1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

chuyên đề mô hình viện dưỡng lão

25 728 7

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 25
Dung lượng 107,54 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xu hướng già hóa dân số và tình trạng sức khỏe NCT tại Việt Nam Hiện nay cùng với sự phát triển chung của xã hội, đời sống kinh tế đượccải thiện, những tiến bộ của y học cũng như công tá

Trang 1

chuyên đề: “ CÁC MÔ HÌNH CHĂM SÓC SỨC KHỎE NGƯỜI CAO TUỔI” Mục tiêu của việc nghiên cứu chuyên đề nhằm:

1- Tìm hiểu nhu cầu CSSK của người cao tuổi Việt Nam

2- Tìm hiểu hoạt động của các mô hình CSSK NCT đang được triển khai tạiViệt Nam

3 - Đánh giá tính khả thi của việc áp dụng các mô hình đó trong xu hướng

Trang 2

1 Khái niệm về người cao tuổi

Trước hết ta cần hiểu NCT là những ai và bao nhiêu tuổi được coi làNCT? Theo các nhà dân số học, những người từ 60 tuổi trở lên, không phânbiệt nam nữ được gọi là NCT Tuy nhiên, khái niệm và cách phân chia NCT

ở mỗi một quốc gia, một dân tộc, một vùng đất và ở mỗi một thời lại có sựkhác biệt và còn nhiều ý kiến tranh cãi Nếu như một số quốc gia ở phươngTây cho rằng những người trên 65 tuổi mới được coi là NCT thì ở ViệtNamvà một số quốc gia phương Đông lại khác

Sơ đồ cách phân chia NCT

2NHÓM I

Trang 3

Mô hình CSSK người cao tuổi Bộ môn sức khỏe lứa tuổi

Pháp lệnh NCT ở Việt Nam năm 2000 cũng nhận định rằng: “ NCT cócông sinh thành, nuôi dưỡng, giáo dục con cháu về nhân cách và vai tròquan trọng trong gia đình và xã hội” Trong quan niệm của cộng đồng quốc

tế, NCT (còn gọi là người già, người cao niên) là một nhóm xã hộitrong nhóm dễ bị tổn thương bởi những đặc điểm về tâm, sinh lý và nhất là

về những quan niệm không đúng của xã hội đối với họ Nói cách khác họthường bị kỳ thị và phân biệt đối xử Do đó, người cao tuổi thường bị mất đicác quyền và lợi ích chính đáng của mình và mất đi cả cơ hội để tiếp tụccống hiến Còn trên phương diện gia đình và xã hội, vai trò của NCT đặcbiệt quan trọng Họ là hạt nhân, là lực hấp dẫn, giữ vững cấu trúc gia đình,

ổn định và phát triển xã hội, vì vậy họ cần phải được hưởng sự quan tâmchăm sóc đặc biệt từ xã hội

2 Xu hướng già hóa dân số và tình trạng sức khỏe NCT tại Việt

Nam

Hiện nay cùng với sự phát triển chung của xã hội, đời sống kinh tế đượccải thiện, những tiến bộ của y học cũng như công tác chăm sóc y tế ngàycàng được nâng cao, vì vậy tuổi thọ trung bình của người dân ngày càngtăng Chúng ta đang chứng kiến một cuộc cách mạng về tăng tuổi thọ trênphạm vi toàn thế giới Trong thế kỷ qua, tuổi thọ trung bình của loài người

đã tăng thêm hơn 30 năm Đây là một trong những thành tựu vĩ đại nhất củaloài người và đồng nghĩa với số người cao tuổi trên thế giới sẽ tăng theo Các nước đang phát triển sẽ là nơi có tỷ lệ người cao tuổi tăng cao nhất

Trang 4

trẻ, song tỷ lệ NCT đang có xu hướng tăng nhanh Chúng ta có thể thấy rất

rõ điều này qua biểu đồ:

Có thể nói, sự gia tăng quá nhanh số lượng NCT và vấn đề NCT đang đặt

xã hội Bởi lẽ, già hóa dân số thì sức lao động giảm, trong khi hệ thống công

ăn việc làm, an sinh xã hội cho nhóm này vẫn chưa đáp ứng được và ngàycàng đòi hỏi nhiều hơn, chất lượng hơn Ngay cả những thành viên trong giađình và cộng đồng cũng thiếu kiến thức và nhận thức trong chăm sóc sứckhoẻ NCT Bên cạnh đó, nhịp sống xã hội, sự đô thị hoá đang ngày càngcuốn người lao động trẻ vào vòng xoáy kiếm sống tất bật hơn, thường xuyên

