4.2.2 Đối với môi trườngNguy cơ thứ nhất là việc cây trồng BĐG mang các gen kháng thuốc trừ cỏ có thể thụ phấn với các cây dại cùng loài hay có họ hang gần gũi, làm lây lan gen kháng thuốc diệt cỏ trong quần thể thực vật. Nguy cơ thứ hai là việc trồng cây trồng BĐG mang tính chọn lọc như kháng sâu, bệnh, kháng thuốc trừ cỏ…phát triển tràn lan sẽ làm mất cân bằng hệ sinh thái và làm giảm tính ĐDSH của loài cây được chuyển gen. Nguy cơ thứ ba là việc có khả năng chuyển gen lạ từ cây trồng BĐG vào các vi sinh vật trong đất.Những rủi ro, không an toàn của GMC: Ảnh hưởng đến các sinh vật có ích trong môi trường. Khả năng phát tán ngoài ý muốn Ảnh hưởng đến sự cân bằng sinh thái và đa dạng sinh học Sự tồn tại trong môi trường lâu hơn bình thường hoặc xâm chiếm những nơi cư ngụ mới. Ảnh hưởng tới sức khoẻ con người và động vật Tạo ra những loại sinh vật mới không mong muốn như côn trùng, vi sinh vật, cỏ dại…Chương trình AGENDA 21 được thông qua vào năm 1992 tại Hội nghị thượng đỉnh về môi trường toàn cầu khẳng định: CNSH nói chung, công nghệ BĐG và ứng dụng các sản phẩm BĐG trên thế giới cần phát triển nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân nhưng phải lưu ý rằng các kỹ thuật mới không được phá vỡ tính tổng hoà về môi trường hoặc không được làm tăng thêm các mối đe doạ cho sức khoẻ.CHƯƠNG 55 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ SINH VẬT BIẾN ĐỔI GEN5.1 Các chính sách quản lý trong nướcQuản lý nhà nước về an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen:1. Xây dựng, ban hành chiến lược, cơ chế, chính sách, kế hoạch và các văn bản quy phạm pháp luật về an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen;2. Xây dựng và phát triển hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu về an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen;3. Thẩm định việc đăng ký khảo nghiệm, phóng thích, sản xuất, kinh doanh, sử dụng, xuất khẩu, nhập khẩu, lưu giữ, vận chuyển các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen; cấp, thu hồi giấy chứng nhận, giấy phép có liên quan tới an toàn sinh học của các đối tượng trên;4. Đào tạo, tuyên truyền, giáo dục để nâng cao nhận thức cho tổ chức, cá nhân về an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen;5. Hợp tác quốc tế, tham gia thực hiện các điều ước quốc tế có liên quan đến các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen;6. Thanh tra, kiểm tra việc tuân thủ và thực hiện các quy định của pháp luật về an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen.5.2 Quy định của một số tổ chức có liên quanNhiệm vụ của Bộ Tài nguyên và Môi trường:1. Là cơ quan đầu mối của Chính phủ về quản lý an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen, có nhiệm vụ giúp Chính phủ thực hiện thống nhất việc quản lý nhà nước về an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen trên phạm vi cả nước;2. Xây dựng trình ban hành hoặc ban hành theo thẩm quyền các chiến lược, cơ chế, chính sách, kế hoạch, văn bản quy phạm pháp luật về an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen;3. Tổ chức và chỉ đạo sự phối hợp hoạt động giữa các cơ quan có liên quan trong việc thực hiện các nhiệm vụ quản lý nhà nước về an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen;4. Phối hợp với các Bộ, ngành có liên quan để đào tạo, tuyên truyền, giáo dục nhằm nâng cao nhận thức cho tổ chức, cá nhân về an toàn sinh học đối với các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen;5. Tiếp nhận, xử lý thông tin, dữ liệu về các sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen do các Bộ quản lý ngành, lĩnh vực và tổ chức, cá nhân có liên quan cung cấp; xây dựng, phát triển hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu về an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen; sản phẩm, hàng hoá có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen; làm đầu mối tham gia cơ chế trao đổi thông tin với
Trang 1MỤC LỤC
Trang 1
1 GIỚI THIỆU 4
1.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI 4
1.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU 5
