Câu 1. Trình bày vị trí, chức năng của các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước ta hiện nay. Câu 2. Phân tích các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và những phương hướng xây dựng, hoàn thiện nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới hiện nay. Đề xuất giải pháp góp phần bảo đảm tất cả quyền lực Nhà nước thực sự thuộc về Nhân dân. Câu 3. Vẽ sơ đồ cơ cấu tổ chức bộ máy mhà nước ta theo Hiến pháp hiện hành. Câu 4. So sánh (giống và khác nhau) về vị trí pháp lý và chức năng giữa Quốc hội và Hội đồng nhân dân, giữa Chính phủ và Uỷ ban nhân dân. So sánh giữa Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Câu 5. Phân tích bản chất, chức năng và vai trò các mối quan hệ của pháp luật XHCN Việt Nam. Câu 6. Lấy ví dụ về văn bản quy phạm pháp luật và văn bản áp dụng quy phạm pháp luật. Từ đó phân biệt hai loại văn bản trên. Câu 7. Lấy ví dụ về vi phạm pháp luật và phân tích cấu thành của vi phạm pháp luật. Câu 8. Phân tích tính tất yếu phải tăng cường pháp chế và các biện pháp tăng cường pháp chế XHCN ở nước ta trong giai đoạn hiện nay.
Trang 1Câu 1 Trình bày vị trí, chức năng của các bộ phận cấu thành hệ thống chính trị của nước
ta hiện nay
Hệ thống chính trị là tổng hợp các lực lượng chính trị bao gồm Đảng Cộng sản, Nhà nước
và các tổ chức chính trị - xã hội hoạt động theo một cơ chế nhất định nhằm bảo đảm quyền lực
Nhà nước thuộc về nhân dân
b/ Nhà nước:
Nhà nước giữ vị trí trung tâm, trụ cột, xương sống của hệ thống chính trị Nhà nước là quan trọng nhất bởi vì nhờ có nhà nước mà Đảng có thể lãnh đạo nhân dân thực hiện được quyền làm chủ Nhà nước là tổ chức duy nhất có những điều sau:
Thứ nhất, nhà nước đại diện cho mọi dân tộc, mọi người dân Vì đứng ở vị trí trung tâm của hệ thống chính trị, là đại diện chính thức cho các giai cấp và tầng lớp trong xã hội nên Nhà nước có một cơ sở xã hội rộng rãi để có thể triển khai nhanh chóng và thực hiện tốt những quyết định, chính sách của mình Nhà nước cũng là chủ thể của quyền lực chính trị, là tổ chức chính trị thể hiện tập trung nhất quyền lực nhân dân; có sức mạnh cưỡng chế toàn diện, ban hành và sử dụng pháp luật để quản lý các quá trình xã hội Nhờ có pháp luật, mọi chủ trương, chính sách của Nhà nước được triển khai một cách rộng rãi và thống nhất trên quy mô toàn xã hội
Thứ hai, nhà nước cũng có đầy đủ các phương tiện vật chất cần thiết để thực hiện vai trò của mình Nhà nước còn là chủ sở hữu tối cao đối với những tư liệu sản xuất quan trọng nhất của
xã hội (đất đai, tài nguyên…) Bằng việc nắm giữ các tư liệu sản xuất đó, Nhà nước thực hiện việc điều tiết vĩ mô đối với nền kinh tế, đảm bảo cho nó phát triển vì lợi ích của nhân dân
Thứ ba, nhà nước là tổ chức duy nhất nắm giữ quyền lực nhà nước, nắm giữ chủ quyền quốc gia và đặt ra pháp luật Nhà nước nắm giữ nguồn tài chính và cơ sở vật chất to lớn, bảo đảm cho hoạt động của bộ máy nhà nước và của các tổ chức chính trị xã hội khác Nhà nước có quyền tối cao trong việc quyết định những vấn đề đối nội và đối ngoại của đất nước Những quan hệ quốc tế trong lĩnh vực chính trị và kinh tế càng làm cho Nhà nước có vai trò nổi bật hơn trong
Trang 2các quan hệ đối nội, giúp Nhà nước củng cố và phát triển các quan hệ đó trong một thể thống nhất
Nhà nước quản lý xã hội trước hết bằng hệ thống quy phạm pháp luật, bằng hệ thống các
cơ quan quản lý nhà nước từ các bộ đến các cơ sở, trong đó không loại trừ các biện pháp cưỡng chế để đảm bảo thực hiện sự nghiêm minh của pháp luật Nhà nước thực hiện quản lý trên các lĩnh vực kinh tế, chính trị, xã hội, quản lý theo ngành hoặc lãnh thổ theo cấp vĩ mô hoặc vi mô Nhà nước thực hiện sự quản lý bằng chính sách và các công cụ đòn bẩy khác Mục tiêu của quản
lý nhà nước là phát huy mọi tiềm năng sáng tạo của nhân dân, phát huy quyền làm chủ của nhân dân, đảm bảo cho nhân dân được làm tất cả những gì mà pháp luật không câm, phát huy sức mạnh tổng hợp của các thành phần kinh tế, nhằm phát triển nhanh và mạnh mẽ lực lượng sản xuất của đất nước
Chủ thể quyền lực nhà nước là của nhân dân Nhân dân làm chủ, trước hết được xác định
ở địa vị chủ thể quyền lực nhà nước Chỉ nhân dân mới có chủ quyền đối với quyền lực nhà nước Nhưng nhân dân ủy quyền cho các đại biểu của mình và giám sát đại biểu đó trong quá trình thực thi quyền lực nhà nước Nhân dân còn làm chủ bằng các hình thức trực tiếp và gián tiếp (thông qua các đại biểu, các cơ quan dân cử và các đoàn thể của nhân dân) Ngày nay, quyền làm chủ của nhân dân ở nước ta không chi được đảm bảo bằng Hiến pháp, pháp luật, mà bằng hệ thống truyền thông, các phương tiện thông tin đại chúng, các cuộc vận động, thông qua thực hiện quy chế dân chủ cơ sở, thực hiện dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra, thông qua vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân
c/ Các tổ chức chính trị - xã hội:
Vị trí: Thay mặt cho các thành viên tham gia quyền lực chính trị
Chức năng: Tập hợp ý chí, nguyện vọng của các thành viên, phản biện, đóng góp các dự thảo, chính sách Pháp luật và giám sát hoạt động của các cơ quan Nhà nước, cán bộ, đảng viên, công chức trong quá trình thực thi nhiệm vụ, công vụ
Phương thức hoạt động:
• Tham gia vào quá trình hình thành tổ chức Nhà nước, MTTQ, các tổ chức thành viên; tiến hành hội nghị hiệp thương; xem xét, lựa chọn, xác định ngườira ứng cử đại biểu Quốc hội, HĐND; đề nghị HĐND bầu Hội thẩm nhân dân tham gia Hội đồng; bổ nhiệm lại kiểm sát viên, thẩm phán, tòa án nhân dân
• Tham gia vào quá trình phản biện chính sách Pháp luật hoặc đề nghị Nhà nước điều chỉnh, sửa đồi các văn bản Pháp luật hiện hành và được mời tham gia kì họp Quốc hội
và HĐND, phiên họp Chính phủ, UBND; phát biểu ý kiến để cơ quan Nhà nước thảo luận quyết định
• Tham gia vào quá trình giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo của nhân dân; tham gia Hội đồng khen thưởng, nâng bậc lương, kỉ luật đối với cán bộ, công chức
Trang 3Câu 2 Phân tích các đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam và những phương hướng xây dựng, hoàn thiện nhà nước ta trong thời kỳ đổi mới hiện nay Đề xuất giải pháp góp phần bảo đảm tất cả quyền lực Nhà nước thực sự thuộc về Nhân dân
Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam là nhà nước của nhân dân, do nhân dân,
vì nhân dân, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân; quyền lực nhà nước là thống nhất có
sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp; phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm quyền con người, quyền công dân; nhà nước tổ chức, hoạt động theo pháp luật, quản lý xã hội bằng pháp luật nhằm phục vụ lợi ích của nhân dân; do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo đồng thời chịu trách nhiệm trước nhân dân và sự giám sát của nhân dân
1 Đặc trưng của Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam
Trong những năm đổi mới vừa qua, Đảng ta đã từng bước phát triển hệ thống quan điểm, nguyên tắc cơ bản về xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân Từ nhận thức lý luận và thực tiễn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa có thể khái quát Nhà quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam có những đặc trưng sau:
a Nhà nước thực sự của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân; đảm bảo tất cả các quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân
Nhà nước pháp quyền XHCN của dân là nhà nước bảo đảm tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân, mang bản chất của giai cấp công nhân, trong đó, giai cấp công nhân đại diện quan hệ sản xuất tiến bộ vì vậy, lợi ích của giai cấp công nhân thống nhất với lợi ích của nhân dân, của dân tộc mà nền tảng là liên minh giai cấp công nhân, giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức Do đó, nhân dân là chủ thể tối cao quyền lực NN hoặc quyền lực NN thuộc vê nhân dân
Theo tư tưởng của Hồ Chí Minh để có một Nhà nước vì dân thì trước hết Nhà nước đó phải của dân và do dân:
Nhà nước của dân
Nhà nước của dân, là Nhà nước trong đó dân là chủ, dân làm chủ; dân là người có địa vị cao nhất, có quyền quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước Hồ Chí Minh luôn luôn khẳng định: “Nước ta là nước dân chủ, bao nhiêu quyền hạn là của dân; mọi quyền hành và lực lượng đều ở nơi dân” Trong nhà nước ta, dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, do đó người cầm quyền, cán bộ công chức nhà nước chỉ là người được dân ủy quyền có điều kiện và có thời hạn để gánh vác, giải quyết những công việc chung của đất nước, do đó theo Hồ Chí Minh cán
bộ công chức nhà nước là công bộc, đầy tớ của dân Và vì vậy bất cứ việc gì đều phải bàn bạc với dân, hỏi ý kiến và kinh nghiệm của dân
Quan điểm nhất quán của Hồ Chí Minh là xác lập tất cả mọi quyền lực trong Nhà nước và trong xã hội đều thuộc về nhân dân Quan điểm này của Hồ Chí Minh được thể hiện trong các bản hiến pháp do Người lãnh đạo soạn thảo: Hiến pháp năm 1946 và Hiến pháp năm 1959 Chẳng hạn Hiến pháp năm 1946 nêu rõ: tất cả quyền bính trong nước đều là của toàn thể nhân dân Việt Nam, không phân biệt nòi giống, gái trai, giàu nghèo, giai cấp, tôn giáo: những việc quan hệ đến vận mệnh quốc gia sẽ đưa ra toàn dân phúc quyết Nhân dân có quyền làm chủ về chính trị, kinh
Trang 4tế, văn hóa-xã hội, bầu ra Quốc hội - cơ quan quyền lực nhà nước cao nhất thể hiện quyền tối cao của nhân dân
