Tổng quan bảo hiểm xã hội tự nguyện và dịch vụ bảo hiểm; thực trạng bảo hiểm xã hội tự nguyện và các dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện Yên Sơn; các giải pháp phát triển dịch vụ làm gia tăng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn Yên Sơn đến năm 2020.
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Phân tích và đề xuất giải pháp phát triển dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
NGUYỄN ĐỨC THẮNG Ngành Quản lý kinh tế
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Bùi Xuân Hồi
HÀ NỘI, 12/2019
Trang 2TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÁCH KHOA HÀ NỘI
LUẬN VĂN THẠC SĨ
Phân tích và đề xuất giải pháp phát triển dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
NGUYỄN ĐỨC THẮNG Ngành Quản lý kinh tế
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Bùi Xuân Hồi
HÀ NỘI, 12/2019
Chữ ký của GVHD
Trang 3ĐỀ TÀI LUẬN VĂN
Đề tài luận văn: Phân tích và đề xuất giải pháp phát triển dịch vụ bảo hiểm
xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số đề tài: 2018AQLKT-TQ
Giáo viên hướng dẫn
Ký và ghi rõ họ tên
Trang 4Lời cảm ơn
Qua thời gian nghiên cứu, tìm hiểu tại BHXH huyện Yên Sơn, em đã nỗ lực, cố gắng vận dụng những kiến thức đã được học trong nhà trường để hoàn
thành luận văn với tên đề tài “Phân tích và đề xuất giải pháp phát triển dịch
vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên
Quang”
Để hoàn thành luận văn này, em xin chân thành cảm ơn các thầy, cô giáo đã truyền đạt những tri thức bổ ích, tạo điều kiện giúp đỡ trong thời gian em học tập tại trường
Em cũng xin gửi lời cảm ơn đến tập thể lãnh đạo và cán bộ nhân viên BHXH huyện Yên Sơn đã tạo điều kiện giúp đỡ, động viên, giúp em hoàn thành luận văn đúng thời hạn quy định của nhà trường
Cuối cùng em xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới PGS.TS Bùi Xuân Hồi, người đã tận tình hướng dẫn chỉ bảo em trong suốt quá trình thực hiện luận văn
Em xin chân thành cảm ơn !
HỌC VIÊN
Nguyễn Đức Thắng
Trang 6MỤC LỤC
MỤC LỤC i
DANH MỤC BẢNG BIỂU iii
DANH MỤC HÌNH iii
MỞ ĐẦU 1
1 Mục tiêu nghiên cứu 5
2 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu 5
3 Phương pháp nghiên cứu 6
4 Những đóng góp của luận văn 6
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN VÀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM 8
1.1 Khái quát về BHXH tự nguyện 8
1.1.1 Khái niệm và bản chất của BHXH tự nguyện 8
1.1.2 Đặc điểm của BHXH tự nguyện 11
1.1.3 Vai trò của BHXH tự nguyện 15
1.2 Khái quát về dịch vụ bảo hiểm 15
1.2.1 Khái quát về dịch vụ 15
1.2.2 Dịch vụ bảo hiểm 20
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ gia tăng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện 25
1.3.1 Chính sách Bảo hiểm xã hội 25
1.3.2 Cơ cấu dân số 25
1.3.3 Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế 25
1.3.4 Nhận thức của người tham gia 26
1.3.5 Chính sách thông tin tuyên truyền về BHXH tự nguyện 26
1.4 Cơ sở thực tiễn về triển khai thực hiện dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện 27
1.4.1 Kinh nghiệm về triển khai thực hiện dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện của một số địa phương trong nước 27
1.4.2 Bài học kinh nghiệm đối với Bảo hiểm xã hội huyện Yên Sơn 31
CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG BHXH TỰ NGUYÊN VÀ CÁC DỊCH VỤ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ NGUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN YÊN SƠN 33
2.1 Giới thiệu chung về huyện Yên Sơn: 33
2.1.1.Vị trí địa lý 33
2.1.2 Khái quát tình hính kinh tế - xã hội và dân cư 34
2.1.3.Vị trí, chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của BHXH huyện Yên Sơn 35
2.1.4 Tình hình thực hiện chính sách BHXH tự nguyện của BHXH huyện Yên Sơn trong thời gian qua 38
2.2 Thực trạng tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Yên Sơn giai đoạn 2016 – 2018……… ……… …….40
2.2.1 Tình hình tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện 39
2.2.2 Tình hình tham gia BHXH tự nguyện theo khu vực 40
2.2.3 Tình hình tham gia BHXH tự nguyện theo thu nhập 41
2.2.4 Tình hình tham gia BHXH tự nguyện theo lĩnh vực hoạt động 42 2.3 Điều tra khảo sát về công tác phát triển dịch vụ gia tăng đối tượng tham gia
Trang 72.3.1 Bảng câu hỏi và phương pháp chọn mẫu 43
2.3.2 Kết quả điều tra 44
2.4 Điều tra khảo sát ý kiến đối tượng tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Yên Sơn 49
2.4.1 Bảng hỏi và mẫu khảo sát 49
2.4.2 Phân tích kết quả khảo sát 51
2.5 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ làm gia tăng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Yên Sơn 55
2.5.1 Cơ cấu dân số của huyện Yên Sơn 56
2.5.2 Tốc độ tăng trưởng của huyện Yên Sơn 58
2.5.3 Chính sách thông tin tuyên truyền về BHXH tự nguyện ở huyện Yên Sơn 60
2.6 Đánh giá chung về công tác phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Yên Sơn 62
2.6.1 Những ưu điểm 62
2.6.2 Những hạn chế và nguyên nhân của hạn chế 63
TÓM TẮT CHƯƠNG 2 66
CHƯƠNG 3 CÁC GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ LÀM GIA TĂNG ĐỐI TƯỢNG THAM GIA BHXH TỰ NGUYỆN TRÊN ĐỊA BÀN YÊN SƠN ĐẾN NĂM 2020 67
3.1 Phương hướng phát triển dịch vụ gia tăng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Yên Sơn trong thời gian tới 67
3.2 Một số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Yên Sơn đến năm 2020 68
3.2.1 Đổi mới và tăng cường công tác tuyên truyền, phổ biến chính sách, pháp luật về bảo hiểm xã hội tự nguyện 68
3.2.2 Tăng cường công tác chỉ đạo, điều hành để các cấp triển khai tốt hơn chính sách BHXH tự nguyện 71
3.2.3 Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Bảo hiểm xã hội tự nguyện 73
3.2.4 Hoàn thiện hệ thống tổ chức thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện 76
3.2.5 Phát triển mạng lưới đại lý thu bảo hiểm xã hội tự nguyện 78
3.3 Một số đề xuất và kiến nghị 79
3.3.1 Kiến nghị đối với ngành BHXH Việt Nam 79
3.3.2 Kiến nghị đối với ngành BHXH tỉnh Tuyên Quang 80
3.3.3 Kiến nghị đối với Nhà nước 80
TÓM TẮT CHƯƠNG 3 82
KẾT LUẬN 83
TÀI LIỆU THAM KHẢO 85
PHỤ LỤC 86
PHỤ LỤC 1 87
PHỤ LỤC 02 91
PHỤ LỤC 03 96
PHỤ LỤC 04 98
Trang 8DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Số người tham gia BHXH tự nguyện giai đoạn 2016 – 2018 39
Bảng 2.2 Số người tham gia BHXH tự nguyện phân theo khu vực 40
Bảng 2.3 Số người tham gia BHXH tự nguyện phân theo thu nhập giai đoạn 2016 – 2018 41
Bảng 2.4 Số người tham gia BHXH TN phân theo lĩnh vực hoạt động giai đoạn 2016 – 2018 42
Bảng 2.5: Bảng phân bố mẫu theo giới tính 44
Bảng 2.6: Bảng phân bố mẫu theo chức vụ 44
Bảng 2.7: Bảng thống kê mô tả “Đánh giá về chính sách BHXH tự nguyện của BHXH huyện Yên Sơn” 45
Bảng 2.8: Thống kê mô tả “Đánh giá về chế độ chi trả BHXH tự nguyện của BHXH Yên Sơn” 46
Bảng 2.9: Bảng thống kê mô tả: “Đánh giá về công tác quản lý BHXH tự nguyện của BHXH Yên Sơn” 47
Bảng 2.10: Thống kê mô tả “Đánh giá về chính sách tuyên truyền phổ biến về BHXH tự nguyện của BHXH Yên Sơn” 48
Bảng 2.11: Bảng phân bố mẫu theo giới tính 50
Bảng 2.12: Bảng phân bố mẫu theo độ tuổi 50
Bảng 2.13: Bảng phân bố mẫu theo thu nhập 50
Bảng 2.14: Bảng phân bố mẫu theo trình độ văn hóa 50
Bảng 2.15: Bảng phân bố mẫu theo nghề nghiệp 50
Bảng 2.16: Bảng phân bố mẫu theo sự nhận biết về BHXH tự nguyện 51
Bảng 2.17: Bảng thống kê mô tả “Đánh giá các chính sách BHXHTN” 51
Bảng 2.18: Bảng thống kê mô tả “Đánh giá chế độ chi trả của BHXHTN” 52
Bảng 2.19: Bảng thống kê mô tả “Đánh giá công tác quản lý BHXHTN” 52
Bảng 2.20: Bảng thống kê mô tả “Đánh giá công tác truyền thông về BHXH tự nguyện” 54
Bảng 2.21: Bảng thống kê mô tả “Đánh giá về ý định tham gia BHXHTN” 55
Bảng 2.22: Thống kê mô tả: “Đánh giá về các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Yên Sơn” trong thời gian qua 56
DANH MỤC HÌNH Sơ đồ 1.1: Tổ chức bộ máy BHXH huyện Yên Sơn(Nguồn: BHXH huyệnYên Sơn) 36
Trang 9MỞ ĐẦU Tính cấp thiết của đề tài nghiên cứu
Hiện nay các quốc gia, một mặt nỗ lực hướng vào và phát huy mọi nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực cho tăng trưởng kinh tế, nâng cao khả năng cạnh tranh của nền kinh tế, tạo ra bước phát triển bền vững và ngày càng phồn vinh cho đất nước; mặt khác, không ngừng hoàn thiện hệ thống
