1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG

12 53 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 12
Dung lượng 41,81 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

- Sử dụng ĐDDH sẵn có: GV cho HS xem một vàitranh ảnh liên quan đến sông Hương - Bằng những kiến thức về địa lí, kết hợp với tài quan sát tinh tế của mình nhà văn đã miêu tả sông Hương t

Trang 1

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG

Trang 2

- Sử dụng ĐDDH sẵn có: GV cho HS xem một vài

tranh ảnh liên quan đến sông Hương

- Bằng những kiến thức về địa lí, kết hợp với tài

quan sát tinh tế của mình nhà văn đã miêu tả sông

Hương theo trình tự dòng chảy của nó, qua đó

làm bật lên từng vẻ đẹp khác nhau của dòng sông

?Thủy trình của sông Hương được mêu tả theo

những trình tự nào?

 GV cho HS xem clip sông Hương ở thượng

nguồn

GV: Chỉ với 1 câu văn đã miêu tả rất rõ nét làm

bật lên được hình ảnh Sông Hương như một đứa

con của rừng già vừa hùng vĩ, vừa dữ dội vừa êm

đềm sâu lắng Sông Hương khởi thủy từ 2 dòng:

Tả trạch – Hữu trạch Tả trạch bắt nguồn từ đỉnh

Trường Sơn, vượt qua 50 con thác để đổ về ngã

ba Bằng Lăng Hữu trạch cũng phải qua hơn 10

con thác Hai dòng này đã hợp lưu lại để trở thành

Sông Hương

- Di-gan: tộc người sống theo kiểu du mục, cuộc

sống du mục đầy tự do và phóng khoáng Sông

Hương mạnh mẽ, hoang sơ, thuần phác đầy tính

bản năng, không ép mình theo một khuôn khổ

nào

- Người mẹ phù sa: diễn tả sự trưởng thành của

dòng sông, từ một cô gái Digan nó lột xác tự chế

ngự tính cách man dại, phóng khoáng của mình 

dịu dàng trí tuệ, tấm lòng bao dung, nhân hậu bồi

đắp nuôi dưỡng cho mảnh đất xứ sở thêm màu

mỡ

*Dùng hình ảnh thiếu nữ để miêu tả vẻ đẹp của

dòng sông không có gì mới Trong thơ Trung đại

Nguyễn Trãi đã dùng mái tóc đen huyền của thiếu

nữ để miêu tả vẻ đẹp trữ tình của dòng sông:

Bóng tháp hình trâm ngọc

Gương sông ánh tóc huyền

Nhưng thú vị trong tùy bút của HPNT, ông đã liên

tưởng vẻ đẹp của dòng sông với hình ảnh cô gái

Digan, người mẹ phù sa – cách miêu tả chính xác

nhất → dòng sông như con người, có tính cách

I Tìm hiểu chung

1 Tác giả:

- HPNT là một trí thức yêu nước

- Gắn bó mật thiết với xứ Huế, có vốn hiểu biết sâu rộng trên nhiều lĩnh vực

- Ông chuyên về bút ký, là một trong mấy nhà văn viết ký hay nhất của văn học ta hiện nay (Nguyên

ngọc)

- Phong cách sáng tác: kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất trí tuệ và trữ tình, nghị luận và tư duy đa chiều với một lối hành văn hướng nội, súc tích, mê đắm, tài hoa

2 Tác phẩm: Ai đã đặt tên cho dòng sông? Viết tại

Huế năm 1981, in trong tập sách cùng tên Tác phẩm gồm ba phần, đoạn trích thuộc phần thứ nhất

II Đọc-hiểu văn bản:

1/ Thủy trình của sông Hương:

a Ở thượng nguồn:

- So sánh: “Là bản trường ca của rừng già” → rầm

rộ, mãnh liệt, cuộn xoáy, dịu dàng, say đắm.

- Nhân hóa:

+ “Cô gái Digan” → phóng khoáng và man dại,

bản lĩnh gan dạ, một tâm hồn tự do trong sáng →

mạnh mẽ, hoang sơ, thuần phác + “Người mẹ phù sa” → dịu dàng và trí tuệ →

trưởng thành

Trang 3

hẳn hoi

?Qua cách liên tưởng thú vị của HPNT em cảm

nhận như thế nào về vẻ đẹp của sông Hương ở

vùng thượng nguồn?

