Bài thu hoạch lớp bồi dưỡng chức danh nghề nghiệp Giảng viên Hạng III dành cho các thầy cô học lớp nâng hạng Giảng viên Hạng III, Bài có 2 câu hỏi, liên quan đến chuyên đề nghiên cứu khoa học, phương pháp dạy học đại học.
Trang 1Họ và tên:
Ngày sinh:
Số thứ tự (theo DS):
Mã lớp:
Tên lớp: BD CDND GV hạng III Địa điểm học: Trường Đại học ….
BÀI LÀM Câu 1: Anh/chị hãy:
1 Trình bày khái niệm về hình thức về dạy học đại học và nêu một số hình thức dạy học đại học
2 Trong dạy học đại học hiện nay, anh chị thường sử dụng hình thức dạy học nào? Giải thích vì sao chọn hình thức dạy học đó?
Bài làm
1. Khái niệm về hình thức về dạy học đại học và một số hình thức dạy học đại học
Hình thức tổ chức dạy học ở đại học là hình thức hoạt động của cả thầy và trò trong trường đại học, được tổ chức một cách khoa học, trong đó, dưới sự điều khển của giảng viên, sinh viên phát huy cao độ tính tích cực, độc lập, sáng tạo nhằm thực hiện tốt mục đích, nhiệm vụ dạy học ở đại học
1.2 Một số hình thức dạy học đại học
1.2.1 Bài diễn giảng
Bài diễn giảng là hình thức tổ chức dạy học theo đơn vị lớp, mỗi lớp 40-50 sinh viên cùng trình độ, cùng chuyên ngành, thời gian học tập được chia thành tiết 45-50 phút, trong
đó, giảng viên giữ vai trò chủ đạo, thực hiện giờ học bằng thuyết trình, giải thích, minh họa, cung cấp thông tin
Bài diễn giảng là hình thức tổ chức dạy học tập thể, với mục đích là giúp sinh viên nắm nội dung theo chương trình đào tạo Mỗi môn học được thực hiện một hệ thống bài diễn giảng theo một thời khóa biểu
Trang 2Để thực hiện bài diễn giảng, giảng viên phải thiết kế kế hoạch bài giảng, chuẩn bị về nội dung, thiết kế chiến thuật bài giảng, dự đoán các tình huống, các khả năng có thể xảy ra trong bài giảng
Trong bài diễn giảng, giảng viên cần sử dụng nhiều phương pháp dạy học phối hợp,
sử dụng các phương tiện trực quan nghe, nhìn, tổ chức cho sinh viên tham gia vào bài giảng một cách tích cực nhất
Bài diễn giảng có hiệu quả khi nội dung hấp dẫn, sinh viên tập trung chú ý huy động kiến thức, kinh nghiệm thực tế để tiếp thu, bài diễn giảng đạt hiệu quả khi được diễn ra trong môi trường giao tiếp thân thiện, tin cậy giữa giảng viên và tập thể sinh viên
1.2.2 Thảo luận nhóm
Thảo luận là hình thức tổ chức học tập cho sinh viên trao đôi, tranh luận về các vấn đề học tập để tự rút ra được các kết luận theo yêu cầu của bài học
Thảo luận là hình thức học tập trong đó mỗi cá nhân bằng kiến thức, kinh nghiệm và bằng trí thông minh, sự sáng tạo đóng góp vào kết quả học tập chung
Trong thảo luận, sinh viên thường có những qua điểm khác nhau,tạo nên những tranh luận rất bổ ích, mỗi sinh viên có thể có một ý kiến riêng nhưng cùng nhau phối hợp để tìm ra kết luận chung, cho nên các vấn đề nắm bắt được sẽ trở nên sâu sắc, lớp học sôi nổi, từ đó hình thành thói quen mạnh dạn, tự tinh trong học tập tập thể