Nhân dân lao động làm chủ Nhà nước thì dẫn đến một hệ quả là nhân dân có quyền kiểm soát Nhà nước, cử tri bầu ra các đại biểu, ủy quyền cho các đại biểu đó bàn và quyết định những vấn đề quốc kế dân sinh Đây là thuộc về chế độ dân chủ đại diện bên cạnh chế độ dân chủ trực tiếp Quyền làm chủ và đồng thời cũng là quyền kiểm soát của nhân dân thể hiện ở chỗ nhân dân
có quyền bãi miễn những đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nào nếu những đại biểu đó tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân
Theo Hồ Chí Minh, muốn bảo đảm được tính chất nhân dân của Nhà nước phải xác định được và thực hiện được trách nhiệm của cử tri và đại biểu do cử tri bầu ra Cử tri và đại biểu cử tri bầu ra phải có mối quan hệ chặt chẽ với nhau do bản chất của cơ chế này quy định Và khi không hoàn thành nhiệm vụ với tư cách là người đại biểu của cử tri thì cử tri có quyền bãi miễn
tư cách đại biểu
Dân chủ là khát vọng muôn đời của con người Hồ Chí Minh quan niệm dân chủ có nghĩa
là "dân là chủ" Mở rộng theo ý đó, Hồ Chí Minh còn cho rằng: "Nước ta là nước dân chủ, nghĩa
là nước do nhân dân làm chủ" "Chế độ ta là chế độ dân chủ Tức là nhân dân làm chủ" "Nước
ta là nước dân chủ, địa vị cao nhất là dân, vì dân là chủ"
Dân là chủ có nghĩa là xác định vị thế của dân, còn dân làm chủ nghĩa là xác định quyền, nghĩa vụ của dân Trong Nhà nước của dân, với ý nghĩa đó, người dân được hưởng mọi quyền dân chủ Bằng thiết chế dân chủ, Nhà nước phải có trách nhiệm đảm bảo quyền làm chủ của nhân dân, để cho nhân dân thực thi quyền làm chủ của mình trong hệ thống quyền lực của xã hội Quyền lực của nhân dân được đặt ở vị trí tối thượng Điều này có ý nghĩa thực tế nhắc nhở những người lãnh đạo, những người đại biểu của nhân dân làm đúng chức trách và vị thế của mình, không phải là đứng trên nhân dân, coi khinh nhân dân: "cậy thế" với dân, "quên rằng dân bầu mình ra để làm việc cho dân" Một nhà nước như thế là một nhà nước tiến bộ trong bước đường phát triển của nhân loại Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa do Hồ Chí Minh khai sinh ngày 2-9-1945 chính là Nhà nước tiến bộ chưa từng có trong lịch sử hàng nghìn năm của dân tộc Việt Nam bởi vì Nhà nước đó là Nhà nước của dân, nhân dân có vai trò quyết định mọi công việc của đất nước
Nhà nước do nhân dân làm chủ
Xây dựng một nhà nước do nhân dân lao động làm chủ là tư tưởng nhất quán trong cuộc đời hoạt động cách mạng của Hồ Chí Minh Đây cũng là một kết luận mà Người rút ra khi khảo sát các cuộc cách mạng Mỹ, Pháp, Nga Nhà nước Việt Nam kiểu mới thể hiện khối đại đoàn kết dân tộc trong đó công, nông là gốc và trí thức ngày càng có vị trí quan trọng đặc biệt khi đất nước bước vào thời kỳ xây dựng Tất cả mọi người dân Việt Nam, không phân biệt gái trai, giàu nghèo, nòi giống, dân tộc, tôn giáo đều là người chủ của Nhà nước, có trách nhiệm xây dựng Nhà nước Ngay từ những ngày đầu mới thành lập, Hồ Chí Minh khẳng định: Tất cả quyền bính trong nước
là của toàn thể nhân dân Việt Nam “Nước ta là nước dân chủ Bao nhiêu quyền hạn đều của dân”
Tính chất dân chủ nhân dân là đặc trưng nổi bật của chính quyền nhà nước kiểu mới Trong nước ta, nhân dân là người nắm giữ mọi quyền lực, còn các cơ quan nhà nước do nhân dân tổ
Trang 5chức ra, nhân viên nhà nước là người được ủy quyền, thực hiện ý chí nguyện vọng của nhân dân, trở thành công bộc của nhân dân Nhân dân là người tổ chức nên cơ quan nhà nước từ Trung ương đến cơ sở thông qua chế độ phổ thông đầu phiếu, trực tiếp, kín để lựa chọn những người đủ tiêu chuẩn bầu vào cơ quan nhà nước Thể chế dân chủ cộng hòa đã làm thay đổi tận gốc quan hệ quyền lực chính trị và thực hiện quyền lực, nhân dân được đặt ở vị trí cao nhất, nhà nước không còn là công cụ thống trị, nô dịch dân như trong thời phong kiến, tư bản
Nhà nước dân chủ nhân dân do nhân dân trực tiếp tổ chức, xây dựng thông qua tổng tuyển
cử phổ thông đầu phiếu Hồ Chí Minh nhận thức tổng tuyển cử là một quyền chính trị mà nhân dân giành được qua đấu tranh cách mạng, là hình thức dân chủ, thể hiện năng lực thực hành dân chủ của nhân dân Thông qua việc bầu Quốc hội và Chính phủ, nhân dân thực hiện quyền lực của mình bằng hình thức dân chủ trực tiếp và đại diện
Trong tư tưởng Hồ Chí Minh, quyền lực tối cao của nhân dân không chỉ thể hiện ở việc bầu cử Quốc hội, Hội đồng nhân dân các cấp, mà còn ở quyền bãi miễn, kiểm soát, giám sát hoạt động của các đại biểu Cơ chế dân chủ này nhằm làm cho Quốc hội được trong sạch, giữ được phẩm chất, năng lực hoạt động Hồ Chí Minh nêu rõ: “Nhân dân có quyền bãi miễn đại biểu Quốc hội và đại biểu Hội đồng nhân dân nếu những đại biểu ấy tỏ ra không xứng đáng với sự tín nhiệm của nhân dân”