 Thảo luận đôi

?Trước khi gặp kinh thành Huế, Sông Hương là

“người gái đẹp ngủ mơ màng giữa cánh đồng

Châu Hóa đầy hoa dại” được người tình mong

đợi đến đánh thức Vậy Người tình mong đợi của

sông Hương là ai? Cuộc tìm kiếm của sông

Hương làm em liên tưởng đến mối tình của nhân

vật văn học nào? Vì sao?

- Giảng: Trong tình yêu người ta sẵn sáng dâng

tặng những gì đẹp nhất cho người yêu của mình

Vì thế sông Hương muốn dâng cho Huế vẻ đẹp

thơ mộng của mình  Sông Hương đã quyết tâm

khép kín nửa cuộc đời của mình trong rừng già,

nên vừa ra khỏi cửa rừng sông Hương đã đóng

kín cửa, khóa lại một quãng đời “ném chìa khóa

trong những hang đá dưới chân núi Kim Phụng”

→ dứt khoát, đầy bản lĩnh, thể hiện quyết tâm

thay đổi mình, vì một khát vọng tìm kiếm người

tình mong đợi – TP Huế mộng mơ

Tại sao lại liên tưởng đến mối tình Kim - Kiều

+ Đẹp, thơ mộng – Kiều: 1 tuyệt thế giai nhân

+ Tính cách dịu dàng, trì tuệ - Kiều: thông

minh, sắc xảo

+ Đa tình – Kiều: đa cảm Một khi đã xác định

được tình yêu đích thực, quyết tâm bừng dậy

vượt qua mọi khó khăn thử thách, đi tìm cho

bằng được người tình mong đợi của mình

- Toàn bộ hành trình của dòng sông tựa như một

cuộc tìm kiếm có ý thức của người con gái đi tìm

người tình nhân đích thực Trong cuộc tìm kiếm

đó, sông Hương đã dâng tặng cho Huế những vẻ

đẹp rất riêng

?Vẻ đẹp riêng của sông Hương khi ra khỏi núi?

 Sông Hương vùng thượng nguồn mang sức sống mãnh liệt, vẻ đẹp hoang dại và đầy cá tính

b Ở ngoại vi thành phố Huế:

- Dòng chảy:

+ Động từ “chuyển dòng liên tục – vòng giữa khúc quanh đột ngột – uốn mình theo những đường cong thật mềm - vòng qua - chuyển hướng - đột ngột vẽ hình vòng cung thật tròn - ôm - trôi đi”

+ So sánh: dòng chảy mềm mại

+ Liệt kê địa danh: được gắn kết bằng môt nét vẽ mềm mại của sông Hương

Trang 4

- Ở chân núi Ngọc Trản, khi chảy qua những ngọn

đồi tạo nên những mảng phản quang nhiều màu

sắc

?Em cảm nhận như thế nào về SH khi ở thượng

nguồn và khi ở ngoại vi thành phố?

- Bổng trở nên trầm mặc, một SH khác hẳn SH

nơi thượng nguồn Có lẽ khi đến với tình yêu SH

không chỉ dâng tặng mà còn tự hoàn thiện khám

phá chính bản thân mình, SH đã thực sự trưởng

thành hơn, thực sự trở thành 1 thiếu nữ sâu lắng

- Dường như đã tìm đúng đường, như nàng Kiều

tìm đến với Kim trọng, SH bổng vui tươi hẳn lên

Vì đúng đường rồi nên nó yên tâm kéo một nét

thẳng theo hướng T-N Đ-B để rồi bắt gặp hình

ảnh chiếc cầu trắng quen thuộc “Trăng non –

trăng khuyết”- Tác giả đã sử dụng những hình ảnh

liên tưởng so sánh đầy ấn tượng  Cây cầu với

dáng hình đặc biệt được ví như vành trăng non

đã lột tả đúng cái đẹp độc đáo của nó: sự thanh

mảnh, dịu dàng, thơ mộng của sông Hương, của

xứ Huế

- Ý thức được cuộc hội ngộ đầy mong chờ ấy SH

“uốn một cánh cung rất nhẹ sang cồn Hến”

