1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

ĐÂY THÔN VĨ DẠ_CÓ LỜI GIẢNG

30 120 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 30
Dung lượng 106,04 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đến khi biết rằng Thương Thương không cóthực mà chỉ là sự an ủi của bạn bè “bóng mộng tình yêu” tan vỡ Có thể nói, Hàn Mạc Tử được biết đến với nhiều mối tình, đã để lại nhiều dấu ấn tr

Trang 1

ĐÂY THÔN VĨ DẠ

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh lúc nhỏ đã cùng bạn bè dạo chơi ở những nơi mà ngàyxưa thi sĩ Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm từng in dấu Nên ông đã viết:

“Đường lên dốc đá nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa

Lầu ông Hoàng đó thuở nào chân

Hàn Mặc Tử đã qua “

Hàn Mặc Tử vốn có rất nhiều người yêu và cũng có rất nhiều độc giả yêu thơ của

chàng, viết thư làm quen Trong số đó có Mộng Cầm – mối tình đầu

“Tình yêu vừa chớm xót thương cho chàng cuộc sống phế nhân “

Không rõ vì lý do gì mà HMT bị bịnh phong Tuy vẫn thơ từ qua lại, nhưng MộngCầm lãng tránh dần thi sĩ, ít khi hò hẹn với nhau Tử cũng âm thầm chạy chửa không thuyên giảm

Trong lúc cô đơn, tuyệt vọng chán chường, thi sĩ lại nhận được tin Mộng Cầm đilấy chồng  đau khổ hơn Thấy vậy, Bích Khê giới thiệu cho chàng làm quen với

người chị là Ngọc Sương (tức là dì ruột của Mộng Cầm)  Đây chỉ là một mối tình

đơn phương

Lúc đó, lại có nữ thi sĩ Mai Đình yêu HMT tha thiết, tình nguyện đến ở bên chàng

săn sóc, lo thuốc men Nhưng thi sĩ đã từ chối và chỉ tiếp chuyện với cô được vàilần, rồi tuyệt giao

Gần cuối năm 1940  vào trại phong điều trị, chàng vẫn không thôi thương nhớMộng Cầm, thấy vậy bạn thân của Tử là Trần Thanh Địch đã viết thư giả làm

người hâm mộ thơ chàng lấy tên là Thương Thương - đã làm cho HMT cảm động,

như tìm được tình yêu trong mộng Đến khi biết rằng Thương Thương không cóthực mà chỉ là sự an ủi của bạn bè “bóng mộng tình yêu” tan vỡ

Có thể nói, Hàn Mạc Tử được biết đến với nhiều mối tình, đã để lại nhiều dấu ấn

trong văn thơ của ông – trong đó, ấn tượng nhất là bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ, bài

thơ được gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử với một cô gái vốn quê ở thôn

Vĩ Để biết cô gái ấy là ai và bài thơ chất chứa tình cảm gì của tác giả

Xa lạ, lâu lâu ghé thăm hỏi một chút rồi đi  xả giao, khách sáo

- Như thế nào là Nắng mới lên?

Trang 2

+ Là nắng lúc sáng sớm Từ “mới” tô đậm sự trong trẻo, tinh khiết của tia nắng

đầu tiên trong ngày

+ Điệp từ “nắng”: nhấn mạnh, gợi tả đặc điểm của miền Trung, miền trung nắng

nhiều và ánh nắng gay gắt chói chang ngay từ lúc bình minh Không những thếđiệp từ này còn diễn tả bước đi của nắng khiến cho câu thơ ngập tràn trong sắcnắng

- Sự so sánh này xuất phát từ hình ảnh của những giọt sương đêm còn đọng trêncây cỏ hoa lá tạo nên một màu xanh ngọc bích, thanh tân, ngọt ngào, trong suốtđẹp như một viên ngọc

- Tính từ “mướt” (hàm chứa ý nghĩa của từ ướt _ láng bóng)  cực tả được sự căng đầy sức sống, mơn mởn tươi non của cây lá trong vườn Còn thán từ “quá”

thể hiện thái độ ngạc nhiên trầm trồ của tác giả trước một khung cảnh lộng lẫycủa khu vườn

- Trong khu vườn xinh đẹp ấy thấp thoáng cái gì?