1.2.1 Mục tiêu chung 5
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 5
1.3 PHẠM VI NGHIÊN CỨU 5
1.3.1 Phạm vi không gian 5
1.3.2 Phạm vi thời gian 5
2 CƠ SỞ LÝ LUẬN 6
2.1 Khái quát về sinh vật biến đổi gen 6
2.1.1 Khái niệm, đặc điểm, tính chất và vai trò về sinh vật biến đổi gen 6
2.1.1.1 Lịch sử ra đời và nguồn gốc 7
2.1.1.2 An toàn sinh học và quản lý sinh vật biến đổi gen 8
2.1.1 Tình hình phát triển sinh vật biến đổi gen ở thế giới 10
2.1.2 Tình hình phát triển sinh vật biến đổi gen ở Việt Nam 11
2.2 Phương pháp nghiên cứu 12
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 12
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu 12
3 THỰC TRẠNG CỦA SINH VẬT BIẾN ĐỔI GEN TRONG NƯỚC VÀ THẾ GIỚI 13
3.1 THỰC TRẠNG CỦA SINH VẬT BIẾN ĐỔI GEN THẾ GIỚI 13
3.1.1 Hiện trạng sử dụng cây trồng biến đổi gen 13
3.1.2 Hiện trạng sử dụng động vật biến đổi gen 16
Trang 23.1.3 Hiện trạng sử dụng vi sinh vật biến đổi gen 18
3.2 THỰC TRẠNG CỦA SINH VẬT BIẾN ĐỔI GEN TRONG NƯỚC 19
3.2.1 Hiện trạng sử dụng cây trồng biến đổi gen 20
3.2.1.1 Chủ trương của Việt Nam về giống cây trồng biến đổi gen 20
3.2.1.2 Thực trạng cây trồng biến đổi gen 21
3.2.2 Hiện trạng sử dụng động vật biến đổi gen 22
3.2.3 Hiện trạng sử dụng vi sinh vật biến đổi gen 23
4 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỨC KHỎE CON NGƯỜI, ĐỘNG VẬT, CÁC QUÁ TRÌNH SINH ĐỊA HÓA 25
4.1 Các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe con người và động vật 25
4.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến các quá trình sinh địa hóa 26
4.2.1 Đối với đa dạng sinh học 26
4.2.2 Đối với môi trường 26
5 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ SINH VẬT BIẾN ĐỔI GEN 27
5.1 Các chính sách quản lý trong nước 27
5.2 Quy định của một số tổ chức có liên quan 28
5.3 Những thành công từ chính sách quản lý hợp lý 32
6 KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 32
6.1 Kết luận 32
DANH MỤC BẢNG
Trang 3CHƯƠNG 1
1 GIỚI THIỆU
Trang 41.1 LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Kỹ thuật biến đổi gen là cuộc cách mạng khoa học đã và đang được ápdụng cho y học, dược học, nông nghiệp, trước cuộc cách mạng khoa học kỹthuật công nghệ biến đổi sinh vật con người luôn đặt vấn đề nó có hại hay lợi,
đó là vấn đề tranh luận bình thường, lành mạnh trong các chế độ dân chủ, bất
cứ khám phá, phát minh khoa học nào đều có hai mặt tốt hay xấu Khoa họcbiến đổi gen theo quy luật nếu con người biết áp dụng trong thực tiễn cho đờisống xã hội thì kỹ thuật ngày càng phát triển và phục vụ cho nhân loại cònngược lại sẽ những thực phẩm độc hại giết con người như vậy Chính phủ, cơquan thẩm quyền liên quốc có nhiệm vụ quản lý chặt chẽ và phải có luật lệđiều hành để tránh lạm dụng khoa học, vì khoa học còn non trẻ, chỉ mới 20năm nay nên còn nhiều vấn đề cần khám phá và áp dụng, Việt Nam đang mởrộng nghiên cứu dành cho các nhà khoa học để thúc đẩy tình hình phát triểncho các kinh tế trên đất nước Nhưng chúng ta gần như hoàn toàn chưa có kinhnghiệm trong lĩnh vực này
Tuy nhiên, nếu nắm vững bản chất khoa học của sinh vật biến đổi gen vàtận dụng các ưu thế nói của nó thì nhược điểm này không đáng lo ngại, vìtrong trường hợp cực đoan nhất ta vẫn có thể áp dụng kinh nghiệm của cácnước khác đó là không cần xây dựng các quy chế quản lý chặt chẽ sinh vậtbiến đổi gen, miễn là thực phẩm biến đổi gen được chứng minh là an toàn vàgiao cho Bộ Thương mại chịu trách nhiệm giám sát các vấn đề xuất nhập sảnphẩm Hiện nay Việt Nam thiếu đội ngũ chuyên gia có kinh nghiệm và cán bộ
kỹ thuật được đào tạo trong lĩnh vực công nghệ sinh học nói chung và an toànsinh học nói riêng Nhược điểm này sẽ được khắc phục nếu chúng ta biết tậndụng nhân lực sẵn có và tranh thủ các khóa đào tạo ngắn hạn quốc tế ViệtNam đang xây dựng quy chế quản lý an toàn các sinh vật biến đổi gen và cácsản phẩm của chúng Cần ủng hộ sinh vật biến đổi gen vì đó là thành tựu lớnnhất mà loài người có được trong suốt lịch sử phát triển sinh học Các thànhtựu sẽ giúp nhiều nước giải quyết đói nghèo Vấn đề đặt ra là quản lý các sinhvật biến đổi gen này như thế nào?
