1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

BAI THAO LUAN TRUNG CẤP CHÍNH TRỊ MÔN KTCT

34 183 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 68,7 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Câu 6: Phân tích nội dung ý nghĩa của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất.. Phân tích nội dung ý nghĩa của quy luật về sự phù hợp c

Trang 1

Câu 6: Phân tích nội dung ý nghĩa của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Liên hệ vận dụng quy luật này trên đất nước ta?

Phân tích nội dung ý nghĩa của quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình

độ của lực lượng sản xuất

Lịch sử phát triển của nền sản xuất xã hội là lịch sử phát triển của những phương thứcsản xuất kế tiếp nhau từ thấp đến cao Mà lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất la hai mặtcủa phương thức sản xuất, chúng tồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau mộtcách biện chứng, tạo thành quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất - quy luật cơ bản nhất của sự vận động phát triển của xã hội Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất làquy luật phổ biến, tác động trong toàn tiến trình lịch sử của nhân loại

Sự vận động, phát triển cùa lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệsản xuất cho phù hợp với nó Ngược lại, quan hệ sản xuất cũng có tính độc lập tương và tácđộng trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi quan hệ sản xuất phù hợp với trình độphát triển của lực lượng sản xuất, nó là động lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển.Ngược lại, khi quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu hoặc tiên tiến hơn một cách giả tạo so vớitrình độ phát triển củ lực lượng sản xuất sẽ lại kìm hãm sự phát triển của lực lượng sản xuất

Do đó, việc giải quyết mâu thẫu giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất không phải làđơn giản

Trong nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung trước đây chúng ta đã không có được sựnhận thức đúng đắn về quy luật của sự phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất

Cơ chế quan liêu, bao cấp đã bóp méo các yếu tố của quan hệ sản xuất, kìm hãm lực lượngsản xuất, kết quả của sự không phù hợp giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất đã làmcho mâu thẫu giữa chúng trở nên gay gắt Điều đó khiến cho nền kinh tế Việt Nam phải ởtrong tình trạng khủng hoảng, trì trệ một thời gian dài

Chính vì vậy, việc đưa nhận thức một cách đúng đắn mối quan hệ, tác động qua lạilẫn nhau giữa quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất có ý nghĩa vô cùng to lớn, đặc biệt làtrong quá trình xây dựng nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần ở Việt Nam hiện nay

1 Các khái niệm cơ bản

Trang 2

a) Lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất là toàn bộ những năng lực sản xuất của một xã hội nhất định, ởmột thời kỳ nhất định Lực lượng sản xuất biểu hiện mối quan hệ tác động giữa con ngườivới tự nhiên, biểu hiện trình độ sản xuất của con người và năng lực thực tiễn của con ngườitrong quá trình sản xuất ra của cải vật chất

Lực lượng sản xuất bao gồm tư liệu sản xuất và người lao động với tri thức, phươngpháp sản xuất, kỹ năng, kỹ xảo và thói quen lao động của họ Trong các yếu tố hợp thànhlực lượng sản xuất, người lao động là chủ thể và bao giờ cũng là lực lượng sản xuất cơ bản,quyết định nhất của xã hội

Ngày nay, khi khoa học trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, thì nội dung khái niệmlực lượng sản xuất được bổ sung, hoàn thiện hơn Các cuộc cách mạng khoa học và côngnghệ đã làm xuất hiện những khu vực sản xuất mới và làm cho năng suất lao động tăng lêngấp bội Năng suất lao động được xem như là tiêu chí quan trọng trọng nhất để đánh giátrình độ phát triển của lực lượng sản xuất và suy cho cùng cũng là yếu tố quyết định sự chiếnthắng của một trật tự xã hội này đối với một trật tự xã hội khác

Quan hệ sản xuất là hình thức xã hội của sản xuất, biểu hiện mối quan hệ giữa conngười với con người trên ba mặt chủ yếu sau:

- Quan hệ về sở hữu đối với tư liệu sản xuất là quan hệ giữa con người với con ngườitrong việc chiếm hữu tư liệu sản xuất chủ yếu của xã hội

- Quan hệ trong tổ chức và quản lý là quan hệ giữa con người với con người trongviệc tổ chức quản lý sản xuất xã hội và trong trao đổi hoạt động cho nhau

- Quan hệ phân phối lưu thông là quan hệ giữa con người với con người trong phânphối và lưu thông sản phẩm xã hội

Trang 3

Các mặt nói trên của quan hệ sản xuất có mối quan hệ mật thiết, tác động qua lại lẫnnhau, trong đó quan hệ sở hữu đối với tư liệu sản xuất giữ vai trò quyết định Trong xã hội

có giai cấp, giai cấp nào chiếm hữu tư liệu sản xuất thì giai cấp đó là giai cấp thống trị; giaicấp ấy đứng ra tổ chức, quản lý sản xuất và sẽ quyết định tính chất, hình thức phân phối,cũng như quy mô thu nhập Ngược lại, giai cấp, tầng lớp nào không có tư liệu sản xuất thì sẽ

là giai cấp, tầng lớp bị thống trị, bị bóc lột vì buộc phải làm thuê và bị bóc lột dưới nhiềuhình thức khác nhau

Tuy vậy, quan hệ tổ chức quản lý và quan hệ phân phối lưu thông cũng có tác độngtrở lại quan hệ sản xuất

Quan hệ sản xuất trong tính hiện thực của nó không phải là những quan hệ ý chí, pháp

lý mà là quan hệ kinh tế được biểu diễn thành các phạm trù, quy luật kinh tế

Quan hệ sản xuất mang tính khách quan, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan của conngười Sự thay đổi của các kiểu quan hệ sản xuất phụ thuộc vào tính chất và trình độ của lựclượng sản xuất

c) Phương thức sản xuất

Phương thức sản xuất là cách thức con người khai thác những của cải vật chất (tư liệusản xuất và tư liệu sinh hoạt) cần thiết cho hoạt động tồn tại và phát triển của xã hội trongnhững giai đoạn lịch sử nhất định của xã hội loài người