đi làm ăn xa nhà Sự di chuyển lao động này dẫn đến hệ quả mô hình giađình truyền thống nhiều thế hệ đang chuyển thành gia đình hạt nhân, không

có người già, một bộ phận không nhỏ NCT đang phải sống cô đơn Điều nàytất yếu dẫn đến NCT (ông bà, cha mẹ của họ) sẽ thiếu đi sự chăm sóc chuđáo Khi đó, họ dễ mặc cảm rằng mình bị bỏ rơi hoặc cảm thấy bị tổnthương tuổi già Theo nguồn: Điều tra mức sống Dân cư (Hộ gia đình) giaiđoạn 1993 – 2008

Trang 5

Không những thế, phần lớn NCT chỉ sử dụng dịch vụ y tế khi đã quá đauyếu Chỉ gần 10% NCT được kiểm tra sức khoẻ định kỳ Điều tra sức khoẻNCT ở Việt Nam qua các năm như sau:

Như vậy, từ thực trạng trên ta thấy cùng với sự phát triển chung của xãhội, số NCT đang tăng cao quá nhanh kéo theo đó là những thay đổi trongcách sống của NCT, mức an sinh xã hội chưa được đảm bảo và hệ quả tấtyếu là chất lượng cuộc sống giảm sút Mặc dù, tình trạng sức khoẻ của ngườicao tuổi những năm gần đây đã được cải thiện nhưng còn ở mức thấp sốNCT có sức khoẻ vào loại trung bình vẫn chiếm đa số (năm 1998 là 70%)vànhững người có sức khỏe tốt còn hạn chế( 5% năm 1998) Vì vậy, trong xuhướng hiện nay cần thiết phải đưa ra được những giải pháp cụ thể, hiệu quảtrong công tác chăm sóc sức khoẻ để nâng cao sức khỏe cho NCT và việchình thành các mô hình CSSK NCT là nhu cầu tất yếu của xã hội

Mặc dù Luật Người cao tuổi đã chú trọng rất nhiều đến những quyền lợi

mà NCT được hưởng như chính sách phụng dưỡng, chăm sóc sức khỏeNCT, chính sách bảo trợ xã hội… nhưng kết quả thực hiện trên thực tế chưacao Hiện tại, ngoài chính sách của nhà nước, việc thực hiện công tác chămsóc NCT đang dựa rất nhiều vào các mô hình CLB gắn với NCT của các tổchức xã hội, các đội tình nguyện viên, các trung tâm , nhà dưỡng lão

Trang 6

Chăm sóc sức khoẻ cho NCT không chỉ kéo dài tuổi thọ mà còn nâng caochất lượng cuộc sống, giúp NCT tiếp tục sống vui – khỏe và có ích cho xãhội Đây vừa là trách nhiệm, nghĩa vụ "uống nước nhớ nguồn", vừa là thểhiện sự văn minh tiến bộ của chế độ xã hội Vậy làm sao để NCT được quantâm, được chăm sóc đầy đủ?

Chúng ta đã và đang áp dụng nhiều mô hình CSSK NCT tại Việt Namtrong đó có 3 mô hình được triển khai một cách có hiệu quả đó là mô hìnhCSSK NCT tại gia đình, tại nhà dưỡng lão và tại cộng đồng Mỗi một môhình có những điểm mạnh và hạn chế riêng Việc áp dụng mô hình nào ở tạiđịa phương, tại thành phố nào phụ thuộc vào hoàn cảnh kinh tế, trình độ pháttriển cũng như phong tục tập quán của nơi đó

3.1 Mô hình CSSK NCT tại gia đình

Với mô hình này chúng ta đã xây dựng, triển khai có hiệu quả tại một vàiđịa điểm ở Hà Nội và được nhân rộng ở Hải Phòng, thành phố Hồ Chí Minh

và một số tỉnh khác Các trung tâm có nhiều hoạt động như đào tạo tìnhnguyện viên phục vụ NCT tại nhà, giúp đỡ những người già nghèo, cô đơnkhông nơi nương tựa, thành lập các câu lạc bộ chăm sóc NCT, tổ chức vuichơi giải trí, Đây là mô hình có tính nhân đạo, nhân văn và có khả năng ápdụng rộng rãi tại vùng nông thôn

Một mô hình chăm sóc nữa được coi là có tính khả thi cao và bền vững rấtphù hợp với đặc điểm của Việt Nam đó là mô hình CSSK cho NCT tại cộngđồng Nó được xây dựng trên nguyên tắc dự phòng, dựa vào cộng đồng,phục vụ nhu cầu của đa số và nhằm giúp NCT tự CSSK cho bản thân Điển