Giờ thảo luận có thể tiến hành theo nhóm hay cả lớp Để tổ chức buổi thảo luận, giảng viên cần chuẩn bị kĩ nội dung, cách tiến hành, sinh viên phải đọc các tài liệu có liên quan để chuẩn bị các ý kiến thảo luận Giảng viên khéo léo dẫn dắt sinh viên tranh luận và cuối cùng phải tổng kết kiến thức, khắc sâu các vấn đề đã thảo luận
Hình thức thảo luận có thể thực hiện trong bài bài học mới, bài ôn tập, thực hành, sau buổi tham quan…
1.2.3 Giờ học thí nghiệm
Giờ học thí nghiệm là hình thức tổ chức dạy học đưa sinh viên vào phòng thí nghiệm
để tiến hành các thí nghiệm khoa học, thực hành các kĩ năng nghiên cứu nhằm nắm vững lý thuyết
Chương trình các môn khoa học tự nhiên và công nghệ có một số nội dung cần tổ chức cho sinh viên làm các thí nghiệm, thực hành Đây là hình thức tổ chức dạy học quan trọng gúp sinh viên làm quen với phương pháp nghiên cứu khoa học, nhằm chứng minh hay khắc sâu các lí thuyết đã học
Trang 3Để giờ học thí nghịêm, thực hành thành công, với sự giúp đỡ của nhân viên phòng thí nghiệm, giảng viên cần phải chuẩn bị đầy đủ các dụng cụ, thiết bị thí nghiệm, vật tư thực hành cần thiết, sau khi hướng dẫn quy trình và chế độ an toàn, giảng viên tổ chức, hướng dẫn
và giám sát sinh viên thực hiện để rút ra các kết luận khoa học
1.2.4 Seminar
Seminar là tổ chức thảo luận theo các vấn đề, chủ đề Sinh viên thảo luận, còn giảng viên hướng dẫn
Sinh viên nghiên cứu tài liệu một cách khoa học, phân tích thành các ý kiến khác nhau, lập luận, bảo vệ ý kiến của mình trước tập thể, có thể nảy sinh các thắc mắc, chia sẻ ý tưởng với nhau
Các loại seminar:
- Seminar giáo trình;
- Seminar chuyên đề
- Seminar nội dung chương trình của giáo trình
Tác dụng của seminar: tạo cho người học tìm tòi, vận dụng tri thức, tập dượt nghiên cứu khoa học
Chuẩn bị seminar:
- Giảng viên chọn chủ đề seminar, sinh viên chuẩn bị kế hoạch nghiên cứu: Công việc cần thực hiện, tài liệu cần đọc, cơ sở thực tế phải đến, thời gian hoàn thành
- Sinh viên hoàn thành công việc với bản đề cương trình bày trong buổi thảo luận
Yêu cầu đối với người học:
- Đối với ngườ báo cáo: Chuẩn bị báo cáo để trình bầy trong 10-15 phút
- Đối với người tham dự: Nghe tích cực, ghi nhận lại những ý cơ bản, đồng ý hay thắc mắc, bảo vệ ý kiến, bình luận, phê phán điều nghe được…
1.2.5 Tự học
Tự học là hình thức tổ chức cho sinh viên học tập trong hoặc ngoài giờ lên lớp theo phương pháp tự nghiên cứu, bằng nỗ lực của cá nhân, mà không có giảng viên trực tiếp hướng dẫn
Trang 4Tự học có vai trò cực kì quan trọng, thực tế cho thấy chất lượng học tập được quyết định bởi ý thức và phương pháp tự học của từng sinh viên Mục đích tự học là phát triển kĩ năng hoạt động độc lập theo hướng nghiên cứu khoa học, tiếp cận với trào lưu tiến bộ khoa học và công nghệ trong nước và thế giới đồng thời đảm ảo chất lượng quá trình học tập của bản thân sinh viên
Tự học có kế hoạch, có nề nếp sẽ tạo nên thói quen và phong cách làm việc lâu dài của từng cá nhân Tự học giúp cho con người khả năng định hướng trong thời đại thông tin, trang bị cho sinh viên phương pháp, kĩ năng tự hoàn thiện ình trong suốt cuộc đời