an sinh xã hội (ASXH), trước hết là bảo hiểm xã hội (BHXH) để giúp cho con người, người lao động có khả năng chống đỡ với các rủi ro xã hội, đặc biệt là rủi ro trong kinh tế thị trường và rủi ro xã hội khác Kinh tế ngày càng phát triển theo hướng thị trường, thì ASXH càng phải đảm bảo tốt hơn
Ở nước ta, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm và coi trọng thực hiện các chính sách xã hội đối với người lao động Chính vì vậy, ngay từ khi thành lập nước, Chính phủ đã ban hành các đạo luật về BHXH BHXH đã không ngừng phát triển và trong từng thời kỳ nó đã đóng vai trò không nhỏ trong việc đảm bảo ASXH cho đất nước Bảo hiểm xã hội là một chính sách cơ bản trong hệ thống an sinh xã hội của mỗi quốc gia Ở nước ta, việc phát triển hệ thống bảo hiểm xã hội, xây dựng loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện được xác định là một trong những giải pháp chủ yếu để phát triển
hệ thống an sinh xã hội và đã được thể chế hóa bằng nhiều văn bản Quy phạm pháp luật Ngày 29 tháng 6 năm 2006 (tại kỳ họp thứ 9, Quốc hội khoá XI), Luật Bảo hiểm xã hội đã được thông qua có hiệu lực thi hành từ ngày 01/01/2007 và chế độ BHXH tự nguyện được thực hiện từ ngày 01/01/2008, tạo điều kiện cho những người lao động tự do có thu nhập thấp, không ổn định như nông dân, thợ thủ công… sẽ được hưởng lương hưu dựa trên nguyên tắc có đóng, có hưởng Khác với BHXH bắt buộc, đối với BHXH thì người lao động tự nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình để hưởng
Trang 10BHXH Đối với trường hợp người lao động khi hết thời gian đóng BHXH bắt buộc mà chưa đủ số năm được hưởng chế độ nghỉ hưu thì có thể đóng BHXH tự nguyện để được hưởng chế độ lương hưu theo quy định
Kể từ khi Luật BHXH có hiệu lực thi hành, chế độ BHXH tự nguyện
đã đáp ứng được nhu cầu và nguyện vọng của đông đảo của người lao động thuộc khu vực không chính thức, theo đánh giá tình hình thực hiện chính sách BHXH giai đoạn 2008-2011 của Bộ LĐ-TB&XH: phạm vi đối tượng tham gia vào các loại hình BHXH ngày càng mở rộng; nhận thức của người lao động, người sử dụng lao động và các tầng lớp nhân dân về chính sách bảo hiểm xã hội được nâng cao nên đối tượng tham gia BHXH năm sau cao hơn năm trước Thu Hương - www.baohiemxahoi.gov.vn, 11/9/2011) Tuy nhiên, bên cạnh kết quả đạt được vẫn còn tồn tại các thực trạng là: Số người tham gia BHXH tự nguyện còn thấp so với tiềm năng; chính sách BHXH tự nguyện chưa thực sự hấp dẫn người lao động như mục tiêu đặt ra; Nhiều người dân chưa hiểu và nắm được chế độ chính sách nhà nước hỗ trợ khi tham gia BHXH tự nguyện
Theo báo cáo thống kê dân số thì tính đến hết 31/12/2018 tổng dân
số trên địa bàn huyện Yên Sơn là 184.603 người, trong đó có khoảng 109.088 người dân đang trong độ tuổi lao động, những người này hiện nay chủ yếu hoạt động lao động sản xuất trong những khu vực phi chính thức Theo báo cáo của BHXH huyện Yên Sơn, tính đến ngày 31/12/2018 có 6.409 người tham gia BHXH bắt buộc và 596 người tham gia BHXH tự nguyện chủ yếu những người đã có thời gian công tác tham gia BHXH bắt buộc muốn đóng thêm để đủ điều kiện hưởng chế độ hưu trí Như vậy, còn rất nhiều lao động chưa tham gia BHXH, trong đó phần lớn lao động thuộc khu vực phi chính thức, đặc biệt là người lao động buôn bán nhỏ, lẻ có thu nhập ổn định chưa được quan tâm, chú trọng khai thác Nguyên nhân số lượng người tham gia BHXH tự nguyện còn ít là do các nhân tố: trình độ
Trang 11đào tạo; việc làm bấp bênh; thu nhập thấp là những vấn đề ảnh hưởng đến việc triển khai thực hiện BHXH tự nguyện Bên cạnh những nguyên nhân khách quan thì có thể nói một lý do quan trọng xuất phát từ công tác chỉ đạo tuyên truyền vận động người dân tham gia BHXH tự nguyện của các cấp, các ngành chưa đạt hiệu quả và thiếu giải pháp phát triển các loại hình dịch vụ làm gia tăng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện.
Vậy làm thế nào để người lao động nhận thực được sự cần thiết tham gia BHXH; Giải pháp nào giải quyết việc tham gia BHXH của người lao động khi thu nhập bấp bênh; Vấn đề thể chế và tổ chức thực hiện, đội ngũ cán bộ quản lý BHXH như thế nào? Xuất phát từ các lý do
đó, tác giả chọn đề tài: ‘‘Phân tích và đề xuất giải pháp phát triển dịch vụ
bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện Yên Sơn tỉnh Tuyên Quang’’làm luận văn tốt nghiệp cuối khóa học
Tổng quan tình hình nghiên cứu
Ở nước ta, BHXH đã được hình thành ngay từ những năm đầu thành lập nước, tuy nhiên chỉ áp dụng hình thức BHXH bắt buộc Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội của đất nước, đòi hỏi cần phải đổi mới và hoàn thiện hệ thống BHXH theo cả hai hình thức bắt buộc và tự nguyện Chính vì vậy những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về lĩnh vực này, tuy nhiên tập trung chủ yếu về lĩnh vực BHXH bắt buộc Đối với BHXH tự nguyện, đã có một số công trình nghiên cứu liên quan
Nguyễn Tiến Phú (2001) trong nghiên cứu về “Cơ sở lý luận về việc
thực hiện các loại hình bảo hiểm xã hội tự nguyện ở Việt Nam” (đề tài cấp
Bộ), đã xây dựng các vấn đề lý luận, làm cơ sở khoa học cho việc thực hiện loại hình BHXH tự nguyện ở Việt Nam Tiếp đến, Bùi Văn Hồng (2002) đã
“Nghiên cứu mở rộng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội đối với người
lao động tự tạo việc làm và thu nhập” (đề tài cấp Bộ), cũng như Kiều Văn
Minh (2003) đã đề xuất các Giải pháp mở rộng đối tượng lao động tham
Trang 12gia bảo hiểm xã hội khu vực kinh tế tư nhân theo đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước” (đề tài cấp Bộ), đã tạo ra những tiền đề cả lý luận lẫn
thực tiễn cho các giải pháp mở rộng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện trên phạm vi cả nước
Các nghiên cứu khác tiếp cận vấn đề mở rộng đối tượng tham gia
BHXH ở góc độ khác như Nguyễn Anh Vũ (2003) đã tạo lập các “Cơ sở
khoa học quản lý và tổ chức thu bảo hiểm xã hội tự nguyện” (đề tài cấp
Bộ), Nguyễn Tiến Phú (2004) đã “Nghiên cứu xây dựng lộ trình tiến tới
thực hiện bảo hiểm xã hội cho mọi người lao động” (đề tài cấp Bộ) trong
bối cảnh chưa có Luật BHXH Đào Thị Hải Nguyệt (2007) đã xây dựng
“Mô hình thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện ở một số nước trên thế giới
và những bài học kinh nghiệm có thể vận dụng vào Việt Nam” (đề tài cấp
Bộ), trong đó tập trung nghiên cứu kinh nghiệm của nước ngoài trong việc thực hiện BHXH tự nguyện Ngoài ra, Bộ Lao động Thương binh và Xã hội
và Ngân hàng thế giới (2007) đã thực hiện “Khảo sát về triển vọng tham
gia bảo hiểm xã hội tự nguyện cho khu vực phi chính thức ở Việt Nam: Kiến nghị chính sách" (đề tài cấp Bộ) nhằm đưa ra cơ sở để triển khai Luật
BHXH về BHXH tự nguyện
Nhìn chung, các công trình trên đã góp phần cung cấp cơ sở lý luận
và khoa học cho tác giả thực hiện nghiên cứu về công tác phát triển các dịch vụ BHXH tự nguyện làm gia tăng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Yên Sơn đến năm 2020 Nghiên cứu này thừa kế
và tiếp tục phát triển các nghiên cứu trên Tuy nhiên, thay vì tập trung vào
cơ chế, chính sách, đề tài này tiếp cận ở góc độ thị trường thông qua việc vận dụng kiến thức dịch vụ để tìm kiếm giải pháp thu hút, gia tăng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện dưới góc độ như ”khách hàng”
Trang 131 Mục tiêu nghiên cứu
Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm phát triển các dịch vụ để tăng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện ở Huyện Yên Sơn trong thời gian tới
2 Đối tượng và Phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu: Phát triển các dịch vụ để tăng đối tượng
tham gia BHXH tự nguyện, khả năng tham gia BHXH tự nguyện của người lao động và các giải pháp phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện ở Huyện Yên Sơn
Đối tượng khảo sát: Tổng số cán bộ viên chức cơ quan BHXH