Vì vậy nhóm chúng tôi chọn đề tài: “Phân tích thực trạng, đưa ra giải pháp để quản lý và phát triển sinh vật biến đổi gen trên thế giới” Do tài
liệu điều tra cơ bản, các số liệu điều tra chưa đủ Mặt khác, do không có nhiềuthời gian để thực hiện nên tôi đã gặp nhiều khó khăn, thiếu sót, có nhiều vấn
đề chưa giải quyết được, tôi hy vọng có nhiều ý kiến đóng góp để đề tài hoànchỉnh hơn
Trang 51.2 MỤC TIÊU NGHIÊN CỨU
1.2.1 Mục tiêu chung
Phân tích thực trạng và đưa ra giải pháp quản lý sinh vật biến đổi gentrên thế giới
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Phân tích thực trạng của sinh vật biến đổi gen trong nước và thế giới
Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sức khỏe con người, động vật, cácquá trình sinh địa hóa
Đưa ra giải pháp quản lý sinh vật biến đổi gen nhằm nâng cao chấtlượng công nghệ và phục vụ cho nhân loại
Trang 62.1 Khái quát về sinh vật biến đổi gen
2.1.1 Khái niệm, đặc điểm, tính chất và vai trò về sinh vật biến đổi gen
a Khái niệm biến đổi gen:
GMO (Genetically Modified Organism): sinh vật biến đổi gen, là một
sinh vật mà vật liệu di truyền của nó đã bị biến đổi theo ý muốn chủ quancủa con người Ngoài ra cũng có thể có những sinh vật được tạo ra do quátrình lan truyền của gen trong tự nhiên
b Đặc diểm và tính chất
Vật liệu di truyền của nó đã bị biến đổi theo ý muốn của con người.Ngoài ra cũng có thể có những sinh vật được tạo ra do quá trính lantruyền của gen tự nhiên Ví dụ: quá trình lai xa giữa cỏ dại với cây trồng biếnđổi gen có cùng họ hàng có thể tạo ra loài cỏ dại mang gen biến đổi
Sinh vật biến đổi gen có nhiều loại khác nhau
c Vai trò của sinh vật biến đổi gen
Sinh vật biến đổi gen được tạo ra nhằm phục vụ cho lợi ích của conngười, vậy vai trò của sinh vật biến đổi gen vô cùng đa dạng, mỗi sinh vật biếnđổi gen có vai trò khác nhau, có thể khái quát chung vai trò của sinh vật biếnđổi gen:
Thực phẩm biến đổi gen cải thiện được chất lượng thực phẩm, làm tănggiá trị dinh dưỡng hoặc những tính trạng thích hợp cho công nghệ chế biến,chống chịu được thời tiết khắc nghiệt và có khả năng kháng được nhiều loạisâu bệnh góp phần tăng năng suất cây trồng
Sinh vật biên đổi gen dùng cho y - dược và nguyên cứu: Các nhà khoahọc nghiên cứu phát hiện những phương pháp chữa bệnh hiệu quả đồng thờithử nghiệm để giảm bớt hậu quả bệnh tật
Sinh vật biến đổi gen đối với bảo vệ môi trường: cũng có hiệu quả
2.1.1.1 Lịch sử ra đời và nguồn gốc
Việc thử nghiệm ngoài đồng đầu tiên là cây thuốc lá biến đổi gen khángthuốc diệt cỏ, được tiến hành ở Mỹ và Pháp vào năm 1986 Cây trồng biến đổigen được bắt đầu trồng thương mại đại trà từ năm 1996 Tuy nhiên, đến nay,các sản phẩm có nguồn gốc từ sinh vật biến đổi gen (thực phẩm biến đổi gen)đang là cuộc tranh luận toàn cầu về những nguy cơ tiềm tàng của chúng để đitới những giải pháp bảo đảm an toàn cho cây trồng biến đổi gen
Trang 7Trong khi Hoa Kỳ, Canađa và các nước đang phát triển tại châu Phi,châu Mỹ Latinh, châu Á ủng hộ việc sử dụng cây trồng biến đổi gen(Genetically Modified Crop - GMC) thì châu Âu lại rất dè dặt cấp phép choviệc gieo trồng GMC cũng như lưu hành thực phẩm có nguồn gốc từ GMCtrên thị trường.
Các nhà khoa học trên thế giới tỏ ra e ngại khả năng gây dị ứng, làmnhờn kháng sinh, có thể tạo ra độc tố và gây độc cho cơ thể lâu dài mà thựcphẩm biến đổi gen gây ra Ở Liên minh châu Âu (EU), trừ Ba Lan và một sốnước, hầu hết các thành viên còn lại đều không nhập thực phẩm biến đổi gen.Còn ở Ấn Độ, nước đã cho phép trồng GMC, nhưng đến nay vẫn còn rất nhiều
ý kiến tranh cãi
Để có cơ sở phân tích, đánh giá lợi, hại của GMO, giúp các nhà hoạchđịnh chính sách định hướng phát triển an toàn sinh học đối với GMO, cần phảixem xét, đánh giá những lợi ích, tác hại tiềm tàng của GMO, hiện trạng và xuhướng phát triển và sử dụng GMO cũng như những chính sách quản lý chúng
ở các nước, đặc biệt là EU
2.1.1.2 An toàn sinh học và quản lý sinh vật biến đổi gen
a An toàn sinh học
Cũng như các công nghệ mới có lịch sử sử dụng tương đối ngắn, việcxác định và quản lý các rủi ro có nguồn gốc từ công nghệ sinh học hiện đại làhết sức cần thiết để bảo vệ an toàn cho con người và môi trường An toàn sinhhọc có thể được hiểu theo nghĩa rộng là đảm bảo an toàn trong các lĩnh vựchoạt động có liên quan đến việc ứng dụng công nghệ sinh học Theo nghĩahẹp, an toàn sinh học chỉ liên quan đến GMO - sản phẩm của công nghệ DNAtái tổ hợp