-khoe đường cong mềm mại của mình – khiến nhà

văn liên tưởng đó như một tiếng “vâng” bẻn lẻn,

kín đáo không nói ra của tình yêu, cô gái ấy thuận

tình nhưng lại không nói “tình trong như đã mặt

ngoài còn e”  nét đặc trưng trong tính cách

người con gái Huế: tình tứ, kín đáo, e lệ

- So sánh sông Hương với sông Xen, sông

Đa-nuýp, sông Nê-va để chỉ ra điểm chung, từ đó

làm nổi bật nét riêng của sông Hương: đều là

những con sông chảy trong lòng thành phố, đều

âu yếm bồi đắp phù sa màu mỡ cho mảnh đất xứ

sở, nhưng SH trong trải nghiệm của tác giả mang

nét đẹp rất riêng, Sông Hương khi đến Huế nó

tỏa đi khắp phố thị - chi lưu – lưu tốc của dòng

sông giảm đi, tác giả liên tưởng đến điệu Slow

-trong âm nhạc là điệu nhẹ nhàng, chậm rãi, gợi

+ Nhân hóa: diễn tả sinh động hành trình gian truân khi đến với Huế

- Màu sắc: “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím” luôn

thay đổi theo từng thời điểm trong ngày

- Cảnh vật 2 bên: rừng thông u tịch, lăng tẩm đồ sộ,

âm vang tiếng chuông chùa Thiên Mụ → cổ kính, trầm mặc

 Sông Hương ở ngoại vi thành phố hiện lên với vẻ đẹp vừa kiều diễm vừa cổ kính và mang đậm vẻ đẹp của cố đô Huế

c.Khi đến giữa thành phố Huế:

- Nhân hóa + so sánh: “uốn một cánh cung rất nhẹ” + như một tiếng “vâng” → đặc trưng của

người con gái Huế: tình tứ, kín đáo, e lệ

- So sánh: Xen, sông Đa-nuýp, điệu slow → âu yếm

bồi đắp cho mảnh đất xứ sở  trở thành “người tài

nữa đánh đàn lúc đêm khuya” để dâng tặng cho Huế

nền âm nhạc cổ điển độc đáo

Sông Hương như người tình đằm thắm, dịu dàng và sâu lắng

Trang 5

cảm giác dòng chảy của SH thực sự yên tĩnh, chảy

mà như không chảy Chính cái khoảng khắc chùng

chình không chảy ấy đã làm sông Hương “trở

thành người tài nữa đánh đàn lúc đêm khuya”,

đã sản sinh và dâng tặng một nền âm nhạc cổ

điển riêng cho Huế

*Thảo luận đôi?

?Trước khi từ biệt Huế, sông Hương đã uốn một

đường cong sang thị trấn nào? Khúc quanh đột

ngột đó cho thấy tâm trạng của sông hương lúc

này ra sao?

* GV: Như một quy luật của tự nhiên, SH rời Huế

đổ ra biển cả Ôm lấy đảo cồn hến, như cái ôm

lần cuối, lưu luyến ra đi, chân bước đi mà lòng

chẳng nỡ rời xa Như chợt nhớ điều gì, nó rẽ

ngoặt lại để gặp lại thành phố tại thị Trấn Bao

Vinh – nơi chia tay lần cuối với người bạn tri âm,

kịp trao lời thề trước khi về vs biển cả

Cuộc chia tay của sông Hương với TP Huế như

cuộc chia li lưu luyến của đôi tình nhân, đi chưa

nỡ phải vội quay lại gặp nhau lần cuối Tác giả gọi

đó là “nỗi vấn vương” với một chút “lẳng lơ kín

đáo của tình yêu” Nhà văn đã hình dung sông

Hương như nàng Kiều trở lại tìm Kim Trọng để

nói lời thề trước khi đi xa Đây là một phát hiện

độc đáo mang màu sác văn chương Hương

Giang đã đẹp lại còn đẹp hơn, trọn vẹn hơn trong

cảm nhận của người đọc

d Sông Hương trước khi từ biệt Huế:

- Nhân hóa:

+ Như nàng Kiều trở lại tìm Kim Trọng để nói lời thề trước khi đi xa → vấn vương, lưu luyến + Tấm lòng người dân Châu Hóa xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở

Sông Hương là người tình chung thủy, mượn tình riêng để khái quát tình chung, làm cho tình yêu đất, yêu nước trở nên đằm thắm, sâu sắc

Trang 6

AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG

- Sông Hương khởi thủy là 2 dòng:

Tả trạch – Hữu trạch Tả trạch bắt

nguồn từ đỉnh Trường Sơn, vượt

qua 50 con thác để đổ về ngã ba

Bằng Lăng Hữu trạch cũng phải

qua hơn 10 con thác Hai dòng này

đã hợp lưu lại để trở thành Sông

Hương → rầm rộ, cuộn xoáy, mãnh

liệt, hoang dại

- Digan - du mục, di cư, thích nghi

với nền văn hóa nơi đó, có tính

cách gan dạ, man dại, tự do, phóng

khoáng, mạnh mẽ, hoang sơ, thuần

phác đầy tính bản năng, không ép

mình theo một khuôn khổ nào

- Người mẹ nào cũng thể, để trở

thành một người mẹ thực sự, người

phụ nữ phải lột xác, giã từ tính cách

mạnh mẽ, phóng khoáng của mình,

tự chế ngự mình để trở thành

người phụ nữ dịu dàng tấm lòng

bao dung, nhân hậu → quá trình tự

chế ngự bản năng của mình trở

thành người phụ nữ dịu dàng, nhân

hậu, sẵn sàng bồi đắp, nuôi dưỡng

cho mảnh đất xứ sở thêm màu mỡ

- Dùng hình ảnh thiếu nữ để chỉ đặc

điểm của dòng sông không có gì

mới Nguyễn Trãi trong “Dục thúy

sơn” đã dùng mái tóc đen huyền

của thiếu nữ để miêu tả vẻ đẹp trữ

tình của dòng sông:

Bóng tháp hình trâm ngọc

Gương sông ánh tóc huyền

Nhưng điều thú vị trong tùy bút của

HPNT, ông đã liên tưởng vẻ đẹp

của dòng sông với hình ảnh cô gái

Digan – cách miêu tả chính xác

nhất, tạo cho dòng sông như con

người - người con gái có tính cách

hẳn hoi

1 Vẻ đẹp thiên nhiên – miêu tả theo trình tự dòng chảy 1.1 Thượng nguồn: hoang sơ, hùng vĩ dữ dội vừa êm đềm

sâu lắng

- So sánh: Là bản trường ca của rừng già

→Rầm rộ, mãnh liệt, cuộn xoáy , d ịu dàng và say đắm giữa những dặm dài chói lọi màu đỏ của hoa Đỗ Quyên rừng  mang vẻ đẹp trữ tình

- Nhân hóa:

+ Cô gái Digan

→“phóng khoáng và man dại”, “bản lĩnh – gan dạ”, “tự

do – trong sáng”

+ Người mẹ phù sa

→“dịu dàng – trí tuệ”,

vNhận xét: cách miêu tả chính xác, biến dòng sông trở thành con người, có tính cách hẳn hoi

* Trong tình yêu người ta 1.2 Đồng bằng ngoại ô Huế - mang nét đẹp cổ kính

Trang 7

sẵn sáng dâng tặng những gì

đẹp nhất cho người yêu của

mình Sông Hương cũng thế,

cho nên nó đã quyết tâm

khép kín nửa cuộc đời hoang

dại của mình trong rừng già,

vì vậy vừa ra khỏi cửa rừng

sông Hương đã đóng kín

cửa, khóa lại một quãng đời

“ném chìa khóa ” một cách

dứt khoát, đầy bản lĩnh, thể

hiện quyết tâm thay đổi

chính mình, để dâng tặng

cho người tình Huế vẻ đẹp

thơ mộng của mình

- Một SH khác hẳn SH nơi

thượng nguồn Có lẽ khi đến

với tình yêu SH không chỉ

dâng tặng mà còn tự hoàn

thiện khám phá chính bản

thân mình, SH đã thực sự

trưởng thành hơn, thực sự

trở thành 1 thiếu nữ sâu lắng

- Nhân hóa: Hành trình đi tìm người tình mong đợi của Sông Hương làm người ta liên tưởng đến hành trình đi tìm KT của