Nội dung tự học bao gồm:
- Hoàn thiện bài trên lớp
- Chuẩn bị bài tiếp theo
- Mở rộng và đào tạo sâu kiến thức bằng các nguồn thông tin khác nhau
- Tập dượt để hình thành kĩ năng nghiệp vụ và kĩ năng nghên cứu khoa học
Để tự học tốt cần có hai yếu tố chủ quan và khách quan Mặt chủ quan đó là sự hứng thú, kiên trình, tập trung, có phương pháp học tập tốt, có trạng thái sức khỏe và tâm lí thoải mái, không bị chi phối, phân tán Mặt khách quan là cần có đủ tài liệu, giáo trình, sách tham khảo, có đồ dùng, phương tiện học tập, có máy tính nối mạng Internet, phòng học sáng sủa, mát mẻ, bàn ghế thuận lợi Gia đình, nhà trường cần quan tâm các điều kiện tự học của sinh viên
1.2.6 Thực tập nghề nghiệp
Trường đại học là trường dạy nghề bậc cao, vì vậy một trong những hình thức tổ chức dạy học, đồng thời là một khâu trong quá trình đào tạo là tổ chức cho sinh viên tham gia vào quá trình rèn luyện nghiệp vụ thông qua thực tập tại các cơ sở sản xuất, kinh doanh, các cơ quan văn hóa- xã hội Thực tập là một điều kiện để sinh viên được công nhận tốt nghiệp, đáp ứng yêu cầu đào tạo chuyên gia lành ành nghề
Việc thực tập cần được xây dựng theo chương trình, có mục tiêu cho từng đợt, có nội dung và được tổ chức một cách khoa học, nghiêm tức Thực tập có thể tổ ctoor chức theo từng đợt, từng năm, nâng dần tính phức tạp về chuyên môn và cần lựa chọn thời gian, địa điểm hợp lí với đủ cán bộ hướng dẫn và đả bảo an toàn
1.2.7 Nghiên cứu khoa học
Trang 5Tổ chức cho sinh viên nghiên cứu khoa học là hình thức tổ chức dạy học quan trọng ở các trường đại học góp phần đem lại kết quả đào tạo tốt và hỗ trợ, thúc đẩy các hình thức tổ chức dạy học khác thực hiện có hiệu quả
Mục đích tổ chức cho sinh viên nghiên cứu khoa học là:
- Giúp cho sinh viên tập dượt nghiên cứu, mang lại thông tin mới, kiến thức mới cho bản thân
- Giúp cho sinh viên tập rèn luyện kĩ năng hoạt động sáng tạo
Nghiên cứu khoa học thực chất là một hình thức học tập cho sinh viên trong đó sinh viên được rèn luyện cả 3 mặt:
- Tâm lí sẵn sàng bước vào khoa học, thể hiện sự hứng thú, quyết tâm, xu hướng khoa học
- Lí luận khoa học là chuẩn bị cho sinh viên kiến thức, phương pháp nghiên cứu khoa học
- Kĩ năng thực tế là tập dượt, bồi dưỡng kĩ năng nghiên cứu khoa học cho mỗi sinh viên
Ở đại học,phải sử dụng tất cả mọi hình thức tổ chức dạy học vào mục tiêu đào tạo về mặt khoa học Tận dụng mọi thế mạnh của diễn giảng, tự học, hội thảo, thực tập để bồi dưỡng kĩ năng nghiên cứu khoa học Việc tập dượt cho sinh viên nghiên cứa khoa học cần tăng dần tính phức tạp từ bài học nhỏ đến bài tập lớn, niên luận, luận văn…Đồng thời cần tổ chức các kì thi Olympic khoa học với các giải thưởng khoa học trong phạm vi một khoa, một trường, liên trường và cả nước Bên cạnh đó, cần khuyến khích người có thành tích cao bằng chuyển tiếp cao học, nghiên cứu sinh
1.2.8 E-learning và dạy học đại học
