như nhau sẽ không đạt được bình đẳng Cho nên, bình đẳng giới khôngchỉ là việc thực hiện sự đối xử như nhau giữa nam và nữ trên mọi lĩnh vực
xã hội, theo phương châm phụ nữ có thể có quyền làm tất cả những gì namgiới có thể và có quyền làm Bình đẳng giới còn là quá trình khắc phục tìnhtrạng bất bình đẳng giữa hai giới nhưng không triệt tiêu những khác biệt tựnhiên giữa họ, thông qua các đối xử đặc biệt với phụ nữ (Trong Luật Bìnhđẳng giới hiện nay đã có các quy định cụ thể về những điều khoản “đặc biệttạm thời” mà không coi là phân biệt giới để thực hiện bình đẳng giới)
Quan điểm bình đẳng có nhận thức về giới đưa ra sự tiếp cận đúng đắn, côngnhận sự khác biệt và thực tế là phụ nữ đang ở vị trí bất bình đẳng do sự phânbiệt đối xử trong quá khứ và hiện tại Mô hình này không chỉ quan tâm đến
cơ hội bình đẳng mà còn quan tâm đến kết quả của sự bình đẳng, sự đối xửbình đẳng, tiếp cận bình đẳng và lợi ích bình đẳng
Tóm lại: Bình đẳng giới có nghĩa là nam giới và phụ nữ được trải nghiệmnhững điều kiện ngang nhau để phát huy đầy đủ các tiềm năng của mình, có
Trang 22cơ hội để tham gia, đóng góp và hưởng lợi như nhau từ các hoạt động pháttriển của quốc gia về kinh tế, chính trị, văn hoá và xã hội.
Bình đẳng giới còn là quá trình khắc phục tình trạng bất bình đẳng giữa haigiới nhưng không triệt tiêu những khác biệt tự nhiên giữa họ, thông qua cácđối xử đặc biệt với phụ nữ Để đạt tới bình đẳng giới trong một môi trường
mà cơ hội, điều kiện và vị trí xã hội của phụ nữ còn thấp hơn nam giới thìviệc đối xử đặc biệt với phụ nữ, ưu tiên cho phụ nữ trên một số mặt, chính là
cơ sở để tạo lập sự bình đẳng thực sự
Việt Nam đã đạt được nhiều tiến bộ trong việc xây dựng khung chính sách
và pháp luật cho công tác thúc đẩy bình đẳng giới và quyền của phụ nữ.Theo Điều 26 Hiến pháp năm 2013, “Công dân nam, nữ bình đẳng về mọimặt Nhà nước có chính sách bảo đảm quyền và cơ hội bình đẳng giới.”Điều 26 cũng nghiêm cấm phân biệt đối xử giới Các biện pháp cụ thể đểbảo đảm việc thúc đẩy bình đẳng giới được quy định trong Luật Bình đẳnggiới Luật yêu cầu các cơ quan chính phủ phải thực hiện trách nhiệm về bìnhđẳng giới và bảo đảm rằng các vi phạm phải bị xử lý Các nghị định và vănbản hướng dẫn thi hành phân định rõ trách nhiệm của mỗi cơ quan, tổ chứctrong việc tổ chức thực hiện Luật Bình đẳng giới, bao gồm những chính sách
và biện pháp như Chiến lược Quốc gia và Kế hoạch Hành động Quốc gia vềBình đẳng Giới, cũng như việc xây dựng/sửa đổi các luật khác đặc biệt quantrọng đối với việc thúc đẩy bình đẳng giới và bảo vệ quyền và lợi ích củaphụ nữ
Lồng ghép giới trong các văn bản pháp luật
Năm 2014, Bộ Tư pháp ban hành Thông tư số 17/2014/TT-BTP quy định vềlồng ghép vấn đề bình đẳng giới trong xây dựng văn bản quy phạm phápluật Thông tư yêu cầu bảo đảm sự tham gia của đại diện Bộ LĐTBXH, và
Trang 23Hội liên hiệp phụ nữ Việt Nam, đồng thời bảo đảm sự tham gia bình đẳngcủa nam và nữ trong Ban soạn thảo, Tổ biên tập xây dựng các văn bản quyphạm pháp luật liên quan đến bình đẳng giới
Khung pháp lý bảo đảm bình đẳng giới và không phân biệt đối xử
Là một nước thành viên tham gia Công ước CEDAW, Việt Nam có nghĩa vụtôn trọng, bảo vệ và thực thi quyền của phụ nữ không bị phân biệt đối xử vàđược thụ hưởng bình đẳng Phần dưới đây sẽ đánh giá tóm tắt mức độ đápứng của khung pháp lý của Việt Nam đối với các nghĩa vụ của nước thànhviên theo công ước CEDAW
Nghĩa vụ tôn trọng, bảo vệ và thực thi
bộ phận không thể tách rời của công tác thiết kế, thực hiện, kiểm tra, đánhgiá các chính sách, chương trình ở mọi lĩnh vực chính trị, kinh tế, xã hội vớimục đích phụ nữ cũng như nam giới được tham gia và thụ hưởng một cách
Trang 24bình đẳng và công bằng những thành quả đạt được và sự bất bình đẳng sẽkhông còn tồn tại Mục đích cuối cùng là đạt được bình đẳng giới.
Lồng ghép vấn đề bình đẳng giới (Lồng ghép giới) là biện pháp nhằm thựchiện mục tiêu bình đẳng giới Đó là việc tính đến nhu cầu và mối quan tâmcủa nữ giới và nam giới trong quá trình xây dựng, thực hiện và kiểm tra,giám sát từng chính sách, chương trình, dự án, hoạt động nhằm xóa bỏ bấtbình đẳng giới
TIẾN TRÌNH LỒNG GHÉP GIỚi
Để lồng ghép giới vào chính sách, chương trình, hoạt động cần thực hiện cácbước Phân tích giới, Lập kế hoạch giới và Thực hiện, giám sát và đánh giálồng ghép giới
d) Hiểu được nhu cầu, khó khăn và cơ hội của nam giới và phụ nữ;
e) Rà soát năng lực của các tổ chức liên quan trong việc thúc đẩy bình đẳnggiới
2 Lập kế hoạch giới