huyện, các đối tượng khác theo quy định của chính sách BHXH tự nguyện trên địa bàn Huyện Yên Sơn như: Người tham gia các hoạt động sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, kể cả xã viên không hưởng tiền lương, tiền công trong các hợp tác xã, liên hợp hợp tác xã; người giúp việc gia đình, người lao động tự tạo việc làm; Người thuộc hộ gia đình nghèo, cận nghèo và có mức sống trung bình được ngân sách nhà nước hỗ trợ đóng, người lao động làm việc có thời hạn ở nước ngoài mà trước đó chưa tham gia BHXH bắt buộc hoặc đã nhận chế độ BHXH một lần (hay còn gọi là lao động khu vực phi chính thức)
Trang 142.2 Phạm vi nghiên cứu
Khu vực phi chính thức và BHXH tự nguyện áp dụng đối với lao động khu vực phi chính thức trên địa bàn huyện Yên Sơn Nội dung tập trung vào các chính sách BHXHTN hiện hành, cũng như các định hướng gia tăng số lượng người có tiềm năng tham gia BHXHTN Đề tài nghiên cứu trên dựa trên các quan điểm, chính sách, định hướng chiến lược phát triển kinh tế - xã hội và ASXH ở nước ta hiện nay
3 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được nghiên cứu dựa trên sự kết hợp cả nghiên cứu định tính lẫn định lượng, phân tích, tổng hợp, thống kê, so sánh, khảo sát…
Nghiên cứu định tính dựa trên các công trình nghiên cứu trước đó và vận dụng các chính sách của marketing dịch vụ nhằm đánh giá thực trạng phát triển đối tượng tham gia BHXHTN mang tính khách quan ở góc độ những cán bộ nhân viên của cơ quan BHXH
Nghiên cứu định lượng là sự kết hợp phân tích và đánh giá dựa trên nguồn dữ liệu thứ cấp của cơ quan BHXH địa phương trong giai đoạn 2016 – 2018 Dữ liệu sơ cấp được điều tra trực tiếp từ những cán bộ nhân viên của BHXH huyện Yên Sơn và đối tượng đang tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Yên Sơn theo Luật định trong Quý IV năm 2018
4 Những đóng góp của luận văn
- Nghiên cứu là một trong những đóng góp thực tiễn cho ngành Bảo hiểm xã hội huyện Yên Sơn và BHXH tỉnh Tuyên Quang nói riêng và ngành BHXH Việt Nam nói chung trong việc mở rộng và phát triển dịch vụ
để gia tăng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện
- Phân tích làm rõ thực trạng tình hình BHXH tự nguyện thời gian qua, tìm hiểu những vấn đề cần phải giải quyết và khuyến nghị định hướng phát triển, từ đó đề xuất các giải pháp phát triển các dịch vụ làm gia tăng đối tượng BHXH tự nguyện trong thời gian tới tại huyện Yên Sơn
Trang 155 Kết cấu của Luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo và phụ lục, luân văn gồm
ba chương:
Chương 1 Cơ sở lý luận về BHXH tự nguyện và dịch vụ Bảo hiểm Trong chương này, tác giả sẽ khái quát các vấn đề lý luận về bảo hiểm xã hội tự nguyện và về dịch vụ bảo hiểm Trên cơ sở đó, tác giả trình bày nội dịch vụ bảo hiểm hiểm để phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện Đồng thời tác giả còn phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến việc phát triển dịch vụ BHXH tự nguyện
Chương 2 Thực trạng BHXH tự nguyên và các dịch vụ Bảo hiểm xã hội tự nguyện trên địa bàn huyện Yên Sơn
Trong chương này, tác giả sẽ đề cập đến quá trình hình thành, phát triển của BHXH huyện Yên Sơn, cơ cấu tổ chức và chức năng, nhiệm vụ được Nhà nước giao của BHXH huyện Yên Sơn Đồng thời nhấn mạnh và làm rõ thực trạng tham gia BHXH tự nguyện của người lao động trên địa bàn huyện Yên Sơn trong giai đoạn 2016 đến 2018 và các dịch vụ bảo hiểm
xã hội tự nguyện hiện nay trên địa bàn huyện Yên Sơn
Chương 3 Các giải pháp phát triển dịch vụ BHXH tự nguyện để gia tăng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyên trên địa bàn huyện Yên Sơn đến năm 2020
Trong chương này, trên cơ sở những đánh giá về thực trạng tham gia BHXH tự nguyện của người lao động trên địa bàn huyện Yên Sơn trong giai đoạn 2016 đến 2018, cùng với những mục tiêu, phương hướng phát triển của BHXH huyện Yên Sơn trong thời gian tới; tác giả đã đề xuất một
số giải pháp nhằm phát triển dịch vụ làm gia tăng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Yên Sơn đến năm 2020
Trang 16CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ BẢO HIỂM XÃ HỘI TỰ
NGUYỆN VÀ DỊCH VỤ BẢO HIỂM 1.1 Khái quát về BHXH tự nguyện
1.1.1 Khái niệm và bản chất của BHXH tự nguyện
1.1.1.1 Khái niệm về BHXH tự nguyện
Bảo hiểm xã hội có lịch sử hình thành và phát triển từ rất lâu và sự tồn tại của nó là tất yếu, có nhiều khái niệm về BHXH do có nhiều cách tiếp cận BHXH khác nhau Nhưng khái niệm được hiểu một cách chính
xác nhất theo Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) thì: BHXH là sự đảm bảo
thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm, bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do
sự đóng góp của người sử dụng lao động, người lao động và sự bảo trợ của Nhà nước, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và cho gia đình họ, gúp phần bảo đảm an toàn xã hội
Với tác dụng to lớn trong việc giảm gánh nặng ngân sách, cải thiện đời sống cho đối tượng, bảo đảm ASXH bền vững, BHXH phát triển rộng rãi bảo đảm cho mọi người lao động đều được tham gia, trong xã hội xuất hiện hình thức BHXH tự nguyện Hiện nay, trên thế giới tồn tại hai mô hình
BHXH tự nguyện: thứ nhất, BHXH tự nguyện áp dụng như là một hình thức BHXH bổ sung cho BHXH bắt buộc; thứ hai, BHXH tự nguyện mở
cho bất cứ người lao động nào tự nguyện tham gia Mặc dù mang tính chất
tự nguyện nhưng chính sách BHXH tự nguyện vẫn là chính sách do Nhà nước ban hành nhằm đảm bảo quyền lợi cho các bên tham gia Nhà nước quy định mức đóng góp để hình thành Quỹ BHXH tự nguyện đủ lớn để chi trả cho người tham gia BHXH tự nguyện và xây dựng các chế độ mà người tham gia BHXH được hưởng (bao gồm điều kiện hưởng, mức hưởng) để bảo đảm bù đắp rủi ro cho người tham gia BHXH tự nguyện (Quốc hội
Trang 17nước CHXHCN Việt Nam, 2012) Dưới góc độ tiếp cận đó, có thể đưa ra khái niệm về BHXH tự nguyện như sau:
Bảo hiểm xã hội tự nguyện là một loại hình BHXH do Nhà nước ban hành để đảm bảo thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập đối với người lao động khi họ gặp phải những biến cố rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng lao động bằng cách hình thành và sử dụng một quỹ tài chính tập trung do sự tự nguyện đóng góp một phần thu nhập của người lao động, người sử dụng lao động, nhằm đảm bảo an toàn đời sống cho người lao động và cho gia đình họ, góp phần bảo đảm an toàn xã hội (Nguyễn Tiến
Có tổ chức, cơ quan đứng ra thực hiện BHXH tự nguyện
Được Nhà nước bảo hộ và hỗ trợ khi cần thiết
1.1.1.2 Bản chất BHXH tự nguyện
* BHXHTN có các tính chất sau
* Bản chất kinh tế của BHXH tự nguyện
Bản chất kinh tế của BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng thể hiện ở chỗ những người tham gia cũng đóng góp một khoản tiền trích trong thu nhập (khoản đóng góp này sau khi đó chi tiêu cho các nhu cầu tối thiểu và các nhu cầu cần thiết và không ảnh hưởng lớn đến đời sống
và sản xuất - kinh doanh của cá nhân) để lập một quỹ dự trữ Mục đích của việc hình thành quỹ này để trợ cấp cho những người tham gia BHXH tự
Trang 18nguyện khi gặp rủi ro dẫn đến giảm hoặc mất thu nhập Như vậy BHXH cũng là quá trình phân phối lại thu nhập Xét trên phạm vi toàn xã hội, BHXH là một bộ phận của GDP được xã hội phân phối lại cho những thành viên khi phát sinh nhu cầu về BHXH như ốm đau, sinh đẻ, già yếu, chết Xét trong nội tại BHXH, sự phân phối của BHXH được thực hiện theo cả chiều dọc và chiều ngang Phân phối theo chiều ngang là sự phân phối giữa chính bản thân người lao động theo thời gian (giữa thời gian lao động và thời gian nghỉ hưu) Phân phối theo chiều dọc là sự phân phối giữa những người khỏe mạnh với người ốm đau; giữa người trẻ và người già; giữa người có thu nhập cao với người có thu nhập thấp Nhờ sự phân phối lại thu nhập mà đời sống của người lao động và gia đình họ luôn được đảm bảo trước những bất trắc và rủi ro xã hội
Tóm lại, BHXH tự nguyện được đặc trưng bằng sự vận động của các nguồn tài chính trong quá trình tạo lập và sử dụng quỹ BHXH tự nguyện nhằm góp phần ổn định cuộc sống của người tham gia và gia đình họ khi gặp rủi ro làm giảm hoặc mất khả năng thu nhập từ lao động
* Bản chất xã hội của BHXH tự nguyện