E-learnning là thuật ngữ dùng để mô tả việc học tập và đào tạo dựa trên công nghệ thông tin và truyền thông, đặc biệt là công nghiệ thông tin Theo quen điểm hiện đại, e-learning là sự phân phát các nội dung học sử dụng các công cụ điện tử hiện đại như máy tính, mạng Internet…trong đó, nội dung học có thể thu được từ các website, đĩa CD, băng video, audio…thông qua một máy tính hay ti vi; người dạy và người học có thể giao tiếp với nhau qua mạng dưới các hình thức như: emai, thảo luận trực tuyến (chat), diễn đàn (forum), hội thảo video…
Trang 6E-learning là một hình thức đào tạo năng động, trong đó học viên chủ động tiếp cận kiến thức Người tham gia vào loại hình dào tạo e-learing tự kiểm soát tốc độ công cụ, địa điểm học tập cũng như khối lượng kiến thức mà họ muốn thu nhận, họ được tự mình quyết didngj cách thức thu nhận kiến thức, kĩ năng và khả năng phù hợp với phong cách học của chính mình
E-learning là một loại hình đào tạo mang tính cá nhân Mỗi học viên của chương trình đào tạo e-learning lựa chọn các hoạt động từ danh mục cơ hội học taajo cá nhân liên quan trực tiếp tới kiến thức nền tảng, nhiệm và công việc của mình tại thời điểm đó
E-learning là loại hình đào tạo tổng quát E-learning cung cấp các hoạt động đào tạo
từ rất nhiều nguồn khác nhau, bao gồm tất cả các chủ đề có thể nghĩ được, cho phép học viên lựa chọn dạng thức hoặc phương pháp học tập hoặc nhà cung cấp dich vụ đào tạo tùy ý
E-learning là loại hình đào tạo hiệu quả Elearning cho phép học viên tương tác với công cụ học tập để có thể ghi nhớ tối đa khối lượng kiến thức đã học được
E-learning là loại hình đào tạo tiết kiệm thời gian E-learning cho phép người học có thể học với tốc độ hiệu quả nhanh nhất có thể Loại hình đào tạ e-learning tự học giúp học viên tăng tốc học thông qua các công cụ học tập mà họ đã quen thuộc và tiếp nhận những công cụ học tập mà họ ít sử dụng nhất
E-learning bổ sung rất tốt cho phương pháp học truyền thống do e-learning có tính tương tác cao dựa trên multimedia, tạo điều kiện cho người học trao đổi thông tin dễ dàng hơn cũng như đưa ra nội dung học tập phù hợp với khả năng sở thích của từng người E-learning trở thành xu thế tất yếu trong nền kinh tế tri thức
2 Liên hệ thực tế
Không có hình thức tổ chức dạy học nào là tối ưu nhất, mỗi hình thức tổ chức dạy học
có ưu điểm và hạn chế Vì vậy, trong quá trình dạy học đại học, tôi vận dụng phối hợp các hình thức dạy học để đạt hiệu quả Chẳng hạn, môn Phương pháp … gồm có 2 học phần là Phương pháp … và học phần Thực hành … Khi đảm trách dạy 2 học phần này tôi phối kết hợp hình thức dạy học E-learning với các hình thức dạy học truyền thống Mặc dù, ban đầu hình thức E-learning được triển khai do yêu cầu của nhà trường qua công cụ Moodle và Google meet, nhưng sau đó nhận thấy E-learning là một hình thức dạy học sẽ phát huy nhiều năng lực của người học nếu người giảng viên biết phối kết hợp với hình thức dạy học truyền thống Vì vậy, sau đợt học trực tuyến theo quy định của nhà trường, học kì 1 năm học