Với vai trò làm chủ nhà nước, thực hiện sự ủy quyền của nhân dân, các đại biểu được bầu
ra phải có trách nhiệm gần gũi, sâu sát để hiểu dân, lắng nghe ý kiến của nhân dân với tinh thần trách nhiệm bàn và giải quyết những vấn đề thiết thực cho quốc kế dân sinh Để thể hiện nhân dân lao động làm chủ Nhà nước thì đại biểu do dân bầu ra phải có mối liên hệ thường xuyên với nhân dân; thoát ly mối liên hệ này, Nhà nước rất dễ rơi vào quan liêu, trì trệ, đứng trên đầu nhân dân, trái với bản chất dân chủ đích thực vốn có của Nhà nước kiểu mới
Nhà nước của dân, do nhân dân làm chủ còn bao hàm một nội dung quan trọng khác đó là nhân dân có quyền kiểm soát Nhà nước Nhà nước do dân, nghĩa là dân có trách nhiệm, nghĩa vụ đóng góp trí tuệ, sức người, sức của để tổ chức, xây dựng, bảo vệ và phát triển nhà nước “đẩy thuyền cũng là dân, lật thuyền cũng là dân” Nhà nước do dân còn thể hiện ở vai trò tham gia quản lý nhà nước, phê bình, kiểm tra, kiểm soát, giám sát hoạt động của cơ quan nhà nước, các đại biểu dân cử Hồ Chí Minh viết: “Chính phủ ta là chính phủ của nhân dân, chỉ có một mục đích là phụng sự cho lợi ích của nhân dân Chính phủ rất mong đồng bào giúp đỡ, đôn đốc, kiểm soát và phê bình để làm tròn nhiệm vụ của mình là người đầy tớ trung thành tận tụy của nhân dân”
Là người làm chủ Nhà nước, nhân dân có quyền, thông qua cơ chế dân chủ thực thi quyền lực, nhưng đồng thời nhân dân phải có nghĩa vụ xây dựng và bảo vệ Nhà nước, làm cho Nhà nước ngày càng hoàn thiện, trong sạch, vững mạnh Hồ Chí Minh luôn đòi hỏi với tư cách là chủ nhân của một nước độc lập, tự do, quyền và nghĩa vụ công dân gắn bó chặt chẽ với nhau
Nhà nước phục vụ quyền lợi của nhân dân
Từ kiểu tổ chức nhà nước của dân và do dân, nhà nước ta mặc nhiên là nhà nước vì dân, nhà nước phục vụ nhân dân, đem lại lợi ích cho nhân dân Nhà nước ta là một nhà nước dân chủ trên thực tế và trong hành động Ngay sau ngày Cách mạng tháng Tám thành công, Hồ Chí Minh
Trang 6đã nêu bật sự khác nhau căn bản về chất giữa Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa với các loại hình nhà nước trước đó: “Chúng ta phải hiểu rằng, các cơ quan Chính phủ từ toàn quốc cho đến các làng, đều là công bộc của dân, nghĩa là để gánh vác việc chung cho dân, chứ không phải để
đè đầu dân như trong thời kỳ dưới quyền thống trị của Pháp, Nhật” Nhà nước được tổ chức và hoạt động vì một mục tiêu duy nhất là không ngừng cải thiện và nâng cao đời sống của nhân dân, với phương châm “việc gì có lợi cho dân thì phải hết sức làm, việc gì có hại cho dân thì phải hết sức tránh”
Cải thiện và nâng cao đời sống nhân dân là cơ sở hàng đầu đánh giá hiệu quả hoạt động của bộ máy nhà nước và năng lực của đội ngũ cán bộ, công chức nhà nước Nhà nước vì dân là Nhà nước chăm lo mọi mặt đời sống của nhân dân, trước hết là chăm lo các nhu cầu thiết yếu nhất Làm cho dân có ăn, làm cho dân có mặc; làm cho dân có chỗ ở, làm cho dân được học hành, làm cho dân có điều kiện khám chữa bệnh, chăm sóc sức khỏe Bên cạnh việc đem lại lợi ích cho dân, chăm lo mọi mặt đời sống nhân dân, nhà nước phải biết kết hợp điều chỉnh các loại lợi ích khác nhau giữa các giai cấp, tầng lớp xã hội, các bộ phận dân cư để luôn được mọi người dân ủng
hộ, xây dựng, làm cho ai ai cũng thấy nhà nước là người đại diện cho lợi ích chính đáng của họ
Về quan hệ giữa nhà nước và nhân dân, Hồ Chí Minh xác định: “Nếu không có nhân dân thì Chính phủ không đủ lực lượng Nếu không có Chính phủ thì nhân dân không ai dẫn đường Vậy nên Chính phủ với nhân dân phải đoàn kết thành một khối” Chức năng đối nội cơ bản của Nhà nước là hướng dẫn nhân dân tổ chức tốt đời sống, tăng gia sản xuất, thực hành tiết kiệm, từng bước cải thiện đời sống vật chất, tinh thần nhằm thỏa mãn nhu cầu cần thiết hàng ngày Theo
Hồ Chí Minh “Chúng ta tranh được tự do, độc lập rồi mà dân cứ chết đói, chết rét, thì tự do, độc lập cũng không làm gì Dân chỉ biết rõ giá trị của tự do, của độc lập khi mà dân được ăn no, mặc
đủ Chúng ta phải thực hiện ngay: 1 Làm cho dân có ăn; 2 Làm cho dân có mặc; 3 Làm cho dân
có chỗ ở; 4 Làm cho dân có học hành Theo Hồ Chí Minh việc đáp ứng và thỏa mãn nhu cầu, lợi ích của nhân dân là tiêu chí số một để đánh giá hiệu quả năng lực hoạt động của nhà nước
Muốn đạt được mục đích nhân bản đó, vấn đề đặt ra là phải bằng mọi cách giữ cho được định hướng hoạt động của nhà nước, bảo đảm cho bộ máy thật sự trong sạch Nếu hoạt động của nhà nước kém hiệu quả, bộ máy quan liêu, đội ngũ cán bộ công chức, nhất là cán bộ chủ chốt, bị thoái hóa, biến chất thì nhà nước đó đã trượt ra khỏi quỹ đạo dân chủ nhân dân, trở thành một thế lực đối lập với nhân dân Theo Hồ Chí Minh, nguy hại nhất là khi được nhân dân ủy quyền, một
