Mục đích nghiên cứu Với mục đích chung của đề tài là nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước tanhằm tiến tới chuyển đổi mô hình Viện kiểm sát thành Viện công tố, hay nói một cách
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Trước tiên, tôi xin gởi lời cảm ơn chân thành đến Cha Mẹ- những người đã hết sức
lo cho tôi trong những năm học đại học, chính nhờ những sự hỗ trợ của cha mẹ, và hơn hết là những lời động viên an ủi của cha mẹ dành cho tôi, để tôi có được kết quả học tập như ngày hôm nay
Thứ hai, tôi xin gởi lời cảm ơn đến quý Thầy Cô khoa Luật, cảm ơn các Thầy Cô đã từng dạy tôi trên giảng đường đại học Các Thầy Cô đã truyền đạt kiến thức cho tôi với
cả tấm lòng yêu nghề, tràn đầy nhiệt huyết, tận tình chỉ dạy và vun bồi những kiến thức mới một cách cô đọng nhất, giúp khơi dậy trong tôi niềm đam mê học tập và không ngừng học hỏi
Thứ ba, tôi xin cảm ơn đến các anh chị, các bạn cùng khóa đã giúp đỡ tôi trong thời gian qua trong việc tìm kiếm, thu thập tài liệu để tôi hoàn thành tốt đề tài luận văn của mình
Và cuối cùng, tôi xin chân thành gởi lời cảm ơn sâu sắc đến Thầy Đinh Thanh Phương- người đã hỗ trợ cho tôi và hướng dẫn tôi trong suốt quá trình làm luận văn để tôi
có thể hoàn thành tốt việc nghiên cứu đề tài luận văn của mình
Tôi xin chúc mọi người luôn dồi dào sức khỏe, tràn đầy niềm vui và hạnh phúc, gặp được nhiều may mắn và gặt hái được nhiều thành công trong công việc và trong cuộc sống!
Sinh viên thực hiện
TIÊU NGỌC DIỄM
Trang 3NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN HƯỚNG DẪN
Trang 4
NHẬN XÉT CỦA GIẢNG VIÊN PHẢN BIỆN
Trang 5
MỤC LỤC
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆN KIỂM SÁT VÀ VIỆN CÔNG TỐ 4
1.1 Những vấn đề cơ bản về Viện kiểm sát .4
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân qua các thời kì 4
1.1.2 Vị trí, vai trò, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân 7
1.1.3 Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát .10
1.2 Những vấn đề cơ bản về Viện công tố 11
1.2.1 Khái quát mô hình Viện công tố ở một số nước trên thế giới 11
1.2.2 Một số điểm chung của các mô hình công tố .14
1.3 Mô hình viện kiểm sát của nước ta so với mô hình Viện công tố của một số nước trên thế giới 14
1.3.1 Ưu điểm 14
1.3.2 Hạn chế 15
CHƯƠNG 2: NHỮNG TỒN TẠI CỦA MÔ HÌNH VIỆN KIỂM SÁT HIỆN NAY VÀ YÊU CẦU CHUYỂN ĐỔI THÀNH VIỆN CÔNG TỐ THEO TINH THẦN CẢI CÁCH TƯ PHÁP 17
2.1 Những tồn tại của mô hình viện kiểm sát hiện nay 17
2.1.1 Về tổ chức và hoạt động 17
2.1.2 Về nhiệm vụ, quyền hạn 18
2.1.3 Về chức năng thực hành quyền công tố 20
2.2 Yêu cầu chuyển đổi mô hình Viện kiểm sát thành Viện công tố theo tinh thần cải cách tư pháp 22
2.2.1 Mục đích của việc chuyển đổi mô hình Viện kiểm sát thành Viện công tố 22
2.2.2 Hướng đổi mới hoạt động của cơ quan công tố 23
2.2.3 Mô hình Viện công tố trong nhà nước pháp quyền 26
Trang 6CHƯƠNG 3: QUAN ĐIỂM, PHƯƠNG HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN PHÁP LUẬT ĐỂ CHUYỂN ĐỔI MÔ HÌNH VIỆN KIỂM SÁT THÀNH VIỆN CÔNG TỐ 31 3.1 Quan điểm hoàn thiện 31 3.1.1 Quan điểm chung 31 3.1.2 Một số quan điểm cụ thể hiện nay về việc nghiên cứu
chuyển đổi mô hình Viện kiểm sát thành Viện công tố 32 3.1.3 Quan điểm của tác giả 35 3.2 Phương hướng hoàn thiện pháp luật về chuyển đổi
mô hình Viện kiểm sát thành Viện công tố 37 3.3 Các giải pháp hoàn thiện pháp luật về nội dung
xây dựng mô hình Viện công tố 38 3.3.1 Nhóm giải pháp hoàn thiện pháp luật về nội dung
xây dựng mô hình viện công tố 38 3.3.2 Hoàn thiện pháp luật về tố tụng 44 KẾT LUẬN 46 DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
Trang 7PHẦN MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong tình hình hiện nay đòi hỏi phải nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan thực hiện nhiệm vụ bảo vệ pháp luật, bảo vệ an ninh xã hội, trong đó việc xây dựng mô hình Viện công tố chuyên thực hiện nhiệm vụ thực hành quyền công tố nhằm phát huy hơn nữa vai trò của quyền công tố, nâng cao chất lượng của hoạt động công tố nhằm chống bỏ lọt tội phạm, không làm oan người vô tội, có tác dụng răn đe tội phạm, ngăn ngừa các hành vi xâm phạm đến các quan hệ xã hội mà pháp luật bảo vệ là nhiệm vụ quan trọng trong tiến trình cải cách tư pháp ở nước ta
Viện kiểm sát nước ta vừa là cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp vừa là cơ quan thực hành quyền công tố, cho thấy trách nhiệm của Viện kiểm sát trong việc đảm bảo thực hiện tốt ở cả hai mặt là vô cùng quan trọng Trong thời gian qua, Viện kiểm sát đã đạt được nhiều thành tựu trong việc đấu tranh chống tội phạm, kiên quyết trừng trị tội phạm thể hiện qua chức năng thực hành quyền công tố Mặc dù vậy, so với yêu cầu đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay với nhiều loại tội phạm mới, xuất hiện cùng với nhiều thủ đoạn tinh vi, yêu cầu đặt ra cho cơ quan thực hành quyền công tố trước mắt là phải có biện pháp tăng cường hơn nữa chức năng thực hành quyền công tố và đồng thời nghiên cứu việc chuyển đổi mô hình Viện kiểm sát thành Viện công tố là mục tiêu quan trọng có ý nghĩa lâu dài đối với yêu cầu xây dựng được một nền tư pháp vững mạnh ở nước ta
Trong tiến trình cải cách tư pháp ở Việt Nam hiện nay, để góp phần bảo đảm Viện kiểm sát tập trung làm tốt chức năng công tố thông qua vai trò của Kiểm sát viên, việc tiếp tục nghiên cứu những vấn đề lý luận và thực tiễn để hoàn thiện pháp luật nhằm chuyển đổi mô hình Viện kiểm sát thành Viện công tố với chức năng duy nhất là thực hành quyền công tố là vấn đề cần thiết Với tất cả ý nghĩa đó, người viết quyết định chọn
đề tài “ Hoàn thiện pháp luật nhằm chuyển đổi mô hình Viện kiểm sát thành Viện công tố
theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam” làm luận văn tốt nghiệp cho mình.