Mỗi xã hội được đặc trưng bằng một phương thức sản xuất nhất định Phương thức sảnxuất đóng vai trò quyết định đối với tất cả các mặt của đời sống xã hội: kinh tế, chính trị, vănhoá, xã hội Sự thay thế kế tiếp nhau của các phương thức sản xuất trong lịch sử quyết định

sự phát triển của xã hội loài người từ thấp đến cao

Phương thức sản xuất chính là sự thống nhất và tác động qua lại giữa lực lượng sản xuất

ở một trình độ nhất định và quan hệ sản xuất tương ứng

2 - Quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất

a) Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệ sản xuất

Trang 4

Lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất là hai mặt của phương thức sản xuất, chúngtồn tại không tách rời nhau, tác động qua lại lẫn nhau một cách biện chứng, tạo thành quyluật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất (quyluật cơ bản nhất của sự vận động, phát triển xã hội).

Sự vận động, phát triển của lực lượng sản xuất quyết định và làm thay đổi quan hệsản xuất cho phù hợp với nó Khi một phương thức sản xuất mới ra đời, khi đó quan hệ sảnxuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất Sự phù hợp của quan hệ sản xuấtvới trình độ phát triển của lực lượng sản xuất là một trạng thái mà trong đó quan hệ sản xuất

là “hình thức phát triển” của lực lượng sản xuất Trong trạng thái đó, tất cả các mặt của quan

hệ sản xuất đều “tạo địa bàn đầy đủ” cho lực lượng sản xuất phát triển Điều đó có nghĩa là,

nó tạo điều kiện sử dụng và kết hợp một cách tối ưu giữa người lao động với tư liệu sản xuất

và do đó lực lượng sản xuất có cơ sở để phát triển hết khả năng của nó

Sự phát triển của lực lượng sản xuất đến một trình độ nhất định làm cho quan hệ sảnxuất từ chỗ phù hợp trở thành không phù hợp với sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi

đó, quan hệ sản xuất trở thành “xiềng xích” của lực lượng sản xuất, kìm hãm lực lượng sảnxuất phát triển Yêu cầu khách quan của sự phát triển lực lượng sản xuất tất yếu dẫn đến thaythế quan hệ sản xuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển mới củalực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượng sản xuất tiếp tục phát triển Thay thế quan hệ sảnxuất cũ bằng quan hệ sản xuất mới cũng có nghĩa là phương thức sản xuất cũ mất đi, phươngthức sản xuất mới ra đời thay thế

b) Quan hệ sản xuất có tính độc lập tương đối và tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất

Lực lượng sản xuất quyết định quan hệ sản xuất, nhưng quan hệ sản xuất không hoàntoàn thụ động mà tác động trở lại sự phát triển của lực lượng sản xuất Quan hệ sản xuất cóthể tác động đến lực lượng sản xuất vì nó quy định mục đích của sản xuất, tác động đến thái

độ của con người trong lao động sản xuất, đến tổ chức phân công lao động xã hội, đến pháttriển và ứng dụng khoa học và công nghệ và do đó tác động đến sự phát triển của lựclượng sản xuất Quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất làđộng lực thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển Ngược lại quan hệ sản xuất lỗi thời, lạc hậu

Trang 5

hoặc “tiên tiến” hơn một cách giả tạo so với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất sẽ kìmhãm sự phát triển của lực lượng sản xuất Khi quan hệ sản xuất kìm hãm sự phát triển củalực lượng sản xuất, thì theo quy luật chung, quan hệ sản xuất cũ sẽ được thay thế bằng quan

hệ sản xuất mới phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất để thúc đẩy lực lượngsản xuất phát triển

Quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất làquy luật phổ biến tác động trong toàn bộ tiến trình lịch sử nhân loại Sự thay thế, phát triểncủa lịch sử nhân loại từ chế độ công xã nguyên thuỷ, qua chế độ chiếm hữu nô lệ, chế độphong kiến, chế độ tư bản chủ nghĩa và đến xã hội cộng sản tương lai là do sự tác động của

hệ thống các quy luật xã hội, trong đó quy luật quan hệ sản xuất phù hợp với trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất là quy luật cơ bản nhất

II/ Vận dụng quy luật về sự phù hợp của quan hệ sản xuất với tính chất và trình độ phát triển của lực lượng sản xuất vào quá trình phát triển kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Nền kinh tế trong thời kỳ quá độ ở nước ta là nền kinh tế đang thực hiện những cuộccải biến cách mạng toàn diện và sâu sắc trên mọi lĩnh vực kinh tế, chính trị, văn hoá, xã hội.Trong lĩnh vực kinh tế đó là việc cải tạo quan hệ sản xuất cũ, xây dựng quan hệ sản xuất mới

xã hội chủ nghĩa gắn liền với quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, phát triển mạnh mẽlực lượng sản xuất xã hội chủ nghĩa, từng bước chuyển nền kinh tế nhiều thành phần, sảnxuất nhỏ là chủ yếu lên nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa

Trong nền kinh tế quá độ, kinh tế nhà nước phải giữ vai trò chủ đạo và cùng với kinh

tế hợp tác làm nền tảng cho sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế quốc dân theo định hướng

xã hội chủ nghĩa Để thực hiện vai trò ấy, theo Nghị quyết Đại hội VIII, kinh tế nhà nướcphải được tiếp tục đổi mới và phát triển có hiệu quả, nắm vững những vị trí then chốt, nhữnglĩnh vực trọng yếu trong nền kinh tế như kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội, hệ thống tài chính,ngân hàng, bảo hiểm, những cơ sở sản xuất và thương mại, dịch vụ quan trọng Các doanhnghiệp nhà nước phải có quy mô vừa và lớn, phát huy được ưu thế về kỹ thuật và công nghệ,