Trang 7

hình nhất là mô hình CSSK NCT ở 4 xã thuộc huyện Chí Linh tỉnh HảiDương, đã được triển khai toàn diện với sự tham gia tích cực và hưởng ứngnhiệt tình của tất cả các ban ngành, mọi người dân trong cộng đồng trong đó

có NCT và các thành viên trong gia đình Sau 4 năm hoạt động , mô hình đãgóp phần cải thiện một cách rõ rệt tình trạng sức khỏe của NCT trong địabàn nghiên cứu và có khả năng nhân rộng tại các địa phương khác

Đây được coi là mô hình điển hình trong xu hướng hiện nay Mô hình này đãđược triển khai từ rất lâu ở nhiều nước trên thế giới đặc biệt là các nước pháttriển như Anh, Nhật, Thụy Điển, và nó cũng đang được áp dụng tại ViệtNam đặc biệt là khu vực phía Nam do hoạt động từ thiện ở đây phát triểnmạnh mẽ Trước cuộc sống bộn bề lo toan, không ít người làm con đã chọncách gửi cha mẹ vào viện dưỡng lão là một giải pháp Thế nhưng ở nước taviệc này vẫn còn gặp không ít rào cản về đạo đức Nhiều người cho rằng làmthế là bất hiếu với đấng sinh thành Vậy hoạt động của các trung tâm nàynhư thế nào? Việc đưa cha mẹ vào viện dưỡng lão trong xu thế thời đại ngàynay được coi là “TẤT YẾU” hay “BẤT HIẾU”??? Và liệu nó có phù hợpvới xã hội Việt Nam hay không? Chúng ta sẽ cùng tìm hiểu dưới đây

DƯỠNG LÃO

2.1.Khái niệm viện dưỡng lão?

Thế nào là viện dưỡng lão?

Trang 8

Viện dưỡng lão hay Nhà dưỡng lão,Trung tâm dưỡng lão (còn gọi bằng

những tên khác là nhà điều dưỡng, nhà nghỉ dưỡng) là những khu vực, tòa

nhà được xây dựng nhằm phục vụ cho việc điều dưỡng, khám chữa bệnh haychăm sóc tập trung những NCT có hoàn cảnh về tuổi tác, sức khỏe, bệnhtật đau yếu Viện dưỡng lão (VDL) do nhà nước đầu tư xây dựng hoặc do tưnhân xây dựng Đây là một trong những công trình mang tính phúc lợi, ansinh xã hội và có ý nghĩa đối với công tác chăm sóc người NCT Thôngthường thì VDL thường được bố trí xây dựng ở những nơi tương đối yêntĩnh, tránh xa sự ồn ào, sôi động của thành phố như vùng nông thôn, ngoại

ô, đồng quê, hoặc những nơi thanh tĩnh khác

Tuổi già đến với Trung tâm dưỡng lão có hai loại: Chủ động và thụ động

Ở lớp người chủ động, là những người già không thích nghi được với cáchsống “tốc độ chóng mặt” và “âm thanh tưng bừng náo động” của lớp trẻ thìtrung tâm dưỡng lão là nơi sống lý tưởng: thanh bình, yên tĩnh Còn lớpngười già đến với Trung tâm dưỡng lão thụ động đa phần cần phải chăm sóc

y tế bởi họ ở độ tuổi “ bệnh tật đầy mình” Các trung tâm dưỡng lão cầnđược trang bị một hệ thống trang thiết bị y tế cùng đội ngũ bác sĩ, điềudưỡng viên chuyên nghiệp tương đương một bệnh viện tuyến 2 Những tiêuchuẩn ấy chắc chắn sẽ làm nên sự hấp dẫn tuyệt vời với những NCT hiệnnay Và những trung tâm đặc biệt như vậy sẽ trở thành mối quan tâm đặcbiệt của xã hội Vậy những người đến với trung tâm dưỡng lão, họ là ai?Qua khảo sát tại các trung tâm dưỡng lão và qua ý kiến của cộng đồng, chủyếu những người sống trong trung tâm dưỡng lão là những người có hoàncảnh đặc biêt như: họ không có con cái, họ chỉ có con gái không có con trai

và không thích sống với con rể, con cái họ đi làm ăn xa, người có bệnh nặngkhông thể tự chăm sóc cho mình trong khi con cái lại quá bận Ngoài ra

Trang 9

những người đến trung tâm vì những lý do và nguyên nhân khác chiếm tỷ lệrất thấp

2.2 Mô hình VDL trên thế giới

Tại các nước có nền kinh tế phát triển, đặc biệt là ở Châu Âu, châu

Mỹ, châu Úc…, dân số già đi sẽ gia tăng nhu cầu về các dịch vụ chăm sóccho người già Nếu như ở phương Đông, theo truyền thống, cha mẹ khi tuổicao sức yếu sẽ được con cái phụng dưỡng tại nhà, thì ở phương Tây, nhữngngười cao niên được đưa vào sống trong các viện dưỡng lão hoặc các cơ sởchăm sóc NCT Tại Hoa Kỳ, hiện nay người ta ước lượng cả nước có khoảng1.4 triệu người sống trong 15,800 “Viện Dưỡng Lão” Các “Viện DưỡngLão” này đặt dưới sự kiểm soát của Bộ y tế Đây là một cơ quan dịch vụ(dịch vụ tư nhân hoặc dịch vụ công) mang tính phúc lợi và an sinh xã hội.Những nơi này dành cho những người cao niên già yếu, không thể tự chămsóc chính mình được nữa Những người già có thể đến các cơ sở dưỡng lão,những cơ sở này phải có giấy phép, chứng chỉ hành nghề do cơ quan cóthẩm quyền cấp

Tại các trung tâm dưỡng lão này, NCT được chăm sóc về y tế với chế độdinh dưỡng đặc biệt mỗi ngày Tùy tình trạng sức khỏe, bệnh lý và tùy điềukiện từng trung tâm mà họ được phân thành những khu riêng biệt Ngoàiviệc cho người già uống thuốc chữa bệnh hoặc thuốc bổ mỗi ngày, các điềudưỡng viên còn giúp đỡ họ trong vấn đề vệ sinh cá nhân Mọi việc khác nhưgiặt giũ quần áo, ra giường, ăn uống, vui chơi giải trí cũng đều có các nhânviên lo liệu Ngoài chế độ chăm sóc chuyên nghiệp thì cơ sở vật chất cũngrất tốt Các cụ ông, cụ bà được ở trong những căn phòng riêng tươm tất, đầy

đủ các tiện nghi cơ bản như giường nệm, bàn ghế, tivi, tủ lạnh Họ có những

Trang 10

không gian sinh hoạt chung như phòng tiếp khách, nhà cầu nguyện, nhà ăn,phòng giải trí Hàng ngày, mỗi người đều có thời khóa biểu sinh hoạt riêngnhư tham gia luyện tập, xoa bóp, đi bộ ngoài trời, dự buổi lễ cầu nguyện,tập dưỡng sinh, chơi trò chơi, tập hát, đọc sách báo…

Bên cạnh đó, VDL cũng là mái nhà chung nơi người già có thể gặp gỡ vàsinh hoạt cùng với những người đồng thế hệ để giảm đi nỗi cô đơn vào tuổi

xế chiều Những cụ bà mạnh khỏe có thể ngồi cùng nhau đan lát, vẽ tranh…trong khi các cụ ông được đưa đi chơi games Những buổi tiệc được tổ chứctrong năm Ở Trung Quốc, năm 1965, đã có viện dưỡng lão dành cho côngnhân về hưu Các công xã cũng có khu dưỡng lão cho người già nông thôn

và viện dưỡng lão là nơi nghỉ ngơi tự nguyện, có sự hỗ trợ của nhà nước.Tuy nhiên, việc chăm sóc NCT rất vất vả, đòi hỏi không chỉ chuyên môncao mà quan trọng nhất là chữ “ TÂM” do hoạt động ở các VDL chủ yếu vẫnmang tính nhân đạo Chính vì thế, nguồn nhân lực tình nguyện làm việc ởcác VDL luôn trong tình trạng khan hiếm dẫn đến khó có thể khắt khe trongquá trình tuyển dụng Nhà nước có thể giám sát các tiêu chuẩn về cơ sở hạtầng, trang thiết bị, trình độ nhân lực và quy trình chăm sóc sức khỏe ngườicao tuổi tại các VDL Nhưng họ khó lòng kiểm soát được tình yêu thương vàtrách nhiệm của các điều dưỡng viên đối với người cao niên tại đây

Bên cạnh những mặt tích cực nó còn nhiều những hạn chế Theo thống kê

có khoảng hơn một nửa số người già tại Mỹ rất sợ vào VDL 38% người caoniên tại Mỹ sẽ cố nán lại ở nhà chừng nào có thể, kể cả khi phải xoay sở mọithứ một mình (vì ở tách biệt với con cái) Đó là nơi cuối cùng mà bất đắc

dĩ họ phải đi vào Hơn 1/4 số viện dưỡng lão tại Mỹ bị chỉ trích là làm gia

Trang 11

tăng bệnh và tỷ lệ tử vong ở người cao niên Ở bang California, chỉ cókhoảng 2% các VDL được tin tưởng về khía cạnh đạo đức nghề nghiệp

Việc bê bối của các VDL không phải là vấn đề riêng của Mỹ mà nó cũngxảy ra ở các nước khác như Canada và Úc Viện nghiên cứu thông tin y tếCanada cũng có những báo cáo cho biết, trong số những người già củaCanada sống lâu dài tại VDL, có tới 44% mắc chứng trầm cảm, tình trạngthể chất và chất lượng cuộc sống đều không tốt đẹp

Rõ ràng VDL tại các nước phát triển phương Tây có thể cung cấp cơ sởvật chất, trang thiết bị, đội ngũ nhân lực được đào tạo bài bản và quy trìnhCSSK được nghiên cứu kỹ lưỡng Tuy nhiên, những điều ấy chưa hẳn đã đủ

để đảm bảo sức khỏe thể chất và tinh thần cho NCT Trên hết, nó đòi hỏimột trái tim nhân hậu, lòng biết ơn thế hệ đi trước của những người làmcông tác điều dưỡng và quản lý các VDL, các trung tâm CSSK người già Như vậy, mô hình VDL ra đời không còn là xa lạ ở các nước tiên tiến, nơi

ấy NCT được chăm sóc "đúng nghĩa" có nghĩa như một gia đình Họ đượcquan tâm từ miếng ăn, giấc ngủ, chế độ sinh hoạt, nghỉ ngơi, đến sức khỏe,thuốc thang Nhưng ở các nước đang phát triển như Việt Nam hiện nay liệu

đã theo kịp?

2.3.Một số mô hình VDL tại Việt Nam

2.3.1 Trung tâm CSSK NCT Phú Diễn

Trang 12

Ở Việt Nam, ngoài việc cơ sở vật chất còn thiếu thốn tại các VDL, đaphần người ta gửi bố mẹ vào các trung tâm vì các cụ mắc bệnh về thần kinh,gia đình khó quản lý và VDL ở Việt Nam dường như còn là một điều khá

mới lạ, là một chốn đáng bỏ đi trong suy nghĩ của nhiều người Họ có định

kiến rằng: con cái bất hiếu mới để bố mẹ vào VDL, các cụ sống trong đó cócuộc sống buồn chán… Nhưng trên thực tế có một “viện dưỡng lão” tại HàNội hoạt động hơn 10 năm nay đã trở thành địa chỉ tin cậy và là mái nhà

chung cho các cụ già Đó là Trung tâm CSSK NCT Phú Diễn ở Từ Liêm

(Hà Nội) Đây là trung tâm đầu tiên được thành lập tại Hà Nội vào tháng4/2001 theo phương thức tự hạch toán NCT tự nguyện đóng góp kinh phíđặc biệt ưu tiên NCT thuộc diện chính sách như bà mẹ Việt Nam anh hùng,

mẹ liệt sĩ Từ năm 2001 đến nay trung tâm này đã xây dựng được hai cơ sở

ở xã Minh Khai và Đông Ngạc (Từ Liêm, Hà Nội) Hai trung tâm có tất cả

160 cụ, riêng trung tâm này có 100 cụ Đối tượng vào trung tâm có rất nhiềuhoàn cảnh khác nhau như: bại liệt, sống thực vật, ốm yếu… Ngoài ra cónhiều cụ, con cái rất thành đạt, nhưng ở nhà rất buồn vì con cái đi làm suốtngày sống thui thủi trong bốn bức tường

Trước khi quyết định sống ở trung tâm, phần lớn người cao tuổi đều cóchung những băn khoăn, lo lắng không hiểu mình có thể thích nghi cuộcsống ở đó hay không Đối với họ, vào nhà dưỡng lão là phải thay đổi môitrường sống mới, phải bắt đầu một cuộc sống mới Thế nhưng bằng sự tậntụy, chu đáo, ân cần và bằng cái tâm dành cho người già, các cán bộ trungtâm đã tạo nên một môi trường thân thiện, vui vẻ và tràn đầy tình yêuthương ở đây Điều này đã xua tan đi những lo lắng của các cụ và giúp các

cụ hòa nhập với cuộc sống mới ở trung tâm Sống ở đây, ngoài việc quantrọng nhất là được chăm sóc và theo dõi sức khỏe, các cụ còn có cơ hội để

Ngày đăng: 09/11/2019, 10:49

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w