số cán bộ, công chức “đã vác mặt làm quan cách mạng”, kéo bè, kéo cánh để thu vén lợi ích cá nhân Vì ích kỷ, chủ nghĩa cá nhân mà trong bộ máy nhà nước từ Trung ương đến địa phương đã nảy sinh những “lỗi lầm rất nặng” làm biến dạng nhà nước Hồ Chí Minh sớm cảnh báo những căn bệnh khá phổ biến, đó là trái phép, cậy thế, hủ hóa, tư túng, chia rẽ, kiêu ngạo Người chỉ ra thực chất, hình thức biểu hiện phong phú của các căn bệnh này, gọi đó là “giặc nội xâm” hết sức nguy hiểm và gây hậu họa nghiêm trọng, làm thất thoát tiền của nhà nước, chậm tốc độ phát triển, nhất là làm xói mòn niềm tin của dân, làm cho dân xa nhà nước
Vì thế, chống đặc quyền, đặc lợi, khắc phục những tiêu cực trong bộ máy nhà nước là nhu cầu và việc làm thường xuyên, đảm bảo cho nhà nước thật sự là công bộc của dân Nếu thấu hiểu
và làm đúng tư cách đó thì mỗi cán bộ, công chức có thể phòng tránh, ngăn ngừa, không phạm
Trang 7phải những lỗi lầm kể trên Còn nếu “Ai đã phạm những lầm lỗi trên này thì phải hết sức sửa chữa; nếu không tự sửa chữa thì Chính phủ sẽ không khoan dung”
Nhận thức và cảnh báo của Hồ Chí Minh về các nguy cơ, căn bệnh phát sinh trong quá trình hoạt động của bộ máy nhà nước và cách phòng tránh, khắc phục chúng ngày nay vẫn còn nguyên giá trị và có tính thời sự, soi đường chỉ lối cho cuộc đấu tranh chống tham nhũng đạt kết quả cao, đảm bảo cho Nhà nước ta thật sự phục vụ quyền lợi của nhân dân, trở thành công bộc, đầy tớ của dân
Tư tưởng nhà nước của dân, do dân, vì dân của Đảng ta và Hồ Chí Minh là tư tưởng cốt lõi, có tính quy luật trong xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta Một nhà nước vì dân khi và chỉ khi nhà nước đó là của dân, do dân tổ chức ra, giao quyền và giám sát hoạt động của nhà nước Để thực hiện nhà nước vì dân, Hồ Chí Minh rất quan tâm nhấn mạnh phải xây dựng nhà nước thực sự liêm khiết, trong sạch, tránh quan liêu, tham nhũng, đặc quyền, đặc lợi Phải kiên quyết loại bỏ các ông quan cách mạng ra khỏi bộ máy nhà nước
b Nhà nước tổ chức, hoạt động theo nguyên tắc quyền lực NN là thống nhất, nhưng có sự phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp (Điều 2 Hiến pháp năm 2013)
Quyền lực NNPQXHCN VN phải thống nhất để tránh tình trạng tranh giành quyền lực giữa các nhóm lợi ích XH khác nhau Quyền lực NN thuộc về nhân dân, và nhân dân thực thi quyền lực của mình thông qua ủy quyền cho Quốc hội dưới hình thức bầu cử theo nguyên tắc phổ thông, bình đẳng trực tiếp bằng bỏ phiếu kín Do đó, Quốc hội là cơ quan quyền lực NN cao nhất quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước về đối nội, đối ngoại, quyết định bố trí nhân sự quan trọng trong bộ máy NN thực hiện quyền giám sát tối cao đối với toàn bộ hoạt động của bộ máy NN
Phân công phối hợp kiểm soát quyền lực NN là nhằm phòng chống, độc đoán, chuyên quyền, lộng quyền đứng trên pháp luật mà làm trái pháp luật của các cơ quan trong quá trình thực thi quyền lực Nhà nước, nhằm mục đích bảo đảm hiệu lực, hiệu quả quản lý NN phục vụ nhân dân
Quyền lực nhà nước là thống nhất
Theo nội dung và tinh thần của Hiến pháp năm 2013 thì quyền lực nhà nước thống nhất là
ở Nhân dân Quan niệm thống nhất quyền lực nhà nước là ở Nhân dân thể hiện ở nguyên tắc “Tất
cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân”
Trước đây, Hiến pháp cũng quy định “tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân” nhưng được thực hiện bằng nguyên tắc tập trung quyền lực nhà nước (tập quyền) Do đó, tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân nhưng lại tập trung vào Quốc hội Với nhận thức rằng, Nhân dân là chủ thể của quyền lực nhà nước, nhưng vì không thực hiện được quyền lực nhà nước một cách trực tiếp nên đã trao toàn bộ quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội Quốc hội được Hiến pháp năm 1980 xác định là cơ quan có toàn quyền Ngoài 15 nhiệm vụ và quyền hạn quy định ở Điều 83, Hiến pháp 1980 còn quy định “Quốc hội có thể định cho mình những nhiệm
vụ và quyền hạn khác khi xét thấy cần thiết” (Điều 83) đến Hiến pháp năm 1992, Điều 84 quy định Quốc hội chỉ có 14 nhiệm vụ quyền hạn (không còn là một Quốc hội toàn quyền như Hiến
Trang 8pháp năm 1980), nhưng Điều 6 Hiến pháp lại quy định: “Nhân dân sử dụng quyền lực nhà nước thông qua Quốc hội và Hội đồng Nhân dân là những cơ quan đại diện cho ý chí và nguyên vọng của Nhân dân…” Như vậy, Quốc hội vẫn là Quốc hội toàn quyền trong Hiến pháp năm 1992 bởi Nhân dân không thực hiện quyền lực nhà nước bằng các hình thức dân chủ trực tiếp mà chỉ bằng hình thức dân chủ đại diện Nguyên tắc tập trung quyền lực nhà nước của Nhân dân vào Quốc hội phù hợp với điều kiện kinh tế kế hoạch hóa, tập trung, quan liêu, bao cấp, với ưu điểm bảo đảm cho quyền lực nhà nước tập trung, quyết định và thực thi quyền lực nhà nước nhanh chóng, thống nhất Tuy nhiên, nguyên tắc này trong điều kiện mới đã bộc lộ nhiều hạn chế Đó là thiếu