Thúy Kiều “Xăm xăm băng lối vườn khuya 1 mình” đầy tình

tứ, lãng mạn

- Dòng chảy:

+ Động từ: hành trình tìm đến Huế được diễn tả sinh động,

tạo cảm giác gian truân “chuyển dòng – vòng – uốn - qua

- chuyển hướng – vẽ - ôm - xuôi”

+ So sánh: như lụa

- Màu sắc: biến ảo “sớm xanh, trưa vàng, chiều tím”  không giống dòng sông nào làm nên đặc trưng của Huế,

- Cảnh vật 2 bên: rừng thông u tịch, đền đài lăng tẩm, âm vang tiếng chuông chùa Thiên Mụ  bổng trở nên trầm mặc

- Dữ dội, mãnh liệt

- Hoang sơ

- Trầm mặc

- Trưởng thành, trở thành 1 thiếu nữ sâu lắng

- Liệt kê hàng loạt địa danh: được gắn kết bằng môt nét vẽ mềm mại của sông Hương

vNhận xét: Quan sát tinh tế, kiến thức sâu rộng  dòng sông mềm mại hữu tình, êm ả, trầm mặc

- Dường như đã tìm đúng đường,

như nàng Kiều tìm đến với Kim

trọng, SH bổng vui tươi hẳn lên

giữa những biền bãi xanh biếc của

vùng ngoại ô Kim Long Vì đúng

đường rồi nên nó yên tâm kéo một

nét thẳng theo hướng T-N Đ-B để

rồi bắt gặp hình ảnh chiếc cầu trắng

quen thuộc

- Gặp lại Huế như cuộc hội ngộ đầy

háo hức của những người yêu nhau,

ý thức được cuộc hội ngộ đầy mong

chờ ấy SH “uốn một cánh cung rất

nhẹ sang cồn Hến” - khoe đường

cong mềm mại của mình – khiến

nhà văn liên tưởng đó như một

tiếng “vâng” bẻn lẻn, kín đáo

không nói ra của tình yêu  đặc

trưng của con gái Huế  nhân hóa

1.2 Trong lòng thành phố Huế - mang vẻ đẹp đặc trưng của người con gái Huế

- Vui tươi hẳn lên, háo hức hội ngộ

- Nhân hóa: “uốn một cánh cung rất nhẹ sang cồn Hến” như

một tiếng “vâng” bẻn lẻn, kín đáo không nói ra của tình yêu  ý nhị, e ấp

Trang 8

lạ, gợi cảm  ý nhị, e ấp

- Sông Hương khi đến Huế nó tỏa

đi khắp phố thị - chi lưu, lưu tốc

của dòng sông giảm đi, yên tĩnh,

chảy mà như không chảy  liên

tưởng đến điệu slow tình cảm dánh

riêng cho Huế  tác giả liên tưởng

đến sông Xen và sông Đa-nuyp,

đều là những con sông chảy trong

thành phố, âu yếm bồi đắp cho

mảnh đất xứ sở

- Như một quy luật của tự nhiên,

SH rời Huế đổ ra biển cả Ôm lấy

đảo cồn hến, như cái ôm lần cuối,

lưu luyến ra đi, chân bước đi mà

lòng chẳng nỡ rời xa Như chợt nhớ

điều gì, nó rẽ ngoặt lại để gặp lại

thành phố tại thị Trấn Bao Vinh –

nơi chia tay lần cuối với người bạn

tri âm, kịp troa lời thề trước khi về

vs biển cả

→Nhân hóa tài tình gợi đêm

chia tay của Kiều với Kim

trọng, đã ra về rồi lại còn

chạy lại để nói 1 lời thề chí

tình

- So sánh: dòng chảy của sông Hương như điệu slow tình

cảm dành riêng cho Huế

- Tâm trạng: ngập ngừng, lưu luyến, bịn rịn không muốn rời

xa Huế “như muốn đi muốn ở, chao nhẹ trên mặt nước như những vấn vương của một nỗi lòng”

- Rời Huế

+ Như nàng Kiều trở lại tìm Kim Trọng để nói lời thề trước khi đi xa → vấn vương, lưu luyến

+ Sông Hương là người tình chung thủy, mượn tình riêng

để khái quát tình chung, tấm lòng người dân Châu Hóa xưa mãi mãi chung tình với quê hương xứ sở

- Trên dòng sông Hương thơ mộng,

những chiếc thuyền độc mộc lững

lờ trôi đã sản sinh ra những câu hò,

những điệu mái nhì, mái đẩy da

diết Từ những điệu hò điệu lý dân

dã ấy được trau chuốt nâng niu, lời

ca ngày càng thêm mựợt mà, tao

nhã, đường nét giai điệu ngày càng

uyển chuyển, luyến láy điệu nghệ

hơn, được vua chúa thưởng thức

trên thuyền ngự (ca Huế)

2/

G óc độ lịch sử và thi ca , văn hóa

- Trong lịch sử: ghi dấu bao chiến công oanh liệt của dân tộc.

+ Thời đại các vua Hùng

+ Soi bóng kinh thành Phú Xuân của người anh hùng Nguyễn Huệ

+ Chứng kiến trọn bộ lịch sử bi tráng của thế kỉ XIX

+ Chứng kiến những chiến công rung chuyển trong thời đại của CM tháng Tám

- Trong âm nhạc: người tài nữ đánh đàn giữa đêm khuya, vì

nền âm nhạc cổ điển của Huế được hình thành trên dòng sông này 9da6n gian, cung đình)

Trang 9

- Mang đến cho nhà văn nhà

thơ cách cảm hứng, cảm thụ

khác nhau:

+ Tản Đà – nó là “dòng sông

trắng lá cây xanh” hiền hòa thơ

mộng

+ Cao Bá Quát – nó à “kiếm

dựng trời xanh” thật hùng tráng

+ Tố Hữu – nó là sức mạnh phục

vụ tâm hồn

- Trong thi ca: S.Hương là nguồn cảm hứng bất tận cho các thi

nhân Sông Hương không bao giờ lặp lại mình trong cảm hứng của thi nhân: Nguyễn Du, Bà Huyện Thanh Quan, Cao Bá Quát, Tản Đà, Tố Hữu

vNhận xét: lòng tự hào, ca ngợi vẻ đẹp của sông Hương -chứa đựng lớp trầm tích văn hóa cố đô

vNghệ thuật: ngôn từ phong phú, gợi hình, gợi cảm; câu văn

giàu nhạc điệu Các biện pháp nghệ thuật: ẩn dụ, nhân hóa, so sánh

Hình ảnh sông Hương của HPNT làm ta liên tưởng đến sông Đà của

NT Cách mà 2 tg miêu tả về 2 con sông đều gợi cho người đọc sự rung

cảm mãnh liệt về bản trường ca Chỉ khác biệt: dòng sông của HPNT gợi

cảm giác êm đềm – say đắm – mượt mà Còn NT gợi cảm giác dữ dội –

mãnh liệt – giọng văn góc cạnh

2 Vẻ đẹp văn hóa

- Âm nhạc – người tài nữ đánh đàn giữa đêm khuya

+ Loại âm nhạc cao quý – nhã nhạc cung đình Huế

+ Gợi cảm hứng cho Truyện Kiều của Nguyễn Du Nguyễn Du có thời

gian sống ở Huế - có lẽ nhiều đêm đã dạo thuyền trên SH, ngắm phiến

trăng sấu và nghe nhạc cổ điển trên sông nước Huế từ đó bản nhạc ấy đã

đi theo suốt cuộc đời Kiều

+ Nhạc của vua Tự Đức

 nơi sản sinh

Văn hóa – không bao giờ lặp lại mình trong cảm hứng của các nghệ sĩ –

3 Cái tôi trữ tình

- Mê đắm, tài hoa

- Uyên bác, giàu tri thức về lịch sử, văn hóa, địa lý Huế

- Yêu nước, gắn bó mật thiết với xứ Huế

- Từ đầu nguồn đến cuối nguồn SH tạo ra biết bao nhiêu thắng cảnh, hai

bên thắng cảnh đó con người đã tạo dựng biết bao cảnh quan, văn hóa,

thiên nhiên lững lẫy,

- Nuôi sống con người hai bên con sông: cung cấp nguồn nước tưới tiêu,

phù sa bồi đắp cho ruộng lúa, cây trái, mang nguồn lợi thủy hải sản

- Mang giá trị du lịch

- Nối liền nền văn hóa xa xưa Champa đến nền văn hóa Việt

- Ám ảnh biết bao thi nhân

Trang 10

1 con sông nhỏ mà nó đã chở biết bao nhiêu giá trị

- Lich sử

Thời kỳ Bắc thuộc, trong suốt thời gian dài gần 12 thế kỷ, vùng đất này

là địa đầu phía Bắc của Vương quốc Chămpa độc lập Sau chiến thắng Bạch Ðằng lịch sử của Ngô Quyền (năm 938), Ðại Việt trở thành quốc gia độc lập và qua nhiều thế kỷ phát triển, biên giới Ðại Việt đã mở rộng dần về phía Nam Năm 1306, công chúa Huyền Trân em gái vua Trần Anh Tông, "nước non ngàn dặm ra đi" làm dâu vương quốc Chămpa, vua Chế Mân dâng hai châu Ô, Rí (Lý) để làm sính lễ Năm sau, vua Trần đổi hai châu này thành châu Thuận, châu Hóa và đặt chức quan cai trị Thừa Thiên Huế trở thành địa bàn giao thoa giữa hai nền văn hóa lớn của phương Ðông với nền văn hóa của các cư dân bản địa Địa khu này lúc mở rộng nhất còn bao gồm 5 châu: Bố Chính, Địa Lý,

Ma Linh, và Ô, Rí mà sau này sáp nhập vào Đại Việt qua hai đợt, tương ứng với thừa tuyên Thuận Hóa, ngày nay là các tỉnh Quảng

Bình, Quảng Trị, và Thừa Thiên–Huế

- Không chỉ là không gian làm sản sinh và nuôi dưỡng nghệ thuật diễn xướng truyền thống, sông Hương còn là không gian lễ hội độc đáo của xứ Huế

+ lễ hội đua ghe - Tương truyền đây là hình thức tập luyện để thuỷ binh gan dạ, dũng mãnh trong chiến đấu của chúa Nguyễn, vua Nguyễn một thời Đua thuyền ở Huế là một dấu ấn của văn hoá và lịch sử trên sông nước của vùng kinh sư

+ lễ hội điện Hòn Chén: thờ cúng Thánh Mẫu Thiên Y A Na, vị nữ thần Bà Mẹ Xứ Sở của Chămpa đã được Việt hoá,

+ lễ hội cầu ngư, 3 năm một lần,

+ Cồn Hến: lễ hội rước hến

+ lễ hội hoa đăng

Cả một vùng sông nước, từ thượng nguồn đến tận cửa biển, những lễ hội truyền thống luôn gắn liền với dòng sông Và dọc bờ sông, những lễ hội diều Huế, lễ tế tổ ngành tuồng, lễ cầu an, xuân

tế, thu tế, thường kỳ đã diễn ra, hình thành một lối sống, lối sinh hoạt tâm linh độc đáo

- Âm nhạc

3 Địa danh lịch sử gắn liền với con đường

Tam Thai là tên một ngọn núi nằm trong địa phận làng An Cựu xưa, nay thuộc xã Thủy An, thành phố Huế Cùng với Ngự Bình, núi Tam Thai làm nên chức năng "Đệ nhất án sơn" che chắn cho Kinh thành Huế, đồng thời cũng là thắng cảnh thiên nhiên tôn vinh thêm vẻ đẹp cho Huế Xưa kia trên núi Tam Thai có nhiều

Ngày đăng: 11/12/2019, 21:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w