Bản chất xã hội của BHXH tự nguyện được thể hiện ngay trong mục tiêu của nó BHXH hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận Mục tiêu của bất kỳ hệ thống BHXH nào cũng là mục tiêu xã hội Điều này được thể hiện thông qua việc chi trả chế độ BHXH Người tham gia BHXH tự nguyện sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị giảm hoặc mất khả lao động Do có sự chia sẻ rủi ro giữa những người tham gia BHXH tự nguyện nên mặc dù chỉ đóng một phần nhỏ trong thu nhập của mình cho Quỹ BHXH tự nguyện, nhưng có thể được bồi hoàn một khoản thu nhập đủ lớn để giúp họ trang trải rủi ro Ở đây, Quỹ BHXH tự nguyện
đó thực hiện nguyên tắc "lấy của số đông, bù cho số ít" và BHXH tự nguyện được hiểu như một chính sách xã hội nhằm đảm bảo đời sống cho người lao động khi thu nhập của họ bị giảm, bị mất Trên góc độ vĩ mô,
Trang 19BHXH tự nguyện góp phần ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, góp phần xóa đói giảm nghèo
Tóm lại, hoạt động BHXH tự nguyện không vì mục tiêu lợi nhuận,
mà hoạt động vì mục đích bảo đảm sự phát triển lâu bền của nền kinh tế, góp phần ổn định và thúc đẩy tiến bộ xã hội Điều này giải thích tại sao BHXH được coi là một chỉ tiêu đánh giá mức độ phát triển của một quốc gia
Tuy nhiên bản chất kinh tế và bản chất xã hội của BHXH không tách rời mà đan xen với nhau Khi nói đến sự đảm bảo kinh tế cho người lao động và gia đình họ là nói đến tính xã hội của BHXH Ngược lại khi nói đến sự đóng góp ít, nhưng lại được bù đắp đủ trang trải mọi rủi ro, thì cũng
đã đề cập đến tính kinh tế của BHXH
1.1.2 Đặc điểm của BHXH tự nguyện
1.1.2.1 Đối tượng tham gia
Đối tượng áp dụng BHXH theo loại hình BHXH tự nguyện quy định tại Điều 2 Nghị định số 190/2007/NĐ-CP và hướng dẫn tại Phần I Thông
tư số 02/2008/TT-BLĐTBXH là công dân Việt Nam từ đủ 15 tuổi đến đủ
60 tuổi đối với nam và từ đủ 15 tuổi đến đủ 55 tuổi đối với nữ, không thuộc diện áp dụng của pháp luật về BHXH bắt buộc
1.1.2.2 Mức tham gia và phương thức tham gia
Người tham gia trên cơ sở tự nguyện và được lựa chọn mức đóng và phương thức đóng phù hợp với thu nhập của mình.Mức thu nhập tháng làm căn cứ đóng BHXH thấp nhất bằng mức thu nhập chuẩn hộ nghèo và cao nhất bằng 20 tháng lương tối thiểu chung
Người tham gia BHXH tự nguyện được đăng ký với tổ chức BHXH theo một trong 3 phương thức là: Đóng hàng tháng; đóng hàng quý; đóng 6 tháng một lần Trường hợp đóng hàng tháng thì đóng trong thời hạn của 15 ngày đầu; đóng hàng quý thì đóng trong thời hạn của 45 ngày đầu và đóng
6 tháng một lần thì đóng trong thời hạn của 3 tháng đầu
Trang 201.1.2.3 Quyền lợi hưởng
A Chế độ hưu trí:
a Lương hưu hàng tháng
* Điều kiện hưởng:
Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng lương hưu
do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả khi có một trong các điều kiện sau:
Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi và có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên; Nam từ đủ 55 tuổi trở lên, nữ từ đủ 50 tuổi trở lên mà có đủ 20 năm trở lên đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, trong đó có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc nơi có hệ số phụ cấp khu vực từ 0,7 trở lên
Người lao động trước khi tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện, đã có
đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trở lên, bị suy giảm khả năng lao động từ 61% trở lên được hưởng lương hưu với mức thấp hơn nếu thuộc một trong các trường hợp sau:
Nam đủ 50 tuổi trở lên, nữ đủ 45 tuổi trở lên; Có đủ 15 năm làm nghề hoặc công việc đặc biệt nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm trở lên
Trường hợp người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đủ 60 tuổi đối với nam, đủ 55 tuổi đối với nữ nhưng thời gian đóng bảo hiểm xã hội còn thiếu không quá 10 năm so với thời gian quy định như trên, kể cả những người đã có từ đủ 15 năm đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc trở lên mà chưa nhận bảo hiểm xã hội một lần, có nhu cầu tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện thì được đóng tiếp bảo hiểm xã hội tự nguyện cho đến khi đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội để hưởng chế độ hưu trí
b Trợ cấp một lần khi nghỉ hưu
* Điều kiện hưởng:
Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện đã đóng bảo hiểm xã hội trên 30 năm đối với nam, trên 25 năm đối với nữ, khi nghỉ hưu, ngoài lương hưu còn được hưởng trợ cấp một lần
Trang 21c Trợ cấp bảo hiểm xã hội một lần
* Điều kiện hưởng:
Người tham gia bảo hiểm xã hội tự nguyện được hưởng trợ cấp bảo hiểm
xã hội một lần khi có một trong các điều kiện sau:
Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi có dưới 15 năm đóng bảo hiểm xã hội; Nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi có từ đủ 15 năm đến dưới 20 năm đóng bảo hiểm xã hội mà không tiếp tục đóng bảo hiểm xã hội;
Chưa đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội mà không tiếp tục đóng bảo hiểm xãhội và có yêu cầu nhận bảo hiểm xã hội một lần;
Ra nước ngoài để định cư mà chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu hàng tháng
d Bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội
Người lao động dừng đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện mà chưa đủ điều kiện hưởng lương hưu hoặc chưa hưởng bảo hiểm xã hội một lần được bảo lưu thời gian đã đóng bảo hiểm xã hội để làm cơ sở cộng nối với thời gian đóng bảo hiểm xã hội sau này (nếu có) hoặc để hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội khi đủ điều kiện
B Chế độ tử tuất
a Trợ cấp mai táng
* Điều kiện hưởng:
Người lo mai táng cho một trong những đối tượng nêu dưới đây chết:
Người có tổng thời gian đóngBHXH bắt buộc bảo và BHXH tự nguyện từ đủ 5 năm trở lên;
Người có từ đủ 12 tháng đóng BHXH bắt buộc trở nên;
Người đang hưởng lương hưu
b Trợ cấp tuất hàng tháng
* Điều kiện hưởng:
Điều kiện về đối tượng: Các đối tượng dưới đây khi chết thân nhân được hưởng trợ cấp tuất hàng tháng do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả:
Trang 22+ Người vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc, vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện mà thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc từ đủ 15 năm trở lên;
+ Người đang hưởng lương hưu mà trước đó có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc đủ 15 năm trở lên
Điều kiện về thân nhân:
+ Con chưa đủ 15 tuổi; con chưa đủ 18 tuổi nếu còn đi học; con từ
đủ 15 tuổi trở lên nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
+ Vợ từ đủ 55 tuổi trở lên hoặc chồng từ đủ 60 tuổi trở lên; vợ dưới
55 tuổi, chồng dưới 60 tuổi nếu bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên;
Cha đẻ, mẹ đẻ, cha vợ hoặc cha chồng, mẹ vợ hoặc mẹ chồng, người khác mà đối tượng này trước khi chết có trách nhiệm nuôi dưỡng nếu đủ 60 tuổi trở lên đối với nam, từ đủ 55 tuổi trở lên đối với nữ hoặc dưới 60 tuổi đối với nam, dưới 55 tuổi đối với nữ mà bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên
Những thân nhân nêu trên (trừ thân nhân là con) phải không có thu nhập hoặc có thu nhập hàng tháng nhưng thấp hơn mức lương tối thiểu chung
c Trợ cấp tuất một lần
* Điều kiện hưởng:
Thân nhân của những đối tượng nêu dưới đây chết, được hưởng trợ cấp tuất một lần do quỹ bảo hiểm xã hội chi trả:
- Người đang đóng bảo hiểm xã hội;
- Người đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội;
- Người đang hưởng lương hưu;
Người đang đóng bảo hiểm xã hội, đang bảo lưu thời gian đóng bảo hiểm xã hội hoặc đang hưởng lương hưu mà vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc vừa có thời gian đóng bảo hiểm xã hội tự nguyện nhưng thời gian đóng bảo hiểm xã hội bắt buộc chưa đủ 15 năm hoặc đã đủ
Trang 2315 năm trở lên nhưng không có thân nhân hưởng trợ cấp tuất hàng tháng
1.1.3 Vai trò của BHXH tự nguyện
Trong đời sống kinh tế - xã hội, BHXH nói chung và BHXH tự nguyện nói riêng đóng vai trò to lớn được thể hiện trên các mặt sau (Nguyễn Tiến Phú, 2001):
BHXH tự nguyện góp phần ổn định đời sống của người tham gia BHXH, đảm bảo an toàn xã hội Những người tham gia BHXH tự nguyện