Trang 6

nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tạo ra nhiều sản phẩm chất lượng cao, giá thành

hạ, tạo nguồn thu lớn cho ngân sách nhà nước

Đại hội Đảng lần thứ VIII đã chỉ rõ: vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước thể hiện ởchỗ “làm đòn bẩy đẩy nhanh tăng trưởng kinh tế và giải quyết những vấn đề xã hội, mởđường, hướng dẫn, hỗ trợ các thành phần kinh tế khác cùng phát triển; làm lực lượng vậtchất để nhà nước thực hiện chức năng điều tiết và quản lý vĩ mô, tạo nền tảng cho chế độ xãhội mới”

1 - Quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam

Từ khi hoà bình được lập lại năm 1954, miền Bắc nước ta đã bước vào thời kỳ quá độtiến lên chủ nghĩa xã hội với đặc điểm như Chủ tịch Hồ Chí Minh đã nói: “Đặc điểm to nhấtcủa nước ta trong thời kỳ quá độ là từ một nước nông nghiệp lạc hậu tiến thẳng lên chủnghĩa xã hội không phải kinh qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa”

Từ năm 1975, sau khi đất nước đã hoàn toàn độc lập và cả nước thống nhất, cáchmạng dân tộc - dân chủ đã hoàn toàn thắng lợi trên phạm vi cả nước thì cả nước cùng tiếnhành cách mạng xã hội chủ nghĩa, cùng quá độ lên chủ nghĩa xã hội Cương lĩnh xây dựngđất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội của Đảng ta nói rõ hơn thực trạng kinh tế

và chính trị của đất nước: “Nước ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội, bỏ qua chế độ tư bản, từmột xã hội vốn là thuộc địa, nửa phong kiến, lực lượng sản xuất rất thấp Đất nước trải quahàng chục năm chiến tranh, hậu quả để lại còn nặng nề, những tàn dư thực dân, phong kiếncòn nhiều Các thế lực thù địch thường xuyên tìm cách phá hoại chế độ xã hội chủ nghĩa vànền độc lập dân tộc của nhân dân ta”

Thời kỳ quá độ là thời kỳ lịch sử mà bất cứ một quốc gia nào đi lên chủ nghĩa xã hộicũng đều phải trải qua, ngay cả đối với những nước đã có nền kinh tế rất phát triển, bởi lẽ, ởcác nước này, tuy lực lượng sản xuất đã phát triển cao nhưng vẫn còn cần phải cải tạo và xâydựng quan hệ sản xuất mới, xây dựng nền văn hoá mới Dĩ nhiên, đối với những nước thuộcloại này, về khách quan có nhiều thuận lợi hơn, thời kỳ quá độ có thể diễn ra ngắn hơn Đốivới nước ta, một nước nông nghiệp lạc hậu đi lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủnghĩa, thì lại càng phải trải qua một thời kỳ quá độ lâu dài

Trang 7

Theo Củ tịch Hồ Chí Minh, thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở nước ta là một thời

lỳ lịch sử mà: “nhiệm vụ quan trọng nhất của chúng ta là phải xây dựng nền tảng vật chất, kỹthuật của chủ nghĩa xã hội,…tiến dần lên chủ nghĩa xã hội, có công nghiệp và nông nghiệphiện đại, có văn hoá, khoa học tiên tiến Trong quá trình cách mạng xã hội chủ nghĩa, chúng

ta phải cải tạo nền kinh tế cũ và xây dựng nền kinh tế mới, mà trong đó xây dựng là nhiệm

vụ chủ chốt và lâu dài”

Tuy vậy, sau hơn 15 năm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng, bằng sự nỗ lực sángtạo của quần chúng, các ngành, các cấp, chúng ta đã vượt qua được khủng hoảng, đạt đượcnhững thành tựu to lớn và rất quan trọng trong hoạt động thực tiễn trên nhiều lĩnh vực củađời sống xã hội: kinh tế tăng trưởng nhanh, chính trị ổn định, mở rộng quan hệ kinh tế đốingoại và chủ động hội nhập kinh tế quốc tế, tận dụng nguồn vốn và công nghệ, phát huy nộilực đất nước, đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá; bộ mặt kinh tế - xã hội thay da đổithịt hàng ngày, đời sống nhân dân được cải thiện rõ rệt

Trong quá trình đổi mới, một trong những vấn đề tư duy lý luận cốt lõi thuộc vềđường lối là sự chuyển đổi từ nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa

Đảng và nhà nước ta đã chủ trương thực hiện nhất quán và lâu dài chính sách: pháttriển kinh tế hàng hoá nhiều thành phần, vận động theo cơ chế thị trường, định hướng xã hộichủ nghĩa có sự quản lý điều tiết của nhà nước

Phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, gắn liền với xây dựng quan hệ sản xuất mớicho phù hợp trên cả ba mặt: sở hữu, quản lý và phân phối

2 - Những thành tựu kinh tế - xã hội đã đạt được

Trong những năm qua, Đảng và toàn dân ta đã nỗ lực phấn đấu và đạt được nhữngthành tựu quan trọng theo tổng cục thống kê Việt Nam đến năm 2018

Thành tựu kinh tế

a) Tăng trưởng kinh tế: (1)Tổng sản phẩm trong nước (GDP) quý IV năm 2018 ước

tính tăng 7,31% so với cùng kỳ năm trước, trong đó khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản

Trang 8

tăng 3,90%; khu vực công nghiệp và xây dựng tăng 8,65% và khu vực dịch vụ tăng 7,61%.Tăng trưởng quý IV/2018 thấp hơn tăng trưởng quý IV/2017 nhưng cao hơn tăng trưởng quý