Hiện nay, ở quy mô toàn cầu, các thỏa thuận quốc tế liên quan đến antoàn sinh học bao gồm Công ước Đa dạng sinh học (ConventionalonBiodiversity – CBD) và Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học(Cartagena Protocol on Biosafety - CPB)
Công ước Đa dạng sinh học
Công ước Đa dạng sinh học được hoàn thiện tại Nairobi vào tháng5/1992 và được đưa ra cho các quốc gia xem xét ký kết trong Hội nghị củaLiên hợp Quốc về Môi trường và Phát triển tại Rio de Janeiro ngày 5/6/1992.Hiện nay, Công ước là công cụ quốc tế chính được dùng để giải quyết các vấn
đề liên quan đến đa dạng sinh học nhằm thực hiện ba mục tiêu chính: (1) Bảotồn đa dạng sinh học; (2) Sử dụng bền vững tài nguyên thiên nhiên; (3) Chia
Trang 8sẻ lợi ích công bằng và bình đẳng các lợi ích của việc sử dụng tài nguyên ditruyền Trong Công ước, công nghệ sinh học hiện đại và an toàn sinh họcchính là những vấn đề quan trọng được đề cập tới
Nghị định thư Cartagena về An toàn sinh học
Tại cuộc họp lần thứ hai được tổ chức tháng 11/1995, Hội nghị các bêntham gia Công ước đã thành lập nhóm công tác Ad-hoc mở rộng về An toànsinh học để xây dựng dự thảo Nghị định thư về An toàn sinh học, tập trungchủ yếu vào quản lý vận chuyển xuyên biên giới các sinh vật sống biến đổigen sống (Living Modified Organisms - LMO) tạo ra từ công nghệ sinh họchiện đại, có thể tác động tiêu cực đến bảo tồn và sử dụng bền vững đa dạngsinh học Nội dung quy định của Nghị định thư Cartagena về an toàn sinh họctập trung điều chỉnh các quy định liên quan đến sinh vật biến đổi gen tồn tại ởdạng sống thay vì GMO nói chung – sinh vật biến đổi gen có thể tồn tại ởdạng sống hay không sống Mặc dù đều là những sinh vật có mang vật liệu ditruyền tái tổ hợp, nhưng không phải mọi GMO đều là LMO, trong khi tất cảLMO đều là GMO
Sau vài năm thương lượng, Nghị định thư này, với tên gọi là Nghịđịnhthư Cartagena về An toàn sinh học của Công ước Đa dạng sinh học, đãđược hoàn thiện và thông qua tại Montreal, Canada ngày 29/1/2000 trong cuộchọp giữa các bên tham gia Công ước Ngày 11 tháng 9 năm 2003, Nghị địnhthư chính thức có hiệu lực và trở thành một hiệp ước quốc tế về môi trường cótính ràng buộc về pháp lý nhằm góp phần đảm bảo mức độ bảo vệ thỏa đángtrong quá trình vận chuyển, quá cảnh, xử lý và sử dụng an toàn tất cả LMO tạo
ra từ công nghệ sinh học có thể có các tác động bất lợi đến bảo tồn và sử dụngbền vững đa dạng sinh học, đồng thời quan ngại đến các rủi ro đối với sứckhỏe con người và chú trọng đặc biệt đến vận chuyển xuyên biên giới
Trong Nghị định thư, các nhóm LMO khác nhau được quản lý bao gồm:LMO chủ định giải phóng vào môi trường của Bên tham gia nhập khẩu phảituân theo thủ tục Thỏa thuận Thông báo trước (Advance Informed Agreement– AIA) (ví dụ: đối với các giống dự kiến gieo trồng); LMO sử dụng trực tiếplàm thực phẩm, thức ăn chăn nuôi hay cho chế biến (ví dụ: các giống đậutương sử dụng làm thực phẩm); LMO để sử dụng có kiểm soát trong phòng thínghiệm và nhà kính Nghị định thư đã đưa ra các quy trình thông báo và phêchuẩn nhằm quản lý các nhóm LMO này, trong đó yêu cầu bắt buộc đối vớiBên tham gia xuất khẩu phải có sự đồng ý của cơ quan có thẩm quyền ở Bêntham gia nhập khẩu trước khi vận chuyển LMO xuyên biên giới Bên tham gianhập khẩu phải được cung cấp các thông tin cần thiết (thông tin chi tiết về
Trang 9LMO, các đánh giá rủi ro trước đó của LMO và tình trạng quản lý ở quốc giaxuất khẩu) để có thể đưa ra quyết định Ngoài ra, nhằm bảo đảm tính hiệu quả,Nghị định thư cũng có một số điều khoản “hỗ trợ” bao gồm: xây dựng nănglực, nâng cao nhận thức và tham gia của cộng đồng, cơ chế trao đổi thông tinthông qua Trung tâm Trao đổi Thông tin về An toàn sinh học (BiosafetyClearing House - BCH) cùng một số cơ chế tài chính Các Bên tham gia có thể
áp dụng các quy định quốc giađối với LMO với điều kiện các mục tiêu khôngtrái với mục tiêu của Nghị định thư
b Quản lý sinh vật biến đổi gen
Ở cấp quốc gia, bên cạnh một vài nước sử dụng các quy định hiện có đểquản lý việc nghiên cứu, phát triển, thử nghiệm và giải phóng GMO ra môitrường, thì rất nhiều nước đã ban hành các văn bản pháp luật mới Các quyếtđịnh cấp phép của cơ quan có thẩm quyền ở mỗi quốc gia đối với những hoạtđộng liên quan đến GMO thường được dựa trên kết quả đánh giá rủi ro và kếhoạch quản lý rủi ro Tuy nhiên, giữa các quốc gia không tồn tại một mô hìnhphân tích rủi ro chung Trong khuôn khổ cuốn tài liệu này, chúng tôi tập trungtìm hiểu cách tiếp cận và khung phân tích rủi ro sinh vật biến đổi gen củaAustralia Khung phân tích rủi ro của Australia, ban hành từ năm 2002 và điềuchỉnh tái bản nhiều lần (lần gần đây nhất là năm 2009), được xây dựng nhằmthực hiện các quy định pháp luật về công nghệ gen tại quốc gia này Đặc biệttrong lĩnh vực quản lý sinh vật biến đổi gen và sản phẩm của chúng, Luật phápAustralia quy định áp dụng phân tích rủi ro trong quá trình ra quyết định thôngqua việc chuẩn bị một kế hoạch đánh giá và phân tích rủi ro đối với sinh vậtbiến đổi gen
Về cơ bản, quy trình phân tích rủi ro của Australia được xây dựng dựatrên khung tiêu chuẩn chung của quốc tế, bao gồm các nội dung chính sau: (1)
Mô tả bối cảnh của nguy cơ; (2) Xác định nguy cơ; (3) Đánh giá hậu quả vàkhả năng xảy ra đối với các nguy cơ đã được xác định; và (4) Quản lý rủi ronhằm hạn chế các nguy cơ đã được xác định, có cân nhắc tới các biện phápquản lý và việc ra quyết định Như vậy, việc áp dụng phương pháp tiếp cậntrong quản lý GMO của Australia cùng với hệ thống văn bản pháp luật tươngđối hoàn chỉnh với nhiều văn bản hướng dẫn và hệ thống quản lý đồng bộ sẽthuận lợi cho Việt Nam trong quá trình xây dựng và hoàn thiện hệ thống vănbản pháp luật hiện có và củng cố hệ thống quản lý về an toàn sinh học tại ViệtNam
Trang 102.1.1 Tình hình phát triển sinh vật biến đổi gen ở thế giới
Ở cấp quốc gia, cả nước phát triển như Mỹ, Canada, Ôxtrâylia, châu Âuđều đã có hệ thống pháp lý, quy định về quản lý sinh vật biến đổi gen khá đầy
đủ và hoàn thiện Tuy nhiên, nhiều nước đang phát triển đang trong giai đoạnxây dựng khung pháp lý và thường không có đủ năng lực khoa học cũng nhưnăng lực thực thi để quản lý an toàn sinh học đối với sinh vật biến đổi gen.Các quy định về kỹ thuật di truyền liên quan đến phương pháp tiếp cậnthực hiện bởi chính phủ để đánh giá và quản lý rủi ro liên quan với việc sửdụng công nghệ kỹ thuật di truyền và sự phát triển và phát hành của sinh vậtbiến đổi gen ( GMO) , bao gồm các loại cây trồng biến đổi gen và cá biến đổigen Quy chế có sự khác biệt trong các quy định về GMO giữa các quốc gia ,với một số khác biệt rõ rệt nhất xảy ra giữa Hoa Kỳ và châu Âu Sự khác nhautrong một quốc gia nhất định tùy thuộc vào mục đích sử dụng của các sảnphẩm của kỹ thuật di truyền
Có tranh cãi về GMO , đặc biệt là liên quan đến việc sử dụng chúngtrong sản xuất lương thực Các tranh chấp liên quan đến người tiêu dùng , cáccông ty công nghệ sinh học , cơ quan quản lý nhà nước , các tổ chức phi chínhphủ, và các nhà khoa học Các lĩnh vực chính của tranh cãi liên quan đến thựcphẩm biến đổi gen là liệu thực phẩm biến đổi gen phải được dán nhãn , vai tròcủa cơ quan quản lý nhà nước, tác động của cây trồng biến đổi gen đối với sứckhỏe và môi trường , ảnh hưởng đến sức đề kháng thuốc trừ sâu , tác động củacây trồng chuyển gen cho nông dân, và các vai trò của cây trồng GM trong ăndân số thế giới
Có sự đồng thuận rộng rãi khoa học thực phẩm trên thị trường có nguồngốc từ cây chuyển gien đặt ra rủi ro không lớn hơn thực phẩm thông thường,không có báo cáo về tác động xấu đã được ghi nhận trong cộng đồng người do
ăn thực phẩm biến đổi gen Mặc dù ghi nhãn sản phẩm biến đổi gen trên thịtrường là cần thiết trong nhiều quốc gia, nó là không cần thiết tại Hoa Kỳ vàkhông có sự phân biệt giữa thị trường biến đổi gen và thực phẩm không biếnđổi gen được công nhận bởi FDA Hoa Kỳ
Các nhóm vận động như Greenpeace, dự án không biến đổi gen và Hiệphội Người tiêu dùng hữu cơ nói rằng rủi ro của thực phẩm biến đổi gen chưađược xác định đầy đủ và quản lý và đã đặt câu hỏi về tính khách quan của cơquan quản lý Đối thủ nói rằng thực phẩm có nguồn gốc từ GMOs có thểkhông an toàn và đề nghị nó bị cấm, hoặc ít nhất là có nhãn Họ đã bày tỏ sự
lo ngại về tính khách quan của cơ quan quản lý và tính chính xác của quá trìnhquản lý, về ô nhiễm của các nguồn cung cấp thực phẩm không biến đổi gen ,
Trang 11về tác động của biến đổi gen đối với môi trường và thiên nhiên, và về việccủng cố kiểm soát việc cung cấp thực phẩm trong công ty mà làm và bánGMO.
2.1.2 Tình hình phát triển sinh vật biến đổi gen ở Việt Nam
Công nghệ sinh học là một trong những ngành công nghệ quan trọng củathế kỷ 21 với nhiều ứng dụng trong mọi mặt của đời sống xã hội loài người.Đứng trước xu thế phát triển mạnh mẽ của công nghệ sinh học trên thế giới,Đảng và Nhà nước ta cũng có những chủ trương khẳng định vai trò của pháttriển công nghệ sinh học (CNSH) trong sự nghiệp công nghiệp hóa và hiện đạihóa đất nước Chỉ thị số 50/CT-TW của Ban bí thư Trung ương Đảng đãkhẳng định “công nghệ sinh học có vai trò đặc biệt quan trọng trong sự nghiệpcông nghiệp hóa, hiện đại hóa.”
Tuy nhiên, CNSH là một lĩnh vực còn mới ở Việt Nam Do đó, việcnghiên cứu và ứng dụng GMO mới đang bước những bước đầu tiên trên quátrình phát triển Các nghiên cứu về GMO mới chỉ diễn ra trong quy mô phòngthí nghiệm và tập trung ở một số viện nghiên cứu đầu ngành trong cả nướcthuộc Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam và Bộ Nông nghiệp và Pháttriển nông thôn
Trong đó, tại Viện Khoa học và Công nghệ Việt Nam, các nghiên cứutạo GMO chủ yếu trên đối tượng vi sinh vật, thực vật, động vật và được tiếnhành ở các phòng thí nghiệm của Viện Công nghệ sinh học và Viện Sinh họcNhiệt đới Tại Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, các nghiên cứuthường được tiến hành trên đối tượng thực vật tại Viện Di truyền Nông nghiệp
và Viện Nghiên cứu Lúa đồng bằng sông Cửu Long
Nhìn chung, trong quy trình nghiên cứu tạo các sinh vật biến đổi gen,bước quan trọng đầu tiên được thực hiện nhiều ở Việt Nam là phân lập, tuyểnchọn các gen quý có giá trị ứng dụng cao tiến tới sử dụng để chuyển vào sinhvật nhận nhằm tạo nên những giống lý tưởng
Nhằm thúc đẩy hơn nữa việc nghiên cứu và ứng dụng CNSH (trong đó
có nghiên cứu và ứng dụng GMO), Chính phủ đã ban hành nhiều chươngtrình, đề án về ứng dụng CNSH trong các ngành như: Chương trình trọngđiểm phát triển và ứng dụng CNSH trong lĩnh vực nông nghiệp và phát triểnnông thôn đến năm 2020 (ban hành kèm theo Quyết định số 11/2006/QĐ-TTg); Đề án phát triển và ứng dụng CNSH trong lĩnh vực công nghiệp chếbiến đến năm2020 (ban hành kèm theo Quyết định số 14/2007/QĐ-TTg)…Các chương trình và đềán này chính là những định hướng quan trọng cho việc
Trang 12nghiên cứu và ứng dụngCNSH nói chung và GMO nói riêng trong thời giantới ở Việt Nam.
2.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
Số liệu thứ cấp được thu nhập trên internet, sách, tạp chí và các phươngtiện truyền thông khác
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu
Số liệu được phân tích trên cơ sở chọn lọc, tổng hợp kết hợp phương pháp
so sánh tương đối, tuyệt đối và đưa ra nhận xét, đánh giá
CHƯƠNG 3
VÀ THẾ GIỚI
3.1 THỰC TRẠNG CỦA SINH VẬT BIẾN ĐỔI GEN THẾ GIỚI
3.1.1 Hiện trạng sử dụng cây trồng biến đổi gen
Trong 13 năm, từ 1996 đến 2008, số nước ứng dụng công nghệ biến đổi gen đã lên tới con số 25 - một mốc lịch sử - một làn sóng mới về việc đưa cây trồng biến đổi gen vào canh tác, góp phần vào sự tăng trưởng
Trang 13rộng khắp toàn cầu và gia tăng đáng kể tổng diện tích trồng cây biến đổi gen trên toàn thế giới lên 73,5 lần (từ 1,7 triệu ha năm 1996 lên 125 triệu
ha năm 2008)
Trong năm 2008, tổng diện tích đất trồng cây biến đổi gen trên toàn thế giới từ trước tới nay đã đạt 800 triệu ha Năm 2008, số nước đang phát triển canh tác cây trồng biến đỏi gen đã vượt số nước phát triển trồng loại cây này (15 nước đang phát triển so với 10 nước công nghiệp),
dự đoán xu hướng này sẽ tiếp tục gia tăng trong thời gian tới nâng tổng
số nước ứng dụng công nghệ biến đổi gen lên 40 nước vào năm 2015.
Biểu đồ 3.1: Thể hiện diện tích cây trồng công nghệ sinh học trên toàn cầu
độ phản ứng của các Chính phủ EU rất khác nhau Một số nước châu Âu
đã có quy định cho các sản phẩm biến đổi gen Một cuộc điều tra năm
Trang 142002 cho thấy, 97% người tiêu dùng châu Âu mong muốn các sản phẩm biến đổi gen được dán nhãn rõ ràng, 80% hoàn toàn không thích sản phẩm biến đổi gen.
Tuy nhiên, sau khi 133 nước đã thông qua Nghị định thư Cartagena,
đã xuất hiện một số xu hướng tích cực trong việc phát triển và thương mại cây trồng và sản phẩm biến đổi gen Các nước đều nhất trí là không
sử dụng các gen kháng sinh làm các chỉ thị chọn lọc cho cây trồng biến đổi gen Các nước châu Âu cuối cùng đã đồng ý nhập khẩu sản phẩm biến đổi gen của Hoa Kỳ, với điều kiện tất cả các sản phẩm này phải được dán nhãn Theo các nước châu Âu, người tiêu dùng có toàn quyền lựa chọn xem có nên mua sản phẩm biến đổi gen hay không, và do đó các sản phẩm biến đổi gen phải được dán nhãn.
Từ ngày 9/12/2002, các nước thành viên EU đã đưa ra quy định mới về thực phẩm biến đổi gen, yêu cầu các thực phẩm biến đổi gen phải được dán nhãn mang mã số riêng để có thể truy nguyên nguồn gốc và đưa ra khỏi các cửa hàng trong trường hợp có vấn đề Trước đó, các Bộ trưởng nông nghiệp EU đã nhất trí quy định, các sản phẩm có thành phần biến đổi gen dưới 0.9% không bị coi là thực phẩm biến đổi gen và không cần phải dán nhãn.
Tuy vậy, việc sử dụng sinh vật biến đổi gen ở các nước EU vẫn là vấn đề gây tranh cãi Ủy ban châu Âu cùng với các viện, cơ quan quốc gia đã tiến hành các cuộc thăm dò ý kiến người tiêu dùng hàng năm để tìm hiểu ý kiến đại diện và xác định khuynh hướng và các chỉ số chung Phần lớn người tiêu dùng vẫn còn ngần ngại về sinh vật biến đổi gen, tuy nhiên vẫn chấp nhận việc nghiên cứu và canh tác các cây trồng biến đổi gen Những cuộc thăm dò gần đây cho thấy, thái độ người tiêu dùng đã thay đổi, khoảng một nửa người tiêu dùng đã chấp nhận sinh vật biến đổi gen, đặc biệt là khi lợi ích của người tiêu dùng và môi trường có thể liên kết với sản phẩm biến đổi gen.
Năm 2007, 80% người được phỏng vấn đã không phê phán việc sử dụng cây trồng biến đổi gen trong nông nghiệp vì lợi ích môi trường Nhiều người tiêu dùng dường như không còn lo ngại đến rủi ro tiềm tàng của sinh vật biến đổi gen đối với sức khỏe và không chủ động lảng tránh các sản phẩm biến đổi gen trong khi mua bán.
Trang 15Bảng 3.1: Các sản phẩm biến đổi gen tại các siêu thị EU
3.1.2 Hiện trạng sử dụng động vật biến đổi gen
Công nghệ kỹ thuật di truyền có rất nhiều các ứng dụng liên quan đếnđộng vật hoang dã và động vật trang trại, và các mô hình động vật được sửdụng trong nghiên cứu khoa học Phần lớn các động vật biến đổi gen vẫn cònđang trong giai đoạn nghiên cứu, chứ không phải là thực tế sử dụng cho cácứng dụng dự định của họ, hoặc thương mại Động vật biến đổi gen tạo ra nhiềuứng dụng như làm cho động vật có tốc độ lớn nhanh, hiệu quả sử dụng thức ăncao,chuyên sản xuất protein quý dung trong y học, chống chịu sự bệnh tật và
sự thay đổi của điều kiện môi trường, nâng cao năng suất chất lượng động vậtbằng cách thay đổi chuyển hóa trong cơ thể động vật, tạo ra vật nuôi chuyểncung cấp nội quan cấy ghép cho con người, làm mô hình nghiên cứu trongchất độc học, thử nghiệm các chất gây đột biến, thử nghiêm các chất gây ungthư
Ngoài việc đưa các gen nước ngoài, gen kỹ thuật knock-out cũng đangđược sử dụng để tạo ra động vật đồng hành thiết kế Ngoại trừ một vài trườnghợp cá biệt, ngành công nghiệp vật nuôi biến đổi gen vẫn chưa di chuyển vềphía trước Tuy nhiên, nó vẫn còn khả thi vật nuôi biến đổi gen có thể trởthành một phần của cuộc sống hằng ngày hành nghề bác sĩ thú y, và có bằngchứng cho thấy khách hàng đã bắt đầu tìm hiểu về các dịch vụ kỹ thuật ditruyền, đặc biệt là nhân bản của vật nuôi đã chết, các ứng dụng chính của kỹthuật di truyền với các loài hoang dã liên quan đến nhân bản Công nghệ này
có thể được áp dụng cho các loài bị đe dọa tuyệt chủng hoặc một trong hai.Vật nuôi biến đổi gen có thể được tạo ra để nâng cao chất lượng thựcphẩm Ví dụ, lợn đã được biến đổi gen để thể hiện các gen desaturase axit béoΔ12 (từ rau bina) cho các cấp cao hơn của omega-3, và dê đã được biến đổi
Trang 16gen để thể hiện lysozyme con người trong sữa của họ Tiến bộ như vậy có thểthêm vào các giá trị dinh dưỡng của các sản phẩm từ động vật Loài trang trại
có thể được biến đổi gen để tạo ra động vật kháng bệnh Ví dụ cụ thể bao gồmtrao khả năng miễn dịch cho con cái thông qua biểu hiện kháng thể trong sữacủa người mẹ; rối loạn trong cơ chế virus xâm (được áp dụng đối với các bệnhnhư pseudorabies); kháng bệnh prion, kiểm soát ký sinh trùng (đặc biệt là ởcừu) và kháng viêm vú (đặc biệt là ở gia súc)
Kỹ thuật di truyền cũng đã được áp dụng với mục đích giảm thiểu ônhiễm nông nghiệp Ví dụ nổi tiếng nhất là Enviropig một con lợn được biếnđổi gen để sản xuất một loại enzyme phân hủy phốt pho chế độ ăn uống(phytase), do đó hạn chế lượng phốt pho trong phân bố của nó Nỗ lực cũng đãđược thực hiện để tạo ra loài trại biến đổi gen như bò, dê, cừu và thể hiện cácprotein quan trọng y tế trong sữa của họ Theo Dyck và cộng sự, "phản ứngsinh học động vật biến đổi gen đại diện cho một công cụ mạnh mẽ để giảiquyết nhu cầu ngày càng tăng về protein tái tổ hợp trị liệu." Năm 2006,ATryn ® trở thành protein trị liệu đầu tiên được sản xuất bởi động vật biến đổigen được phê duyệt và thực phẩm Cục Quản lý dược phẩm (FDA) của Hoa
Kỳ Sản phẩm này được sử dụng như là một điều trị dự phòng cho bệnh nhân
có thiếu antithrombin di truyền và đang làm thủ tục phẫu thuật
Các ứng dụng y sinh học của động vật biến đổi gen là rất nhiều và baogồm sự hiểu biết về chức năng của gen, mô hình của bệnh nhân hoặc hiểu cơchế gây bệnh hoặc để hỗ trợ phát triển thuốc, và xenotransplantation Thôngqua việc bổ sung, loại bỏ, hoặc thay đổi gen, các nhà khoa học có thể xác địnhnhững gì một gen không bằng cách quan sát các hệ thống sinh học bị ảnhhưởng Trong khi một số thay đổi di truyền không có tác dụng rõ ràng, nhữngngười khác có thể sản xuất các kiểu hình khác nhau có thể được sử dụng bởicác nhà nghiên cứu hiểu được chức năng của các gen bị ảnh hưởng
Kỹ thuật di truyền đã cho phép tạo ra các mô hình bệnh của con người
mà trước đây không có Mô hình động vật của bệnh nhân là nguồn tài nguyên
có giá trị cho sự hiểu biết như thế nào và lý do tại sao một bệnh đặc biệt pháttriển, và những gì có thể được thực hiện để ngăn chặn hoặc đảo ngược quátrình Kết quả là, những nỗ lực tập trung vào phát triển mô hình động vật biếnđổi gen mới của các bệnh như bệnh Alzheimer, teo cơ xơ cứng bên (ALS),bệnh Parkinson, và ung thư
Việc sử dụng các động vật biến đổi gen cũng đã trở thành thói quen trongngành công nghiệp dược phẩm, để phát hiện ma túy, phát triển thuốc, và đánhgiá rủi ro Có lẽ việc sử dụng gây tranh cãi nhất của động vật biến đổi gen
Trang 17trong khoa học là phát triển các nghiên cứu cơ bản về xenotrans trồng rừng
-có nghĩa là, việc cấy ghép các tế bào, mô, hoặc toàn bộ nội tạng từ các nhà tàitrợ động vật vào người nhận con người
Theo Bộ Y Tế Canada, "xenotransplantation hiện không bị cấm ởCanada Tuy nhiên, các tế bào sống và các cơ quan từ các nguồn động vậtđược coi là sản phẩm điều trị (thuốc hoặc thiết bị y tế) Không có thử nghiệmlâm sàng liên quan đến xenotransplantation vẫn chưa được sự chấp thuận của
Bộ Y Tế Canada "(xem http://www.hc-sc.gc ca để biết chi tiết)
3.1.3 Hiện trạng sử dụng vi sinh vật biến đổi gen
Các gen mới được khám phá đó chính là những nguyên liệu thô cho mộtlĩnh vực còn non trẻ, nhưng đang phát triển rất nhanh, chế tạo các hoá chấthữu ích nhờ vào các vi sinh vật biến đổi gen Đó chính là một bộ phận của lĩnhvực đã từng được biết đến, ngành công nghiệp công nghệ sinh học, là nơi cócác tế bào của động vật, thực vật và các vi khuẩn đang được sử dụng để tạo racác sản phẩm hữu ích cho ngành công nghiệp Các khám phá ở biển Sargassocủa Tiến sĩ Venter đã được trình bày tại Đại hội thế giới về công nghệ sinh học
và chế biến sinh học công nghiệp, tổ chức tại Orlando, bang Florida, Mỹ, báocáo của ông cho thấy có rất nhiều nguyên liệu thô hữu dụng đã được tìm thấytại vùng biển này
Viện Nghiên cứu các phương án lựa chọn năng lượng sinh học có trụ sởtại Rockville, Maryland, Mỹ của Tiến sĩ Venter hiện đang thu thập thêm cácmẫu tại các nơi khác trên thế giới Mặc dù, Tiến sĩ Venter đã phát hiện ra mộttriển vọng công nghệ sinh học từ một đam mê ra khơi sử dụng lưới rê đánh cá,nhưng việc tìm kiếm các vi khuẩn mới còn là một hoạt động lâu đời Một sốcông ty như Hãng Diversa có trụ sở tại San Diego cũng đã tập trung vào hoạtđộng này
Mỗi khi bắt đầu một loại vật liệu và một sản phẩm cuối cùng, hệ thốngcủa hãng Metabolic Explorer sẽ sắp xếp một tập hợp các lộ trình tốt nhất vàsau đó sẽ nghiên cứu để sao cho chúng phù hợp với vi khuẩn E Coli và đảmbảo rằng các lộ trình vốn tồn tại trong E Coli sẽ bị triệt tiêu Phương pháp nàycũng sẽ giúp nhận ra được những lối thắt nghẽn sinh hoá tiềm tàng, là nơi cácenzym có thể cần phải biến đổi để thúc đẩy nhanh các quá trình Như vậy,công ty này có thể tuyển chọn và thiết lập các tập hợp lộ trình sinh hoá từ các
vi sinh vật khác nhau và sau đó phối hợp chúng để hình thành một vi khuẩnđơn nhất, cũng giống như một chương trình máy tính có thể sắp xếp các đoạnphần mềm từ các chương trình con đã được viết ra từ trước đó vậy