sự phân định phạm vi quyền lực nhà nước được Nhân dân giao quyền nên không đề cao được trách nhiệm của các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, hạ thấp vai trò dân chủ trực tiếp của Nhân dân, thiếu sự kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các cơ quan nhà nước Hơn nữa, nguyên tắc này phủ nhận tính độc lập tương đối giữa các quyền nên đã hạn chế tính năng động, hiệu quả
và trách nhiệm của mỗi quyền Nhân dân và xã hội không có sơ sở để đánh giá chất lượng hoạt động của quyền lực nhà nước Do vậy, trong điều kiện dân chủ và pháp quyền XHCN, tập quyền không phù hợp với việc phát huy đầy đủ vai trò của quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, tiềm
ẩn nguy cơ lạm dụng quyền lực nhà nước của Nhân dân từ phía các cơ quan nhà nước
Nhận rõ hạn chế của nguyên tắc tập quyền trong điều kiện mới, Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ (bổ sung và phát triển năm 2011), Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công, phối hợp và kiểm soát giữa các cơ quan trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp (Điều 2) Tất cả quyền lực nhà nước thuộc
về Nhân dân được Hiến pháp quan niệm Nhân dân là chủ thể tối cao của quyền lực nhà nước, Nhân dân thông qua quyền lập hiến giao quyền lực nhà nước của mình cho Quốc hội, cho Chính phủ và cho cơ quan tư pháp như các Hiến pháp trước đây Theo điều 70 Hiến pháp năm 2013, Nhân dân chỉ trao cho Quốc hội ba nhóm quyền hạn và nhiệm vụ: quyền hạn và nhiệm vụ về lập hiến, lập pháp; quyền hạn và nhiệm vụ về giám sát tối cao và quyền hạn và nhiệm vụ về quyết định các vấn đề quan trọng của đất nước Đồng thời điều 6 quy định Nhân dân thực hiện quyền lực nhà nước không những bằng dân chủ đại diện thông qua Quốc hội, Hội đồng Nhân dân và các cơ quan khác của nhà nước mà còn bằng dân chủ trực tiếp thông qua việc thực hiện quyền biểu quyết khi nhà nước tổ chức trưng cầu ý dân, trong đó có trưng cầu ý dân về Hiến pháp (điều
29 và điều 120) … Có như vậy, nguyên tắc tất cả quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân mới đúng, mới bảo đảm thực hiện đầy đủ, không hình thức Như vậy, thống nhất quyền lực nhà nước được hiểu là toàn bộ quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân, tập trung thống nhất ở Nhân dân chứ không phải tập trung ở Quốc hội Quan niệm đó có ý nghĩa lý luận và thực tiễn thiết thực Trước hết, điều đó chỉ ra rằng quyền lực nhà nước dẫu là quyền lập pháp, hành pháp hay tư pháp đều có chung một nguồn gốc thống nhất là Nhân dân, đều do Nhân dân ủy quyền, giao quyền
Do vậy, nói quyền lực nhà nước là thống nhất trước tiên là sự thống nhất ở mục tiêu chính trị, nội dung chính trị của nhà nước Cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp tuy có chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn khác nhau nhưng đều thống nhất với nhau ở mục tiêu chính trị chung là xây dựng một nhà nước “đảm bảo và không ngừng phát huy quyền làm chủ về mọi mặt của Nhân dân, thực hiện mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh” như Điều 3 Hiến pháp mới đã quy định
Trang 9Quan niệm quyền lực nhà nước là thống nhất như nói trên của Hiến pháp năm 2013 là cách thức tổ chức quyền lực nhà nước đề cao trách nhiệm của nhà nước trước Nhân dân, hạn chế sự dựa dẫm, ỷ lại trong việc thực hiện quyền hạn và nhiệm vụ mà Nhân dân đã ủy quyền Đó cũng
là cơ sở để không có chỗ cho các yếu tố cực đoan, đối lập, thiếu trách nhiệm trong mối quan hệ giữa các quyền, nhất là giữa quyền lập pháp và quyền hành pháp Đồng thời, đó cũng là điều kiện
để hình thành cơ chế kiểm soát, nhận xét, đánh giá chất lượng và hiệu quả hoạt động của các quyền từ bên trong tổ chức quyền lực nhà nước cũng như từ bên ngoài là Nhân dân
Như vậy, quyền lực nhà nước là thống nhất và tập trung ở Nhân dân, chủ thể tối cao và duy nhất của quyền lực nhà nước là quan niệm có ý nghĩa chỉ đạo tổ chức quyền lực nhà nước trong điều kiện xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân và vì dân Mọi biểu hiện
xa rời quan điểm quyền lực nhà nước thuộc về Nhân dân theo Hiến pháp năm 2013 đều dẫn đến
tổ chức quyền lực nhà nước kém hiệu quả
“Phân công, phối hợp, kiểm soát giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”