và gia đình họ sẽ được thay thế hoặc bù đắp một phần thu nhập khi họ bị suy giảm, mất khả năng lao động, hoặc chết Nhờ có sự đảm bảo thay thế hoặc bù đắp thu nhập kịp thời mà người tham gia BHXH tự nguyện nhanh chóng khắc phục được những tổn thất vật chất, sớm phục hồi sức khỏe, ổn định cuộc sống để tiếp tục quá trình lao động, hoạt động bình thường của bản thân
BHXH tự nguyện góp phần thực hiện công bằng xã hội Phân phối trong BHXH là sự chuyển dịch thu nhập mang tính xã hội, là sự phân phối lại giữa những người có thu nhập cao, thấp khác nhau theo xu hướng có lợi cho những người có thu nhập thấp; là sự chuyển dịch thu nhập của những người khỏe mạnh, may mắn có việc làm ổn định cho những người ốm, yếu, gặp phải những biến cố rủi ro trong lao động sản xuất và trong cuộc sống Vì vậy, BHXH tự nguyện góp phần làm giảm bớt khoảng cách giữa người giàu và người nghèo
BHXH tự nguyện góp phần phòng tránh và hạn chế tổn thất, đảm bảo an toàn cho sản xuất và đời sống xã hội của con người
BHXH tự nguyện góp phần thúc đẩy tăng trưởng và phát triển kinh
Trang 24minh nhân thọ loại, dịch vụ ngày càng phát triển cả về số lượng, chất lượng
và trở thành một bộ phận năng động, một xu thế phát triển của nền kinh tế hiện đại
Dịch vụ là khái niệm chỉ toàn bộ các hoạt động mà kết quả của chúng không tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể Hoạt động dịch vụ bao trùm lên tất cả các lĩnh vực của nền kinh tế quốc dân như: vận tải, du lịch, thương mại, ngân hàng, bảo hiểm, bưu chính viễn thông, bảo vệ môi trường, dịch vụ hành chính, dịch vụ tư vấn…
Như vậy có thể định nghĩa một cách chung nhất: dịch vụ là những hoạt động mang tính xã hội, tạo ra các sản phẩm hàng hoá không tồn tại dưới hình thái vật thể nhằm thoả mãn một cách kịp thời, thuận tiện và hiệu quả hơn nhu cầu sản xuất và đời sống con người
Ở các nước phát triển, dịch vụ và khái niệm dịch vụ đã tồn tại và phát triển từ lâu và được các nhà kinh tế học quan tâm nghiên cứu dưới nhiều góc độ khác nhau Các nhà kinh tế học cũng đã dùng khá nhiều các thuật ngữ để chỉ dịch vụ như “kinh tế mềm”, “công nghiệp siêu hình”,
“kinh tế khu vực III”, …Tuy vậy, nguồn gốc cho sự ra đời của các hoạt động dịch vụ đó chính là nền kinh tế hàng hoá K Mark đã chỉ ra rằng: dịch vụ là con đẻ của nền kinh tế hàng hoá khi mà kinh tế hàng hoá phát triển mạnh, đòi hỏi một sự lưu thông trôi chảy thông suốt liên tục để thoả mãn nhu cầu ngày càng cao của con người thì dịch vụ phát triển Bằng cách tiếp cận dưới góc độ kinh tế, Mark đã chỉ ra nguồn gốc ra đời và động lực phát triển của dịch vụ
Hiện nay ở các nước phát triển tỷ trọng ngành dịch vụ trong tổng sản phẩm quốc dân rất cao, chiếm 70- 80% GDP Điều đó cho thấy kinh tế hàng hoá phát triển sẽ kéo theo dịch vụ phát triển như Mark đã chỉ ra, dịch
vụ là một thực thể tất yếu khách quan của sự hợp tác, phân công lao động của tiến bộ khoa học và công nghệ cũng như của đời sống Dịch vụ đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của các quốc gia Cho tới nay tồn tại
Trang 25rất nhiều quan niệm về dịch vụ của nhiều nhà nghiên cứu, nhà khoa học song có thể hiểu dịch vụ theo hai cách sau:
Theo nghĩa rộng: dịch vụ được coi là lĩnh vực kinh tế thứ ba trong nền kinh tế quốc dân Theo cách hiểu này, dịch vụ gồm toàn bộ các ngành, các lĩnh vực tạo ra tổng sản phẩm quốc nội hay tổng sản phẩm quốc dân trừ các ngành sản xuất vật chất như công nghiệp, nông nghiệp
Theo nghĩa hẹp: dịch vụ là những hoạt động hỗ trợ cho quá trình kinh doanh bao gồm các hỗ trợ trước trong và sau khi bán, là phần mềm của sản phẩm được cung ứng cho khách hàng
Là những đầu vào trung gian, dịch vụ mang lại lợi ích rất lớn cho những ngành khác Dịch vụ tham gia sâu sắc vào trong quá trình sản xuất
và thương mại đối với mọi hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế Dịch vụ chiếm tới 10-20% chi phí sản xuất và mọi chi phí thương mại: thông tin liên lạc, vận tải, tài chính và bảo hiểm thương mại và dịch vụ phân phối Giá cả và chất lượng dịch vụ vì thế đóng vai trò quan trọng quyết định chi phí của những mặt hàng khác trong nền kinh tế Dịch vụ có chất lượng kém làm trì hoãn sản xuất và vận tải không cho phép các hãng tham gia vào mạng lưới kinh tế Tác động của chất lượng dịch vụ không chỉ là lợi ích thu được một lần mà có ảnh hưởng đến tốc độ tăng trưởng của quốc gia Dịch
vụ giá cao và chất lượng kém không chỉ tác động đến hoạt động sản xuất hiện thời của các hãng mà còn không khuyến khích các hãng trong và ngoài nước đầu tư trong tương lai sợ khả năng sinh lời của đầu tư giảm sút Không những thế, chất lượng dịch vụ kém còn dẫn đến hệ quả giảm tốc độ tăng trưởng của cả nền kinh tế
Cùng với sự phát triển của sản xuất, khoa học kỹ thuật, công nghệ thì cũng xuất hiện ngày càng nhiều hoạt động kinh doanh mới, các dịch vụ mới
Phân loại dịch vụ
- Căn cứ vào lĩnh vực dịch vụ
+ Dịch vụ có tính chất sản xuất (dịch vụ vật chất) bao gồm các dịch
Trang 26vụ cung ứng các yếu tố đầu vào cho quá trình sản xuất, và dịch vụ tiêu thụ sản phẩm (đầu ra) và các loại dịch vụ vật chất khác như sửa chữa, ăn uống, thông tin…
+ Dịch vụ không có tính chất sản xuất, bao gồm các dịch vụ về tư vấn, đào tạo, y tế, thể dục thể thao, giải trí, luật sư,…
- Căn cứ vào đối tượng dịch vụ
+ Dịch vụ có tính chất xã hội (dịch vụ công), là loại dịch vụ đáp ứng đời sống cộng đồng Nguồn đầu tư chủ yếu cho loại dịch vụ này là phúc lợi
xã hội Chủ thể thực hiện dịch vụ công là do công quyền hoặc do chính quyền uỷ nhiệm thực hiện
+ Dịch vụ có tính chất cá nhân, bao gồm các dịch vụ phục vụ cho đời sống vật chất, văn hoá, thẩm mỹ,…của con người
- Căn cứ trên giác độ tài chính
+ Dịch vụ phải trả tiền
+ Dịch vụ không phải trả tiền: Do nhà nước chi trả thông qua quỹ phúc lợi xã hội
Đặc điểm cơ bản của dịch vụ
Sản phẩm dịch vụ có những đặc điểm riêng biệt giúp ta có thể phân biệt với các sản phẩm vật chất
Thứ nhất, sản phẩm dịch vụ là sản phẩm vô hình, không hiện hữu, sản phẩm dịch vụ không tồn tại dưới dạng vật chất cụ thể Sản phẩm mà dịch vụ tạo ra để phục vụ thì không thể xác định một cách cụ thể bằng các tiêu chuẩn kỹ thuật Cái mà khách hàng cảm nhận được từ sản phẩm dịch
vụ vụ lại chính là các phương tiện chuyển giao dịch vụ tới khách hàng Do vậy mà thái độ bên ngoài của các nhân viên tiếp xúc, của yếu tố bên ngoài
là rất quan trọng Nó ảnh hưởng rất lớn đến chất lượng dịch vụ
Thứ hai, sản phẩm dịch vụ có tính không tách rời Hay nói cách khác
là việc cung ứng sản phẩm và việc tiêu dùng sản phẩm diễn ra đồng thời Một sản phẩm dịch vụ được tạo ra cũng chính là lúc nó được tiêu dùng Sản
Trang 27phẩm dịch vụ không thể tách rời khỏi nguồn gốc của nó, cho dù là do con người hay máy móc tạo ra dịch vụ Từ đó đòi hỏi phải quan tâm bố trí sản xuất hợp lý như việc đặt các địa điểm làm dịch vụ, mạng lưới dịch vụ lưu động
Thứ ba, sản phẩm dịch vụ không có dự trữ Đây chính là hệ quả của đặc điểm không tách rời Do sản xuất và tiêu dùng diễn ra cùng một lúc nên sản phẩm dịch vụ không có dự trữ, không thể cất trữ trong kho để làm phần đệm điều chỉnh sự thay đổi nhu cầu thị trường trường như các sản phẩm vật chất khác Từ đó cần phải có kế hoạch dự trữ các phương tiện làm dịch vụ Trong thực tế, có những nhu cầu đối với nhiều loại dịch vụ rõ rệt, nếu không có kế hoạch dữ trữ các phương tiện, hàng hoá sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động của khách hàng và sẽ mất cơ hội kinh doanh của doanh nghiệp
Tuy trong nhiều trường hợp, hoạt động dịch vụ sau khi đã thực hiện thì các yếu tố cấu thành sản phẩm dịch vụ không mất đi mà vẫn còn nguyên ven Nghĩa là quá trình tạo ra sản phẩm dịch vụ được lặp đi lặp lại nhiều lần như một bản nhạc, một lượng thông tin tư vấn pháp luật… Nhưng yếu
tố cấu thành trên không phải là sản phẩm dự trữ của dịch vụ Nó chỉ là tiềm năng tạo nên dịch vụ, còn bản thân dịch vụ không có sản phẩm lưu kho Người cung cấp và các cơ sở cung cấp dịch vụ cần có kế hoạch giữ gìn, tôn tạo, nâng cao chất lượng các yếu tố này nhằm nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu khách hàng
Thứ tư, chất lượng dịch vụ là rất khó đánh giá, vì nó chịu nhiều yếu