2020-2021, tuy không được nhà trường mở lớp trên Moodle như trước, tôi đã lựa chọn công cụ
Trang 7Google classroom để quản lý lớp học Tôi đã thiết kế bài giảng theo việc vận dụng hình thức E-laerning và hình thức truyền thống Nếu giảng bài mới, tôi có thể cho sinh viên (SV) xem trước video bài giảng được gửi lên trước, sau đó giờ lên lớp tôi sẽ diễn giảng lại nếu SV chưa hiểu bài Tuỳ vào mục đích và nội dung bài học, tôi lựa chọn hình thức thảo luận nhóm, seminar để giúp SV hiểu bài sâu hơn Một số nội dung dạy học, tôi chọn hình thức cho SV tự học để cho thể giúp SV biết cách tự định hướng việc học tập Với nội dung dung thực hành
sư phạm của môn học, tôi thường chọn hình thức thực tập nghề nghiệp cho SV được có cơ hội rèn luyện kĩ năng nghề nghiệp, tôi cho SV thực hành tập dạy trên chính SV với nhau Cho sinh viên quay clip lại và gửi lên Google classroom để cả lớp cùng đánh giá hoạt động tập dạy của nhau Tôi cho SV thiết kế bài trên google classroom, khi không hiểu bài SV sẽ
có thể làm việc nhóm trên Google meet hoặc Zoom với nhau Tôi hướng dẫn SV sử dụng một số công cụ hỗ trợ cho việc thực hiện học tập như Camscanners, Google Photos,… Tôi liên tục thay đổi hoạt động mỗi buổi để phù hợp với khả năng của SV Ban đầu, SV gần như chưa quen với cách học này, vì SV quen với các học truyền thống lên lớp nghe giảng và ghi chép, SV cảm thấy có quá nhiều thứ phải học, và phải hoạt động liên tục, SV than vãn, nhưng nhờ cách học E-learning, SV chia sẽ cảm xúc, tôi điều chỉnh hoạt động hướng dẫn SV chậm hơn, nửa học kì 1, SV quen dần và cảm thấy thích thú với cách học Mặc dù, về cảm nhận ban đầu áp dụng dạy, tôi vẫn chưa phát huy hết những gì thiết kế giảng dạy vận dụng E-learning như tôi mong muốn, nhưng tôi cảm nhận cách dạy này làm thay đổi cách dạy truyền thống, phát huy tính chủ động của SV, phù hợp thời đại số Tôi mong muốn dạy E-learning không đơn thuần là vận dụng các công cụ IT mà là thiết kế sư phạm theo hình thức E-learning
Riêng đối với hình thức nghiên cứu khoa học thì tôi không thể áp dụng trong lúc
giảng dạy học phần Tuy nhiên, việc hướng dẫn sinh viên nghiên cứu khoa học cấp trường cũng như hướng dẫn SV làm đề tài khóa luận, được khoa phân công, hình thức này giúp cho
SV bước đầu biết cách thực hiện nghiên cứu trẻ em cụ thể
Tóm lại, để đào tạo ra đội ngũ lao động có năng lực, có trình độ, có nghiệp vụ đáp ứng với nhu cầu thực tế tại các cơ cở sử dụng lao động thì giáo dục đại học ngoài việc trang
bị kiến thức cơ bản, chuyên ngành cho sinh viên thì còn phải tạo ra nhiều cơ hội cho SV được trải nghiệm, được cọ xát với thực tế, để mài giũa kĩ năng nghề nghiệp Muốn có được điều đó giảng viên nên lựa chọn các hình thức dạy học phù hợp với nội dung, mục đích dạy học
Trang 8Câu 2: Anh/Chị hãy trình bày hoạt động và vai trò của kiểm định chất lượng giáo dục Vai trò của kiểm định chất lượng giáo dục có ý nghĩa như thế nào đối với cơ sở giáo dục Anh/ Chị đang công tác hiện nay?