Trong chế độ dân chủ và pháp quyền XHCN thì quyền lực nhà nước không phải là quyền lực tự có của nhà nước mà quyền lực được Nhân dân ủy quyền, Nhân dân giao quyền Vì thế, tất yếu nảy sinh đòi hỏi chính đáng và tự nhiên phải kiểm soát quyền lực nhà nước Mặt khác, khi
ủy quyền cho nhà nước, quyền lực nhà nước lại thường vận động theo xu hướng tự phủ định mình, trở thành đối lập với chính mình lúc ban đầu (từ của Nhân dân là số đông chuyển thành số
ít của một nhóm người hoặc của một người) C.Mác gọi hiện tượng này là sự tha hóa của quyền lực nhà nước Hơn nữa, quyền lực nhà nước là của Nhân dân giao cho các cơ quan nhà nước suy cho cùng là giao cho những người cụ thể thực thi Mà con người thì “luôn luôn chịu sự ảnh hưởng của các loại tình cảm và dục vọng đối với các hành động của con người Điều cũng khiến cho lý tính đôi khi bị chìm khuất” Với đặc điểm đó của con người, không thể khẳng định người được
ủy quyền luôn luôn làm đúng, làm đủ những gì mà Nhân dân đã ủy quyền Vì vậy, kiểm soát quyền lực nhà nước là một nhu cầu khách quan từ phía người ủy quyền đối với người được ủy quyền Hơn thế nữa, quyền lực nhà nước không phải là một đại lượng có thể cân, đong, đo, đếm được một cách rạch ròi, vì nó là một thể thống nhất như nói ở trên Điều đó lại càng đòi hỏi phải kiểm soát quyền lực nhà nước, hạn chế hiệu lực và hiệu quả thực thi quyền lực nhà nước được Nhân dân ủy quyền
Xuất phát từ các đòi hỏi khách quan nói trên, quyền lực nhà nước thường được lượng hóa bằng các quy định của Hiến pháp để phân định nhiệm vụ quyền hạn của các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp Sự lượng hóa này là để giao cho các cơ quan nhà nước khác nhau, thay mặt Nhân dân thực hiện Sự phân định các quyền như vậy là điều kiện cơ bản để Nhân dân giao quyền
mà không bị lạm quyền, Nhân dân kiểm soát và đánh giá được hiệu lực và hiệu quả thực hiện các quyền mà mình đã giao Đồng thời cũng là để cho các cơ quan tương ứng được giao quyền đề cao trách nhiệm trong việc thực thi quyền lực nhà nước và tự kiểm tra việc thực hiện quyền lực nhà nước được giao cho mình Theo đó, trong Hiến pháp năm 2013 đã có một bước tiến mới trong việc phân công quyền lực nhà nước Lần đầu tiên trong Hiến pháp nước ta chỉ rõ Quốc hội thực hiện quyền lập hiến (không còn là duy nhất có quyền lập hiến như Hiến pháp năm 1992),
Trang 10quyền lập pháp (Điều 69) Tuy nhiên, các cơ quan nhà nước khác, đặc biệt là Chính phủ cũng có quyền tham gia vào quy trình lập hiến, lập pháp (khoản 2 Điều 96) Chính phủ thực hiện quyền hành pháp (Điều 94), Tòa án Nhân dân thực hiện quyền tư pháp (Điều 102) Việc xác nhận các
cơ quan khác nhau thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp là một thay đổi quan trọng, tạo điều kiện để làm rõ vị trí, vai trò, nhiệm vụ quyền hạn của mỗi quyền
Như vậy, xuất phát từ đặc điểm của quyền lực nhà nước, việc phân định thành ba quyền nói trên là một nhu cầu khách quan Ngày nay, xu hướng phân định rành mạch ba quyền đó ngày càng được coi trọng trong tổ chức quyền lực nhà nước Bởi vì, xã hội càng phát triển, phân công lao động càng phải chuyên môn hóa cao để phát huy hiệu quả Đồng thời, thực tiễn xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN ở nước ta chỉ ra rằng việc phân định mạch lạc ba quyền là cách thức tốt nhất để phát huy vai trò của nhà nước trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước
Tuy nhiên, như đã nói ở trên, trong nhà nước ta quyền lực nhà nước là thống nhất Đó là
sự thống nhất về mục tiêu chính trị chung Vì vậy, việc phân định quyền lực nhà nước không chứa đựng và bao quát việc phân lập mục tiêu chính trị chung của quyền lực nhà nước Do vậy, mặc dù có sự phân định ba quyền nhưng cả ba quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp không hoàn toàn tách biệt nhau, mà “ràng buộc lẫn nhau”, cả ba quyền đều phải phối hợp với nhau, phải hoạt động một cách nhịp nhàng trên cơ sở làm đúng, làm đủ nhiệm vụ và quyền hạn mà Nhân dân giao cho mỗi quyền được Hiến pháp – Đạo luật gốc của nhà nước và xã hội quy định Mục đích của việc phân công quyền lực nhà nước là để nhằm kiểm soát quyền lực nhà nước, bảo đảm cho tính pháp quyền của nhà nước và phát huy dân chủ XHCN, chứ không phải là để thỏa hiệp hay chia
rẽ quyền lực nhà nước giữa các quyền Ý nghĩa của sự phân công quyền lực nhà nước là để phân định nhiệm vụ và quyền hạn của các cơ quan trong bộ máy nhà nước, để nhà nước hoạt động có hiệu lực và hiệu quả, quyền lực nhà nước ngày càng thực sự là quyền lực của Nhân dân, tính pháp quyền của nhà nước ngày càng thực sự là quyền lực của Nhân dân, tính pháp quyền của nhà nước ngày càng được đề cao