Bóng dáng của con người hiện lên qua hình ảnh “mặt chữ điền”

- Mặt chữ điền là mặt như thế nào? Là mặt của ai?

Hình ảnh “mặt chữ điền” đã gây ra khá nhiều tranh cãi Bởi vì có người cho rằng

Đó là khuôn mặt của cô gái thôn Vĩ Đó là khuôn mặt của chàng trai thôn Vĩ.Khuôn mặt của chủ thể trữ tình Khuôn cửa sổ vuông

 “mặt chữ điền” dù là ai đi nữa nói chung đều diễn tả nét hiền lành phúc hậu của con người, ẩn nấp phía sau “lá trúc che ngang” - gợi nét đẹp kín đáo e lệ

- Chuyển ý: khao khát đau đớn Bởi vì sao, vì đây là khát khao không thể nào với

tới, do khát khao không thể với tới ấy cho nên đến khổ thơ thứ hai không cònnhững hình ảnh đẹp đẽ, tinh khôi dịu dàng như thế này nữa mà hình ảnh trở nên

hư ảo

- Tìm những thủ pháp nghệ thuật được sử dụng trong khổ thơ này?

Thuyền – nước Gió – mây

chuyển động ngược

chiều

- Vì sao nhà thơ lại nhìn thấy sự chia lìa trong những sự vật không thể chia lìa?

Các em hãy nhớ lại bài thơ Tràng Giang, nhà thơ Huy Cận cũng nhìn thấy điều

này “thuyền – nước” Từ xưa thuyến và nước luôn luôn đi liền với nhau nhưng

chính sự ám ảnh của một nỗi buồn vong quốc đã khiến Huy Cận nhìn thấy sự tan

Trang 3

tác chia lìa trong những sự vật không thể chia lìa Còn ở đây, Mặc Tử bị ám ảnhbởi điều gì mà nhà thơ nhìn thấy sự tan tác trong gió và mây? Đọc về cuộc đời củanhà thơ và đã tìm hiểu về khổ thơ thứ nhất thì chúng ta cũng cảm nhận được rõràng cái mà Mặc Tử đang đeo mang chính là nỗi ám ảnh về 1 cuộc chia li vĩnh viễnvới cuộc đời cho nên nhìn đâu tác giả cũng nhìn thấy sự tan tác chia xa.

- Đến hai câu thơ sau, cảnh sông nước được miêu tả gắn liền với hình tượng trăng?

“trăng” = tri kỉ =, đi vào thơ HMT = trăng trải dài trong sự nghiệp sáng tác của tác

giả:

“Hôm nay có một nửa trăng thôi, Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi!”

Sông trở thành sông trăng, bến trở thành bến trăng, thuyền trở thành thuyền trăng

 không khí mơ hồ, huyền ảo

? Câu hỏi tu từ thể hiện tâm trạng gì của tác giả?

Đợi chờ  chờ cái gì  cô đơn

Ngay lúc này, sống cách ly với thế giới bên ngoài + mọi người xa lánh, tư tưởngsai lần: bệnh phong có thể lây nhiễm  Trăng là bạn, là tri kỉ

? Đó là tâm trạng chờ đợi như thế nào

Chờ đợi phấp phỏng lo âu  “kịp”  đang bị ám ảnh bởi thời gian = lúc này quỹthời gian sống trên đời này không còn nhiều nữa, cho nên thi nhân đợi chờ, muốnníu kéo thời gian, mà không biết thời gian có cho phép hay không Chữ “kịp” nỗi đau: nỗi đau của 1 thân phận, 1 thân phận giàu khao khát giàu yêu thươngnhưng cuối cùng phải xa lìa cuộc đời

? Bức tranh thiên nhiên ở khổ thơ này có gì khác biệt so với khổ thơ đầu?

-GV chuyển ý: Dù nhà thơ luôn chìm đắm trong tận cùng của nỗi cô đơn nhưng

chúng ta vẫn cảm nhận được trong tâm tư của nhà thơ vẫn hướng về cuộc đời, vẫnhướng về con người và tất cả những điều đó sẽ được nhà thơ thể hiện ở khổ thơcuối cùng

Trang 4

? Chia lớp thành 4 nhóm:

+ Tổ 1: Trong khổ thơ cuối này tác giả đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật gì? Nêu

tác dụng của nó? Và hãy cho biết “Khách đường xa” được nhắc đến trong khổ

thơ là ai?

+ Tổ 2: Cụm từ “Trắng quá” gợi cho em cảm giác gì? Đại từ phiếm chỉ “Em”

là để chỉ ai?

+ Tổ 3: Em hiểu như thế nào là “sương khói mờ nhân ảnh”? Đại từ phiếm chỉ

“ai” là để chỉ đối tượng nào?

+ Tổ 4: Câu hỏi tu từ “Ai biết tình ai có đậm đà” cho ta thấy tâm trạng gì của

tác giả?

-GV bình giảng:

+ Tổ 1: Khách đường xa: vừa là chính nhà thơ, vừa là một người lạ nào đó, có thể

là nhà thơ đang mong ước được gặp người tri kỉ  nỗi khát khao hòa mình vớicuộc đời

+ Tổ 2: Ở đây cô lưu ý các em, màu trắng là 1 màu thường trực trong thơ Hàn,

HMT có màu nắng trắng, màu trăng trắng, màu áo trắng, màu sông trắng Trong

bài Mùa xuân chín nhà thơ có viết:

"Chị ấy, năm nay còn gánh thóc Dọc bờ sông trắng nắng chang chang?"

Nghệ thuật tăng tiến đã lột tả một màu trắng đầy ám ảnh, gợi cảm giác làm lóa mắtngười đối diện đến mức nhìn không ra Nhưng nếu hiểu như vậy là chúng ta hoàntoàn chưa hiểu được những điều HMT muốn gửi gắm

Và ở đây màu áo trắng đến nổi ám ảnh trong tâm hồn của nhà thơ đó là màu áo trắng của ai? Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, trong khi trị bệnh trong trại phong

Quy Hòa được sự chăm sóc của các ma sơ, nhà thơ cảm thấy họ là những hìnhtượng rất đẹp và màu áo trắng họ mặc nó ám ảnh ở trong tâm hồn của nhà thơ Đây

cũng là một cách để lý giải Từ “em” ở đây là môt từ phiếm chỉ, không rõ ràng, có thể “em” này là cô Kim Cúc, “em” này có thể là cô Mộng Cầm cũng có thể là cô

Mai Đình cũng có thể là cô Ngọc Sương (những người tình trong thơ) cũng có thể

là một cô em gái nào đó của cuộc đời Dù “em” là ai chúng ta cũng có thể thấy 1

điều, dường như trong thơ HMT hình ảnh của những người con gái, nhất là con gáiHuế luôn gắn liền với 1 cái gì đó đẹp, thanh xuân, thanh khiết:

Trong làn nắng ửng khói mơ tan, Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

Sột soạt gió trêu tà áo biếc, Trên giàn thiên lý - Bóng xuân sang.

Trang 5

Như vậy, cũng có thể hiểu nhà thơ muốn dùng sắc áo trắng này để gợi tả vẻ đẹp

tinh khiết đó Và các em lưu ý “em” này dù là ai đi nữa thì tất cả cũng chỉ là ảo

ảnh, là hoài niệm xa xôi, thực tế nhà thơ không thể nhìn thấy, không thể với tới

được Cho nên nỗi tuyệt vọng đó đã được nhà thơ lột tả bằng 1 câu thơ “Áo em trắng quá nhìn không ra” Tóm lại, câu thơ này vừa lột gợi tả vẻ đẹp tinh khiết của

từ phiếm chỉ “em” vừa thể hiện hiện thực phủ phàng tất cả đều nằm trong tầm tuyệt

vọng không thể nào với tới

+ Tổ 3: Đại từ “Ai” phiếm chỉ không rõ ràng xuất hiện từ đầu bài thơ đến cuối bài

thơ “vườn ai”, “thuyền ai”, “ai biết tình ai”, dù ai này là tác giả hay là người thôn

Vĩ chúng ta cũng thấy được rằng nó xuất hiện như một mạch ngầm làm cho tứ thơchặt chẽ, ý thơ liền mạch và nó thể hiên tâm tư tình cảm của nhà thơ

+ Tổ 4: Ở đây câu hỏi tu từ mang hai sắc thái trái ngược nhau:

 Có thể đó là câu hỏi hoài nghi băn khoăn: không biết tình cảm của người Huế

có đậm đà hay không

 Khẳng định tình cảm nhớ nhung sâu sắc của tác giả với thiên nhiên và conngười thôn Vĩ

Chúng ta thấy ở khổ thơ cuối cùng này hình ảnh trở nên hư ảo hơn Nhưng mà dù

hư ảo hay hiện thực thì chúng ta vẫn cảm nhận được tuy tâm trạng hoài nghi mặccảm và đau thương nhưng vẫn thiết tha đối với cuộc sống, vẫn hướng về cuộc đời

Trang 6

Thiên nhiên Tươi sáng, tràn sứcsống Ảm đạm, lạnh lẽo Hư ảo, mờ nhòe

Tâm trạng Hi vọng, nhớ mong Mong chờ khắckhoải Hoài nghi

- Mắc phải căn bệnh nan y quái ác

nhiều khi đau đớn điên cuồng cả thể

xác lẫn tâm hồn, phải sống cách ly khi

đang tràn trề nhựa sống đã khiến thơ

ông trở nên ma quái, quằn quại

- Hoàng Cúc là ai? Năm 1932 khi

đang làm ở sở Đạc Điền, ông có thầm

thương trộm nhớ một thiếu nữ tên

Hoàng Thị Kim Cúc, nhưng mộng ước

không thành Người yêu theo chồng ra

Huế sống Buồn tình, năm 1935 HMT

xin thôi việc vào Sài Gòn viết báo, đến

khi ông trở về Quy Nhơn để điều trị

bệnh thì Hoàng Cúc biết ông mắc

bênh hiểm nghèo bà đã gửi cho ông

một tấm bưu thiếp để thăm hỏi sức

khỏe Trong tấm bưu thiếp có in hình

cô gái chèo đò trên dòng Hương

Giang và những lá trúc mảnh mai

thanh tú, kèm với những lời động viên

thăm hỏi của Hoàng Cúc đã tạo nên

nguồn cảm xúc dạt dào cho nhà thơ đã

viết tác phẩm Đây thôn Vĩ Dạ.

- Đọc 3 khổ thơ và đoán nội dung từng

“ngôi sao chổi trên bầu trời thơ Việt Nam”

+ Khổ 3: Nỗi niềm thôn Vĩ

II ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

1 Khổ 1: Cảnh ban mai thôn Vĩ và tình người tha thiết.

- Câu hỏi tu từ:

+ Trách móc nhẹ nhàng

Trang 7

- Liệt kê các thủ pháp nghệ thuật?

- Câu thơ đầu, thuộc loại câu gì? là

câu hỏi của ai? Tại sao?

Câu hỏi tu từ, mở ra nhiều sắc thái:

+ Là câu hỏi nhưng gợi cảm giác như

lời trách móc nhẹ nhàng, lời mời gọi

tha thiết của cô gái thôn Vĩ với nhà

thơ

+ Lời nhà thơ tự trách mình, tự hỏi

mình  ao ước thầm kín của người đi

xa mong được về lại Thôn Vĩ

- Tại sao tác giả dùng từ “về chơi” mà

- Như thế nào là Nắng mới lên?

+ Là nắng lúc sáng sớm Từ “mới”

tô đậm sự trong trẻo, tinh khiết của

tia nắng đầu tiên trong ngày

+ Điệp từ “nắng”: nhấn mạnh, gợi

tả đặc điểm của miền Trung, miền

trung nắng nhiều và ánh nắng gay

gắt chói chang ngay từ lúc bình

minh Không những thế điệp từ này

còn diễn tả bước đi của nắng khiến

cho câu thơ ngập tràn trong sắc

nắng

- Sự so sánh này xuất phát từ hình

ảnh của những giọt sương đêm còn

đọng trên cây cỏ hoa lá tạo nên một

màu xanh ngọc bích, thanh tân, ngọt

ngào, trong suốt đẹp như một viên

+ Lời mời gọi thiết tha, ân cần

- Điệp từ “nắng”: nhấn mạnh, cái nắng đặc

trưng, diễn tả bước đi của nắng

- So sánh xanh như ngọc: giọt sương đêm

còn đọng trên cây cỏ hoa lá

- Tính từ mướt quá: sự mượt mà, mơn mởn

tươi non

Câu thơ vẽ nên một bức tranh thiên nhiên ở thôn Vĩ lúc sáng sớm vừa hữu tình ngời sáng, vừa tràn đầy nhựa sống.

- Hình ảnh Lá trúc che ngang mặt chữ điền:

Trang 8

ngọc

- Tính từ “mướt” (hàm chứa ý nghĩa

của từ ướt _ láng bóng)  cực tả

được sự căng đầy sức sống, mơn

mởn tươi non của cây lá trong

vườn Còn thán từ “quá” thể hiện

thái độ ngạc nhiên trầm trồ của tác

giả trước một khung cảnh lộng lẫy

của khu vườn

- Trong khu vườn xinh đẹp ấy thấp

khá nhiều tranh cãi Bởi vì có người

cho rằng Đó là khuôn mặt của cô

gái thôn Vĩ Đó là khuôn mặt của

chàng trai thôn Vĩ Khuôn mặt của

chủ thể trữ tình Khuôn cửa sổ

vuông

 “mặt chữ điền” dù là ai đi nữa nói

chung đều diễn tả nét hiền lành phúc

hậu của con người, ẩn nấp phía sau

“lá trúc che ngang” - gợi nét đẹp kín

đáo e lệ

- Chuyển ý: khao khát đau đớn Bởi

vì sao, vì đây là khát khao không

thể nào với tới, do khát khao không

thể với tới ấy cho nên đến khổ thơ

thứ hai không còn những hình ảnh

đẹp đẽ, tinh khôi dịu dàng như thế

này nữa mà hình ảnh trở nên hư ảo

- Tìm những thủ pháp nghệ thuật được

gợi vẻ đẹp, phúc hậu, kín đáo, e lệ

 Tình yêu thiên nhiên và con người tha thiết của nhà thơ Khát vọng sống mãnh liệt.

2 Khổ 2: Cảnh đêm trăng thôn Vĩ và niềm đau cô lẻ, chia lìa.

- Ẩn dụ trong phép tiểu đối "gió theo lối gió"

>< "mây đường mây"

- Cách ngắt nhịp 4/3 rõ ràng, dứt khoát

 gợi sự chia lìa, cách trở

- Nhân hóa Dòng nước buồn thiu + động từ lay: nỗi buồn man mác, hiu hắt trong tâm tư

nhà thơ

Trang 9

sử dụng trong khổ thơ này?

Thuyền – nước Gió – mây

chuyển động ngược

chiều

- Vì sao nhà thơ lại nhìn thấy sự chia

lìa trong những sự vật không thể chia

lìa?

Các em hãy nhớ lại bài thơ Tràng

Giang, nhà thơ Huy Cận cũng nhìn

thấy điều này “thuyền – nước” Từ

xưa thuyến và nước luôn luôn đi liền

với nhau nhưng chính sự ám ảnh của

một nỗi buồn vong quốc đã khiến Huy

Cận nhìn thấy sự tan tác chia lìa trong

những sự vật không thể chia lìa Còn ở

đây, Mặc Tử bị ám ảnh bởi điều gì mà

nhà thơ nhìn thấy sự tan tác trong gió

và mây? Đọc về cuộc đời của nhà thơ

và đã tìm hiểu về khổ thơ thứ nhất thì

chúng ta cũng cảm nhận được rõ ràng

cái mà Mặc Tử đang đeo mang chính

là nỗi ám ảnh về 1 cuộc chia li vĩnh

viễn với cuộc đời cho nên nhìn đâu tác

giả cũng nhìn thấy sự tan tác chia xa

- Động từ “lay”: chuyển động rất nhẹ,

rất khẽ…

- Nỗi buồn này gợi ta nhớ đến nỗi

buồn quen thuộc mang hơi hướng

thơ ca dân gian:

“Ai về giồng nứa qua truông

Gió lay bông sậy bỏ buồn cho em.”

- Đến hai câu thơ sau, cảnh sông nước

được miêu tả gắn liền với hình tượng

trăng?

“trăng” = tri kỉ =, đi vào thơ HMT =

trăng trải dài trong sự nghiệp sáng tác

- Hình ảnh sông trăng, bến trăng, thuyền

trăng  không khí mơ hồ, huyền ảo

- Câu hỏi tu từ + từ kịp:

+ Chờ đợi, khắc khoải

+ Ám ảnh thời gian+ Nỗi đau thân phận

 Khổ thơ thứ hai đã vẽ nên một bức tranh sông Hương huyền ảo, phảng phất tâm trạng u buồn, cô đơn, khắc khoải chờ đợi và khát khao hạnh phúc cháy bỏng của nhà thơ.

3 Khổ 3: Nỗi niềm thôn Vĩ.

Trang 10

của tác giả:

“Hôm nay có một nửa trăng thôi,

Một nửa trăng ai cắn vỡ rồi!”

Sông trở thành sông trăng, bến trở

Đợi chờ  chờ cái gì  cô đơn

Ngay lúc này, sống cách ly với thế

giới bên ngoài + mọi người xa lánh, tư

tưởng sai lần: bệnh phong có thể lây

nhiễm  Trăng là bạn, là tri kỉ

? Đó là tâm trạng chờ đợi như thế nào

Chờ đợi phấp phỏng lo âu  “kịp” 

đang bị ám ảnh bởi thời gian = lúc này

quỹ thời gian sống trên đời này không

còn nhiều nữa, cho nên thi nhân đợi

chờ, muốn níu kéo thời gian, mà

không biết thời gian có cho phép hay

không Chữ “kịp”  nỗi đau: nỗi đau

của 1 thân phận, 1 thân phận giàu

khao khát giàu yêu thương nhưng cuối

cùng phải xa lìa cuộc đời

? Bức tranh thiên nhiên ở khổ thơ này

có gì khác biệt so với khổ thơ đầu?

-GV chuyển ý: Dù nhà thơ luôn chìm

đắm trong tận cùng của nỗi cô đơn

nhưng chúng ta vẫn cảm nhận được

trong tâm tư của nhà thơ vẫn hướng về

cuộc đời, vẫn hướng về con người và

tất cả những điều đó sẽ được nhà thơ

thể hiện ở khổ thơ cuối cùng

- Điệp ngữ: "khách đường xa - khách đường xa":

+ Làm tăng nhịp độ cảm xúc: chậm, buồn

 nhanh gấp

+ Khát khao hòa mình với cuộc đời

+ Miêu tả tăng tiến “Áo em > trắng quá > nhìn không ra”: lột tả vẻ đẹp tinh khiết của

từ phiếm chỉ “em”, vừa thể hiện hiện thực

phủ phàng

Trang 11

? Chia lớp thành 4 nhóm:

+ Tổ 1: Trong khổ thơ cuối này tác

giả đã sử dụng thủ pháp nghệ thuật

gì? Nêu tác dụng của nó? Và hãy

cho biết “Khách đường xa” được

nhắc đến trong khổ thơ là ai?

+ Tổ 2: Cụm từ “Trắng quá” gợi

cho em cảm giác gì? Đại từ phiếm

chỉ “Em” là để chỉ ai?

+ Tổ 3: Em hiểu như thế nào là

“sương khói mờ nhân ảnh”? Đại từ

phiếm chỉ “ai” là để chỉ đối tượng

nào?

+ Tổ 4: Câu hỏi tu từ “Ai biết tình

ai có đậm đà” cho ta thấy tâm trạng

gì của tác giả?

-GV bình giảng:

+ Tổ 1: Khách đường xa: vừa là chính

nhà thơ, vừa là một người lạ nào đó,

có thể là nhà thơ đang mong ước được

gặp người tri kỉ  nỗi khát khao hòa

mình với cuộc đời

+ Tổ 2: Ở đây cô lưu ý các em, màu

trắng là 1 màu thường trực trong thơ

Hàn, HMT có màu nắng trắng, màu

trăng trắng, màu áo trắng, màu sông

trắng Trong bài Mùa xuân chín nhà

thơ có viết:

"Chị ấy, năm nay còn gánh thóc

Dọc bờ sông trắng nắng chang

chang?"

Nghệ thuật tăng tiến đã lột tả một màu

trắng đầy ám ảnh, gợi cảm giác làm

lóa mắt người đối diện đến mức nhìn

không ra Nhưng nếu hiểu như vậy là

chúng ta hoàn toàn chưa hiểu được

- Đại từ phiếm chỉ “Ai”: tứ thơ chặt chẽ, ý

thơ liền mạch

- Câu hỏi tu từ “Ai biết… có đậm đà?”:

 Hoài nghi băn khoăn

 Khẳng định tình cảm của tác giả

 Hoài nghi >< thiết tha với cuộc sống, con người

Khổ 1

Khổ 2

Khổ 3

TG Sáng Đêm

Tâmtưởng

Trang 12

những điều HMT muốn gửi gắm

Và ở đây màu áo trắng đến nổi ám

ảnh trong tâm hồn của nhà thơ đó là

màu áo trắng của ai? Nhiều nhà

nghiên cứu cho rằng, trong khi trị

bệnh trong trại phong Quy Hòa được

sự chăm sóc của các ma sơ, nhà thơ

cảm thấy họ là những hình tượng rất

đẹp và màu áo trắng họ mặc nó ám

ảnh ở trong tâm hồn của nhà thơ Đây

cũng là một cách để lý giải Từ “em” ở

đây là môt từ phiếm chỉ, không rõ

ràng, có thể “em” này là cô Kim Cúc,

“em” này có thể là cô Mộng Cầm

cũng có thể là cô Mai Đình cũng có

thể là cô Ngọc Sương (những người

tình trong thơ) cũng có thể là một cô

em gái nào đó của cuộc đời Dù “em”

là ai chúng ta cũng có thể thấy 1 điều,

dường như trong thơ HMT hình ảnh

của những người con gái, nhất là con

gái Huế luôn gắn liền với 1 cái gì đó

đẹp, thanh xuân, thanh khiết:

Trong làn nắng ửng khói mơ tan,

Đôi mái nhà tranh lấm tấm vàng

Sột soạt gió trêu tà áo biếc,

Trên giàn thiên lý - Bóng xuân sang.

Như vậy, cũng có thể hiểu nhà thơ

muốn dùng sắc áo trắng này để gợi tả

vẻ đẹp tinh khiết đó Và các em lưu ý

“em” này dù là ai đi nữa thì tất cả

cũng chỉ là ảo ảnh, là hoài niệm xa

xôi, thực tế nhà thơ không thể nhìn

thấy, không thể với tới được Cho nên

nỗi tuyệt vọng đó đã được nhà thơ lột

tả bằng 1 câu thơ “Áo em trắng quá

nhìn không ra” Tóm lại, câu thơ này

vừa lột gợi tả vẻ đẹp tinh khiết của từ

phiếm chỉ “em” vừa thể hiện hiện thực

phủ phàng tất cả đều nằm trong tầm

KG Thực

Thự

c ảo

-Mộng

Thi ên nhiê n

Tươisáng,trànsứcsống

Ảmđạm,lạnhlẽo

Hưảo,mờnhòe

Tâ m trạn g

Hivọng,nhớmong

Mongchờkhắckhoải

Hoàinghi

III TỔNG KẾT

1 Nghệ thuật:

- Trí tưởng tượng phong phú

- Nghệ thuật so sánh, nhân hóa, thủ pháp lấyđộng gợi tĩnh, sử dụng câu hỏi tu từ, …

- Hình ảnh sáng tạo, hòa quyện giữa thực vàảo

2 Ý nghĩa văn bản:

- Bức tranh phong cảnh Vĩ Dạ và lòng yêuđời, ham sống mãnh liệt mà tâm trạng đầyuẩn khúc của nhà thơ

Trang 13

tuyệt vọng không thể nào với tới.