Bài làm
1 Khái niệm và vai trò của kiểm định chất lượng giáo dục
1.1 Khái niệm kiểm định chất lượng giáo dục
Kiểm định chất lượng là hoạt động đánh giá nhằm công nhận mức độ đáp ứng yêu cầu về tiêu chuẩn kiểm định chất lượng cả đối tượng được đánh giá
Trong giáo dục, kiểm định chất lượng có thể được xem là “một quá trình đánh giá ngoài nhằm đưa ra một quyết định công nhận một trường đại học hay một chương trình đào tạo của nhà trường đáp ứng các chuẩn mực quy định” (Seameo, 2003) Một đánh giá không nhằm mục đích đưa ra một quyết định công nhận thì không phải là kiểm định chất lượng
Tại việt Nam, lần đầu tiên khái niệm “kiểm định chất lượng” được đưa vào Luật Giáo dục 2005: “kiểm định chất lượng giáo dục là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà trường và cơ sở giáo dục khác Việc kiểm định chất lượng giáo dục được thực hiện định kì trong phạm vi cả nước và đối với từng cơ sở giáo dục Kết quả kiểm định chất lượng giáo dục được công bố công khai để xã hội biết và giám sát” (Điều 17, Luật Giáo dục)
Như vậy, kiểm định cần phải:
- Có tiêu chuẩn về chất lượng;
- Đánh giá theo tiêu chuẩn chất lượng;
- Công nhận đạt chuẩn
Cơ sở giáo dục muộn đạt được sự công nhận thì:
- Phải đáp ứng được những chuẩn mực nhất định;
- Phải tìm cách thường xuyên nâng cao chất lượng
1.2 Hình thức kiểm định chất lượng giáo dục
Kiểm định trường: Xem xét toàn bộ hoạt động của nhà trường, nhằm mục đích đảm
bảo trước cộng đồng nghề nghiệp và các khách hàng rằng nhà trường đã thỏa mãn các tiêu chí sau:
- Trường đã có mục tiêu đào tạo rõ ràng;
Trang 9- Đã chuẩn bị tốt các nguồn lực để thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục và đào tạo;
- Đã thực hiện tốt các mục tiêu giáo dục và đào tạo;
- Đã có kế hoạch phát triển các nguồn lực để thực hiện tốt sứ mệnh của nhà trường trng tương lại
Kiểm định chương trình đào tạo: Xem xét một phần cơ sở đào tạo liên quan trực tiếp
đến chương trình, chủ yếu nhằm kiểm định mức độ đạt chuẩn của chương trình đào tạo đó
1.3 Vai trò của kiểm định chất lượng giáo dục
Công tác kiểm định chất lượng giáo dục nhằm phục vụ các mục đích:
- Hỗ trợ cho việc cải tiến liên tục chất lượng;
- Giải trình với các cơ quan quản lý nhà nước và xã hội về thực trạng chất lượng giáo dục;
- Cấp chứng nhận kiểm định cho nhà trường/chương trình đào tạo đã đáp ứng được các tiêu chuẩn đặt ra
Vai trò của kiểm định chất lượng giáo dục:
*Thứ nhất: kiểm định chất lượng giáo dục giúp các cơ sở giáo dục có cơ hội xem xét lại toàn bộ hoạt động của mình một cách có hệ thống, từ đó điều chỉnh các hoạt động theo các chuẩn mực quy định
Để đánh giá chính xác chất lượng của một cơ sở giáo dục, không thể chỉ xem xét ở một khía cạnh về chất lượng đầu vào hay đầu ra mà cần có cái nhìn tổng thể về toàn bộ hoạt động của cơ sở giáo dục đó Đây là vai trò chủ đạo của kiểm định Bản thân kiểm định chất lượng sẽ không tạo ra chất lượng àm đó là tấm gương phản ánh toàn bộ thực trạng của cơ sở giáo dục, giúp cho các nhà quản lý nhìn nhận những mặt mạnh, mặt yếu của đơn vị, từ đó có những hành động tiếp theo phù hợp
*Thứ hai, kiểm định chất lượng gúp các cơ sở giáo dục định hướng và xác định chuẩn chất lượng cho từng hoạt động.
Chuẩn mực chất lượng được công bố với các tiêu chuẩn, tiêu chí và những chỉ số cụ thể là căn cứ để các trường cần phải đạt nhằm đảm bảo chất chất lượng toàn diện Việc phân tích, mô tả hiện trạng, tìm ra giải pháp nhằm giải quyết các tồn tại này chính là các định hướng phát t riển cho giai đoạn tiếp the của các trường
Trang 10*Thứ ba, kiểm định chất lượng giáo dục là lời tuyên bố chắc chắn tới các bên liên
quan về hiện trạng chất lượng của cơ sở giáo dục.
Trước tiên, việc tự nguyện đăng kí kiểm định được xem là lời cam kết về chất lượng đào tạo mà nhà trường mang lại cho người học và các bên liên quan khác như nhà tuyển dụng, các đối tác hay toàn xã hội Thêm vào đó, hoạt động đánh giá ngoài (được thực hiện thông qua bên thứ ba là các chuyên gia có kinh nghiệm trong đào tạo, nghiên cứu và quản lí giáo dục, có chứng nhận đào tạo kiểm định viên) sẽ mang tính khách quan cao trong việc công nhận chất lượng của nhà trường Vì vậy, kết quả kiểm định cung cấp cho các bên liên quan những thông tin kịp thời, chính xác để xác nhận chất lượng đào tạo của nhà trường, từ
đó có cơ sở lựa chọn được các dịch vụ phù hợp
*Thứ tư, kiểm định chất lượng giáo dục tạo tiền đề xây dựng văn hoác chất lượng cho
cơ sở giáo dục
Hoạt động kiểm định chất lượng dựa trên các chỉ số, các chuẩn mực để đánh giá; do
đó, các thông tin này sẽ giúp mỗi thành viên của nhà trường hiểu rõ hơn về vai trò, nhiêm vụ của bản thân, nhờ đó họ biết chủ động không ngừng nâng cao chất lượng công việc, khi đó văn hóa chất lượng sẽ dần hình thành tại cơ sở giáo dục
2.Ý nghĩa c a ki m đ nh ch t lủa kiểm định chất lượng giáo dục đối với trường Đại học ểm định chất lượng giáo dục đối với trường Đại học ịnh chất lượng giáo dục đối với trường Đại học ất lượng giáo dục đối với trường Đại học ượng giáo dục đối với trường Đại học ng giáo d c đ i v i trục đối với trường Đại học ối với trường Đại học ới trường Đại học ường Đại học ng Đ i h c ại học ọc
“Kiểm định chất lượng là một quá trình xem xét chất lượng từ bên ngoài, được giáo dục đại học sử dụng để khảo sát, đánh giá các cơ sở giáo dục và các ngành đào tạo nhằm đảm bảo và cải tiến chất lượng” (Hội đồng kiểm định giáo dục đại học của Hoa Kỳ-CHEA, 2003) Ở Việt Nam, “Kiểm định chất lượng giáo dục là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà trường và cơ sở giáo dục khác Việc kiểm định chất lượng giáo dục được thực hiện định kỳ trong phạm vi cả nước và đối với từng cơ sở giáo dục Kết quả kiểm định chất lượng giáo dục được công bố công khai để xã hội biết và giám sát” (Điều 17, Luật Giáo dục (2005)
Hoạt động KĐCLGD cấp cơ sở giáo dục nước ta đã có những bước phát triển mạnh
mẽ Tính đến tháng 05/2018, theo kết quả thống kê của 05 trung trung tâm kiểm định trực thuộc các đơn vị: ĐHQG Hà Nội, ĐHQG-HCM, ĐH Đà Nẵng, Hiệp Hội các trường cao đẳng đại học Việt Nam và Trường Đại học Vinh, cả nước đã có 95 trường đại học và 02 trường Cao đẳng được cấp giấy chứng nhận đạt chuẩn kiểm định theo tiêu chuẩn của Bộ GD&ĐT, 05 Cơ sở giáo dục được công nhận đạt chuẩn của các tổ chức kiểm định quốc tế