Về kiểm soát quyền lực nhà nước, ngoài việc phân công mạch lạc nhiệm vụ quyền hạn của các quyền để tạo cơ sở cho kiểm soát quyền lực; Hiến pháp năm 2013 còn tạo lập cơ sở Hiến định để hình thành cơ chế bảo vệ Hiến pháp do luật định (Điều 119) Đồng thời, Hiến pháp giao cho: Quốc hội, các cơ quan của Quốc hội, Chủ tịch nước, Chính phủ, Tòa án Nhân dân, Viện kiểm sát Nhân dân, các cơ quan khác của nhà nước có trách nhiệm bảo vệ Hiến pháp
Trong tổ chức quyền lực nhà nước ở các nước theo nguyên tắc phân quyền mềm dẻo thì kiểm soát quyền lực nhà nước giữa các quyền lập pháp, hành pháp và tư pháp, chủ yếu là kiểm soát của lập pháp và tư pháp đối với hành pháp Để tăng cường kiểm soát việc thực hiện quyền hành pháp, Hiến pháp năm 2013 đã bổ sung, điều chỉnh một số nhiệm vụ, quyền hạn của Quốc hội và Uỷ ban thường vụ Quốc hội, ví dụ như: Uỷ ban thường vụ Quốc hội được bổ sung thêm nhiệm vụ: Quyết định, thành lập, giải thể, nhập, chia, điều chỉnh địa giới, đơn vị hành chính dưới tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương (khoản 8, Điều 74) Quốc hội được bổ sung thêm nhiệm vụ quyền hạn: Phê chuẩn, đề nghị, bổ nhiệm, miễn nhiệm cách chức thẩm phán Tòa án Nhân dân tối cao (khoản 7, Điều 70) Cùng với điều đó, Hiến pháp năm 2013 đã thiết lập thêm hai thiết chế độc lập: Hội đồng bầu cử quốc gia có nhiệm vụ tổ chức bầu cử đại biểu Quốc hội, chỉ đạo công tác bầu cử đại biểu Hội đồng Nhân dân các cấp (Điều 117) và Kiểm toán nhà nước
Trang 11có nhiệm vụ giúp Quốc hội kiểm soát việc quản lý, sử dụng tài chính, tài sản công (Điều 118)
Sự ra đời các thiết chế hiến định độc lập này cũng nhằm tăng cường các công cụ để Nhân dân kiểm soát quyền lực nhà nước trong bầu cử, trong sử dụng tài chính ngân sách nhà nước và tài sản công một cách hiệu quả hơn
cao của hiến pháp và pháp luật trong đời sống xã hội, bảo đảm tính hợp hiến
Nhà nước pháp quyền XHCN Việt Nam là nhà nước phải có hệ thống pháp luật đồng bộ, hoàn chỉnh, chất lượng cao thể hiện được ý chí, lợi ích và nguyện vọng của nhân dân dưới sự lãnh đạo của Đảng, phù hợp với hiện thực khách quan, thúc đẩy tiến bộ xã hội, trong đó Hiến pháp và các đạo luật phải giữ vị trí tối cao Các cơ quan nhà nước, các tổ chức xã hội, cán bộ, công chức nhà nước và mọi thành viên trong xã hội phải tôn trọng và nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật
Hiến pháp và pháp luật luôn giữ vai trò điều chỉnh cơ bản đối với toàn bộ hoạt động Nhà nước và hoạt động xã hội, quyết định tính hợp hiến và hợp pháp của mọi tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước Tuy nhiên không phải mọi chế độ lập hiến, mọi hệ thống pháp luật đều có thể đưa lại khả năng xây dựng nhà nước pháp quyền, mà chỉ có Hiến pháp và hệ thống pháp luật dân chủ, công bằng mới có thể làm cơ sở cho chế độ pháp quyền trong nhà nước và xã hội
Nhà nước được tổ chức và hoạt động theo Hiến pháp nói riêng và luật pháp nói chung Các cơ quan, cán bộ, công chức, viên chức và tổ chức, hoạt động của Nhà nước phải tôn trọng nhân dân, tận tụy phục vụ nhân dân; liên hệ chặt chẽ với nhân dân; lắng nghe ý kiến và chịu sự giám sát của nhân dân (Điều 8 Hiến pháp năm 2013) Và mọi chủ thể trong xã hội (Nhà nước, các tổ chức chính trị và xã hội, tập thể và cá nhân) đều phải tuân thủ nền pháp trị hay quản trị của luật (luật pháp) mà Hiến pháp là bộ luật gốc và quy định khuôn khổ cho nền luật pháp
người; bảo đảm trách nhiệm giữa NN và công dân, thực hành dân chủ gắn với tăng cường
kỷ cương, kỷ luật
Trong Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, Nhà nước và các thể nhân, cá nhân đều bình đẳng trước pháp luật Tức là Nhà nước pháp quyền phải xác lập được thể chế bảo đảm cho mọi thể chế nhà nước và xã hội, tập thể và cá nhân, không (và không thể) đòi hỏi cái ở ngoài hoặc
ở trên những điều được quy định trong Hiến pháp và luật pháp nói chung Các thể chế, nhất là thể chế hành pháp, tồn tại, hoạt động không rời rạc, mà là một thể thống nhất, chế ước lẫn nhau Bởi vì, tính hiệu lực, hiệu quả của mỗi thể chế chỉ có được khi thừa nhận, tôn trọng, bảo vệ, thực hiện và thúc đẩy tính hiệu lực, hiệu quả của thể chế liền sát bên trên và liền sát bên dưới, cũng như tất cả các thể chế khác Trong điều kiện, môi trường thể chế như vậy, chỉ tòa án mới có quyền phán xử việc tuân thủ luật pháp Việc thực hiện pháp luật được bảo đảm bằng một hệ thống tòa
án độc lập Hệ thống tòa án độc lập bảo đảm cho công dân có đủ khả năng và điều kiện chống lại
sự tùy tiện hay sự lạm quyền của Nhà nước; và từ đó hình thành, phát triển một cơ chế chặt chẽ
để kiểm tra tính hợp hiến, hợp pháp của luật pháp và các hoạt động, kể cả hành vi, của bộ máy lập pháp và hành pháp, ở ba khía cạnh: tổ chức; văn bản pháp luật (Hiến pháp, luật, văn bản quản
lý hành chính các cấp); đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức