Câu 1: Phân tích mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân? Câu 2: Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân? Câu 3: Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về về sự phát triển? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân? Câu 4: Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân Câu 5: Phân tích mối quan hệ giữa lý luận và thực tiễn? Ý nghĩa phương pháp luận rút ra từ việc nghiên cứu vấn đề này? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân Câu 6: Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật chuyển hóa từ những thay đổi về lượng thành những thay đổi về chất và ngược lại? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân?
Trang 1MÔN HỌC: NHỮNG VẤN ĐỀ CƠ BẢN CỦA CHỦ NGHĨA MÁC-LÊNIN
Thế giới vật chất tồn tại dưới dạng các sự vật hiện tượng vô cùng phong phú, đa dạng, nhưng chúng đều có thuộc tính chung: tồn tại khách quan, độc lập với ý thức con người và loài người Đó
là thuộc tính quan trọng nhất của vật chất để phân biệt được những hiện tượng vật chất và hiện tượng không phải vật chất Ví dụ: Sao hỏa là một dạng vật chất bởi vì nó tồn tại khách quan với suy nghĩ của con người, dù chúng ta biết về nó hay không biết, thích hay không thích thì nó vẫn cứ tồn tại
• Ý thức phản ánh vượt trước: dự báo trước sự xuất hiện của sự vật, hiện tượng Ví dụ
dự báo trời mưa từ những thông tin về nhiệt độ, độ ẩm không khí
Ý thức luôn mang bản chất của xã hội vì ý thức là của con người mà con người là hiện thực của một xã hội Ví dụ ý thức về cái đẹp có thể khác nhau giữa các quốc gia, vùng miền
Xét trên bình diện cá nhân thì ý thức của một cá nhân là những tri thức, sự hiểu biết của cá nhân đó, là tình cảm, tâm tư, nguyện vọng, ý chí của cá nhân
1.3 Mối quan hệ biện chứng giữa vật chất và ý thức
Vật chất có vai trò quyết định đối với ý thức: Vai trò này thể hiện trên bốn phương diện
Vật chất quyết định nguồn gốc của ý thức: Theo chủ nghĩa duy vật mácxít, vật chất là nguồn gốc của ý thức (quyết định nội dung của ý thức) Vật chất có trước ý thức, quyết định ý thức, ý thức
là cái phản ánh cho nên là cái có sau, là cái bị quyết định Như định nghĩa về ý thức ở trên, ý thức
là một thuộc tính của một dạng vật chất sống có tổ chức cao, tổ chức đặc biệt Đó là bộ óc người
Do vậy, không có bộ óc của con người thì không thể có ý thức Hơn nữa ý thức tồn tại phụ thuộc vào hoạt động thần kinh của bộ não trong quá trình phản ánh thế giới khách quan Do đó vật chất là nguồn gốc của ý thức và quyết định nội dung phản ánh của ý thức VD: Sống ở thành phố có mong muốn mỗi ngày là đường phố thông thoáng, không bị kẹt xe Nhưng nếu sống ở vùng đồi núi thì không quan tâm vấn đề này vì có thể đi đường mòn
Trang 2Vật chất quyết định nội dung và sự biến đổi của ý thức: Bởi vì vật chất quyết định ý thức nên vật chất thế nào thì ý thức như vậy Ví dụ: quan điểm sống của những người nghèo khác người giàu, người nghèo chỉ mong đủ ăn nhưng người giàu thì lại muốn ăn ngon Ví dụ 2: Gần mực thì đen, gần đèn thì sáng
Vật chất quyết định sự biến đổi, phát triển của ý thức: Vì vật chất quyết định ý thức nên khi vật chất thay đổi thì ý thức cũng sẽ thay đổi Ví dụ khi đời sống KTXH phát triển thì mong muốn của con người về ăn uống, giải trí đều cao hơn
Vật chất là điều kiện khách quan để hiện thực hóa ý thức, tư tưởng con người: Vì vật chật quyết định ý thức nên nếu không có vật chất hoặc không đủ thì sẽ không hiện thực được ý thức, lúc
đó ý thức chỉ là một giấc mơ xa vời Ví dụ muốn xây dựng chế độ XHCN mà đất nước nghèo nàn, lạc hậu, cơ sở vật chất thiếu thốn thì sẽ không thực hiện được Khi lập kế hoạch cho cơ quan/đơn
vị, nếu không dựa vào điều kiện vật chất có sẵn mà đặt các yêu cầu và mục tiêu quá cao sẽ dễ dẫn đến căn bệnh thời đại là “chủ quan duy ý chí” Hiện nay rất nhiều dự án treo bởi vì điều kiện vật chất không đủ đáp ứng, bác sĩ muốn chữa trị cho bệnh nhân tốt mà thiếu trang thiết bị y tế thì cũng không thể nào chữa trị tốt được Ý thức tác động trở lại vật chất
Ý thức có tính độc lập tương đối so với vật chất, ý thức còn có tính năng động sáng tạo nên
ý thức tác động trở lại vật chất, góp phần cải tiến thế giới khách quan thông qua hoạt động thực tiễn của con người
Ý thức chỉ đạo cho con người trong mọi hoạt động của mình Ý thức không phải trực tiếp tạo ra hay thay đổi thế giới vật chất mà nó trang bị cho con người tri thức về thực tại khách quan, trên cơ sở ấy con người xác định được mục tiêu, đề ra phương hướng, xây dựng kế hoạch, lựa chọn phương pháp, biện pháp, công cụ, phương tiện …để thực hiện mục tiêu của mình
Sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất có thể diễn ra theo 2 hướng:
• Nếu ý thức phản ánh đúng đắn điều kiện vật chất, hoàn cảnh khách quan thì sẽ thúc đẩy hoạt động thực tiễn của con người trong cải tạo thế giới khách quan
• Nếu ý thức phản ánh không đúng hay sai lầm hiện thực ở 1 mức độ nhất định thì sẽ làm cho hoạt động của con người không phù hợp với quy luật khách quan, do đó sẽ kìm hãm
sự hoạt động thực tiễn của con người trong quá trình cải tạo tự nhiên, xã hội
Tuy vậy, sự tác động trở lại của ý thức đối với vật chất dù đến đâu chăng nữa vẫn phụ thuộc vào các điều kiện vật chất Cho nên, xét đến cùng, vật chất luôn quyết định ý thức
2 Ý nghĩa phương pháp luận
Quán triệt quan điểm khách quan: nắm bắt được quy luật, quy định khách quan, khác quan trong nhận thức và hoạt động thực tiễn
Khi xem xét, đánh giá sự vật, hiện tượng phải xuất phát từ bản thân sự vật, hiện tượng đó
để xem xét; không được lấy ý muốn chủ quan áp đặt vào sự vật, hiện tượng; phải trung thực trong quá trình đánh giá, không “tô hồng, bôi đen” Ví dụ: Đánh giá khen thưởng cuối năm phải dựa trên năng lực, phẩm chất đạo đức cá nhân chứ không dựa trên mối quan hệ tiền bạc, quen biết thân thiết
Trong hoạt động thực tiễn phải xuất phát từ thực tế khác quan, phải dựa trên điều kiện hoàn cảnh, cơ sở vật chất nhất định, không thể dựa trên sự áp đặt Ví dụ trong vấn đề chi tiêu ngân sách của cơ quan đơn vị, phải xem xét các nguồn thu vào, chi ra, các quỹ khác nhau để có định hướng chi tiêu đúng Không thể chi mười trong khi ngân quỹ có năm hoặc chi vào những quỹ không được phép chi
Trang 3Trong hoạt động thực tiễn cần phải tôn trọng và hành động quy luật khách quan Vì con người không thể can thiệp hoặc thay đổi được quy luật khách quan cho nên phải cố gắng phát hiện và làm theo các quy luật Ví dụ kinh tế thị trường là một quy luật khách quan, thúc đẩy xã hội phát triển, là
xu hướng của nhân loại nhưng thời bao cấp chúng ta đã không công nhận nền kinh tế thị trường, làm trái với quy luật khách quan, điều này dẫn đến nền kinh tế khủng hoảng trầm trọng Và sau này khi chúng ta quay lại, thừa nhận nên kinh tế thị trường thì xã hội mới phát triển
Chống thái độ chủ quan duy ý chí, vi phạm các quy luật khách quan Bệnh chủ quan duy ý chí là căn bệnh có khuynh hướng tuyệt đối hóa vai trò của nhân tố chủ quan, cường điệu tính sáng tạo của ý thức, của ý chí, xa rời hiện thực khách quan, bất chấp quy luật khách quan, lấy nhiệt tình cách mạng thay thế cho sự yếu kém về tri thức khoa học Đây là lối suy nghĩ và hành động đơn giản, nóng vội, chạy theo nguyện vọng chủ quan; thể hiện rõ trong khi định ra những chủ trương, chính sách và lựa chọn phương pháp tổ chức họat động thực tiễn theo hướng áp đặt, rơi vào ảo
tưởng, chủ quan Ví dụ mục tiêu đặt ra quá cao, biện pháp không có tính khả thi…
Phát huy tính năng động, sáng tạo của ý thức, bởi vì ý thức có thể tác động trở lại vật chất
Cần phải phát huy vai trò của tri thức khoa học Vì ý thức có thể tác động lại thế giới vật chất, cải tạo hoặc kìm hãm sự phát triển của thế giới cho nên để thế giới phát triển cần có sự tác động đúng Để làm được điều này thì cần phải có tri thức Để nâng cao tri thức thì cần phải trau dồi, học học không ngừng, làm chủ tri thức khoa học, phát triển tri thức lý luận Ví dụ vấn đề tìm ra hướng đi cho những vi khuẩn kháng thuốc
Phát huy niềm tin, tình cảm, ý chí của con người: Bên cạnh có tri thức tốt thì con người cũng cần phải giàu có về đời sống tinh thần, ý chí vững mạnh Bác sĩ không thể là người tốt khi tâm không sáng, nhà khoa học không thể tốt khi nghiên cứu những thứ chống lại xã hội loài người
Quan tâm đến lợi ích của con người: Con người chỉ phát huy tối đa năng lực khi những lợi ích cá nhân cơ bản được đảm bảo Ví dụ nhân viên nhà nước không thể toàn tâm toàn ý cống hiến cho công việc khi công việc ấy không mang lại đủ cơm, áo, gạo, tiền Tuy nhiên lợi ích cá nhân cần phải gắn liền với lợi ích xã hội
Khắc phục bệnh bảo thủ, trì trệ, thụ động, ỷ lại: Ngược lại với bệnh chủ quan duy ý chí là bệnh trông chờ, ỷ lại, trì trệ, thụ động trong nhận thức và hoạt động thực tiễn, không phát huy được tính năng động của ý chí con người Nó triệt tiêu tính năng động của ý chí con người, không chủ động ứng phó hoặc thích nghi trước hoàn cảnh thay đổi, thụ động trước biến đổi của tự nhiên và xã hội Nó biến con người trở thành tự ti, bất lực trước hoàn cảnh, không có ý thức nắm bắt quy luật khách quan và tổ chức lãnh đạo, quản lý phù hợp với quy luật khách quan, thiếu bản lĩnh hóa giải các nguy cơ, thách thức và tranh thủ các cơ hội phát triển
3 Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân
Liên hệ 2 quan điểm quả phương pháp luận:
Khách quan trong công việc bản thân là như thế nào?
Phát huy tính năng động sáng tạo trong công việc là như thế nào?
Trang 4Câu 2: Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về mối liên hệ phổ biến? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân? 2.1 Nội dung của nguyên lý về mối
liên hệ phổ biến
1.1 Khái niệm
Liên hệ là khái niệm chỉ sự phụ thuộc lẫn nhau, sự ảnh hưởng, sự tương tác và chuyển hóa lẫn nhau giữa các sự vật, hiện tượng trong thế giới hay giữa các mặt, các yếu tố, các thuộc tính của một sự vật, hiện tượng, một quá trình
Liên hệ phổ biến là khái niệm nói lên rằng mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới (cả tự nhiên,
xã hội và tư duy) dù đa dạng phong phú, nhưng đều nằm trong mối liên hệ với các sự vật, hiện tượng khác Cơ sở của mối liên hệ này là tính thống nhất vật chất của thế giới
1.2 Tính chất của mối liên hệ
Tính khách quan: Theo quan điểm biện chứng duy vật, các mối liên hệ của các sự vật, hiện tượng của thế giới là có tính khách quan Theo quan điểm đó, sự quy định, tác động và làm chuyển hóa lẫn nhau của các sự vật, hiện tượng (hoặc trong bản thân chúng) là cái vốn có của nó, tồn tại độc lập không phụ thuộc vào ý chí của con người; con người chỉ có thể nhận thức và vận dụng các mối liên hệ đó trong hoạt động thực tiễn của mình Vì mối liên hệ là vốn có của sự vật, hiện tượng
Nó không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của con người hay thần linh, thượng đế Ngay cả những vật vô tri, vô giác cũng đang hàng ngày chịu sự tác động của các sự vật hiện tượng khác (như ánh sáng, nhiệt độ, độ ẩm, áp suất không khí , đôi khi cũng chịu sự tác động của con người) Con người - một sinh vật phát triển cao nhất trong tự nhiên dù muốn hay không cũng luôn luôn bị tác động của các sự vật, hiện tượng khác và các yếu tố ngay trong chính bản thân Ngoài sự tác động của tự nhiên, con người còn tiếp nhận sự tác động của xã hôị và của những người khác Chính con người và chỉ có con người mới tiếp nhận vô vàn các mối mối liên hệ Do vậy, con người phải hiểu biết các mối quan hệ, vận dụng chúng vào hoạt động của mình, giải quyết các mối liên hệ phù hợp nhằm phục vụ nhu cầu lợi ích của xã hội và bản thân con người Chỉ có liên hệ với nhau sự vật hiện tượng mới tồn tại, vận động, phát triển Ví dụ: con vật thì có mối liên hệ giữa kẻ săn mồi và con mồi: con hổ với con nai…, nếu không có mối liên như vậy thì con vật không thể tồn tại Còn con người thì có các quan hệ xã hội giữa người này với người khác có như vậy con người mới tồn tại, vận động và phát triển
Tính phổ biến: Theo quan điểm biện chứng thì không có bất cứ sự vật, hiện tượng hay quá trình nào tồn tại tuyệt đối biệt lập với các sự vật, hiện tượng hay quá trình khác Đồng thời, cũng không có bất cứ sự vật, hiện tượng nào không phải là một cấu trúc hệ thống, bao gồm những yếu tố cấu thành với những mối liên hệ bên trong của nó, tức là bất cứ một tồn tại nào cũng là một hệ thống, hơn nữa là hệ thống mở, tồn tại trong mối liên hệ với hệ thống khác, tương tác và làm biến đổi lẫn nhau Bất cứ sự vật hiện tượng nào cũng liên hệ với sự vật hiện tượng khác Không có sự vật hiện tượng nào nằm ngoài mối liên hệ Xuất phát từ bản thân tính biện chứng của thế giới mỗi
sự vật, hiện tượng là một thể thống nhất, không có sự vật hiện tượng nào tồn tại một cách cô lập, biệt lập mà chúng là một thể thống nhât Không chỉ trong tự nhiên, mà cả trong xã hội, lẫn trong trong tư duy, các sự vật hiện tượng cũng liện hệ tác động qua lai lẫn nhau Không thể tìm bất cứ ở đâu, khi nào các sự vật, hiện tượng lại tồn tại một cách cô lập tách rời Ví dụ: Trong tự nhiên cây xanh có mối liên hệ với môi trường (không khí, nhiệt độ…), còn có mối liên hệ với con người (con người chăm sóc cây xanh, chặt phá rừng…) Trong xã hội, không có người nào mà không có các mối quan hệ xã hội như: quan hệ hàng xóm, gia đình, bạn bè, đồng nghiệp…, các hình thái kinh
Trang 5tếxã hội cũng có mối liên hệ với nhau, hình thái kinh tế -xã hội sau ra đời từ hình thái kinh tế-xã hội trước (công xã nguyên thủy-chiếm hữu nô lệ, phong kiến, tư bản chủ nghĩa, cộng sản chủ nghĩa) Trong tư duy, có mối liên hệ giữa các sự suy đoán, các tâm tư, tình cảm, các cách suy nghĩ khác nhau ví dụ như: nhìn vào một cô gái ta có các suy đoán cô ấy là người giàu có, cô ấy không được tốt, cô ấy rất khó tính… Trong thời đại ngày nay không một quốc gia nào không có quan hệ, không
có liên hệ với các quốc gia khác về mọi mặt của đời sống xã hội Chính vì thế, hiện nay, trên thế giới đã và đang xuất hiện xu hướng toàn cầu hoá, khu vực hoá mọi mặt đời sống xã hội Nhiều vấn
đề đã và đang trở thành vấn đề toàn cầu như: đói nghèo, bệnh hiểm nghèo, môi trường sinh thái, dân số và kế hoạch hoá gia đình, chiến tranh và hoà bình.v.v
Tính đa dạng, phong phú: svht trong thế giới rất đa dạng phong phú nên mlh giữa các svht
ấy cũng rất đa dạng phong phú Người ta có thể phân loại các mlh căn cứ vào vị trí, vai trò của nó hoặc phạm vi tác dụng và tính chất phức tạp của nó
Ví dụ: Trước đây, mối quan hệ giữa Việt Nam và Mỹ là thù địch nhưng hiện tại Mỹ là đối tác chiến lược quan trọng của Việt Nam Hoặc các loài cá, chim, thú đều có mối quan hệ với nước, nhưng mối quan hệ của chim, thú với nước thì khác so với cá Cá thì sống thường xuyên trong nước, không có nước thì cá không tồn tại được, nhưng chim với thú thì không sống thường xuyên trong nước được
1.4 Vai trò của mối liên hệ
Các mối liên hệ có vai trò khác nhau đối với sự phát triển của SVHT Liên hệ bên trong, chủ yếu, cơ bản giữ vai trò quyết định sự vận động, phát triển
1.5 Ý nghĩa phương pháp luận: Xây dựng quan điểm toàn diện-lịch sử cụ thể
Trong nhận thức, phải xem xét tất cả các mặt quan điểm toàn diện, các MLH của SV, tránh phiến diện Chú ý MLH cơ bản bên trong, chủ yếu để quyết định
Ví dụ: khi khám bệnh cho BN sốt rét, để chẩn đoán ra bệnh phải xem xét các mặt dựa vào yếu tố lâm sàng: nguyên nhân, triêu chứng bệnh, thời gian u bệnh, phát bệnh , yếu tố cận lâm sàng, yếu tố di truyền, dịch tể… thì mới tìm ra đúng bệnh
Đánh giá đúng vai trò, vị trí của các MLH đối với sự phát triển của SVHT, tránh cào bằng (triết trung) Ví dụ: Trong giai đoạn xây dựng đất nước có rất nhiều nhiệm vụ được đặt ra, nhưng phải xác định nhiệm vụ trọng tâm là phát triển kinh tế
Xem xét toàn diện nhưng trong điều kiện lịch sử cụ thể Phải đặt SVHT và các MLH trong một không gian, xem xét toàn diện khác trong điều kiện lịch sử cụ thể, thời gian cụ thể để xem xét, tránh chung chung Ví dụ: Trong điều trị bn, không chỉ tác động trên 1 mình bn mà còn phải xem xét các MLH xung quanh bn; Nếu có 1 trận dịch tại một nơi nào đó và để dập được trận dịch này, không chỉ 1 mình nhân viên của TTYTDP mà còn phải phối hợp tuyên truyền, giáo dục người dân, nhà nước và nhân dân cùng làm
Trong hoạt động thực tiễn, để cải tạo SV, phải sử dụng đồng bộ nhiều giải pháp, lực lượng khác nhau Ví dụ: Khi xây dựng giải pháp phải xác định đúng nguyên nhân (MLH), có nhiều nguyên nhân thì phải xây dựng nhiều giải pháp tương ứng
1.6 Liên hệ vận dụng vào công tác bản thân (toàn diện và lịch sử cụ thể trong công tác là như
thế nào?)
Với tư cách là những nguyên tắc phương pháp luận, quan điểm toàn diện, quan điểm lịch sử
- cụ thể góp phần định hướng, chỉ đạo hoạt động nhận thức và hoạt động thực tiễn cải tạo hiện thực, cải tạo chính bản thân chúng ta Song để thực hiện được chúng, mỗi chúng ta cần nắm chắc cơ sở
Trang 6lý luận của chúng - nguyên lý về mối liên hệ phổ biến và nguyên lý về sự phát triển, biết vận dụng chúng một cách sáng tạo trong hoạt động của mình
Chúng ta có thể áp dụng những quan điểm này trong cuộc sống
Chúng ta hiện nay đều là những tân sinh viên, khi mới nhập học hầu như là không quen biết nhau Khi nhìn thấy 1 bạn nào đấy, chắc chắn chúng ta đều có những ấn tượng đầu tiên về ngoại hình, tính cách của bạn đó Nhưng nếu chỉ qua 1 vài lần gặp mặt mà chúng ta đã đánh giá bạn là người xấu hoặc tốt, dễ tính hay khó tính Cách đánh giá như vậy là phiến diện, chủ quan trái với quan điểm toàn diện Điều có thể làm cho chúng ta có những quyết định sai lầm Chẳng hạn như khi nhìn thấy một người có gương mặt ưa nhìn, ăn nói nhỏ nhẹ đã vội vàng kết luận là người tốt và muốn làm bạn, còn khi nhìn thấy một người ít nói, không hay cười thì cho là khó tính không muốn kết bạn Qua một thời gian kết bạn mới nhận ra người bạn mà mình chọn có những đức tính không tốt như lợi dụng bạn bè, ích kỷ Còn người bạn ít nói kia thực ra rất tốt bụng, hay giúp đỡ bạn bè
Ấn tượng đầu tiên chỉ quyết định đến quá trình giao tiếp về sau Quan điểm toàn diện dạy cho ta biết rằng khi xem xét, đánh giá một sự vật, hiện tượng phải xem xét đánh giá một cách toàn diện, mọi mặt của vấn đề để hiểu được bản chất thật sự của sự vật hiện tượng Chúng ta không thể chỉ nhìn bề ngoài mà phán xét về phẩm chất, đạo đức của người đó Vẻ bề ngoài không nói lên được tất
cả, có thể bạn đó có gương mặt lạnh lùng nhưng tính bạn rất cởi mở, hòa đồng, dễ gần Vì vậy muốn đánh giá 1 con người cần phải có thời gian tiếp xúc lâu dài, nhìn nhận họ trên mọi phương diện, ở từng thời điểm, từng hoàn cảnh khác nhau
Trong quan hệ giữa con người với con người, chúng ta phải biết ứng xử sao cho phù hợp với từng con người Đối với những người bề trên như ông, bà, bố, mẹ, thầy cô… thì chúng ta cần có thái độ cư xử lễ phép, tôn trọng họ Đối với bạn bè thì có những hành động, thái độ thoải mái, tự nhiên Ngay cả quan hệ với một con người nhất định ở những không gian khác nhau hoặc thời gian khác nhau, chúng ta cũng phải có cách giao tiếp, cách quan hệ phù hợp như ông cha đã kết luận:
“đối nhân xử thế” Ví dụ như khi xưa anh ta là người xấu, tính cách không tốt hay vụ lợi không nên giao tiếp chơi thân, nhưng hiện nay anh ta đã sửa đổi tính cách tốt hơn biết quan tâm mọi người không như xưa, chúng ta cần nhìn nhận anh ta khác đi, có thể cư xử khác trước, có thể giao tiếp, kết bạn với anh ta
Hay khi xem xét nguyên nhân của một vấn đề nào đó để giải quyết, chúng ta cần xem xét chúng trong các mối liên hệ để xem nguyên nhân từ đâu để có cách giải quyết, xử lý tốt Khi ta học kém đi, điểm số giảm cần tìm nguyên nhân do đâu khiến ta như vậy Do lười học, không hiểu bài, không làm bài tập hay không có thời gian học Nếu tìm được nguyên nhân cụ thể, chủ yếu, thì sẽ tìm được cách giải quyết đúng đắn
Chúng ta có thể áp dụng những quan điểm này trong việc học tập:
Trong học tập bao giờ cũng xác định mục tiêu, động cơ, thái độ đúng đắn thì mới có kết quả cao hơn Việc vận dụng quan điểm toàn diện và lịch sử cụ thể trong học tập sẽ giúp định hướng học tập sâu hơn và cao hơn, quan điểm toàn diện và lịch sử cụ thể là thế giới quan của mỗi con người
Để vận dụng quan điểm trên chúng ta cần phân tích, xem xét các mặt của việc học một cách
cụ thể, toàn diện, phù hợp với từng thời điểm:
- Học tập là suốt đời, học bằng cái gì: bằng mắt, bằng tai, bằng tay, bằng da, bằng mũi, bằng miệng, học cái gì trước, cái gì sau, học cái gì để biết, cái gì để làm, học để tồn tại, học để chung sống với con người, với vạn vật, với muôn loài
- Người học phải biết khiêm tốn, học phải hỏi, học ở mọi người
Trang 7- Nhiều thứ con người muốn học, nhưng muốn hiểu kỷ và sâu sắc thì phải tốn nhiều thời gian, kiên trì, kiên nhẫn ví dụ như người trồng lúa: học biết các giống lúa, loại nào phù hợp vùng đất nào, thời tiết nào, những điều kiện và cách chăm bón đúng cách để đạt năng suất, khi phát hiện
có sâu rầy phải giải quyết thế nào
- Học phải gắn với hành thì việc học có kết quả nhanh hơn Người xưa vẫn dạy rằng:
“Trăm hay không bằng tay quen” Lao động thời nào cũng vậy, phải luôn ý thực là lí thuyết hay cũng không bằng thực hành giỏi Vai trò của thực hành được đề cao là điều hiển nhiên
Ngày nay với đà phát triển của xã hội, quan niệm lí thuyết và thực hành được hiểu khác hơn, học và hành lúc nào cũng đi đôi, không thể tách rời nhau Trước hết ta cần hiểu: “học” là tiếp thu kiến thức đã được tích luỹ trong sách vở, là nắm vững lí luận đã được đúc kết trong các bộ môn khoa học, đồng thời tếp nhận những kinh nghiệm của cha anh đi trước “Học” là trau dồi kiến thức,
mở mang trí tuệ, từng lúc cập nhật hóa sự hiểu biết của mình, không để tụt lùi, lạc hậu “Học” là tìm hiểu, khám phá những tri thức của loài người nhằm chinh phục thiên nhiên, chinh phục vũ trụ Còn “hành” nghĩa là làm, là thực hành, là ứng dụng kiến thức, lí thuyết vào thực tiễn đời sống Cho nên học và hành có mối quan hệ rất chặt chẽ với nhau Học và hành là hai mặt của một qua trình thống nhất, nó không thể tách rời mà phải luôn gắn chặt với nhau làm một
Chúng ta cần hiểu rõ “hành” vừa là mục đích vừa là phương pháp học tập Một khi đã nắm vững kiến thức, đã tiếp thu lí thuyết mà ta không vận dụng vào thực tiễn, thì học cũng trở nên vô ích Có nhiều bạn trẻ khi rời ghế nhà trường vào một nhà máy, một cơ quan… Lúng túng không biết phải làm công việc mà chuyên môn mình đã được học như thế nào? Dẫn đến gặp rất nhiều khó khăn, nhiều khi là sự hoang mang, chán nản Nguyên do dẫn đến việc “học” mà không “hành” được là do học không thấu đáo, khi còn ngồi trên ghế nhà trường không thật sự chuyên tâm, rèn luyện, trau dồi kiến thức hoặc thiếu môi trường hoạt động
Ngược lại nếu hành mà không có lí luận, lí thuyết soi sáng và kinh nghiệm đã được đúc kết dẫn dắt thì việc ứng dụng vào thực tiễn sẽ lúng túng, gặp rất nhiều khó khăn trở ngại, thậm chí có khi còn dẫn đến những sai lầm to lớn nữa Do vậy việc học tập, trau dồi kiến thức và kinh nghiệm
là nền tảng để mỗi người áp dụng vào thực tế, thực hành trong thực tiễn cuộc sống
Một thực tế cho thấy, sự thiếu liên hệ giữa kiến thức với thực tiễn ở các trường phổ thông đã khiến các sinh viên tương lai không biết nên lựa chọn ngành học nào trước mùa thi Đa số các em không biết sử dụng những kiến thức đã được học vào việc gì ngoài việc để thi đỗ đại học
Hậu quả sâu xa hơn của việc “học” không đi đôi với “hành” là có nhiều học sinh, sinh viên đạt kết quả học tập rất cao nhưng vẫn ngơ ngác khi bước vào cuộc sống, nhiều thủ khoa sau khi ra trường, va vấp cuộc sống mới tự hỏi: “Không biết việc chọn trường chọn ngành của mình đã đúng hay chưa?” Nhất là khi xã hội đang cần những người có tay nghề cao phục vụ cho công cuộc công nghiệp hoá - hiện đại hoá thì việc “Học đi đôi với hành” càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết
- Tuy nhiên, nếu chỉ chăm vào học tập thôi thì chưa đủ, chúng ta cần phải rèn luyện cả về phẩm chất, đạo đức như Bác đã từng dạy “Có tài mà không có đức là người vô dụng, có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó” Tài và đức là những phẩm chất khác nhau nhưng luôn luôn gắn bó mật thiết không thể tách rời Có tài mà không có đức là người vô dụng, bởi tài năng đó không phục vụ cái chung mà chỉ mưu cầu lợi ích cho một cá nhân thì cũng trở thành vô giá trị Con người
ta không thể sống một mình, không thể tách rời khỏi gia đình, bạn bè, đồng nghiệp, nhân dân, nhân loại Giá trị một con người được xem xét chính bởi tác dụng của cá nhân đó trong mối quan hệ với
Trang 8đồng loại Người không có đức là người không quan tâm đến quyền lợi của người khác Nếu có tài,
họ cũng chỉ vun vén để có lợi cho riêng họ Người có tài mà phản bội Tổ quốc, đi ngược lại lợi ích của tập thể thì chẳng những vô dụng mà còn có tội Người càng có tài mà kém đạo đức thì tác hại mang đến cho gia đình, xã hội càng lớn
Nhưng nếu chỉ có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó Có đức, có khát vọng hành động vì lợi ích của mọi người nhưng không có kiến thức, năng lực kém thì những ý định tốt cũng khó trở thành hiện thực Tài năng giúp con người lao động có hiệu quả Thiếu tài năng, người ta trở nên ít có tác dụng trong đời sống con người Rõ ràng là giá trị con người phải bao gồm cả tài và đức Đức và tài bổ sung, hỗ trợ cho nhau thì con người mới trở nên toàn diện, mới đạt hiệu quả lao động cao và mới có ích cho mọi người
Chúng ta hiện nay đang là những sinh viên, là những người đang trong quá trình phát triển
về mọi mặt cả về thể lực và trí lực, tri thức và trí tuệ nhân cách cho nên thời kì này phải tranh thủ điều kiện để hoàn thiện bản thân, phải rèn luyện cả phẩm chất, năng lực, cả đức cả tài, học hỏi bạn
bè, gia đình, nhà trường và xã hội để trở thành con người mới xã hội chủ nghĩa nhằm đáp ứng nhu cầu của xã hội hiện nay làm nền tảng cho sự phát triển tiếp tục trong tương lai
Câu 3: Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của nguyên lý về về sự phát triển? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân?
1 Khái niệm
Trên cơ sở khái quát sự phát triển của mọi sự vật, hiện tượng tồn tại trong hiện thực, quan điểm duy vật biện chứng khẳng định, phát triển là một phạm trù triết học dùng để chỉ quá trình vận động tiến lên từ thấp đến cao, từ đơn giản đến phức tạp, từ kém hoàn thiện đến hoàn thiện hơn của
sự vật Phát triển không chỉ là sự tăng lên, giảm đi về lượng mà còn là sự nhảy vọt về chất Theo quan điểm này, phát triển không bao quát toàn bộ sự vận động nói chung Nó chỉ khái quát xu hướng chung của sự vận động - xu hướng vận động đi lên của sự vật, sự vật mới ra đời thay thế cho sự vật
cũ Sự phát triển chỉ là một trường hợp đặc biệt của sự vận động Trong quá trình phát triển của mình trong sự vật sẽ hình thành dần dần những quy định mới cao hơn về chất, sẽ làm thay đổi mối liên hệ, cơ cấu, phương thức tồn tại và vận động, chức năng vốn có theo chiều hướng ngày càng hoàn thiện hơn
sự vật luôn luôn phát triển Vì thế sự phát triển là tiến trình khách quan, không phụ thuộc vào ý thức của con người
Sự phát triển mang tính phổ biến Tính phổ biến của sự phát triển được hiểu là nó diễn ra ở mọi lĩnh vực: tự nhiên, xã hội và tư duy; ở bất cứ sự vật, hiện tượng nào của thế giới khách quan Ngay cả các khái niệm, các phạm trù phản ánh hiện thực cũng nằm trong quá trình vận động và phát triển; chỉ trên cơ sở của sự phát triển, mọi hình thức của tư duy, nhất là các khái niệm và các phạm trù, mới có thể phản ánh đúng đắn hiện thực luôn vận động và phát triển
Sự phát triển còn có tính đa dạng, phong phú Phát triển là khuynh hướng chung của mọi sự vật, mọi hiện tượng, song mỗi sự vật, mỗi hiện tượng lại có quá trình phát triển không giống nhau
Trang 9Tồn tại ở không gian khác nhau, ở thời gian khác nhau, sự vật phát triển sẽ khác nhau Đồng thời trong quá trình phát triển của mình, sự vật còn chịu sự tác động của các sự vật, hiện tượng khác, của rất nhiều yếu tố, điều kiện Sự tác động đó có thể thúc đẩy hoặc kìm hãm sự phát triển của sự vật, đôi khi có thể làm thay đổi chiều hướng phát triển của sự vật, thậm chí làm cho sự vật thụt lùi Chẳng hạn, nói chung, ngày nay trẻ em phát triển nhanh hơn cả về thể chất lẫn trí tuệ so với trẻ em
ở các thế hệ trước do chúng được thừa hưởng những thành quả, những điều kiện thuận lợi mà xã hội mang lại Trong thời đại hiện nay, thời gian công nghiệp hóa và hiện đại hóa đất nước của các quốc gia chậm phát triển và kém phát triển sẽ ngắn hơn nhiều so với các quốc gia đã thực hiện chúng
do đã thừa hưởng kinh nghiệm và sự hỗ trợ của các quốc gia đi trước Song vấn đề còn ở chỗ, sự vận dụng kinh nghiệm và tận dụng sự hỗ trợ đó như thế nào lại phụ thuộc rất lớn vào những nhà lãnh đạo và nhân dân của các nước chậm phát triển và kém phát triển
Những điều kiện nêu ra ở trên cho thấy, dù sự vật, hiện tượng có thể có những giai đoạn vận động đi lên như thế này hoặc như thế khác, nhưng xem xét toàn bộ quá trình thì chúng vẫn tuân theo khuynh hướng chung
3 Nguồn gốc, cách thức và con đường của phát triển
Sự phát triển có nguồn gốc ở ngay bên trong mọi sự vật Nó là kết quả của sự tác động qua lại giữa các nhân tố tạo thành sự vật (QL thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập) (phần nội dung và ý nghĩa của câu 3)
Phát triển bao hàm cả sự thay đổi về chất, chứ không thuần túy là sự thay đổi về lượng (QL lượng-chất) (phần nội dung và ý nghĩa của câu 4)
Phát triển không đi theo đường thẳng giản đơn, mà quanh co, phức tạp, theo đường “xoáy ốc”, nhưng sớm hay muộn cái mới nhất định sẽ chiến thắng (QL phủ định của phủ định)
Nội dung quy luật:
• Phát triển là 1 quá trình phủ định nối tiếp nhau có tính chu kỳ
• Để hình thành 1 chu kỳ của sự phủ định phải ít nhất trải qua 2 lần phủ định Lần 1 tạo
ra cái đối lập với nó Đó là khâu trung gian trong quá trình phát triển Lần 2 dường như quay trở về cái ban đầu và trên cơ sở cao hơn
• Phủ định của phủ định kết thúc 1 chu kì, đồng thời là điểm xuất phát cho 1 chu kì tiếp theo
• Phát triển không theo đường thẳng mà đó là 1 quá trình quanh co, phức tạp theo đường xoáy ốc đi lên
VD: Hạt thóc gieo xuống đất lúa (PĐ1) bông lúa (PĐ 2)
Ý nghĩa phương pháp luận:
• Cần phát hiện, bảo vệ cái mới Vì cái mới là cái yếu nếu gặp điều kiện thuận lợi sẽ phát triển nhanh nhưng nếu gặp điều kiện không thuận lợi sẽ phát triển chậm VD: Khi gieo trồng cây, nếu gặp điều kiện thời tiết thuận lợi, phân bón đầy đủ, cây sẽ lớn nhanh, nhưng nếu thời tiết xấu, đất đai kém màu mỡ, phân bón không đầy đủ, cây sẽ phát triển chậm
• Cần có nguyên tắc kế thừa sáng tạo, chống quan điểm phủ định sạch trơn, kế thừa mù quáng VD: Bài học của Liên Xô: mô hình CNXH áp dụng thành công tại Liên Xô các nước áp dụng nguyên mẫu Khi CNXH ở Liên Xô sụp đổ thì CNXH cũng sụp đổ ở hàng loạt nước
• Cần có tinh thần lạc quan khoa học, chống bi quan
Trang 104 Ý nghĩa phương pháp luận: Là cơ sở lý luận để xây dựng quan điểm phát triển:
Trong nhận thức, khi xem xét, đánh giá SVHT, phải vạch ra được xu hướng biến đổi, phát triển của chúng Khi nhận thức sự vật không chỉ nhận thức nó trong hiện tại như nó có mà còn phải thấy được khuynh hướng vận động, phát triển tất yếu của nó trong tương lai, từ đó dự báo các tình huống có thể xảy ra để chủ động nhận thức giải quyết
Xem xét sự vật theo quan điểm phát triển còn phải biết phân chia quá trình phát triển của sự vật ấy thành những giai đoạn Trên cơ sở ấy để tìm ra phương pháp nhận thức và cách tác động phù hợp nhằm thúc đẩy sự vật tiến triển nhanh hơn hoặc kìm hãm sự phát triển của nó, tùy theo sự phát triển đó có lợi hay có hại đối với đời sống con người
Trong hoạt động thực tiễn cần chống bảo thủ, trì trệ, ngại đổi mới, bởi lẻ mọi sự vật, hiện tượng trong thế giới luôn vận động biến đổi và phát triển Phát triển là khó khăn, bao gồm cả sự thụt lùi tạm thời, do vậy trong hoạt động thực tiễn khi gặp khó khăn, thất bại tạm thời phải biết tin tưởng vào tương lai
Tránh quyết định nóng vội, chủ quan duy ý chí, chưa tích lũy đủ về lượng đã muốn thực hiện bước nhảy về chất
Tạo điều kiện và hỗ trợ cái mới ra đời và phát triển cái mới phải phù hợp với xu thế phát trển
và quy luật khách quan
5 Liên hệ vận dụng vào công tác bản thân
Câu 4: Phân tích nội dung và ý nghĩa phương pháp luận của quy luật thống nhất và đấu tranh của các mặt đối lập? Liên hệ vận dụng vào công tác của bản thân 1 Nội dung quy luật thống nhất và đấu tranh giữa các mặt đối lập
1.1 Vai trò của quy luật
Quy luật của mâu thuẫn là quy luật cơ bản nhất trong ba quy luật cơ bản của phép biện chứng duy vật và là hạt nhân của phép biện chứng bởi vì nó vạch ra nguồn gốc động lực bên trong của sự phát triển Vd: để tư duy con người phát triển, phải giải quyết các mâu thuẫn như: tốt – xấu, biết – chưa biết…
1.2 Khái niệm
Tất cả các sự vật, hiện tượng trên thế giới đều chứa đựng những mặt trái ngược nhau Trong nguyên tử có điện tử và hạt nhân; trong sinh vật có đồng hóa và dị hóa; trong kinh tế thị trường có cung và cầu, v.v Những mặt trái ngược nhau đó phép biện chứng duy vật gọi là mặt đối lập
Mặt đối lập là những mặt có những đặc điểm, những thuộc tính, những tính quy định có khuynh hướng biến đổi trái ngược nhau Sự tồn tại các mặt đối lập là khách quan và là phổ biến trong tất cả các sự vật VD: tốt - xấu, thiện – ác…
Các mặt đối lập nằm trong sự liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau tạo thành mâu thuẫn biện chứng Mâu thuẫn biện chứng tồn tại một cách khách quan và phổ biến trong tự nhiên, xã hội và tư duy Mâu thuẫn biện chứng trong tư duy là phản ánh mâu thuẫn trong hiện thực và là nguồn gốc phát triển của nhận thức
Các mặt đối lập vừa thống nhất với nhau lại vừa đấu tranh với nhau Sự thống nhất của các mặt đối lập là sự nương tựa vào nhau, không tách rời nhau giữa các mặt đối lập, sự tồn tại của mặt này phải lấy sự tồn tại của mặt kia làm tiền đề Các mặt đối lập tồn tại không tách rời nhau nên giữa chúng bao giờ cũng có những nhân tố giống nhau Những nhân tố giống nhau đó gọi là sự "đồng nhất" của các mặt đối lập Với ý nghĩa đó, "sự thống nhất của các mặt đối lập" còn bao hàm cả sự