+ Tổ 3: Đại từ “Ai” phiếm chỉ không

rõ ràng xuất hiện từ đầu bài thơ đến

cuối bài thơ “vườn ai”, “thuyền ai”,

“ai biết tình ai”, dù ai này là tác giả

hay là người thôn Vĩ chúng ta cũngthấy được rằng nó xuất hiện như mộtmạch ngầm làm cho tứ thơ chặt chẽ, ýthơ liền mạch và nó thể hiên tâm tưtình cảm của nhà thơ

+ Tổ 4: Ở đây câu hỏi tu từ mang hai

sắc thái trái ngược nhau:

 Có thể đó là câu hỏi hoài nghibăn khoăn: không biết tình cảmcủa người Huế có đậm đà haykhông

 Khẳng định tình cảm nhớ nhungsâu sắc của tác giả với thiênnhiên và con người thôn Vĩ.Chúng ta thấy ở khổ thơ cuối cùng nàyhình ảnh trở nên hư ảo hơn Nhưng mà

dù hư ảo hay hiện thực thì chúng tavẫn cảm nhận được tuy tâm trạnghoài nghi mặc cảm và đau thươngnhưng vẫn thiết tha đối với cuộc sống,vẫn hướng về cuộc đời và con người

? Trước khi bước sang phần tổng kếtbài học cô mời một bạn điền vào bản

Kết cấu mạch thơ:

Hoạt động 4: Hướng dẫn HS tổng kết

- Tổng kết lại nghệ thuật đặc sắc đã sử

Trang 14

dụng trong bài thơ và gọi HS phát biểu

ý nghĩa văn bản

Trang 15

*Dẫn vào bài mới

Nhạc sĩ Trần Thiện Thanh lúc nhỏ đã cùng bạn bè dạo chơi ở những nơi mà ngàyxưa thi sĩ Hàn Mặc Tử và Mộng Cầm từng in dấu Nên ông đã viết:

“Đường lên dốc đá nửa đêm trăng tà nhớ câu chuyện xưa

Lầu ông Hoàng đó thuở nào chân

Hàn Mặc Tử đã qua “

Hàn Mặc Tử vốn có rất nhiều người yêu và cũng có rất nhiều độc giả yêu thơ của

chàng, viết thư làm quen Trong số đó có Mộng Cầm – mối tình đầu

“Tình yêu vừa chớm xót thương cho chàng cuộc sống phế nhân “

Không rõ vì lý do gì mà HMT bị bịnh phong Tuy vẫn thơ từ qua lại, nhưng MộngCầm lãng tránh dần thi sĩ, ít khi hò hẹn với nhau Tử cũng âm thầm chạy chửa không thuyên giảm

Trong lúc cô đơn, tuyệt vọng chán chường, thi sĩ lại nhận được tin Mộng Cầm đilấy chồng  đau khổ hơn Thấy vậy, Bích Khê giới thiệu cho chàng làm quen với

người chị là Ngọc Sương (tức là dì ruột của Mộng Cầm)  Đây chỉ là một mối tình

đơn phương

Lúc đó, lại có nữ thi sĩ Mai Đình yêu HMT tha thiết, tình nguyện đến ở bên chàng

săn sóc, lo thuốc men Nhưng thi sĩ đã từ chối và chỉ tiếp chuyện với cô được vàilần, rồi tuyệt giao

Gần cuối năm 1940  vào trại phong điều trị, chàng vẫn không thôi thương nhớMộng Cầm, thấy vậy bạn thân của Tử là Trần Thanh Địch đã viết thư giả làm

người hâm mộ thơ chàng lấy tên là Thương Thương - đã làm cho HMT cảm động,

như tìm được tình yêu trong mộng Đến khi biết rằng Thương Thương không cóthực mà chỉ là sự an ủi của bạn bè “bóng mộng tình yêu” tan vỡ

Có thể nói, Hàn Mạc Tử được biết đến với nhiều mối tình, đã để lại nhiều dấu ấn

trong văn thơ của ông – trong đó, ấn tượng nhất là bài thơ Đây Thôn Vĩ Dạ, bài

thơ được gợi cảm hứng từ mối tình của Hàn Mặc Tử với một cô gái vốn quê ở thôn

Vĩ Để biết cô gái ấy là ai và bài thơ chất chứa tình cảm gì của tác giả

Xa lạ, lâu lâu ghé thăm hỏi một chút rồi đi  xả giao, khách sáo

Ngày đăng: 11/12/2019, 20:59

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w