tố tác động như người bán, người mua và thời điểm mua bán dịch vụ Trước hết đó là sự tiếp xúc tương tác qua lại giữa người làm dịch vụ và người được phục vụ, không loại trừ các phương tiện của hoạt động dịch vụ, những điều kiện và sản phẩm theo và dịch vụ bổ sung khác Song yếu tố tác động mạnh đến chất lượng dịch vụ là quan hệ tiếp xúc, sự đáp ứng kịp thời những nhu cầu, yêu cầu và lòng mong muốn của khách hàng đối với
Trang 28những dịch vụ Bên cạnh đó, bản thân chất lượng dịch vụ có tính ổn định không cao Thêm vào đó, sự chuyển dịch vụ nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm dịch vụ là chậm chạp và khó khăn do thói quen về tâm lý và tín nhiệm của khách hàng đối với một loại dịch vụ, một đối tượng cung ứng dịch vụ
Đặc điểm này đòi hỏi ngành dịch vụ phải quan tâm đầu tư hiện đại hoá cơ sở hạ tầng và hiện đại hoá các phương tiện là dịch vụ cũng như quan tâm đào tạo nâng cao trình độ, rèn luyện ý thức, thái độ, tác phong của người làm dịch vụ và biết tôn trọng chữ tín trong hoạt động dịch vụ Mặt khác cần xoá bỏ tình trạng độc quyền trong kinh doanh dịch vụ tạo môi trường kinh doanh bình đẳng cho các thành phần kinh tế cạnh tranh trong hoạt động dịch vụ
1.2.2 Dịch vụ bảo hiểm
1.2.2.1 Khái niệm về dịch vụ bảo hiểm
Từ những khái niệm về dịch vụ như đã phân tích trên đây có thể khái quát dịch vụ bảo hiểm như sau:
Dịch vụ bảo hiểm là tất cả các dịch vụ mà người bảo hiểm cung cấp cho người được bảo hiểm Tuy nhiên, trong Hiệp định chung về Thương mại trong lĩnh vực Dịch vụ (GATS) thì nhóm dịch vụ bảo hiểm và các dịch
vụ liên quan tới bảo hiểm bao gồm bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ, tái bảo hiểm, trung gian bảo hiểm như môi giới và đại lý, các dịch vụ bổ trợ cho bảo hiểm như tư vấn và tính toán rủi ro
Cũng giống như các ngành dịch vụ khác, dịch vụ bảo hiểm cung cấp cho khách hàng sản phẩm bảo hiểm là sản phẩm vô hình, không có hình dáng, kích thước, trọng lượng Sản phẩm bảo hiểm là loại sản phẩm đặc biệt, đây là loại sản phẩm vô hình và không được bảo hộ bản quyền, là loại sản phẩm mà người mua không bao giờ muốn nó xảy ra với mình để được thực hiện quyền đòi bồi thường hay trả tiền bảo hiểm Người mua sản phẩm bảo hiểm chỉ với mục đích đề phòng khi sự kiện được bảo hiểm xảy ra vẫn
Trang 29đảm bảo được an toàn về mặt tài chính, ổn định được quá trình sản xuất kinh doanh cũng như đời sống sinh hoạt xã hội
Tham gia vào dịch vụ bảo hiểm gồm có người mua (khách hàng), người cung cấp dịch vụ (các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm) và các tổ chức trung gian (người bảo hiểm giới bảo hiểm)
+ Người bảo hiểm còn gọi là những người cung cấp dịch vụ bảo hiểm (Insurer or underwriter): là các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm , là người ký hợp đồng bảo hiểm,được hưởng phí bảo hiểm và cam kết bồi thường cho người mua bảo hiểm tất cả những tổn thất thiệt hại do rủi ro được bảo hiểm là nguyên nhân trực tiếp gây nên
Các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm hiện nay theo điều 59 của Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam gồm: doanh nghiệp bảo hiểm nhà nước, doanh nghiệp bảo hiểm cổ phần, doanh nghiệp bảo hiểm liên doanh,
tổ chức bảo hiểm tương hỗ và doanh nghiệp bảo hiểm 100% vốn đầu tư nước ngoài
+ Người được bảo hiểm (Insured): Là những tổ chức hay cá nhân thọ
có tài sản hay trách nhiệm dân sự theo luật định, tính mạng hay tình trạng sức khoẻ cần phải tham gia bảo hiểm sẽ trực tiếp hay thông qua người môi giới mua các sản phẩm bảo hiểm
Người được người bảo hiểm là người mua bảo hiểm của doanh nghiệp bảo hiểm, là người có tên trên hợp đồng bảo hiểm hay là người được hưởng lợi ích trên hợp đồng bảo hiểm
+ Tổ chức trung gian bảo hiểm hay còn gọi là người môi giới (broker), đại lý (agent) bảo hiểm là cầu nối giữa người mua và người bán bảo hiểm
* Môi giới bảo hiểm:
Môi giới bảo hiểm có thể là công ty hoặc cá nhân đứng ra thu xếp bảo hiểm với các công ty bảo hiểm Họ có thể tư vấn về các vấn đề như nhu cầu bảo hiểm, hợp đồng bảo hiểm, thị trường bảo hiểm, khiếu nại, kiện
Trang 30tụng… Môi giới bảo hiểm có thể đại diện cho cả doanh nghiệp bảo hiểm và người được bảo hiểm
* Đại lý bảo hiểm:
Đại lý bảo hiểm có thể là tổ chức hay cá nhân được doanh nghiệp bảo hiểm uỷ quyền trên cơ sở hợp đồng đại lý Đại lý bảo hiểm thay mặt doanh nghiệp bảo hiểm bán các sản phẩm bảo hiểm của doanh nghiệp và được hưởng lương hoặc tiền hoa hồng theo thoả thuận Như vậy đại lý thường được coi là đại lý cho doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm
1.2.2.2 Đặc điểm của dịch vụ bảo hiểm
Cũng giống với các loại hình dịch vụ khác, dịch vụ bảo hiểm cũng có các đặc trưng chung như:
- Người cung cấp và nhu cầu về dịch vụ bảo hiểm :
Người cung cấp dịch vụ bảo hiểm: chính là các doanh nghiệp kinh doanh nghiệp dịch vụ bảo hiểm để phục vụ khách hàng của mình Các doanh nghiệp tham gia kinh doanh dịch vụ bảo hiểm có thể tăng hoặc giảm tuỳ theo nhu cầu của thị trường và tuỳ theo khả năng cạnh tranh Các doanh nghiệp luôn nâng cao chất lượng dịch vụ thông qua việc nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, chính là sản phẩm bảo hiểm Ngày càng có nhiều sản phẩm bảo hiểm được phát triển và hoàn thiện phù hợp với sự phát triển của khoa học kỹ thuật của nền kinh tế xã hội trong quá trình hội nhập và toàn cầu hoá Sản phẩm bảo hiểm luôn được cải tiến, hoàn thiện và đổi mới nhằm đáp ứng nhu cầu phong phú của thị trường
Cầu về dịch vụ bảo hiểm: là nhu cầu của dân cư, của các tổ chức xã hội, của các đơn vị sản xuất, kinh doanh … xã hội ngày càng phát triển thì nhu cầu về dịch vụ bảo hiểm ngày càng tăng Nếu theo thang bậc nhu cầu của MASLOW thì nhu cầu về bảo hiểm không thuộc nhu cầu thiết yếu, do vậy dịch vụ bảo hiểm được quan tâm nhiều hơn khi người dân đã có tích luỹ Điều này cũng có nghĩa là khi nền kinh tế xã hội phát triển thì các tổ chức kinh tế xã hội cũng phát triển theo, đời sống vật chất, tinh thần của
Trang 31dân cư cũng được cải thiện… do đó nhu cầu đa dạng về dịch vụ bảo hiểm tăng lên Những năm đầu của thế kỷ XX trên thị trường bảo hiểm mới chỉ
có vài chục sản phẩm nhưng đến nay con số này đã lên tới hàng trăm Xã hội phát triển, dịch vụ bảo hiểm cũng phát triển, ngày nay các sản phẩm bảo hiểm đã đi sâu vào từng ngõ ngách của đời sống kinh tế xã hội để phục
vụ nhu cầu
- Giá cả của dịch vụ bảo hiểm:
Giá cả của dịch vụ bảo hiểm, hay còn gọi là giá cả của sản phẩm bảo hiểm chính là phí bảo hiểm Phí bảo hiểm (Premium): là một khoản tiền mà người mua bảo hiểm phải trả cho người cung cấp dịch vụ bảo hiểm để được bồi thường khi có tổn thất xảy ra đối với đối tượng bảo hiểm do rủi ro được bảo hiểm là nguyên nhân trực tiếp gây ra Phí bảo hiểm được xác định trên
cơ sở thoả thuận giữa người sử dụng và người cung cấp dịch vụ bảo hiểm
về một dịch vụ bảo hiểm nào đó và cũng có thể xem đó là giá chấp nhận của thị trường trường về dịch vụ (hay sản phẩm) bảo hiểm Phí bảo hiểm được tính toán trên cơ sở giá trị bảo hiểm (hay số tiền bảo hiểm) với tỷ lệ phí bảo hiểm Nếu giá trị bảo hiểm (hay số tiền bảo hiểm) càng lớn, tỷ lệ phí bảo hiểm càng cao thì phí bảo hiểm càng lớn và ngược lại
Phí bảo hiểm cũng luôn thay đổi, nó phụ thuộc vào rủi ro nhiều hay
ít, mức độ nguy hiểm cao hay thấp, trình độ quản lý rủi ro, mức độ thiệt hại khi xảy ra rủi ro, điều kiện bảo hiểm cũng như nhận thức của con người… Ngoài ra phí bảo hiểm còn phụ thuộc vào các quy luật thị trường như quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh….trên thị trường dịch vụ bảo hiểm
Cạnh tranh và liên kết giữa các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm: Cũng giống như các loại hình dịch vụ khác, trên thị trường cung cấp dịch vụ bảo hiểm luôn có sự cạnh tranh gay gắt và cả sự liên kết giữa các nhà cung cấp dịch vụ bảo hiểm
Ngoài ra, dịch vụ bảo hiểm còn có các đặc trưng riêng như:
Dịch vụ bảo hiểm có tiềm năng phát triển lớn, đối tượng khách hàng
Trang 32rộng, đối tượng bảo hiểm rất đa dạng bao gồm tài sản, con người và trách nhiệm dân sự
Dịch vụ bảo hiểm phát triển phụ thuộc vào sự phát triển của điều kiện kinh tế xã hội Khi xã hội phát triển thì nhu cầu an toàn trong sản xuất, kinh doanh cũng như đời sống sinh hoạt của người dân càng được đặt ra cao hơn đã tạo điều kiện thúc đẩy dịch vụ bảo hiểm phát triển
Dịch vụ bảo hiểm cung cấp sản phẩm đặc biệt liên quan đến rủi ro, nguy hiểm Bảo hiểm ra đời là do sự tồn tại khách quan của rủi ro Rủi ro là những đe doạ nguy hiểm, bất ngờ mà con người không thể lương trước được là nguyên nhân gây ra tổn thất, thiệt hại cho đối tượng bảo hiểm Bảo hiểm là một ngành kinh doanh đặc biệt trong xã hội
Dịch vụ bảo hiểm là dịch vụ tài chính, chịu sự kiểm tra, kiểm soát rất chặt chẽ của nhà nước Nhà nước có thể can thiệp vào hoạt động của các doanh nghiệp bảo hiểm Nhà nước không những xét duyệt biểu phí, xác định giới hạn trách nhiệm bồi thường mà còn quyết định sản phẩm được phép kinh doanh hoặc hình thức triển khai bắt buộc hay tự nguyện Chỉ có dịch vụ bảo hiểm mới có hình thức bắt buộc người tiêu dùng phải sử dụng một số sản phẩm bảo hiểm
Dịch vụ bảo hiểm hoạt động theo quy luật số đông bù số ít, đây là quy luật đặc thù của ngành bảo hiểm Bảo hiểm chính là sự phân tán rủi ro, chia nhỏ tổn thất của một hay một số người cho nhiều người cùng gánh chịu Tức là lấy số đông để bù vào rủi ro của một số ít Một người tự mình thì không thể gánh nổi khi sự cố bảo hiểm xảy ra nhưng nhiều người san sẻ thì sẽ vượt qua được Từ quy luật này cho thấy trên một lĩnh vực bảo hiểm nếu thu hút được nhiều khách hàng tham gia thì phí bảo hiểm thu được từ khách hàng càng lớn, tác dụng bồi thường khi có sự cố xảy ra càng cao Quy luật “số đông bù số ít” luôn được các doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm tận dụng triệt để Quy luật này không phát huy tác dụng thì hoạt động của dịch vụ bảo hiểm không thể tồn tại, doanh nghiệp bảo hiểm sẽ bị phá
Trang 33sản
1.3 Các nhân tố ảnh hưởng đến phát triển dịch vụ gia tăng đối tượng tham gia BHXH tự nguyện
1.3.1 Chính sách Bảo hiểm xã hội
Chính sách bảo hiểm xã hội là một yếu tố không thể thiếu trong quá trình quản lý, nó có ảnh hưởng trực tiếp tới chất lượng và hiệu quả của công tác phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện
Trong quá trình phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện, các chế độ, chính sách, các văn bản pháp luật về bảo hiểm xã hội là những công
cụ cơ bản quan trọng để thực hiện việc phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện và có tác động trực tiếp đến đối tượng tham gia BHXH
tự nguyện Thông qua các chính sách bảo hiểm xã hội, các đối tượng tham gia thể hiện được quyền lợi và nghĩa vụ của mình, đồng thời giúp cho công tác quản lý các đối tượng tham gia được dễ dàng, công bằng và minh bạch hơn Chính vì thế sự thay đổi về chính sách bảo hiểm xã hội, các văn bản pháp luật về bảo hiểm xã hội đều ảnh hưởng trực tiếp đến công tác phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện
1.3.2 Cơ cấu dân số
Nếu một quốc gia có dân số già, tức là lực lượng lao động chiếm tỉ trọng thấp trong dân số sẽ dẫn đến tình trạng đối tượng tham gia bảo hiểm
xã hội cũng thấp theo Ngược lại, nếu một quốc gia có dân số trẻ thì lực lượng lao động trong xã hội sẽ tăng lên, sẽ có nhiều người tham gia vào thị trường lao động, được ký kết các hợp đồng lao động, làm tăng số đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội
Vì vậy, một quốc gia có dân số già hay dân số trẻ sẽ có ảnh hưởng trực tiếp đến lực lượng lao động của quốc gia đó, từ đó ảnh hưởng đến công tác phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện
1.3.3 Tốc độ tăng trưởng của nền kinh tế
Tốc độ tăng trưởng kinh tế của một quốc gia phản ánh khả năng tiết
Trang 34kiệm và đầu tư tiêu dùng của nhà nước Vì thế một quốc gia có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao và ổn định thì đời sống của người dân ở quốc gia đó cũng cao, tình hình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp sẽ gặp nhiều thuận lợi hơn vì thế các chủ lao động sẽ sẵn sàng tham gia BHXH cho NLĐ ở doanh nghiệp họ Đây là một điều kiện quan trọng để cho NLĐ tham gia BHXH
1.3.4 Nhận thức của người tham gia
Nhận thức của người tham gia là yếu tố được quan tâm hàng đầu trong việc triển khai và thực hiện chính sách BHXH cũng như công tác phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện Nếu cả NLĐ và NSDLD đều có những nhận thức đúng đắn về BHXH thì họ sẽ tích cực thực hiện đầy đủ quyền tham gia của mình
Tuy nhiên, hiện tượng cả NLĐ và NSDLĐ chỉ quan tâm đến lợi ích trước mắt mà không có cái nhìn lâu dài đang xảy ra gây khó khăn cho công tác phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện Nhiều chủ SDLĐ cho rằng họ không những không thu được lợi ích gì từ việc tham gia đóng BHXH cho NLĐ mà còn bị thiệt thòi vì phải chi ra một khoản chi phí khá lớn, điều đó làm giảm khả năng cạnh tranh của DN họ trên thị trường nên
đã cố tình không trốn đóng BHXH Bên cạnh đó, sự trốn tránh trách nhiệm đóng BHXH của các chủ SDLĐ còn nhận được sự đồng tình, ủng hộ từ phía NLĐ thông qua việc NLĐ thỏa thuận với chủ trả thẳng tiền đóng BHXH vào tiền lương, hoặc lo sợ bị mất việc làm khiến họ không dám lên tiếng đòi quyền lợi
Như vậy sự không hiểu biết của NLĐ và NSDLĐ là một trở ngại lớn cho công tác quản lý đối tượng tham gia, là nguyên nhân chính của các hành vi trốn đóng BHXH, gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của NLĐ
1.3.5 Chính sách thông tin tuyên truyền về BHXH tự nguyện
Công tác thông tin tuyên truyền có vai trò to lớn trong việc nâng cao nhận thức của người dân về vai trò của bảo hiểm xã hội trong đời sống Nếu
Trang 35như thực hiện tốt công tác này sẽ giúp cho đối tượng tham gia hiểu rõ về chế độ, chính sách BHXH theo quy định của luật pháp, làm thay đổi thái độ đối với công tác BHXH theo hướng tích cực, phù hợp với pháp luật Ngoài
ra, tuyên truyền BHXH còn có tác dụng cổ vũ động viên NLĐ cùng các đươn vị SDLĐ tự giác, tích cực thực hiện đúng quyền lợi và nghĩa vụ khi tham gia BHXH theo đúng quy định của pháp luật, đấu tranh loại bỏ những hành vi gian lận, trái pháp luật nhằm mục đích trục lợi
Bởi vậy, tuyên truyền giúp cho các đối tượng hiểu được lợi ích từ chính sách này sẽ khuyến khích các đối tượng tham gia nhiều hơn, chấp hành đúng các thủ tục hơn trong quy trình tham gia, giúp việc phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện được thực hiện dễ dàng hơn
1.4 Cơ sở thực tiễn về triển khai thực hiện dịch vụ bảo hiểm xã hội tự nguyện
1.4.1 Kinh nghiệm về triển khai thực hiện dịch vụ bảo hiểm xã hội
tự nguyện của một số địa phương trong nước
1.4.1.1 Kinh nghiệm của Bảo hiểm xã hội huyện Chiêm Hóa, tỉnh Tuyên Quang
Bảo hiểm xã hội huyện Chiêm Hóa là cơ quan trực thuộc Bảo hiểm
xã hội tỉnh Tuyên Quang có trụ sở đóng trên địa bàn huyện Chiêm Hóa được thành lập ngày 07/09/1995 theo quyết định số 94/BHXH-TCCB về việc thành lập BHXH các huyện và thị xã và chính thức đi vào hoạt động từ 01/9/1995 Sau hơn 20 năm hình thành và phát triển, Bảo hiểm xã hội huyện Chiêm Hóa thực sự là chỗ dựa tin cậy của người lao động, góp phần quan trọng vào công cuộc xây dựng và phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn huyện Chiêm Hóa Đối với công tác triển khai thực hiện BHXH tự nguyện, Bảo hiểm xã hội huyện Chiêm Hóa bắt đầu triển khai thực hiện từ năm
2009 Tính đến 31/12/2018, gần 10 năm triển khai thực hiện BHXH tự nguyện, Bảo hiểm xã hội huyện Chiêm Hóa đã vận động được hơn 613 người tham gia Để đạt được kết quả này, Bảo hiểm xã hội huyện Chiêm
Trang 36Hóa đã triển khai các biện pháp sau đây:
Thường xuyên tham mưu cho cấp ủy, chính quyền địa phương chỉ đạo công tác BHXH, BHYT nói chung, BHXH tự nguyện nói riêng, thực hiện nghiêm túc Nghị quyết số 21- NQ/TW ngày 22/11/2012 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác BHXH, BHYT giai đoạn 2012-2020 Tham mưu cho huyện ủy, UBND huyện Chiêm Hóa ban hành Chương trình hành động số 31-Ctr/TU ngày 25/01/2013 của Tỉnh ủy; Kế hoạch số 885/KH-UBND ngày 21/3/2013 của UBND tỉnh để thực hiện Nghị Quyết số 21-NQ/TW Tham mưu UBND tỉnh thành lập Ban chỉ đạo Thực hiện chính sách BHXH, BHYT toàn dân huyện Chiêm Hóa và ban hành quy chế hoạt động của Ban chỉ đạo 26/26 xã, thị trấn thành lập Ban chỉ đạo thực hiện chính sách BHXH, BHYT toàn dân cấp xã
Đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về chính sách BHXH tự nguyện đến tất cả các đối tượng, ở các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân Phối hợp với các cơ quan báo chí trung ương và địa phương đưa tin bài tuyên truyền rộng rãi trên các phương tiện thông tin đại chúng, truyền thông về Luật BHXH và và chính sách BHXH tự nguyện Thực hiện tuyên truyền về BHXH, BHYT trước và trong các buổi chiếu phim lưu động tại các huyện xa Đa dạng hóa các hình thức tuyên truyền về BHXH nói chung, BHXH tự nguyện nói riêng Ký kết các Chương trình, quy chế phối hợp với Ủy ban MTTQ Việt Nam huyện, Phòng LĐTB&XH huyện, Liên đoàn Lao động , Hội Nông dân, Hội phụ nữ, trong đó tuyên truyền, vận động hội viên tham gia BHXH tự nguyện là một nội dung cơ bản
Mở rộng hệ thống đại lý bán BHXH tự nguyện để tạo thuận lợi nhất cho người dân khi tham gia BHXH huyện Chiêm Hóa đã tiến hành phối hợp với Hội Nông dân, Hội Phụ nữ để đào tạo kiến thức và kỹ năng tuyên truyền, vận động đối tượng; cấp thẻ nhân viên đại lý cho các hội viên qua
đó, nâng số nhân viên đại lý bán BHXH tự nguyện
Xác định người dân chỉ tham gia BHXH tự nguyện khi được phục vụ
Trang 37tốt, BHXH huyện Chiêm Hóa thường xuyên quán triệt, tăng cường kỷ luật,
kỷ cương công tác, tập trung thực hiện linh hoạt các chính sách, cải cách thủ tục hành chính, giảm thiểu thủ tục giấy tờ cho người tham gia, giải quyết chế độ BHXH Định kỳ hàng tháng giao kế hoạch phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện cho BHXH các huyện, thành, thị, các đại
lý
Với quyết tâm của tập thể lãnh đạo, công chức, viên chức, lao động BHXH huyện Chiêm Hóa và sự nhiệt tình của hệ thống đại lý thu BHXH tự nguyện đang ngày càng mở rộng, Chiêm Hóa phấn đấu 06 tháng đầu năm
2019 đạt trên 100% chỉ tiêu người tham gia BHXH tự nguyện theo kế hoạch của UBND huyện giao
1.4.1.2 Kinh nghiệm của Bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh Phúc
Bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh Phúc được thành lập ngày 16 tháng 9 năm
1997 theo quyết định số 1607/QĐ-BHXH của Tổng Giám đốc BHXH Việt Nam và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 01 tháng 10 năm 1997 Bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh Phúc là cơ quan sự nghiệp trực thuộc và nằm trong
hệ thống BHXH Việt Nam Với nhiệm vụ tổ chức thực hiện các chế độ chính sách BHXH, BHYT cho người lao động và nhân dân trên địa bàn tỉnh, hơn 20 năm qua, BHXH tỉnh Vĩnh Phúc đã nỗ lực hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao và đạt được nhiều kết quả tích cực, góp phần quan trọng vào công tác đảm bảo an sinh xã hội trên địa bàn tỉnh Vĩnh Phúc Đối với công tác triển khai thực hiện BHXH tự nguyện, Bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh Phúc bắt đầu triển khai thực hiện từ năm 2008 Kể từ khi thực hiện,
số người tham gia BHXH tự nguyện tăng dần qua các năm Năm 2013 có 3.196 người tham gia; 2014 là 3.695 người; 2015 tăng lên 4.205 người; năm 2016 có 5.175 người tham gia; năm 2017 có 6.258 người tham gia Số người tham gia BHXH tự nguyện của Vĩnh Phúc cao hơn mức bình quân chung của cả nước Để đạt được kết quả này, Bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh Phúc đã triển khai các biện pháp sau đây:
Trang 38Thực hiện tuyên truyền thông qua nhiều hình thức đa dạng, phong phú; kết hợp lồng ghép nội dung BHXH tự nguyện với các buổi sinh hoạt của thôn, xã, các hội, đoàn thể Phối hợp chặt chẽ có hiệu quả với các cấp, các ngành trong công tác tuyên truyền chính sách pháp luật về BHXH tự nguyện đến tất cả mọi người dân và có hình thức tuyên truyền phù hợp đến từng đối tượng để nâng cao nhận thức của người lao động về sự cần thiết tham gia BHXH tự nguyện
Tham mưu với UBND, HĐND tỉnh Vĩnh Phúc các chính sách hỗ trợ cho đối tượng tham gia BHXH tự nguyện như hỗ trợ một phần kinh phí đóng BHXH tự nguyện cho nhóm người nghèo và cận nghèo để họ có thể tham gia BHXH tự nguyện Tập huấn nghiệp vụ đến 100% đại lý thu BHXH tự nguyện; thực hiện việc giao chỉ tiêu phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện cho từng đại lý thu để có sự cạnh tranh trong hoạt động
và thúc đẩy việc phát triển hệ thống đại lý thu BHXH, BHYT tại các xã, phường, thị trấn và đại lý Bưu điện
Mở rộng mạng lưới và nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức Khi mới thành lập, BHXH tỉnh Vĩnh Phúc mới có 5 phòng nghiệp vụ, 6 BHXH huyện, thành, thị với 52 cán bộ, công chức, viên chức Trong đó, có 10 cán bộ chuyển từ BHXH Vĩnh Phú cũ về, số còn lại là cán
bộ được tuyển dụng mới và một số cán bộ từ các cơ quan, đơn vị khác chuyển đến Chất lượng cán bộ, công chức trong ngành lúc đó còn thấp so với mặt bằng của các ngành trong tỉnh Trong tổng số 65 biên chế được giao năm 1999 mới có 20 người có trình độ chuyên môn đại học, còn lại là cao đẳng, trung cấp và sơ cấp Vượt qua khó khăn thử thách, hơn 20 năm qua, cơ cấu tổ chức của BHXH tỉnh Vĩnh Phúc không ngừng lớn mạnh với
11 phòng nghiệp vụ và 9 BHXH huyện, thành, thị với 278 cán bộ, công chức, viên chức Chất lượng của đội ngũ cán bộ được nâng cao cả về trình
độ chuyên môn và lý luận chính trị Hiện nay, BHXH tỉnh Vĩnh Phúc có trên 88% cán bộ đạt trình độ đại học và trên đại học
Trang 39Nâng cao chất lượng phục vụ đối tượng tham gia BHXH tự nguyện Đẩy mạnh công tác cải cách hành chính, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính theo hướng đơn giản, gọn nhẹ Đồng thời, nâng cao trách nhiệm, ý thức phục vụ đối tượng tham gia và thụ hưởng BHXH tự nguyện, nhất là thực hiện tốt cơ chế một cửa trong tiếp nhận và giải quyết các chế độ BHXH tự nguyện cho người lao động Tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động nghiệp vụ, nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và tinh thần, thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức
1.4.2 Bài học kinh nghiệm đối với Bảo hiểm xã hội huyện Yên Sơn
Trên cơ sở phân tích kinh nghiệm trong triển khai thực hiện BHXH
tự nguyện của BHXH huyện Chiêm Hóa và BHXH tỉnh Vĩnh Phúc, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm đối với BHXH huyện Yên Sơn như sau:
Đa dạng hóa và đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền về chính sách BHXH tự nguyện đến tất cả các đối tượng, ở tất cả các cấp, các ngành, các tầng lớp nhân dân trên địa bàn tỉnh Qua công tác thông tin, tuyên truyền sẽ giúp các đối tượng tham gia BHXH tự nguyện hiểu được lợi ích của họ nhận được khi tham gia BHXH tự nguyện Từ đó, họ mới quyết định tham gia BHXH tự nguyện
Mở rộng hệ thống đại lý bán BHXH tự nguyện để tạo thuận lợi nhất cho người dân khi tham gia Đồng thời thực hiện giao kế hoạch phát triển đối tượng tham gia BHXH tự nguyện cho BHXH các huyện, thành phố và các đại lý tham gia thu BHXH tự nguyện
Tham mưu với UBND, HĐND huyện Yên Sơn các chính sách hỗ trợ cho đối tượng tham gia BHXH tự nguyện như hỗ trợ một phần kinh phí đóng BHXH tự nguyện cho nhóm người nghèo và cận nghèo để họ có thể tham gia BHXH tự nguyện
Đẩy mạnh công tác cải cách thủ tục hành chính, giảm thiểu thủ tục giấy tờ cho người tham gia, giải quyết chế độ BHXH tự nguyện Tăng
Trang 40cường ứng dụng công nghệ thông tin vào các hoạt động nghiệp vụ
Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và nâng cao chất lượng phục vụ đối tượng tham gia BHXH tự nguyện
TÓM TẮT CHƯƠNG 1
Chương 1 tác giả đã trình bày những lý luận cơ bản về dịch vụ Bảo hiểm và Khái quát về BHXH tự nguyện với các nội dung như: Khái niệm, bản chất và vai trò của BHXH tự nguyện; Các nhân tố có ảnh hưởng đến công tác phát triển dịch vụ BHXH tự nguyện gồm: chính sách về BHXH tự nguyện, cơ cấu dân số, tốc độ tăng trưởng kinh tế, nhận thức của người tham gia và chính sách thông tin tuyên truyền về BHXH tự nguyện Bên cạnh đó, luận văn đi tìm hiểu kinh nghiệm triển khai thực hiện bảo hiểm xã hội tự nguyện của Bảo hiểm xã hội huyện Chiêm Hóa và Bảo hiểm xã hội tỉnh Vĩnh Phúc, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho Bảo hiểm xã hội huyện Yên Sơn
Đây chính là cơ sở, nền tảng cho việc phân tích, đánh giá thực trạng
và đề xuất các giải pháp phát triển dịch vụ BHXH tự nguyện trên địa bàn huyện Yên Sơn ở những chương tiếp theo