2 Mục đích nghiên cứu
Với mục đích chung của đề tài là nghiên cứu hoàn thiện hệ thống pháp luật ở nước tanhằm tiến tới chuyển đổi mô hình Viện kiểm sát thành Viện công tố, hay nói một cách khác, tiến tới hình thành một hệ thống cơ quan chuyên thực hiện chức năng thực hành quyền công tố- Viện công tố, người viết đi sâu tìm hiểu những mặt hạn chế của pháp luậtxoay quanh chức năng, tổ chức và hoạt động của hệ thống Viện kiểm sát hiện tại, để từ
đó người viết xây dựng những đề xuất sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật, bao gồm quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân, hệ thống pháp luật tố tụng hình sự; trước tiên là nhằm hoàn thiện nội dung để đẩy mạnh quyền công tố trong
Trang 8giai đoạn cải cách tư pháp hiện nay, một nền công tố vững mạnh là nền tảng vững chắc
để tiến tới thành lập mô hình Viện công tố trong tương lai Đây chính là mục đích nghiên cứu quan trọng nhất đối với đề tài luận văn của người viết
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Đối tượng nghiên cứu của đề tài chính là chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp của hệ thống Viện kiểm sát ở nước ta hiện nay Theo đó, tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan kiểm sát cũng được người viết quan tâm Tìm hiểu về hai chức năng của Viện kiểm sát có ý nghĩa rất quan trọng, nó giúp chúng ta xác định được hướng đi của đề tài, làm rõ được mục đích nghiên cứu, từ đó gợi
ý cho người viết có được những giải pháp hợp lý cho những hạn chế hiện nay của luật về
mô hình Viện kiểm sát, đồng thời trên cơ sở đó đề xuất xây dựng mô hình Viện công tốtrong giai đoạn tới
Về phạm vi nghiên cứu, người viết tìm hiểu cơ sở lý luận về Viện kiểm sát, Viện công
tố của một số nước trên thế giới, trên cơ sở đó, tìm hiểu về các quy định của Hiến pháp, Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân hiện hành, và pháp luật về tố tụng hình sự, tập trung
đi sâu tìm hiểu những khó khăn khi Viện kiểm sát đảm nhiệm đồng thời cả hai chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp để có hướng hoàn thiện tốt
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành việc nghiên cứu đề tài của mình, người viết đã sử dụng những phương pháp nghiên cứu gần gũi nhất, trước tiên là phương pháp thu thập tài liệu, thông tin cần thiết có liên quan đến nội dung nghiên cứu của đề tài chủ yếu là trong sách, báo, tạp chí, các nguồn tài liệu trên mạng Trong quá trình viết, phương pháp phân tích nội dung, phương pháp so sánh được người viết sử dụng chủ yếu nhằm mục đích rút ra được những
ưu điểm cũng như hạn chế đối với mô hình Viện kiểm sát Cuối cùng người viết sử dụng phương pháp tổng hợp và phân tích đánh giá những nội dung mà mình viết dựa trên nguồn tài liệu đã tìm được, để xây dựng nên những ý kiến của người viết về vấn đề mà người viết nghiên cứu
5 Kết cấu đề tài
Người viết xây dựng đề tài “Hoàn thiện pháp luật nhằm chuyển đổi mô hình Viện
kiểm sát thành Viện công tố theo yêu cầu cải cách tư pháp ở Việt Nam” theo kết cấu đề
tài ba chương, bao gồm:
- Chương 1: “Cơ sở lý luận về Viện kiểm sát và Viện công tố”.
- Chương 2: “Những tồn tại của mô hình Viện kiểm sát hiện nay và yêu cầu chuyển đổi
thành Viện công tố theo tinh thần cải cách tư pháp”.
- Chương 3: “Quan điểm, phương hướng và giải pháp hoàn thiện pháp luật nhằm
chuyển đổi mô hình Viện kiểm sát thành Viện công tố”.
Trang 9Trên đây là những nội dung chính mà người viết trình bày trong luận văn tốt nghiệp của mình Tóm lại, những nội dung mà người viết trình bày ở các chương đều có mối quan hệ với nhau và có tính liên quan mật thiết với tên của đề tài.
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ VIỆN KIỂM SÁT VÀ VIỆN CÔNG TỐ
1.1 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VIỆN KIỂM SÁT
1.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển của Viện kiểm sát nhân dân qua các thời kì
Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân của nước ta đã hình thành và phát triển qua nhiều giai đoạn lịch sử, cụ thể bao gồm các giai đoạn sau:
1.1.1.1 Giai đoạn từ 1945 đến 1959
Trong giai đoạn này có rất nhiều Sắc lệnh được ban hành, đặc biệt là bản Hiến pháp đầu tiên của Nhà nước ta ra đời- Hiến pháp năm 1946, đánh dấu một bước ngoặt quan trọng trong quá trình lập pháp và xây dựng bộ máy chính quyền Trong những năm đầu của giai đoạn 1945- 1959 thì phải kể đến một số văn bản pháp lý quan trọng, liên quan đến hệ thống cơ quan tư pháp của nhà nước, như sau:
- Sắc lệnh số 33c ngày 13/9/1945 có quy định “Đứng buộc tội là một Ủy viên quân sự hay một Ủy viên của Ban trinh sát”.1
- Sắc lệnh số 7/SL ngày 15/1/1946 (bổ khuyết Sắc lệnh quy định về thiết lập Tòa án quân sự ngày 13/9/1945) quy định như sau: “Đứng buộc tội sẽ là nhân viên của Công tố viện do Chưởng lý Toà thượng thẩm chỉ định”.2Như vậy, mô hình Công tố viện đã ban đầu hình thành ở nước ta, dưới sự quản lý của Bộ trưởng Bộ Tư pháp
- Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 quy định về tổ chức và hoạt động của cơ quan tư pháp, cụ thể là về tổ chức Tòa án Trong đó, ngạch thẩm phán bao gồm ngạch sơ cấp và ngạch đệ nhị cấp Thẩm phán đệ nhị cấp chia làm hai chức vụ: Thẩm phán xử án do Chánh nhất Toà thượng thẩm đứng đầu và các Thẩm phán Công tố viên (Thẩm phán buộc tội) do Chưởng lý đứng đầu.3
Từ năm 1946 đến năm 1959, Nhà nước ta không thành lập cơ quan thực hành quyền công tố riêng mà chức năng này sẽ do bộ phận Thẩm phán trong Tòa án thực hiện.4
Như đã đề cập ở trên, Thẩm phán Công tố viên sẽ thực hiện chức năng buộc tội Các Thẩm phán Công tố viên ở Toà án đệ nhị cấp gọi là Biện lý, Phó biện lý.5Ở Toà thượng
1Trần Đại Thắng: Lịch sử hình thành và phát triển của Viện công tố- Tiền thân của Viện kiểm sát nhân dân, giai
đoạn 1945- 1950, Tạp chí Kiểm sát, 2008, 216.html , [truy cập ngày 10- 12- 2011].
http://tapchikiemsat.org.vn/viewtopic/ho-so-61/Vien-cong-to-1945-1950-2 Điều 2 Sắc lệnh số 7/SL ngày 15/1/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa.
3 Điều 37 Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa.
4 Điều 63, Điều 65 Hiến pháp năm 1946.
5 Điều 15 Sắc lệnh số 13 ngày 24 /1/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa.
Trang 11thẩm gọi là Chưởng lý, Phó chưởng lý, Tham lý.6 Thẩm phán buộc tội thực hành quyền công tố, có nhiệm vụ thay mặt Nhà nước buộc tội bị cáo tại phiên toà thông qua bản cáo trạng.7
Trong cơ cấu Tòa án quân sự, tương tự như Chưởng lý bên Tòa thượng thẩm, Công cáo ủy viên là người đứng ra buộc tội bị cáo bên Tòa quân sự.8Các công cáo ủy viên do
Bộ trưởng Bộ Nội vụ và Bộ Tư pháp trực tiếp quản lý và họ có nhiệm vụ tuân theo mệnh lệnh của các Bộ trưởng này.9
Vào cuối những năm 1950, thực hiện theo Nghị định số 256/TTg ngày 1/7/1959, Nghị định số 321/TTg ngày 2/7/1959 của Chính phủ, các Viện công tố được tổ chức thành hệ thống gồm:10
- Viện công tố Trung ương;
- Viện công tố địa phương các cấp;
- Viện công tố quân sự các cấp
Trong thời gian này, Viện công tố có trách nhiệm và quyền hạn như sau:11
- Điều tra và truy tố trước Toà án những kẻ phạm pháp về hình sự;
- Giám sát việc chấp hành luật pháp trong công tác điều tra của cơ quan điều tra;
- Giám sát việc chấp hành luật pháp trong việc xét xử của các tòa án;
- Giám sát việc chấp hành luật pháp trong việc thi hành các bản án về hình sự, dân sự
và trong hoạt động giam giữ, cải tạo;
- Khởi tố và tham gia tố tụng trong những vụ án dân sự quan trọng có liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân
Những quy định trên đây là bước phát triển quan trọng về tổ chức và hoạt động của Viện công tố, tiến tới việc thành lập Viện Kiểm sát nhân dân vào giữa năm 1960
1.1.1.2 Giai đoạn từ 1959 đến 1980
Hiến pháp năm 1959 của Nhà nước ta ra đời xác định rõ cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật đối với các cơ quan nhà nước, nhân viên cơ quan nhà nước và công dân chính là hệ thống Viện kiểm sát nhân dân.12
6 Điều 36 Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa.
7 Điều 41 Sắc lệnh số 13 ngày 24/1/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa.
8 Điều 5 Sắc lệnh số 21 ngày 14/2/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa.
9 Điều 6 Sắc lệnh số 21 ngày 14/2/1946 của Chủ tịch Chính phủ lâm thời Việt Nam dân chủ cộng hòa.
10 Điều 3 Nghị định 256/TTg ngày 27/8/1959 quy định về nhiệm vụ và tổ chức của Viện công tố.
11 Điều 1 Nghị định 256/TTg ngày 27/8/1959 quy định về nhiệm vụ và tổ chức của Viện công tố.
12 Điều 105 Hiến pháp năm 1959.
Trang 12Viện công tố được thay thế bằng Viện Kiểm sát nhân dân Viện Kiểm sát nhân dân cùng với Toà án nhân dân là các cơ quan tư pháp, chịu trách nhiệm báo cáo trước Quốc hội.13
Như vậy, theo quy định của Hiến pháp năm 1959 thì Viện Kiểm sát nhân dân các cấp được tổ chức thành một hệ thống thống nhất, độc lập với cơ quan xét xử và cơ quan hành chính
Hệ thống Viện Kiểm sát nhân dân gồm có: Viện kiểm sát nhân dân tối cao, các Viện kiểm sát nhân dân địa phương và các Viện kiểm sát quân sự Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương gồm có: Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương hoặc đơn vị hành chính tương đương; Viện kiểm sát nhân dân huyện, thành phố thuộc tỉnh, thị
xã hoặc đơn vị hành chính tương đương, Viện kiểm sát nhân dân ở các khu vực tự trị.14Theo điều 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960, chức năng của Viện kiểm sát nhân dân bao gồm: kiểm sát việc tuân theo pháp luật của các văn bản luật của các cơ quan thuộc Hội đồng Chính phủ và cơ quan nhà nước địa phương, kiểm sát việc tuân theo pháp luật của nhân viên cơ quan nhà nước và công dân
Ngoài ra, Viện kiểm sát nhân dân có trách nhiệm “điều tra những việc phạm pháp về hình sự và truy tố trước Toà án nhân dân những người phạm pháp về hình sự”, hay nói cách khác Viện kiểm sát thực hiện chức năng thực hành quyền công tố đại diện cho nhà nước Thực hiện việc kiểm sát tuân theo pháp luật trong điều tra, khởi tố, xét xử và chấp hành các bản án hoặc trong lĩnh vực tố tụng dân sự liên quan đến lợi ích của Nhà nước và của nhân dân (điều 3 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960)
1.1.1.3 Giai đoạn từ 1980 đến 1992
Hiến pháp năm 1980 được ban hành, đề cập đến chức năng “thực hành quyền công tố” của Viện Kiểm sát nhân dân nhằm đảm bảo cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất.15 Đồng thời vị trí, vai trò của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cũng được cụ thể hóa trong Hiến pháp, tổ chức và hoạt động của hệ thống cơ quan kiểm sát phù hợp với các nguyên tắc hoạt động chung của bộ máy nhà nước và nguyên tắc đặc thù của ngành kiểm sát.16
13 Điều 108 Hiến pháp năm 1959.
14 Điều 4 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1960.
15 Điều 138 Hiến pháp năm 1980.
16 Điều 140 Hiến pháp năm 1980.
Trang 13Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 ra đời và được sửa đổi, bổ sung vào năm 1989 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 và Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân được sửa đổi, bổ sung vào năm 1989 đã quy định cụ thể, chi tiết về nhiệm vụ, quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân trong việc giải quyết các vụ án hình sự, dân sự cụ thể ở điều điều 9, điều 10, điều 13 và trong công tác kiểm sát chung, cụ thể ở điều 6 và điều 7 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1981 và sửa đổi, bổ sung năm 1989.Cho đến đây thì hệ thống Viện kiểm sát của nước ta cơ bản đã chặt chẽ về mặt tổ chức, hoạt động cũng như bước đầu đã nhận thấy được tầm quan trọng của chức năng thực hành quyền công tố.
1.1.1.4 Giai đoạn từ 1992 đến nay
Theo quy định của Hiến pháp năm 1992, hệ thống cơ quan kiểm sát đã thực hiện chức năng kiểm sát bao gồm cả chức năng kiểm sát chung, khó phân biệt được giữa chức năng kiểm sát chung của Viện kiểm sát nhân dân với chức năng thanh tra, kiểm sát của các cơ quan nhà nước khác trong hệ thống cơ quan nhà nước, do đó, Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung thu gọn chức năng kiểm sát của hệ thống cơ quan kiểm sát chỉ còn trong phạm vi kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố.17
Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 1992 ra đời, rồi đến Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 được ban hành đã cụ thể hóa về chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân
Cùng với việc thành lập Viện kiểm sát nhân dân ở ba cấp, Viện kiểm sát quân sự cũng được tổ chức thành ba cấp, bao gồm: cấp trung ương, cấp quân khu và tương đương, cấp khu vực.18
Về mặt cơ cấu tổ chức, sau khi ban hành Hiến pháp năm 1992, Viện Kiểm sát nhân dân các cấp đã có những chuyển biến tích cực trong hoạt động tư pháp của nước ta dưới
sự lãnh đạo chung của Đảng
1.1.2 Vị trí, vai trò, tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
1.1.2.1 Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong bộ máy nhà nước nói chung
và trong cơ chế kiểm tra, thanh tra, kiểm sát, giám sát nói riêng
- Viện kiểm sát nhân dân giữ một vị trí độc lập so với hệ thống cơ quan xét xử và cơ quan hành chính trong bộ máy nhà nước
17 Điều 137 Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001.
18 Điều 38 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002.
Trang 14- Giữ vị trí quan trọng trong việc bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa, bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân, bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể; bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân…19
- Là cơ quan thay mặt cho Quốc hội thực hiện quyền kiểm sát theo quy định của pháp luật, thực hiện quyền lực nhà nước
Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan chuyên trách trong việc thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố
- Là cơ quan nhà nước, Viện kiểm sát thực hiện quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp
và thực hành quyền công tố nhân danh nhà nước
- Là một bộ phận không thể tách rời của bộ máy Nhà nước ta Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân là một trong những cơ quan nhà nước quan trọng, giữ vai trò nòng cốt trong bộ máy nhà nước
- Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan nhà nước thể hiện rõ nhất bản chất của pháp luật
1.1.2.2 Các quy định của pháp luật về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân
Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân được thành lập từ trung ương đến địa phương, với kiểu tổ chức bộ máy nhà nước thống nhất Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống cơ quan bao gồm:20
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao;
- Các Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương;
- Các Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã thành phố thuộc tỉnh;
- Các Viện kiểm sát quân sự
Như vậy, hệ thống Viện kiểm sát nước ta được tổ chức theo mô hình ba cấp: cấp trung ương, cấp tỉnh và cấp huyện nhằm thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp Bên cạnh đó, Viện kiểm sát quân sự cũng được thành lập để thực hiện chức năng công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong lĩnh vực quân đội
19 Điều 2 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002.
20 Điều 137 Hiến pháp năm 1992 được sửa đổi, bổ sung năm 2001.
Trang 15Về hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân được quy định cụ thể như sau:
- Viện kiểm sát nhân dân do Viện trưởng lãnh đạo Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp dưới chịu sự lãnh đạo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp trên…21
- Viện trưởng, các phó Viện trưởng và Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân địa phương và Viện kiểm sát quân sự các quân khu và khu vực do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.22
Ngoài ra, trong quá trình hoạt động Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân chịu sự giám sát của cơ quan quyền lực nhà nước cấp cao nhất và cùng cấp
Theo điều 31 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có Viện trưởng, các phó Viện trưởng, các Kiểm sát viên và các Điều tra viên
- Viện kiểm sát nhân dân tối cao gồm có Ủy ban kiểm sát, các Cục, Vụ, Viện, Văn phòng và Trường đào tạo bồi dưỡng cán bộ kiểm sát và Viện kiểm sát quân sự Trung ương
Viện kiểm sát nhân dân tối cao có thẩm quyền thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp.23
Ủy ban kiểm sát không còn là tổ chức tư vấn cho Viện trưởng, mà có thẩm quyền thảo luận và quyết định theo đa số những vấn đề có tính quan trọng.24
Theo điều 34 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương gồm có: Ủy ban kiểm sát, các phòng và văn phòng
Ủy ban kiểm sát cấp tỉnh không còn là tổ chức tư vấn cho Viện trưởng
Viện kiểm sát tỉnh gồm có Viện trưởng, các phó Viện trưởng, các Kiểm sát viên, đều
do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức.25
Viện kiểm sát cấp tỉnh kiểm sát các hoạt động tư pháp ở chính quyền địa phương và thực hành quyền công tố ở cấp mình.26
21 Điều 8 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002.
22 Điều 9 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002.
23 Điều 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002.
24 Điều 32 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002
25 Điều 9 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002.
26 Điều 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002.
Trang 16Viện kiểm sát nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh
Theo điều 36 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện gồm có: Viện trưởng, phó Viện trưởng và các Kiểm sát viên do Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức
Viện kiểm sát nhân dân cấp huyện không có Ủy ban kiểm sát và các phòng nghiệp vụ
mà chỉ có các bộ phận công tác và bộ máy giúp việc do Viện trưởng, phó Viện trưởng phụ trách, theo sự phân công của Viện trưởng.27
Viện kiểm sát quân sự được tổ chức trong Quân đội nhân dân Việt Nam thực hành quyền công tố Các Viện kiểm sát quân sự thuộc hệ thống Viện kiểm sát nhân dân;28 do
đó cách thức tổ chức và hoạt động, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn đều theo quy định chung của Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002, Hiến pháp 1992
Viện kiểm sát nhân dân đảm nhiệm chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo Hiến pháp và pháp luật Do đó, với vai trò là chủ thể thực hành quyền công tố nhân danh Nhà nước, điều 36 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003 đã quy định cụ thể nhiệm vụ, quyền hạn và trách nhiệm của Viện trưởng, phó Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân
Hệ thống cơ quan kiểm sát là cơ quan bảo vệ pháp luật, là bộ phận chuyển tải quyền lực nhà nước vào đời sống xã hội thông qua việc giải quyết các vụ việc cụ thể đặc biệt là trong lĩnh vực tố tụng
1.1.3 Chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát
1.1.3.1 Khái niệm về quyền công tố
Hiến pháp năm 1980 của Nhà nước ta đã đưa ra thuật ngữ pháp lý “thực hành quyền công tố” khi đề cập tới chức năng của Viện kiểm sát.29Như vậy, trong giai đoạn này bên cạnh khái niệm “kiểm sát việc tuân theo pháp luật”, đã xuất hiện khái niệm “ thực hành quyền công tố” và “quyền công tố” Nhưng khái niệm về quyền công tố cho đến nay vẫn còn tồn tại rất nhiều quan điểm khác nhau.Tuy nhiên, theo như quan điểm hiện nay, khái niệm quyền công tố được hiểu như sau:
27 Điều 36 khoản 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002.
28 Điều 39 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002.
29 Điều 138 Hiến pháp năm 1980.
Trang 17“Quyền công tố là quyền của Nhà nước, quyền nhân danh Nhà nước truy tố kẻ phạm tội ra trước Tòa án và đại diện cho nhà nước buộc tội kẻ phạm tội trước phiên tòa xét xử”.30
1.1.3.2 Khái niệm về thực hành quyền công tố
Trong các tài liệu pháp lý, chủ yếu chỉ đề cập đến vấn đề quyền công tố và cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau Khái niệm về thực hành quyền công tố cũng như khái niệm về quyền công tố, vẫn còn rất nhiều ý kiến khác nhau, chưa được thống nhất để đưa ra một khái niệm chung về nó
Mặc dù vậy, chúng ta có thể hiểu một cách cơ bản nhất, thực hành quyền công tố là việc đưa vụ án ra tòa với quyền truy tố và buộc tội đối với những người có hành vi nguy hiểm cho xã hội trên cơ sở các quy định của Bộ luật hình sự và Bộ luật tố tụng hình sự
1.1.3.3 Khái niệm pháp luật về thực hành quyền công tố
Dựa trên khái niệm về thực hành quyền công tố, ta có thể khái quát chung về pháp luật thực hành quyền công tố như sau:
Pháp luật về thực hành quyền công tố là hệ thống những quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành, nhằm xác lập quyền về mặt pháp lý cho cơ quan thực hành quyền công tố nhằm thực hiện việc truy tố và buộc tội
1.2 NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN VỀ VIỆN CÔNG TỐ
1.2.1 Khái quát mô hình Viện công tố ở một số nước trên thế giới
Cơ quan công tố hoàng gia Anh là cơ quan truy tố quốc gia Cơ quan công tố hoàng gia là một cơ quan công tố đóng vai trò đảm bảo rằng công lý được thực hiện, hoạt động công tố vì mục đích thực hiện Luật nhân quyền năm 1988.31
Là cơ quan truy tố tội phạm, cơ quan công tố hoàng gia Anh được chia thành 42 khu vực, mỗi khu vực do một Công tố viên trưởng đứng đầu.32
- Về cơ chế truy tố, phần lớn các thủ tục tố tụng hình sự do Công tố viên tiến hành Công tố viên hoàng gia Anh hoạt động truy tố phải công bằng, độc lập và khách quan.Khi tiến hành tố tụng hình sự tại phiên tòa, Công tố viên phải thực hiện quyền tự quyết của mình theo quy định của Bộ luật về Công tố viên Công tố viên phải chịu trách
30Đại học quốc gia Hà Nội, Khoa Luật: Giáo trình Luật tổ chức Tòa án, Viện kiểm sát, Công chứng, Luật sư; Nxb
Đại học quốc gia Hà Nội, 1998, tr 112.
31 Mục 2.5 Luật về Công tố viên Hoàng gia (Anh và xứ Wales).
32Lê Hữu Thể: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư Pháp,
Hà Nội, 2005, tr 192.
Trang 18nhiệm cá nhân đối với việc tiến hành tố tụng tại phiên tòa, tiến hành truy tố theo nhiệm
vụ của Công tố viên: đảm bảo cho quyền của người bị truy tố giống như quyền của bị cáo
- Về cơ cấu bổ nhiệm, Công tố viên phải là những luật sư, họ phải vượt qua việc thi cử
do Chính phủ tổ chức, và được Viện trưởng bổ nhiệm
Hệ thống Viện công tố Pháp nằm cạnh hệ thống Tòa án Theo quy định của pháp luật, Viện công tố thực hiện quyền công tố và yêu cầu áp dụng pháp luật trong phạm vi thẩm quyền về lãnh thổ của mình, giám sát việc áp dụng pháp luật hình sự trong địa phận mình quản lý
Nhiệm vụ của Viện công tố là bảo vệ quyền lợi chung của xã hội, đồng thời bảo vệ quyền tự do cá nhân.33Viện công tố thực hành quyền công tố và bảo vệ pháp luật Về mặt
tổ chức, Viện công tố trực thuộc Bộ Tư Pháp Viện công tố là cơ quan có trách nhiệm giải thích pháp luật để bảo vệ và áp dụng pháp luật
Về cơ cấu bổ nhiệm: người muốn được bổ nhiệm làm Thẩm phán công tố- Công tố viên đều bắt buộc phải qua khóa đào tạo tại trường đào tạo Thẩm phán quốc gia, tuy nhiên việc bổ nhiệm này có ngoại lệ, tức là một số đối tượng không qua trường đào tạo Thẩm pháp quốc gia vẫn có thể được bổ nhiệm nếu đó là những người đã có bằng thạc sĩ luật hoặc cao hơn với ít nhất 7 năm (hoặc tới 19 năm) hành nghề luật.34
Công tố viên nằm dưới sự chỉ đạo của Viện công tố cấp trên và cấp tối cao là Bộ trưởng Bộ Tư Pháp Cấp cao nhất là Bộ trưởng Bộ Tư Pháp, cấp trung gian là các Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa phúc thẩm, cấp dưới là Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa sơ thẩm.35
Viện công tố có chức năng quyết định việc khởi tố, truy tố tội phạm ra trước Tòa án
- Công tố viên có vai trò chủ đạo rất quan trọng trong việc thực hành quyền công Công tố viên phải được thông báo về hành vi phạm tội của người phạm tội và có quyền chỉ đạo các thủ tục tố tụng theo ý mình Như vậy, Công tố viên trong hệ thống tố tụng hình sự tại Pháp có thẩm quyền rộng lớn trong việc quyết định các thủ tục tố tụng
35Lê Hữu Thể: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư Pháp,
Hà Nội, 2005, tr 215.
Trang 19Vai trò của Viện trưởng Viện công tố
- Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa sơ thẩm chỉ đạo hoạt động của sĩ quan và nhân viên cảnh sát tư pháp trong phạm vi của mình, đóng vai trò như một điều tra viên bên cạnh Tòa sơ thẩm
- Viện trưởng Viện công tố có quyền trực tiếp điều tra, lập biên bản, tổ chức đối chất, tiến hành khám xét và xuống hiện trường vụ án Một số trường hợp Viện trưởng Viện công tố phải trực tiếp điều tra
Như vậy, Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa sơ thẩm có hai nhiệm vụ: lãnh đạo đội ngũ Công tố viên, thực hành quyền công tố; chỉ huy lực lượng cảnh sát tư pháp tiến hành các cuộc điều tra Ngoài ra, Viện trưởng Viện công tố bên cạnh Tòa sơ thẩm còn có quyền giám sát và hướng dẫn các cơ quan điều tra trong việc thực thi pháp luật…
- Tổ chức của Cơ quan công tố tương ứng với tổ chức Tòa án Viện công tố tối cao tương ứng với Tòa án tối cao Dưới Viện công tố tối cao có 8 Viện công tố cấp cao, 50 Viện công tố quận, 437 Viện công tố địa phương.36
- Cơ quan Công tố là một tổ chức đặc biệt trực thuộc Bộ Tư Pháp Bộ trưởng Bộ Tư Pháp chịu trách nhiệm trước Quốc hội và đồng thời là thành viên của Nội các.37 Viện công tố được tôn trọng về tính độc lập trong hệ thống bộ máy nhà nước và quyền tự quyết trong việc thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình
- Công tố viên có quyền quyết định truy tố hoặc không truy tố đối với bị can, thường gọi là “độc quyền truy tố” Tất cả các cơ quan điều tra phải chuyển giao vụ án cho Công
tố viên, tiếp đó Công tố viên hoàn thành kết luận điều tra và ra quyết định truy tố
Trong quá trình điều tra và quyết định của cá nhân Công tố viên đối với vụ án thì Bộ trưởng Bộ Tư Pháp không thể kiểm soát.38
Vai trò của Công tố viên là rất lớn và quan trọng trong việc điều tra vụ án
Trang 201.2.2 Một số điểm chung của các mô hình công tố
Hầu hết các quốc gia trên thế giới đều xây dựng mô hình Viện công tố dựa trên hoàn cảnh lịch sử của quốc gia mình Tuy nhiên, về cơ bản các mô hình công tố ở các nước đều xuất phát từ một số điểm chung:
- Cơ quan Công tố được thành lập xuất phát từ chức năng thực hành quyền công tố, nhằm bảo vệ an ninh trật tự của xã hội, ngăn ngừa tội phạm xảy ra, công tố là để răn đe tội phạm
- Công tố viên giữ vai trò trung tâm trong việc tiến hành tố tụng các vụ án
Để được trở thành Công tố viên, cá nhân phải tham gia vào kỳ thi xét tuyển, mục đích
là đảm bảo tiêu chuẩn về trình độ, năng lực Cá nhân đó phải là luật sư có kinh nghiệm.Công tố viên giữ vai trò quan trọng và có thẩm quyền trong việc điều tra vụ việc, thể hiện rõ nhất chức năng thực hành quyền công tố đại diện cho Viện công tố
Là nhân viên pháp luật, vai trò của Công tố viên ngày càng trở nên năng động và làm việc với tinh thần trách nhiệm cao
- Về tổ chức và hoạt động, cơ quan Công tố được phân chia rõ ràng trong bộ máy nhà nước
- Viện công tố là cơ quan đặc biệt và độc lập bên cạnh Tòa án Trong đó, vai trò của Viện trưởng Viện công tố được nhấn mạnh
1.3 MÔ HÌNH VIỆN KIỂM SÁT CỦA NƯỚC TA SO VỚI MÔ HÌNH VIỆN CÔNG TỐ CỦA MỘT SỐ NƯỚC TRÊN THẾ GIỚI
1.3.1 Ưu điểm
Hệ thống Viện kiểm sát nhân dân của nước ta đã trải qua nhiều giai đoạn lịch sử, do
đó việc khẳng định vị trí, vai trò, chức năng, nhiệm vụ của Viện kiểm sát nhân dân theo Hiến pháp và pháp luật hiện hành là kết quả của một quá trình hình thành, phát triển của ngành kiểm sát trên cơ sở những quan điểm đúng đắn của Chủ nghĩa Mác- Lênin và Tư tưởng Hồ Chí Minh.39 Viện kiểm sát đảm nhiệm hai chức năng là thực hành quyền công
tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp Qua thực tiễn, Viện kiểm sát đạt được một số ưu điểm như sau:
39Nguyễn Duy Giảng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Một số vấn đề đặt ra từ thực hiện chức năng thực hành
quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp,
http://www.vksndtc.gov.vn/theloai/tuphap/70.aspx , [truy cập ngày 03- 02- 2012].
Trang 21- Về cơ cấu tổ chức, hệ thống Viện kiểm sát có sự thống nhất từ Trung ương đến địa phương, tương ứng với tổ chức của Tòa án.40Sự phân chia như vậy là hợp lý đối với mô hình Nhà nước ta là Nhà nước xã hội chủ nghĩa.
- Về hoạt động, cơ quan kiểm sát hoạt động tuân thủ theo nguyên tắc chung của bộ
trong ngành và thực hiện chế độ thủ trưởng.42 Điều đó cho thấy cơ quan kiểm sát của nước ta có sự phân công, phân nhiệm rõ ràng trong công việc, cấp dưới phải tuân thủ sự chỉ đạo của cấp trên và cấp trên phải lắng nghe ý kiến của cấp dưới nhằm đạt được hiệu quả công tác Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao sẽ tổng hợp và báo cáo công tác trước Quốc hội.43 Việc bố trí hoạt động như vậy đảm bảo được tính xuyên suốt và chặt chẽ
Về chức năng, Viện kiểm sát thể hiện được vai trò của mình là kiểm sát việc tuân thủ pháp luật của các hoạt động tư pháp như kiểm sát trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử…góp phần giữ vững an ninh chính trị, bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa
Như vậy, so với các nước trên thế giới thì mô hình Viện kiểm sát ở nước ta đã đạt được hiệu quả về công tác kiểm sát trong hoạt động tư pháp, đảm bảo được vai trò quan trọng của pháp luật trong bộ máy nhà nước ta thể hiện qua vai trò của Viện kiểm sát
1.3.2 Hạn chế
Như chúng ta đã biết, Viện kiểm sát nhân dân đảm nhiệm hai chức năng là thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật hiện hành.Mặc dù, Viện kiểm sát đã đạt được những ưu điểm mà chúng ta đã đề cập như trên, song Viện kiểm sát nhân dân vẫn còn tồn tại một số hạn chế nhất định cả về chức năng và tổ chức bộ máy:
- Chức năng thực hành công tố của Viện kiểm sát nhân dân vẫn chưa được đẩy mạnh trong thực tiễn áp dụng pháp luật mà cụ thể là trong lĩnh vực tố tụng hình sự Khoản 1 điều 13 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân và điểm a khoản 2 điều 36 Bộ luật tố tụng hình sự có quy định khi thực hành quyền công tố trong giai đoạn điều tra vụ án hình sự, Viện kiểm sát có nhiệm vụ khởi tố vụ án, khởi tố bị can, nhưng tại điều 104 Bộ luật tố tụng hình sự lại quy định Viện kiểm sát chỉ được ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp Viện kiểm sát huỷ bỏ quyết định không khởi tố của Cơ quan điều tra và các cơ quan được giao nhiệm vụ tiến hành một số hoạt động điều tra
40 Điều 30 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002.
41Bao gồm 5 nguyên tắc: nguyên tắc Tập quyền xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc Tập trung dân chủ, nguyên tắc Pháp
chế xã hội chủ nghĩa, nguyên tắc Bình đẳng dân tộc và nguyên tắc Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng.
42 Điều 8 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002.
43 Điều 9 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002.
Trang 22Trên thực tế có nhiều trường hợp Cơ quan điều tra không ra quyết định khởi tố và cũng không ra quyết định không khởi tố vụ án, như vậy Viện kiểm sát không thể ra quyết định khởi tố vụ án để yêu cầu điều tra mà chỉ có thể ra văn bản yêu cầu khởi tố vụ án (theo quy định tại Điều 114 Bộ luật Tố tụng Hình sự yêu cầu khởi tố vụ án hình sự của Viện kiểm sát Đây không phải là loại yêu cầu mà nếu không nhất trí, thì Cơ quan điều tra vẫn phải chấp hành như một số yêu cầu, quyết định khác nên tính hiệu lực bị hạn chế).44
-Vai trò của Kiểm sát viên hiện nay chưa được nâng cao Kiểm sát viên là người đại diện cho Nhà nước, là người thực hiện quyền lực công chính vì vậy họ cần phải giữ một
vị trí quan trọng để thể hiện được vai trò của mình là trung tâm của việc thực hiện chức năng công tố Nhưng thực tiễn trong quá trình xét xử cho thấy Kiểm sát viên chưa thể hiện được một cách mạnh mẽ trong vai trò tiếng nói đại diện công quyền
- Kỹ năng thực hành quyền công tố của Kiểm sát viên chưa đáp ứng yêu cầu Trong kiểm sát hoạt động tư pháp, vẫn còn một số trường hợp Kiểm sát viên đã không kiên quyết kiến nghị, kháng nghị yêu cầu Cơ quan điều tra, Tòa án khắc phục khi phát hiện có
vi phạm, còn bỏ lọt tội phạm…45
44Nguyễn Duy Giảng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn chức năng thực hành quyền
công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp,
http://www.vksndtc.gov.vn/theloai/tuphap/70.aspx , [truy cập ngày 03- 02- 2012].
45Lê Thành Dương: Nhận thức và thực tiễn tổ chức, hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân nói
chung và Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân tại Tp Hồ Chí Minh, Tài liệu Hội thảo khoa học toàn đánh giá 10 năm (2001- 2010) xây dựng Nhà nước pháp quyền và những luận cứ khoa học cho việc tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn 2011- 2020, năm 2011, tr 195- 223, tr 201.
Trang 23quốc-CHƯƠNG 2 NHỮNG TỒN TẠI CỦA MÔ HÌNH VIỆN KIỂM SÁT HIỆN NAY VÀ YÊU CẦU CHUYỂN ĐỔI THÀNH VIỆN CÔNG TỐ THEO
TINH THẦN CẢI CÁCH TƯ PHÁP2.1 NHỮNG TỒN TẠI CỦA MÔ HÌNH VIỆN KIỂM SÁT HIỆN NAY
2.1.1 Về tổ chức và hoạt động
Trong cơ cấu tổ chức bộ máy nhà nước, hệ thống Viện kiểm sát nhân dân là một hệ thống cơ quan nhà nước độc lập, được tổ chức theo nguyên tắc tập trung thống nhất, nhưng không lệ thuộc vào bất cứ cơ quan nhà nước nào ở địa phương.46 Khi thực hiện chức năng, nhiệm vụ của mình Cơ quan kiểm sát phải có trách nhiệm phối hợp công tác với Cơ quan điều tra, Tòa án để thực hiện tốt chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật
Theo tinh thần cải cách tư pháp mà Nghị quyết 49- NQ/TƯ của Bộ chính trị ngày 02/6/2005 đã đề ra thì hệ thống Viện kiểm sát nhân dân sẽ được tổ chức lại phù hợp với
hệ thống tổ chức Tòa án, trong khi đó hệ thống Cơ quan điều tra vẫn giữ nguyên mô hình như hiện nay Hướng chuyển đổi như vậy là chưa hợp lý bởi một số nguyên nhân như sau:
- Viện kiểm sát với chức năng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp nên trong hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ phải gắn với Cơ quan điều tra hàng ngày để nghiên cứu hồ sơ, kiểm sát các hoạt động điều tra.47Về thực tế, Viện kiểm sát nhân dân và cả Cơ quan điều tra vẫn chưa có sự thống nhất phối hợp công tác trong việc thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn của mình Như vậy, nếu thay đổi mô hình tổ chức Viện kiểm sát phù hợp với tổ chức Tòa án thì cần thiết phải tổ chức lại hệ thống Cơ quan điều tra sao cho hệ thống Cơ quan kiểm sát và Cơ quan điều tra có mối quan hệ gắn bóhơn nữa, hỗ trợ cho nhau trong khi thực hiện nhiệm vụ, nhất là trong việc thực hiện chức năng công tố và kiểm sát hoạt động điều tra Tuy vậy, một số nội dung Nghị quyết 49-NQ/TƯ chưa được thống nhất, chưa tạo ra được sự đồng thuận trong việc triển khai thực hiện.48
46Đại học quốc gia Hà Nội- Khoa Luật: Giáo trình Luật tổ chức Tòa án, Viện kiểm sát, Công chứng, Luật sư, Nxb
Đại học quốc gia Hà Nội, 1998, tr 105.
47Nguyễn Duy Giảng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn thực hiện chức năng thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp,
http://www.vksndtc.gov.vn/theloai/tuphap/70.aspx , [truy cập ngày 03-02- 2012].
48Lê Thành Dương: Nhận thức và thực tiễn tổ chức, hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân nói
chung và Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân tại Tp Hồ Chí Minh, Tài liệu Hội thảo khoa học toàn đánh giá 10 năm (2001- 2010) xây dựng Nhà nước pháp quyền và những luận cứ khoa học cho việc tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn 2011- 2020, năm 2011, tr 195- 223, tr 207.
Trang 24quốc Nội dung của hoạt động “thực hiện cơ chế công tố gắn với hoạt động điều tra” mà Nghị quyết 49- NQ/TƯ đề cập có nhiều nhận thức và quan điểm khác nhau, chưa được hiểu thống nhất từ phía các cơ quan nhà nước…49 Không phải kết hợp hay gắn công tố với điều tra làm một, mà đòi hỏi cả hai cơ quan phải thực hiện đúng và đầy đủ chức năng công tố và chức năng điều tra của từng cơ quan nhưng vẫn đảm bảo có sự chế ước và phối hợp chặt chẽ trên cơ sở chức năng của mỗi cơ quan.
Trên đây là một số điểm hạn chế của Viện kiểm sát xuất phát từ nội dung cải cách tư pháp và sự nhìn nhận từ góc độ thực tiễn về tổ chức và hoạt động của Viện kiểm sát nhân dân nói riêng và mối quan hệ giữa Cơ quan điều tra với Viện kiểm sát nhân dân nói chung
2.1.2 Về nhiệm vụ, quyền hạn
Theo điều 126 Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và điều 2 Luật
tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định, Viện kiểm sát nhân dân có những nhiệm vụ sau đây:
- Bảo vệ pháp chế xã hội chủ nghĩa;
- Bảo vệ chế độ xã hội chủ nghĩa và quyền làm chủ của nhân dân;
- Bảo vệ tài sản của Nhà nước, của tập thể;
- Bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do, danh dự và nhân phẩm của công dân.Tuy nhiên trong thực tế hiện nay cho thấy hệ thống cơ quan kiểm sát vẫn chưa thực hiện tốt nhiệm vụ “bảo vệ tính mạng, sức khỏe, tài sản, tự do…của công dân” bởi một số nguyên nhân khách quan và chủ quan như sau:
Do tình hình tội phạm ngày càng gia tăng, chuyển biến phức tạp, chính vì vậy đòi hỏi công tác kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố cần phải được nâng cao và kịp thời xử lý và ngăn ngừa tội phạm xảy ra, trong đó vai trò của Kiểm sát viên, Điều tra viên các cấp là vô cùng quan trọng trong việc đấu tranh phòng chống tội phạm Tuy nhiên, theo báo cáo của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao Trần Quốc Vượng, một số đơn vị vẫn chưa làm hết trách nhiệm trong việc khởi tố, truy nã tội phạm, khởi tố vụ án, khởi tố bị can chưa chặt chẽ, còn bỏ lọt tội phạm Kiểm sát viên năng lực còn hạn chế, thiếu trách nhiệm trong nghiên cứu hồ sơ vụ án, nắm chưa chắc pháp luật
49Lê Thành Dương: Nhận thức và thực tiễn tổ chức, hoạt động của Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân nói
chung và Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân tại Tp Hồ Chí Minh, Tài liệu Hội thảo khoa học toàn đánh giá 10 năm (2001- 2010) xây dựng Nhà nước pháp quyền và những luận cứ khoa học cho việc tiếp tục xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam giai đoạn 2011- 2020, năm 2011, tr 195- 223, tr 208- 209.
Trang 25quốc-nên tranh tụng tại tòa còn thiếu hiệu quả…50 Điều này đã phản ánh rằng chất lượng thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp ở nước ta chưa đạt yêu cầu Theo
ý kiến của đại biểu Đặng Văn Khanh (đoàn đại biểu Hà Nội) cho rằng tình hình tội phạm hiện nay có chiều hướng diễn biến phức tạp, nhất là loại tội phạm công nghệ cao, tội phạm trên thị trường chứng khoán… để điều tra, xét xử những tội phạm này rất là khó khăn và mất nhiều thời gian; bên cạnh đó, theo tinh thần cải cách tư pháp, trong nhiều vụ
án bị cáo sử dụng luật sư ngay từ đầu, đòi hỏi Kiểm sát viên phải tranh tụng với luật sư tại phiên tòa, do đó, nếu không được nâng cao về trình độ thì sẽ khó khăn hơn trong quá trình tranh tụng với luật sư.51
Trước hết phải nói đến trách nhiệm của Viện kiểm sát mà đại diện là Kiểm sát viên trong nhiệm vụ kiểm sát giai đoạn điều tra vụ án Khởi tố và điều tra là hai giai đoạn quan trọng của một quá trình tố tụng hình sự, để quyết định một người nào đó có bị truy
tố hay không, cho nên hai giai đoạn này rất cần thiết được kiểm sát một cách chặt chẽ Thế nhưng trên thực tế vẫn có nhiều trường hợp Cơ quan kiểm sát đã không phối hợp chặt chẽ cùng với Cơ quan điều tra trong quá trình điều tra, dẫn đến nhiệm vụ kiểm sát trong quá trình điều tra của Viện kiểm sát là chưa thực sự sâu sát Chính vì chức năngkiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhân dân chưa được đảm bảo nên đã xảy ra rất nhiều trường hợp cá nhân bị khởi tố oan do Viện kiểm sát chưa nghiên cứu kỹ kết luận điều tra từ phía Cơ quan điều tra gửi qua mà đã phê chuẩn quyết định truy tố chỉdựa trên kết luận điều tra của Cơ quan điều tra
Điều này tất yếu sẽ dẫn đến việc truy tố sai của Viện kiểm sát và khi đến giai đoạn xét
xử sẽ kéo theo việc xét xử sai của Tòa án, làm oan sai cho người vô tội, dẫn đến sức khỏe- danh dự- nhân phẩm- tự do của công dân không được đảm bảo.52
Như vậy, nếu nhiệm vụ kiểm sát các hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát nhất là trong các giai đoạn điều tra, xét xử không được thực hiện một cách nghiêm túc, còn lơ là, thiếu tính xuyên suốt thì sẽ dẫn đến những hậu quả như đã phân tích ở trên Đồng thời, nhiệm vụ bảo đảm các quyền của công dân mà pháp luật quy định không được thực hiện tốt Đây là điểm hạn chế của Viện kiểm sát trong việc thực hiện nhiệm vụ của mình
50Phương Hiếu: Thảo luận tại tổ về nhiệm kỳ công tác của Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC- Nâng
cao chất lượng của Tòa án, Viện kiểm sát, Báo điện tử Thanh tra, 2011,
Vien-Kiem-sat/Default.aspx , [ngày truy cập 01- 4- 2012].
http://thanhtra.com.vn/tabid/77/newsid/38481/temidclicked/1014/seo/Nang-cao-chat-luong-hoat-dong-cua-Toa-an-51Phương Hiếu: Thảo luận tại tổ về nhiệm kỳ công tác của Chánh án TANDTC và Viện trưởng VKSNDTC- Nâng
cao chất lượng của Tòa án, Viện kiểm sát, Báo điện tử Thanh tra, 2011,
Vien-Kiem-sat/Default.aspx , [ngày truy cập 01- 4- 2012].
http://thanhtra.com.vn/tabid/77/newsid/38481/temidclicked/1014/seo/Nang-cao-chat-luong-hoat-dong-cua-Toa-an-52 Điều 7 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
Trang 26Khi đề cập đến quyền hạn của Viện kiểm sát nhân dân, theo điều 6 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 thì “Viện kiểm sát nhân dân có quyền ra quyết định, kháng nghị, kiến nghị, yêu cầu và chịu trách nhiệm trước pháp luật về các văn bản đó…” và điều 13 khoản 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân quy định Viện kiểm sát nhân dân
có quyền “khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can, yêu cầu cơ quan điều tra khởi tố hoặc thay đổi quyết định khởi tố vụ án hình sự, khởi tố bị can” Tuy nhiên, theo điều 104 Bộ luật tố tụng hình sự 2003 thì Viện kiểm sát chỉ ra quyết định khởi tố vụ án hình sự trong trường hợp Viện kiểm sát hủy bỏ quyết định không khởi tố vụ án của Cơ quan điều tra… Như vậy, có những trường hợp Cơ quan điều tra không ra quyết định khởi tố hoặc quyết định không khởi tố vụ án, khởi tố bị can thì Viện kiểm sát cũng không thể thực hiện quyền khởi tố của mình, bởi không có sự trả lời rõ ràng từ phía Cơ quan điều tra.53 Điều này làm ảnh hưởng đến quyền hạn khởi tố vụ án, khởi tố bị can mà Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân đã quy định Quyền khởi tố của Viện kiểm sát đối với toàn bộ giai đoạn khởi tố về thực tế là bị hạn chế rất nhiều
2.1.3 Về chức năng thực hành quyền công tố
2.1.3.1 Về mặt lý luận
Theo điều 137 Hiến pháp năm 1992 (được sửa đổi, bổ sung năm 2001) và điều 1 Luật tổ chức Viện kiểm sát nhân dân năm 2002 quy định “Viện kiểm sát nhân dân thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật” Như vậy chức năng cơ bản của hệ thống Viện kiểm sát nhân dân bao gồm chức năng thực hành quyền công tố và chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp Ở phần này chúng ta chỉ đề cập đến chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nhân dân
Quyền công tố là một khái niệm pháp lý, nó gắn liền với sự phát triển của bộ máy nhà nước và dần dần được hoàn thiện qua hệ thống pháp luật Về mặt nội dung, thực hành quyền công tố là việc sử dụng tất cả những quyền năng tố tụng nhằm đảm bảo phát hiện kịp thời, xử lý nghiêm minh mọi hành vi phạm tội, không để lọt tội phạm và người phạm tội, không làm oan người vô tội.54 Có thể thấy rằng, chức năng thực hành quyền công tố của Viện kiểm sát nước ta thể hiện rõ nhất trong lĩnh vực tố tụng hình sự
53Nguyễn Duy Giảng, Viện kiểm sát nhân dân tối cao: Một số vấn đề đặt ra từ thực tiễn thực hiện chức năng thực
hành quyền công tố và kiểm sát hoạt động tư pháp của Viện kiểm sát theo yêu cầu cải cách tư pháp,
http://www.vksndtc.gov.vn/theloai/tuphap/70.aspx , [truy cập ngày 03-02- 2012].
54Đại học quốc gia Hà Nội- Khoa Luật: Giáo trình Luật tổ chức Tòa án, Viện kiểm sát, Công chứng, Luật sư, Nxb
Đại học quốc gia Hà Nội, 1998, tr 112- 113.
Trang 27Trong tố tụng hình sự luôn tồn tại ba chức năng chủ yếu:55
- Chức năng buộc tội;
- Chức năng bào chữa;
- Chức năng giải quyết các vụ án
Trong đó chức năng buộc tội là gắn liền với chức năng thực hành quyền công tố Buộc tội với tư cách là một chức năng tố tụng nhằm chống lại một người cụ thể và thực chất nó là hoạt động truy cứu trách nhiệm hình sự đối với người phạm tội.56 Ở giai đoạn truy tố và xét xử sơ thẩm trước Tòa án thì chức năng buộc tội của Viện kiểm sát được thể hiện một cách tập trung và rõ nét nhất Chức năng này do Viện trưởng ủy quyền cho Kiểm sát viên thực hiện
Hình thức buộc tội do Kiểm sát viên thực hiện nhân danh nhà nước được gọi là hoạt động công tố Viện kiểm sát nhân dân là cơ quan duy nhất được luật giao chức năng thực hành quyền công tố nhân danh nhà nước bằng bản cáo trạng ra trước Tòa án để xét xử, đồng thời duy trì quyền công tố tại phiên tòa.57 Tại phiên tòa, Viện kiểm sát sử dụng các quyền do luật quy định, giúp Tòa án có cơ sở để tuyên bản án đúng người, đúng tội, đúng pháp luật
2.1.3.2 Về mặt thực tiễn
Mặc dù về cơ sở lý luận Viện kiểm sát nhân dân đảm nhiệm hai chức năng chính là kiểm sát các hoạt động tư pháp và thực hành quyền công tố, nhưng trên thực tế hiện nay thì Viện kiểm sát nhân dân hầu hết chỉ tập trung vào thực hiện chức năng kiểm sát các hoạt động tư pháp mà chưa đẩy mạnh được chức năng thực hành quyền công tố, bên cạnh
đó, thực hành quyền công tố vẫn chưa được hiểu một cách thống nhất, và cho đến nay vẫn còn nhiều ý kiến khác nhau.58 Vấn đề này cũng gây khó khăn trong công tác thực hành quyền công tố bởi khái niệm thực hành quyền công tố không giải thích rõ thì sẽ dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau Như vậy cơ quan có nhiệm vụ thực hiện công tác thực hành quyền công tố sẽ khó khăn khi áp dụng quyền của mình
55Đại học quốc gia Hà Nội- Khoa Luật: Giáo trình Luật tổ chức Tòa án, Viện kiểm sát, Công chứng, Luật sư, Nxb
Đại học quốc gia Hà Nội, 1998, tr 114.
56Lê Hữu Thể: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư Pháp,
Hà Nội, 2005, tr 39.
57 Điều 166, điều 167 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003.
58Lê Hữu Thể: Thực hành quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp trong giai đoạn điều tra, Nxb Tư Pháp,
Hà Nội, 2005, tr 52.