IV các năm 2011-2016 Trên góc độ sử dụng GDP quý IV năm 2018, tiêu dùng cuối cùngtăng 7,51% so với cùng kỳ năm trước; tích lũy tài sản tăng 9,06%; xuất khẩu hàng hóa vàdịch vụ tăng 10,69%; nhập khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 9,50% (2) GDP cả năm 2018tăng 7,08%, là mức tăng cao nhất kể từ năm 2008 trở về đây Mức tăng trưởng năm nay vượtmục tiêu 6,7% đặt ra là kết quả sự điều hành quyết liệt của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ

và nỗ lực của các cấp, các ngành, địa phương, cộng đồng doanh nghiệp và nhân dân cả nước.Trong mức tăng trưởng của toàn nền kinh tế năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp và thủysản tăng 3,76%, đóng góp 8,7% vào mức tăng trưởng chung; khu vực công nghiệp và xâydựng tăng 8,85%, đóng góp 48,6%; khu vực dịch vụ tăng 7,03%, đóng góp 42,7% Xét vềgóc độ sử dụng GDP năm 2018, tiêu dùng cuối cùng tăng 7,17% so với năm 2017; tích lũytài sản tăng 8,22%; xuất khẩu hàng hóa và dịch vụ tăng 14,27%; nhập khẩu hàng hóa và dịch

vụ tăng 12,81% (3) Khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đạt mức tăng trưởng cao nhấttrong 7 năm qua, khẳng định chuyển đổi cơ cấu ngành đã phát huy hiệu quả, đặc biệt tronglĩnh vực nông nghiệp và nuôi trồng thủy sản Cơ cấu cây trồng được chuyển dịch theo hướngtích cực, giống lúa mới chất lượng cao đang dần thay thế giống lúa truyền thống, phát triển

mô hình theo tiêu chuẩn VietGap cho giá trị kinh tế cao Mặc dù diện tích gieo trồng lúa trên

cả nước năm nay giảm nhưng năng suất tăng cao nên sản lượng lúa cả năm 2018 ước tínhđạt 43,98 triệu tấn, tăng 1,24 triệu tấn so với năm 2017 Nuôi trồng thủy sản tăng khá, sảnlượng thủy sản nuôi trồng ước tính cả năm đạt 4,2 triệu tấn, tăng 6,7% (4) Trong khu vựccông nghiệp và xây dựng, ngành công nghiệp chế biến, chế tạo tiếp tục là điểm sáng đónggóp chính cho tăng trưởng kinh tế với mức tăng cao 12,98%, tuy thấp hơn mức tăng của năm

2017 nhưng cao hơn nhiều so với mức tăng các năm 2012-2016, đóng góp 2,55 điểm phầntrăm vào mức tăng trưởng chung Kết quả tăng trưởng cho thấy nền kinh tế đã thoát khỏi sựphụ thuộc vào khai thác khoáng sản và tài nguyên khi năm 2018 là năm thứ ba liên tiếp côngnghiệp khai khoáng tăng trưởng âm (giảm 3,11%), làm giảm 0,23 điểm phần trăm mức tăngtổng giá trị tăng thêm của toàn nền kinh tế (5) Khu vực dịch vụ năm 2018 tăng 7,03%, caohơn mức tăng các năm giai đoạn 2012-2016, trong đó các ngành dịch vụ thị trường có tỷ

Trang 9

trọng đóng góp lớn vào tăng trưởng GDP như bán buôn, bán lẻ; hoạt động tài chính, ngânhàng và bảo hiểm; dịch vụ lưu trú và ăn uống; vận tải, kho bãi đều đạt mức tăng trưởngkhá Hoạt động thương mại dịch vụ năm 2018 có mức tăng trưởng khá, sức mua tiêu dùngtăng cao, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng năm nay đạt 4.395,7nghìn tỷ đồng, tăng 11,7% so với năm 2017.

(6) Chất lượng tăng trưởng và hiệu quả kinh tế được cải thiện rõ nét

- Tăng trưởng kinh tế dần chuyển dịch theo chiều sâu, tỷ lệ đóng góp của năng suất các nhân

tố tổng hợp (TFP) trong tăng trưởng GDP năm 2018 đạt 43,5%, bình quân giai đoạn

2016-2018 đạt 43,3%, cao hơn nhiều so với mức bình quân 33,6% của giai đoạn 2011-2015 Tỷ lệvốn đầu tư toàn xã hội thực hiện/GDP năm 2018 đạt 33,5%, đảm bảo mục tiêu Quốc hội đề

ra từ 33-34%

- Năng suất lao động của Việt Nam thời gian qua có sự cải thiện đáng kể theo hướng tăngđều qua các năm và là quốc gia có tốc độ tăng NSLĐ cao trong khu vực ASEAN NSLĐtoàn nền kinh tế theo giá hiện hành năm 2018 ước tính đạt 102 triệu đồng/lao động (tươngđương 4.512 USD), tăng 346 USD so với năm 2017 Tính theo giá so sánh, NSLĐ năm 2018tăng 5,93% so với năm 2017, bình quân giai đoạn 2016-2018 tăng 5,75%/năm, cao hơn mứctăng 4,35%/năm của giai đoạn 2011-2015

- Hiệu quả sử dụng vốn đầu tư thể hiện qua chỉ số ICOR đang dần được cải thiện, từ mức6,42 năm 2016 giảm xuống còn 6,11 năm 2017 và ước tính năm 2018 là 5,97, bình quân giaiđoạn 2016-2018 hệ số ICOR ở mức 6,17, thấp hơn mức 6,25 của giai đoạn 2011-2015

- Độ mở của nền kinh tế ngày càng lớn, năm 2018 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa

và dịch vụ so với GDP đạt 208,6%, điều này chứng tỏ Việt Nam khai thác được thế mạnhcủa kinh tế trong nước đồng thời tranh thủ được thị trường thế giới

- Quy mô nền kinh tế ngày càng được mở rộng nhờ duy trì tốc độ tăng trưởng khá GDP theogiá hiện hành năm 2018 đạt 5.535,3 nghìn tỷ đồng, gấp 2 lần quy mô GDP năm 2011 GDPbình quân đầu người năm 2018 ước tính đạt 58,5 triệu đồng, tương đương 2.587 USD, tăng

198 USD so với năm 2017

Trang 10

- Cơ cấu kinh tế của Việt Nam tiếp tục chuyển dịch tích cực theo xu hướng giảm tỷ trọngnông, lâm nghiệp và thủy sản; tăng tỷ trọng ngành công nghiệp, xây dựng và ngành dịch vụ.Năm 2018, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản chiếm tỷ trọng 14,57% GDP; khu vựccông nghiệp và xây dựng chiếm 34,28%; khu vực dịch vụ chiếm 41,17%; thuế sản phẩm trừtrợ cấp sản phẩm chiếm 9,98%.

(7) Bên cạnh đó, một số chỉ tiêu kinh tế khác đã cho thấy dấu hiệu tích cực của nền kinhtế: Theo báo cáo của Nikkei, tâm lý kinh doanh vẫn rất lạc quan khi chỉ số nhà quản trị muahàng (PMI) luôn ở mức mở rộng Chỉ số này tăng từ mức 51,6 điểm trong tháng 3, tăng cao55,7 điểm trong tháng 6 và đạt đỉnh 56,5 điểm trong tháng 11 Kết quả này báo hiệu sự cảithiện mạnh mẽ sức khỏe của lĩnh vực sản xuất và các điều kiện kinh doanh đã tăng suốt từtháng 1/2016 Cũng theo Nikkei, số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới tiếp tục tăng trongtháng 11, khuyến khích các nhà sản xuất tăng sản lượng, tạo thêm nhiều việc làm mới

b) Xuất, nhập khẩu hàng hóa

Kim ngạch hàng hóa xuất khẩu năm 2018 ước tính đạt 244,7 tỷ USD, tăng 13,8% so với năm

2017 (vượt mục tiêu Quốc hội đề ra là tăng 7%-8% và Nghị quyết 01 của Chính phủ là tăng8%-10%), trong đó khu vực kinh tế trong nước đạt 69,2 tỷ USD, tăng 15,9% so với năm

2017, chiếm 28,3% tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước; khu vực có vốn đầu tư nướcngoài (kể cả dầu thô) đạt 175,5 tỷ USD, tăng 12,9%, chiếm 71,7% (giảm 0,6 điểm phần trăm

so với năm 2017) Năm 2018, khu vực kinh tế trong nước chuyển biến tích cực khi đạt tốc

độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu cao hơn khu vực có vốn đầu tư nước ngoài với tỷ trọngtrong tổng kim ngạch xuất khẩu tăng lên so với năm 2017[1] Trong năm 2018 có 29 mặthàng đạt kim ngạch xuất khẩu trên 1 tỷ USD, chiếm tới 91,7% tổng kim ngạch xuất khẩu của

cả nước, trong đó có 5 mặt hàng đạt trên 10 tỷ USD, chiếm 58,3%

Kim ngạch hàng hoá nhập khẩu năm 2018 ước tính đạt 237,5 tỷ USD, tăng 11,5% so vớinăm trước, trong đó có 36 mặt hàng ước tính kim ngạch nhập khẩu đạt trên 1 tỷ USD, chiếm90,4% tổng kim ngạch, trong đó có 4mặt hàng trên 10 tỷ USD

Trang 11

Ước tính cả năm 2018, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa thiết lập mức kỷ lục mớivới 482,2 tỷ USD Cán cân thương mại hàng hóa xuất siêu 7,2 tỷ USD, là năm có giá trị xuấtsiêu lớn nhất từ trước đến nay, cao hơn rất nhiều mức xuất siêu 2,1 tỷ USD của năm 2017,vượt xa mục tiêu Quốc hội đề ra là tỷ lệ nhập siêu dưới 3%.

c) Thu hút đầu tư nước ngoài

Đầu tư trực tiếp của nước ngoài từ đầu năm đến thời điểm 20/12/2018 thu hút 3.046 dự áncấp phép mới với số vốn đăng ký đạt 17.976,2 triệu USD, tăng 17,6% về số dự án và giảm15,5% về vốn đăng ký so với cùng kỳ năm 2017 Bên cạnh đó, có 1.169 lượt dự án đã cấpphép từ các năm trước đăng ký điều chỉnh vốn đầu tư với số vốn tăng thêm đạt 7.596,7 triệuUSD, giảm 9,7% so với cùng kỳ năm trước Như vậy, tổng số vốn đăng ký cấp mới và vốntăng thêm trong năm 2018 đạt 25.572,9 triệu USD, giảm 13,9% so với cùng kỳ năm 2017.Vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài thực hiện năm 2018 ước tính đạt 19,1 tỷ USD, tăng 9,1% sovới năm 2017

d) Hoạt động du lịch

Hoạt động du lịch trong năm 2018 đạt được kết quả ấn tượng với số khách quốc tế đến nước

ta đạt mức kỷ lục 15,5 triệu lượt người, tăng 19,9% so với năm 2017 (tăng hơn 2,6 triệu lượtkhách) Khách từ châu Á đạt 12.075,5 nghìn lượt người, tăng 23,7% so với năm trước; kháchđến từ châu Âu đạt 2.037,9 nghìn lượt người, tăng 8,1%; khách đến từ châu Mỹ đạt 903,8nghìn lượt người, tăng 10,6% so với năm 2017; khách đến từ châu Úc đạt 437,8 nghìn lượtngười, tăng 4%; khách đến từ châu Phi đạt 42,8 nghìn lượt người, tăng 19,2%

e) Lạm phát được kiểm soát

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) tháng 12/2018 giảm 0,25% so với tháng trước; CPI bình quânnăm 2018 tăng 3,54% so với năm 2017, dưới mục tiêu Quốc hội đề ra; CPI tháng12/2018 tăng 2,98% so với tháng 12/2017

Lạm phát cơ bản tháng 12/2018 tăng 0,09% so với tháng trước và tăng 1,7% so với cùng kỳnăm trước Lạm phát cơ bản bình quân năm 2018 tăng 1,48% so với bình quân năm 2017

Trang 12

Văn hoá, xã hội có những tiến bộ, đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện.

- Đời sống dân cư năm nay nhìn chung được cải thiện Năm 2018, thu nhập bình quânmột người một tháng ước tính đạt 3,76 triệu đồng (tăng 660 nghìn đồng so với năm 2016),bình quân giai đoạn 2016-2018 tăng 10,2%/năm Tỷ lệ hộ nghèo theo tiếp cận đa chiều năm

2018 ước tính là 6,8%, giảm 1,1 điểm phần trăm so với năm 2017

Lao động 15 tuổi trở lên đang làm việc trong các ngành kinh tế năm 2018 ước tính 54,3 triệungười, tăng 579,7 nghìn người so với năm 2017 Tỷ lệ thất nghiệp chung của cả nước năm

2018 là 2,00%, trong đó khu vực thành thị là 2,95%; khu vực nông thôn là 1,55% Tỷ lệthiếu việc làm của lao động trong độ tuổi ước tính là 1,46%, trong đó tỷ lệ thiếu việc làmkhu vực thành thị là 0,69%; tỷ lệ thiếu việc làm khu vực nông thôn là 1,85%

Những thành tựu đạt đạt được trong những năm qua đã tăng cường sức mạnh tổng hợp, làm thay đổi bộ mặt của đất nước và đời sống của nhân dân, củng cố vững chắc độc lập dân tộc và chế độ xã hội chủ nghĩa, nâng cao vị thế và uy tín của nước ta trên trường quốc tế.

- Cơ sở vật chất - kỹ thuật còn ở trình độ thấp, bên cạnh một số lĩnh vực, một số cơ

sở kinh tế đã được trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại, trong nhiều ngành kinh tế máymóc, máy móc cũ kỹ, công nghệ lạc hậu Theo UNDP, Việt Nam đang ở trình độ công nghệlạc hậu 2/7 của thế giới, thiết bị máy móc lạc hậu 2 - 3 thế hệ (có lĩnh vực 4 - 5 thế hệ) Laođộng thủ công vẫn chiếm tỷ trọng lớn trong tổng số lao động xã hội Do đó, năng suất, chấtlượng, hiệu quả sản xuất của nước ta còn thấp so với khu vực và thế giới (năng suất lao độngcủa nước ta chỉ bằng 30% mức trung bình của thế giới)

- Kết cấu hạ tầng như hệ thống đường giao thông, bến cảng, hệ thống thông tin liênlạc… còn lạc hậu, kém phát triển (mật độ đường giao thông/km bằng 1% với mức trung bình

Trang 13

của thế giới; tốc độ truyền thông trung bình cả nước chậm hơn của thế giới 30 lần) Hệ thốnggiao thông kém phát triển làm cho các địa phương, các vùng bị chia cắt, tách biệt nhau, do

đó làm cho nhiều tiềm năng của các địa phương không thể được khai thác, các địa phươngkhông thể chuyên môn hoá sản xuất để phát huy thế mạnh

- Do cơ sỏ vật chất - kỹ thuật còn ở trình độ thấp làm cho phân công lao động kémphát triển, sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế chậm Nền kinh tế nước ta chưa thoát khỏi nền kinh

tế nông nghiệp sản xuất nhỏ Nông nghiệp vẫn sử dụng 70% lực lượng lao động, nhưng chỉsản xuất khoảng 26% GDP, các ngành kinh tế công nghệ cao chiếm tỷ trọng thấp

- Khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường trong nước, cũng như thịtrường nước ngoài còn rất yếu Do cơ sở vật chất - kỹ thuật và công nghệ lạc hậu, năng suấtlao động thấp, do đó khối lượng hàng hoá nhỏ bé, chủng loại hàng hoá còn nghèo nàn, chấtlượng hàng hoá thấp, giá cả cao vì thế khả năng cạnh tranh còn yếu

Hai là, thị trường dân tộc thống nhất đang trong quá trình hình thành nhưng chưa đồng bộ.

- Do giao thông vận tải kém phát triển nên chưa lôi cuốn được tất cả các vùng trongnước vào một mạng lưới lưu thông hàng hoá thống nhất

- Thị trường hàng hoá - dịch vụ đã hình thành nhưng còn hạn hẹp và còn nhiều hiệntượng tiêu cực (hàng giả, hàng lậu, hàng nhái vẫn làm rối loạn thị trường)

- Thị trường hàng hoá sức lao động mới manh nha, một số trung tâm giới thiệu việclàm và xuất khẩu lao động mới xuất hiện nhưng đã nảy sinh hiện tượng khủng hoảng Nétnổi bật của thị trường này là sức cung về lao động lành nghề nhỏ hơn cầu rất nhiều, trongkhi đó cung về sức lao động giản đơn lại vượt quá xa cầu, nhiều người có sức lao độngkhông tìm được việc làm

- Thị trường tiền tệ, thị trường vốn đã có nhiều tiến bộ nhưng vẫn còn nhiều trắc trở,như nhiều doanh nghiệp, nhất là doanh nghiệp tư nhân thiếu vốn nhưng không vay được vìvướng mắc thủ tục, trong khi đó nhiều ngân hàng thương mại huy động được tiền gửi màkhông thể cho vay để ứ đọng trong két, dư nợ quá hạn trong nhiều ngân hàng thương mại đãđến mức báo động Thị trường chứng khoán ra đời nhưng chưa có nhiều “hàng hoá” để mua

- bán và mới có rất ít doanh nghiệp đủ điều kiện tham gia thị trường này

Trang 14

Ba là, có nhiều thành phần kinh tế tham gia thị trường, do vậy nền kinh tế ở nước ta

có nhiều loại hình sản xuất hàng hoá cùng tồn tại, đan xen nhau, trong đó sản xuất hàng hoánhỏ phân tán còn phổ biến

Bốn là, sự hình thành thị trường trong nước gắn với mở rộng kinh tế đối ngoại, hội

nhập vào thị trường khu vực và thế giới, trong hoàn cảnh trình độ phát triển kinh tế - kỹthuật của nước ta thấp xa so với hầu hết các nước khác

- Toàn cầu hoá và khu vực hoá về kinh tế đang đặt ra chung cho các nước cũng nhưnước ta nói riêng những thách thức hết sức gay gắt Nhưng nó là xu thế tất yếu khách quan,nên không đặt vấn đề tham gia hay không tham gia mà chỉ có thể đặt vấn đề: tìm cách sử xựvới xu hướng đó như thế nào? Phải chủ động hội nhập, chuẩn bị tốt để tham gia vào khu vựchoá và toàn cầu hoá, tìm ra “cái mạnh tương đối” của ta, thực hiện đa phương hóa, đa dạnghóa kinh tế đối ngoại để tận dụng ngoại lực để phát huy nội lực, nhằm thúc đẩy công nghiệphoá, hiện đại hoá nền kinh tế quốc dân, định hướng đi lên chủ nghĩa xã hội

Năm là, quản lý nhà nước về kinh tế xã hội còn yếu Văn kiện Đại hội đại biểu toàn

quốc lần thứ VIII của Đảng ta đã nhận định về vấn đề này như sau: “Hệ thống luật pháp, cơchế, chính sách chưa đồng bộ và nhất quán, thực hiện chưa nghiêm Công tác tài chính, ngânhàng, giá cả, kế hoạch hoá, quy hoạch xây dựng, quản lý đất đai còn nhiều yếu kém, thủ tụchành chính … chậm đổi mới Thương nghiệp nhà nước bỏ trống một số trận địa quan trọng,chưa phát huy tốt vai trò chủ đạo trên thị trường Quản lý xuất nhập khẩu có nhiều sơ hở,tiêu cực, một số trường hợp gâ tác động xấu đối với sản xuất Chế độ phân phối còn nhiềubất hợp lý Bội chi ngân sách và nhập siêu còn lớn Lạm phát tuy được kiềm chế nhưng chưavững chắc”

Những giải pháp và mục tiêu phát triển trong thời gian tới

1 - Các giải pháp cơ bản để phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam

Để phát triển nền kinh tế thị trường xã hội chủ nghĩa, cần thực hiện đồng bộ nhiềugiải pháp Dưới đây là những giải pháp chủ yếu nhất:

a) Thực hiện nhất quán chính sách kinh tế nhiều thành phần.

Trang 15

Trước đây, khi xây dựng kinh tế kế hoạch, xoá bỏ kinh tế thị trường, chúng ta đã thiếtlập một cơ cấu sở hữu đơn giản với hai hình thức là sở hữu toàn dân và sở hữu tập thể Vìvậy, khi chuyển sang kinh tế hàng hoá nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường,cần phải đổi mới cơ cấu sở hữu cũ bằng cách đa dạng hoá các hình thức sở hữu, điều đó sẽđưa đến sự hình thành các chủ thể kinh tế độc lập, có lợi ích riêng, tức là khôi phục mộttrong những cơ sở của kinh tế hàng hoá.

Trên cơ sở đa dạng hoá các hình thức sở hữu, thực hiện nhất quán, lâu dài chính sáchphát triển nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần Lấy việc phát triển sức sản xuất, nâng caohiệu quả kinh tế - xã hội, cải thiện đời sống nhân dân làm mục tiêu quan trọng để khuyếnkhích phát triển các thành phần kinh tế và các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh Theotinh thần đó, tất cả các thành phần kinh tế đều bình đẳng trước pháp luật, đều được khuyếnkhích phát triển

Trong những năm tới cần phát huy vai trò chủ đạo của kinh tế nhà nước Muốn vậtcần tập trung nguồn lực phát triển có hiệu quả kinh tế nhà nước trong những lĩnh vực trọngyếu của nền kinh tế, sắp xếp lại khu vực kinh tế nhà nước, thực hiện tốt chủ trương cổ phầnhoá và đa dạng hoá sở hữu đối với những doanh nghiệp nhà nước không cần nắm 100% vốn.Xây dựng và củng cố một số tập đoàn kinh tế mạnh trên cơ sở các tổng công ty nhà nước, có

sự tham gia của các thành phần kinh tế Đẩy mạnh việc đổi mới kỹ thuật, công nghệ trongcác doanh nghiệp nhà nước Thực hiện chế độ quản lý công ty đối với tất cả các doanhnghiệp kinh doanh có vốn của nhà nước, doanh nghiệp thực sự cạnh tranh bình đẳng trên thịtrường, tự chịu trách nhiệm trong sản xuất kinh doanh

Phát triển kinh tế tập thể dưới nhiều hình thức đa dạng, trong đó hợp tác xã là nòngcốt Nhà nước cần giúp đỡ hợp tác xã và đào tạo cán bộ, xây dựng phương án sản xuất kinhdoanh, mở rộng thị trường Thực hiện tốt việc chuyển đổi hợp tác xã theo luật hợp tác xã Khuyến khích kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển ở cả thành thị và nông thôn Nhànước tạo điều kiện và giúp đỡ kinh tế cá thể, tiểu chủ phát triển có hiệu quả Khuyến khíchkinh tế tư bản tư nhân phát triển trong những ngành nghề sản xuất kinh doanh mà pháp luậtkhông cấm Phát triển kinh tế tư bản nhà nước dưới các hình thức liên doanh, liên kết giữakinh tế tư nhân trong và ngoài nước; tạo điều kiện kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài hướng

Trang 16

vào mục tiêu phát triển các sản phẩm xuất khẩu, tăng khả năng cạnh tranh, gắn thu hút vốnvới thu hút công nghệ hiện đại.

b) Đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoá, ứng dụng nhanh tiến bộ khoa học - công nghệ, trên cơ sở đó đẩy mạnh phân công lao động xã hội.

Phân công lao động xã hội là cơ sở chung của sản xuất và trao đổi hàng hoá Vì vậy,

để phát triển kinh tế hàng hoá, phải đẩy mạnh phân công lao động xã hội Nhưng sự pháttriển của phân công lao động do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất quyết định, chonên muốn mở rộng phân công lao động xã hội, cần đẩy mạnh công nghiệp hoá, hiện đại hoáđất nước để xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của nền sản xuất lớn hiện đại

Con đường công nghiệp hoá, hiện đại hoá của nước ta cần và có thể rút ngắn thời gian

so với các nước đi trước, vừa có những bước tuần tự, vừa có những bước nhảy vọt, gắn côngnghiệp hoá với hiện đại hoá, tận dụng mọi khả năng để đạt trình độ tiên tiến, hiện đại vềkhoa học và công nghệ; ứng dụng nhanh và phổ biến hơn ở mức độ cao hơn những thành tựucông nghệ hiện đại và tri thức mới, từng bước phát triển kinh tế tri thức

Cùng với việc trang bị kỹ thuật và công nghệ hiện đại cho các ngành, các lĩnh vực củanền kinh tế trong quá trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá, tiến hành phân công lại lao động

và phân bố dân cư trong phạm vi cả nước, cũng như ở từng vùng, từng địa phương; hìnhthành cơ cấu kinh tế hợp lý cho phép khai thác tốt nhất các nguồn lực của đất nước, tạo nên

sự tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững của toàn bộ nền kinh tế

c) Hình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường.

Trong nền kinh tế thị trường, hầu hết các nguồn lực kinh tế đều thông qua thị trường

mà được phân bố vào các ngành, các lĩnh vực của nền kinh tế một cách tối ưu Vì vậy, đểxây dựng và phát triển nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chúng ta phảihình thành và phát triển đồng bộ các loại thị trường Trong những năm tới chúng ta cần phải:

- Phát triển thị trường hàng hoá và dịch vụ thông qua việc đẩy mạnh sản xuất, thúcđẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển hệ thống giao thông và phương tiện vận tải để mởrộng thị trường Hình thành thị trường sức lao động có tổ chức để tạo điều kiện cho sự dichuyển sức lao động theo yêu cầu phát triển kinh tế và sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực

Trang 17

- Xây dựng thị trường vốn, từng bước hình thành và phát triển thị trường chứngkhoán để huy động các nguồn vốn vào phát triển sản xuất.

- Quản lý chặt chẽ đất đai và thị trường nhà ở Xây dựng và phát triển thị trườngthông tin, thị trường khoa học công nghệ Hoàn thiện các loại thị trường đi đôi với xây dựngkhuôn khổ pháp lý và thể chế, tăng cường sự kiểm tra, giám sát của nhà nước, để thị trườnghoạt động năng động, có hiệu quả, có trật tự, kỷ cương trong môi trường cạnh tranh lànhmạnh, công khai, minh bạch, hạn chế và kiểm soát độc quyền kinh doanh Có biện pháp hữuhiệu chống buôn lậu và gian lận thương mại

d) Mở rộng và nâng cao hiệu quả kinh tế đối ngoại.

Trong điều kiện hiện nay, chỉ có mở cửa kinh tế, hội nhập vào kinh tế khu vực và thếgiới, mới thu hút được vốn, kỹ thuật và công nghệ hiện đại để khai thác tiềm năng và thếmạnh của đất nước nhằm phát triển kinh tế

Khi mở rộng quan hệ kinh tế đối ngoại phải quán triệt nguyên tắc bình đẳng, cùng cólợi, không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau Mở rộng kinh tế đối ngoại theo hướng

đa phương hoá và đa dạng hoá các hình thức kinh tế đối ngoại

Hiện nay, cần đẩy mạnh xuất khẩu, coi xuất khẩu là trọng điểm của kinh tế đối ngoại.Giảm dần nhập siêu, ưu tiên nhập khẩu tư liệu sản xuất để phục vụ sản xuất Tranh thủ mọikhả năng và bằng nhiều hình thức thu hút vốn đầu tư trực tiếp từ nước ngoài, việc thu hútđầu tư nước ngoài cần hướng vào những lĩnh vực, những sản phẩm có công nghệ tiên tiến,

có tỷ trọng xuất khẩu cao Việc sử dụng vốn vay phải có hiệu quả để trả được nợ, cải thiệnđược cán cân thanh toán Chủ động tham gia tổ chức thương mại quốc tế, các diễn đàn, cácđịnh chế quốc tế một cách có chọn lọc với bước đi thích hợp

e) Giữ vững sự ổn định chính trị, hoàn thiện hệ thống luật pháp.

Sự ổn định chính trị bao giờ cũng là nhân tố quan trọng đầu tiên để phát triển Nó làđiều kiện để các nhà sản xuất kinh doanh trong nước và ngoài nước yên tâm đầu tư Muốngiữ vững sự ổn định chính trị ở nước ta hiện nay cần phải giữ và tăng cường vai trò lãnh đạocủa Đảng cộng sản Việt Nam, nâng cao hiệu lực quản lý của nhà nước, phát huy quyền làmchủ của nhân dân

Ngày đăng: 07/11/2019, 15:01

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

w