Câu 1: Vì sao nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam lựa chọn sự ra đời của ĐCS Việt Nam? Ý nghĩa của vấn đề này đối với cách mạng Việt Nam hiện nay? Câu 2: Nội dung cơ bản trong đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng ta thời kỳ 1930 – 1975? Liên hệ thực tiễn quan điểm của Đảng ta hiện nay (văn kiện Đại hội XII). Câu 3: Đảng lãnh đạo đường lối cách mạng xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam (miền Bắc 19541975; cả nước 19761986; đổi mới CNXH 1986nay)? Lấy những thành tựu nổi bật trong thực tiễn xây dựng CNXH để chứng minh? Câu 4: Từ thực tiễn lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, chứng minh sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định mọi thắng lợi của cách mạng Việt Nam?
Trang 1Câu 1: Vì sao nhân dân Việt Nam, dân tộc Việt Nam lựa chọn sự ra đời của ĐCS Việt Nam?
Ý nghĩa của vấn đề này đối với cách mạng Việt Nam hiện nay?
ĐCS VN ra đời đáp ứng được yêu cầu, đòi hỏi của XH thời Pháp thuộc, sự ra đời là một tất yếu khách quan, đáp ứng được nguyện vọng của nhân dân Việt Nam
1 Bối cảnh TG và trong nước tác động đến xã hội VN những năm cuối thế kỷ 19 đầu thế
kỷ 20
a Những tác động khách quan của tình hình TG
Cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX, sau khi CNTB tự do cạnh tranh phát triển thành chủ nghĩa
đế quốc đã chiếm hàu hết các vùng đất trên thế giới, biến các nước nhỏ yếu thành những nước thuộc địa và phụ thuộc Các dân tộc phải đứng lên đấu tranh tự giải phóng khỏi ách chủ nghĩa đế quốc, thực dân, trở thành phong trào giải phóng dân tộc phát triển mạnh mẽ, nhất là ở châu Á
Hai năm sau CMTM Nga thắng lợi, tháng 3/1919, Quốc tế cộng sản được thành lập trở thành bộ tham mưu chiến đấu, tổ chức lãnh đạo phong trào cách mạng vô sản toàn thế giới Quốc
tế cộng sản đã tiến hành hàng loạt hoạt động truyền bá tư tưởng các mạng vô sản, thúc đẩy phong
trào yêu nước khu vực này đi theo khuynh hướng vô sản, trong đó có VN b Đòi hỏi từ lịch sử xã hội trong nước ở Việt Nam
Tình hình xã hội VN cũng có nhiều biến đổi dưới chính sách thống trị của thực dân Pháp đối với Việt Nam và cả Đông Dương nói chung Đó là chính sách thống trị chuyên chế về chính trị, bóc lột nặng nề về kinh tế nhằm đem lại lợi nhuận tối đa về kinh tế, kìm hãm và nô dịch về văn hóa, giáo dục Tính chất xã hội Việt Nam thay đổi từ một xã hội phong kiến độc lập thống nhất trở thành một xã hội nữa thuộc địa, nữa phong kiến Trong lòng XH VN đã hình thành những mâu thuẫn đan xen nhau: mâu thuẫn giữa nong dân với địa chủ phong kiến, nhưng mâu thuẫn cơ bản
và chủ yếu là mâu thuẫn giữa dân tộc VN với thực dân Pháp và tay sai phản động Sự thống trị,
áp bức và bóc lột càng tăng thì mâu thuẫn đó càng sâu sắc, sự phản kháng và đấu tranh vì sự tồn vong của dân tộc càng phát triển mạnh mẽ, gay gắt về tính chất, đa dạng về nội dung và hình thức
c Giai cấp CN VN ra đời, cơ sở giai cấp xã hội để thành lập ĐCS
Chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp đã bước đầu du nhập QHSX TBCN, làm chuyển biến cơ cấu kinh tế và cơ cấu xã hội của một nước phong kiến độc lập thành một nước thuộc địa nửa phong kiến
Chính sách thống trị của thực dân Pháp không chỉ làm phân hóa các giai cấp vốn có trong XHVN như địa chủ phong kiến và nông dân mà còn làm xuất hiện các giai cấp mới như GCCN, GC tư sản và các tầng lớp mới ra đời Trái với ý muốn của thực dân Pháp, GCCN VN bắt đầu hình thành
từ đầu thế kỷ XX, khi tư bản Pháp cho xây cơ sở hạ tầng và thiết bị kinh tế phục vụ cho chương trình khai thác ở Đông Dương Ngoài những đặc điểm của GCCN quốc tế - đại diện cho LLSX tiến bộ nhất, không có TLSX, bị bóc lột nên là giai cấp kiên quyết cách mạng nhất, có ý thức tổ chức kỷ luật cao; GCCN VN có những đặc điểm riêng: ra đời trước giai cấp tư sản dân tộc, do đó không bị ảnh hưởng, tác động, chi phối của hệ tư tưởng tư sản, dễ dàng tiếp thu hệ tư tưởng mới,
đó là CN MLN; kế thừa truyền thống yêu nước của dân tộc, bị ba tầng áp bức là đế quốc, phong kiến và tư sản nên có tinh thần CM triệt để; phần lớn xuất thân từ nông dân, là cơ sở khách quan thuận lợi cho công nhân và nông dân liên minh chặt chẽ trong quá trình đấu tranh CM Ngay khi
ra đời, GCCN VN đã tiếp thu ảnh hưởng của CMTM Nga Do vậy, tuy lực lượng CNVN còn ít
Trang 2nhưng sớm vươn lên tiếp nhận tư tưởng tiên tiến của thời đại, nhanh chóng phát triển đến tự giác, thể hiện là GC có năng lực lãnh đạo CM GCCN có sứ mệnh lịch sử là lãnh đạo quần chúng nhân dân lao động đấu tranh xóa bỏ chế độ áp bức, bóc lột và xây dựng xã hội mới – XHCN và CSCN
Để thực hiện sứ mệnh này thì GCCN cần phải thành lập một chính đảng lãnh đạo
2 Các phong trào yêu nước ở Việt Nam trước khi có Đảng
Từ khi thực dân Pháp xâm lược (1958) đến những năm 20 của thế kỷ XX, tiếp tục truyền thống yêu nước, bất khuất, kiên cường chống giặc ngoại xâm, các phong trào chống thực dân Pháp theo
ý thức hệ phong kiến: phong trào Cần Vương, các cuộc khởi nghĩa ở Ba Đình (Thanh Hóa), Bãi Sậy (Hưng Yên), Hương Khê (Hà Tĩnh), phong trào nông dân Yên Thế (Bắc Giang)…hay theo ý thức hệ tư sản: phong trào Đông Du, phong trào Duy Tân…của nhân dân ta diễn ra sôi nổi và liên tục, nhưng tất cả đều không thàng công Nguyên nhân thất bại chủ yếu là do thiếu một đường lối chính trị đúng đắn (chưa giải quyết đúng đắn mâu thuẫn cơ bản của VN lúc đó), thiếu một tổ chức cách mạng lãnh đạo chặt chẽ (một đảng chính trị); thiếu lực lượng cách mạng (không tập hợp được rộng rãi các giai cấp, tầng lớp XH VN lúc đó); không đưa CM VN đi vào trào lưu CM của thế giới, không kết hợp được sức mạng dân tộc với sức mạnh quốc tế VN lâm vào khủng hoảng, bế tắc đường lối cứu nước, nhiệm vụ lịch sử đặt ra cho các thế hệ yêu nước đương thời là cần phải
có một tổ chức CM tiên phong, có đường lối cứu nước đúng đắn, có khả năng tập hợp quần chúng
để giải phóng dân tộc Đường lối cứu nước không phải là đường lối của phong kiến hay tư sản mà phải là của vô sản, giai cấp lãnh đạo cũng phải là vô sản chứ không thể là địa chủ hay tư sản Vì vậy việc thành lập một chính đảng để lãnh đạo là điều cần thiết,
3 Vai trò của Nguyễn Ái Quốc trong quá trình chuẩn bị thành lập Đảng
Vai trò 1: Tìm con đường cứu nước
Trước yêu cầu cấp bách phải tìm một con đường cứu nước mới, ngày 5-6-1911 Nguyễn Ái Quốc đã lên đường sang các nước phương Tây, xem các nước đó làm thế nào ròi quay trở về giúp đồng bào mình thoát khỏi ách nô lệ Người đi đến nhiều nơi trên thế giới để tìm hiểu các cuộc CM lớn và khảo sát nhân dân các nước bị áp bức Đầu năm 1919, Người tham gia Đảng XH Pháp Tháng 7/1920, người đọc Luận cương về các vấn đề dân tộc và vấn đề thuộc địa của Leenin, nhờ
đó, Người trở nên sáng tỏ hơn về con đường đấu tranh giải phóng cho dân tộc mình Tại Đại hội lần thứ XVIII của Đảng xã hội Pháp (12/1920), Nguyễn Ái Quốc đã bỏ phiếu tán thành việc gia nhập Quốc rế cộng sản và tham gia sáng lập Đảng Cộng sản Pháp Từ đây, Người tiếp tục học tập
để bổ sung, hoàn thiện tư tưởng cứu nước, đồng thời tích cực truyền bá CNMLN về VN nhằm chuẩn bị các tiền đề về tư tưởng, chính trị và tổ chức cho sự ra đời của chính đảng tiên phong ở
VN
Vai trò 2: Chuẩn bị thành lập đảng
Về tư tưởng: NAQ truyền bá tư tưởng CNMLN về cách mạng VN thông qua hình thức báo chí
và mở các lớp tập huấn để đào tạo cán bộ Giữa năm 1921, Nguyễn Ái Quốc cùng các đồng chí của mình thành lập Hội Liên hiệp các dân tộc thuộc địa và sáng lập tờ báo Le Paria (Người cùng khổ) Người được cử làm trưởng tiểu ban nghiên cứu về Đông Dương tại Ban Nghiên cứu thuộc địa của ĐCS Pháp Vừa nghiên cứu lý luận, vừa tham gia hoạt động thực tiễn trong phong trào cách mạng ở các nước trên thế giới, Nguyễn Ái Quốc đã tích cực tố cáo, lên án bản chất bóc lột của chủ nghĩa thực dân đối với nhân dân các nước thuộc địa và kêu gọi, thức tỉnh nhân dân bị áp
Trang 3bức đấu tranh giải phóng Đồng thời tiến hành tuyên truyền tư tưởng Mác-Lenin, xây dựng mối quan hệ gắn bó giữa những người cộng sản và nhân dân lao động Pháp với các nước thuộc địa và phụ thuộc
Về chính trị: lãnh tụ NAQ đã hình thành một hệ thống luận điểm chính trị (sau này phát triển thành nội dung cơ bản trong cương lĩnh chính trị của Đảng) Một là, từ thực tiễn lịch sử phong trào cách mạng của thế giới, NAQ khẳng định con đường cách mạng của các dân tộc bị áp bức là chỉ có giải phóng giai cấp vô sản thì mới giải phóng được dân tộc; cả hai cuộc giải phóng này chỉ
có thể là sự nghiệp của CNCS và của cách mạng thế giới Hai là, xác định cách mạng giải phóng dân tộc là một bộ phận của cách mạng vô sản thế giới Ba là, trong nước nông nghiệp lạc hậu, nông dân là lực lượng đông đảo nhất, bị đế quốc phong kiến áp bức bóc lột nặng nề, vì vậy cần phải thu phục và lôi cuốn được nông dân, cần phải xây dựng khối công nông làm động lực cách mạng Bốn là, CM muốn giành thắng lợi, trước hết phải có Đảng cách mạng nắm vai trò lãnh đạo Đảng muốn vững phải được trang bị CNMLN Năm là, CM là sự nghiệp của QCND, vì vậy phải tập hợp, giác ngộ và từng bước tổ chức QC đấu tranh từ thấp đến cao
Về tổ chức: Sau 1.5 năm hoạt động ở Liên Xô, 11/1924 NAQ quyết định về Quảng Châu (Trung Quốc) – nơi có rất đông người VN yêu nước để xúc tiến các công việc thành lập Đảng macsxit Tháng 6/1925, NAQ sáng lập Hội Việt Nam cách mạng thanh niên, nòng cốt là Cộng Sản đoàn Hội đã công bố chương trình điều lệ của Hội, mục đích để làm cách mệnh dân tộc rồi sau đó làm cách mạng thế giới Đây được xem là tổ chức tiền thân dẫn đến sự ra đời của các tổ chức cộng sản
ở VN Những hoạt động của Hội có ảnh hưởng và thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến của phong trào công nhân, phong trào yêu nước những năm 1928 – 1929 theo khuynh hướng cách mạng vô sản
Sau khi thành lập đã mở lớp đào tạo, bồi dưỡng lý luận CNMLN cho những người trong Hội VN cách mạng thanh niên Theo sáng kiến của NAQ, Hội cho xuất bản tờ báo Thanh Niên làm cơ quan tuyên truyền của Hội Mục đích để truyền bá CNMLN về nước, giác ngộ quần chúng, đẩy mạnh phong trào đấu tranh cách mạng theo khuynh hướng vô sản, đẩy lùi những tư tưởng dân tộc chủ nghĩa tư bản và tiểu tư sản đang tồn tại ở VN lúc bấy giờ
Tháng 7/1925, NAQ tham gia sáng lập Hội liên hiệp các dân tộc bị áp bức ở Á Đông Năm 1927, các bài giảng của NAQ đã được Hội cho xuất bản thành cuốn Đường cách mệnh Đây là cuốn sách giáo khoa chính trị đầu tiên của CMVN, trong đó tầm quan trọng của lý luận được đặt ở vị trí hàng đầu với cuộc vận động cách mạng và đối với đảng cách mạng tiên phong
Từ đầu năm 1926 Hội Việt Nam cách mạng thanh niên đã bắt đầu phát triển cơ sở ở trong nước, đầu năm 1927 các kỳ bộ được thành lập, ngoài ra còn chú trong xây dựng cơ sở trong Việt kiều ở Thái Lan
Như vậy HVNCMTN chưa phải là chính đảng cộng sản, nhưng chương trình hành động đã thể hiện quan điểm lập trường của giai cấp công nhân là tổ chức tiền thân dẫn tới ra đời các tổ chức cộng sản ở Việt Nam Những hoạt động của Hội có ảnh hưởng và thúc đẩy mạnh mẽ sự chuyển biến của phong trào công nhân, phong trào yêu nước VN những năm 1928 – 1929 theo khuynh hướng CM vô sản
Vai trò 3: Thành lập đảng
Trang 44 Hội nghị thành lập Đảng và cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng
Sau khi tích cực, khẩn trương mở lớp huấn luyện cán bộ cách mạng, tìm mọi phương thức truyền
bá CNMLN vào phong trào yêu nước VN, cuối năm 1928 HVNCMTN đưa ra chủ trương “vô sản hóa”, nhằm đưa hội viên vào các nhà máy, đồn điền, hầm mỏ để đẩy mạnh việc truyền bá và kết hợp CNMLN với phong trào đấu tranh của công nhân Với không khí dân lên cao mạnh mẽ của phong trào đấu tranh cách mạng, chỉ trong vòng 7 tháng (6/1929 – 1/1930), cả nước lần lượt đã ra đời ba tổ chức cộng sản Đó là, Đông Dương Cộng Sản Đảng (6/1929), An Nam Cộng Sản Đảng (10/1929) và Đông Dương Cộng Sản liên đoàn (1/1930) Lúc này, việc thống nhất các tổ chức cộng sản thành một Đảng Cộng Sản duy nhất, đủ khả năng lãnh đạo phong trào cách mạng của cả nước vừa là yêu cầu của tất yếu khách quan, vừa là chỉ thị của Quốc tế cộng sản Trước tình hình cấp bách đó, NAQ từ Xiêm (Thái Lan) trở lại Hương Cảng (Hồng Kông) triệu tập ngay hội nghị đại biểu các tổ chức cộng sản để thống nhất các tổ chức đó lại và thành lập một Đảng cộng sản thống nhất
Từ ngày 3 – 7/2/1930 tại Hương Cảng, với tư cách là đại diện của Quốc tế cộng sản, NAQ đã chủ trì Hội nghị thống nhất các tổ chức cộng sản Việt Nam thành một tổ chức duy nhất lấy tên là Đảng Cộng Sản Việt Nam Tham dự hội nghị có các đồng chí Trịnh Đình Cửu, Nguyễn Đức Cảnh (đại biểu của Đông Dương cộng sản đảng), Nguyễn Thiệu và Châu Văn Liêm (An Nam cộng sản đảng)
Hội nghị đã thông qua Chính cương vắn tắt, Sách lượt vắn tắt, Điều lệ tóm tắt của Đảng và lời kêu gọi do NAQ soạn thảo Tất cả các tài liệu này được xem là Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta Nội dung Cương lĩnh chính trị đã nêu rõ đường lối chiến lược và sách lược phù hợp với tình hình thực tế của cách mạng VN, đó là đấu tranh giành độc lập dân tộc, thực hiện mục tiêu người cày có ruộng và tiến lên CNXH ĐCS VN ra đời gắn liền với vai trò vĩ đại của lãnh tụ NAQ Như vậy, trong quá trình tìm đường cứu nước, NAQ đóng vai trò rất to lớn trong việc chuẩn bị về chính trị, tư tưởng cho việc thành lập Đảng
ĐCS VN ra đời là sản phẩm của sự kết hợp CNMLN với phong trào công nhân và phong trào yêu nước VN Học thuyết MLN khẳng định rằng, ĐCS là sản phẩm của sự kết hợp CNMLN với phong trào công nhân Quy luật chung này được đồng chí NAQ vận dụng sáng tạo vào điều kiện VN, nơi giai cấp công nhân còn ít về số lượng, nhưng người vô sản bị áp bức, bóc lột thì đông Sự kết hợp CNMLN với phong trào công nông và phong trào yêu nước dẫn đến sự ra đời của ĐCS VN Đường lối chiến lược và sách lược cách mạng của Đảng được thể hiện trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt là phù hợp yêu cầu của toàn Đảng và toàn dân Thực tiễn cách mạng nước ta ngày càng khẳng định sự đúng đắn và sáng tạo của những tư tưởng chiến lược và sách lược trên của đồng chí NAQ
Như vậy ĐCS VN ra đời là đáp ứng được những đòi hỏi khách quan của XHVN thời Pháp thuộc và nguyện vọng của nhân dân VN
Ý nghĩa của vấn đề này đối với cách mạng Việt Nam hiện nay
Hội nghị hợp nhất các tổ chức đảng cộng sản ở Việt Nam thành một Đảng Cộng sản duy nhất - Đảng Cộng sản Việt Nam - theo một đường lối chính trị đúng đắn, tạo nên sự thống nhất về tư tưởng, chính trị và hành động của phong trào cách mạng cả nước, hướng tới mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là kết quả tất yếu của cuộc đấu tranh dân tộc và đấu tranh giai cấp, là sự khẳng định vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Việt Nam và
Trang 5hệ tư tưởng Mác-Lênin đối với cách mạng Việt Nam Sự kiện Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời là
sự kiện lịch sử cực kỳ trọng đại, một bước ngoặt vô cùng quan trọng trong lịch sử cách mạng Việt Nam, đánh dấu một mốc son chói lọi trên con đường phát triển của dân tộc ta
Sự ra đời của Đảng là sản phẩm của sự kết hợp chủ nghĩa Mác-Lênin với phong trào công nhân và phong trào yêu nước của nhân dân Việt Nam, là sự kiện gắn liền với tên tuổi của Lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh Sự kiện thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam và việc ngay từ khi
ra đời, Đảng đã có Cương lĩnh chính trị xác định đúng đắn con đường cách mạng là giải phóng dân tộc theo phương hướng cách mạng vô sản, chính là cơ sở để Đảng Cộng sản Việt Nam vừa ra đời đã nắm được ngọn cờ lãnh đạo phong trào cách mạng Việt Nam; giải quyết được tình trạng khủng hoảng về đường lối cách mạng, về giai cấp lãnh đạo cách mạng diễn ra đầu thế kỷ XX, mở
ra con đường và phương hướng phát triển mới cho đất nước Việt Nam Chính đường lối này là cơ
sở đảm bảo cho sự tập hợp lực lượng và sự đoàn kết, thống nhất của toàn dân tộc cùng chung tư tưởng và hành động để tiến hành cuộc cách mạng vĩ đại giành những thắng lợi to lớn sau này Đây cũng là điều kiện cơ bản quyết định phương hướng phát triển, bước đi của cách mạng Việt Nam trong suốt 85 năm qua
Đảng Cộng sản Việt Nam ra đời và việc Đảng chủ trương cách mạng Việt Nam là một bộ phận của phong trào cách mạng thế giới, đã tranh thủ được sự ủng hộ to lớn của cách mạng thế giới, kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh của thời đại làm nên những thắng lợi vẻ vang Đồng thời cách mạng Việt Nam cũng góp phần tích cực vào sự nghiệp đấu tranh chung của nhân dân thế giới vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội
Liên hệ thực tiễn:
Trải qua 85 năm phấn đấu, xây dựng và trưởng thành, Đảng đã lãnh đạo, tổ chức và phát huy sức mạnh to lớn của toàn Đảng, toàn dân, toàn quân, giành được nhiều thắng lợi vĩ đại trong
sự nghiệp cách mạng Cương lĩnh bổ sung, phát triển năm 2011 đã chỉ ra 8 đặc trưng, 8 phương
hướng và 8 mối quan hệ để khẳng định vai trò lãnh đạo của Đảng đối với CMVN hiện nay
Với đường lỗi đề ra, Đảng đã lãnh đạo nhân dân ta đạt được nhiều thành tựu to lớn: Đất nước ra khỏi khủng hoảng kinh tế - xã hội và tình trạng kém phát triển, trở thành nước đang phát triển có thu nhập trung bình, đang đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập quốc tế Kinh tế tăng trưởng khá, nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa từng bước hình thành, phát triển Chính trị - xã hội ổn định; quốc phòng, an ninh được tăng cường Văn hóa - xã hội có bước phát triển; bộ mặt đất nước và đời sống của nhân dân có nhiều thay đổi Dân chủ xã hội chủ nghĩa được phát huy và ngày càng mở rộng Đại đoàn kết toàn dân tộc được củng cố và tăng cường Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền và cả hệ thống chính trị được đẩy mạnh Sức mạnh về mọi mặt của đất nước được nâng lên; độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và chế độ xã hội chủ nghĩa được giữ vững Quan hệ đối ngoại ngày càng mở rộng và
đi vào chiều sâu; vị thế và uy tín của Việt Nam trên trường quốc tế được nâng cao
Những thành tựu đó tạo tiền đề quan trọng để nước ta tiếp tục đổi mới và phát triển mạnh
mẽ trong những năm tới; khẳng định đường lối lãnh đạo của Đảng là đúng đắn, sáng tạo; con đường đi lên CNXH của nước ta là phù hợp với thực tiễn của Việt Nam và xu thế phát triển của lịch sử
Trang 6Liên hệ bản thân: nhận thức, thái độ, động cơ, tình cảm đối với vấn đề, hành vi (trong
công việc, trong học tập) Kiên định lập trường cách mạng của giai cấp công nhân, trung thành với lý tưởng cộng sản, đấu tranh bảo vệ chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, bảo vệ chế
độ XHCN, vững vàng, không dao động trước bất kỳ khó khăn, thử thách nào Ra sức phấn đấu lập thân, lập nghiệp, đi đầu trong việc thực hiện Đường lối đổi mới đất nước của Đảng, không ngại gian khổ, không sợ khó khắn, dám nghĩ, dám làm, quyết không cam chịu nghèo nàn, lạc hậu; cống hiến hết mình vì mục tiêu dân giầu, nước mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh
Tích cực tham gia đấu tranh chống tham nhũng, chống các tiêu cực xã hội và tệ nạn xã hội, phê phán những biểu hiện mơ hồ, cực đoạn hay tư tưởng sai lệch Học tập, nắm vững lý luận MácLênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Thường xuyên trau dồi đạo đức cách mạng, thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư Sự giác ngộ lý tưởng cộng sản, lòng trung thành với sự nghiệp cách mạng của Đảng, của giai cấp công nhân, suốt đời hy sinh phấn đấu
vì độc lập tự do của Tổ quốc, vì chủ nghĩa xã hội và chủ nghĩa cộng sản là phẩm chất hàng đầu
mà Chủ tịch Hồ Chí Minh đặt ra cho mỗi đảng viên cộng sản Không ngừng học tập, rèn luyện nâng cao trình độ và năng lực chuyên môn, hoàn thành tốt các nhiệm vụ được giao Hòa đồng, hòa nhã và có thái độ đúng đắn với đồng nghiệp và nhân dân; thực hiện nghiêm túc chỉ đạo của cấp trên, sắp xếp công việc một cách hợp lý để đạt được kết quả với năng suất và chất lượng cao nhất
Câu 2: Nội dung cơ bản trong đường lối cách mạng giải phóng dân tộc của Đảng ta thời kỳ
1930 – 1975? Liên hệ thực tiễn quan điểm của Đảng ta hiện nay (văn kiện Đại hội XII)
I Đường lối đấu tranh giành chính quyền (1930 - 1945)
1 Đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân được Đảng ta xác định đường lối ngay từ trong Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng 2/1930 đã xác định:
Tại Hội nghị hợp nhất các tổ chức cộng sản thành lập một chính đảng duy nhất của Việt Nam - Đảng Cộng sản Việt Nam tại Cửu Long - Hương Cảng (Trung Quốc) được tiến hành trong thời gian từ ngày 6-1-1930 đến ngày 7-2-1930 (sau này tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng ngày 10-9-1960 quyết nghị "từ nay trở đi sẽ lấy ngày 3 tháng 2 dương lịch mỗi năm làm ngày kỷ niệm thành lập Đảng"
Những nội dung cơ bản của Cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng được Hội nghị thống nhất thông qua là:
1- Khẳng định phương hướng chiến lược của cách mạng Việt Nam Đó là: "chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản (Sau này gọi là cách mạng dân tộc dân chủ và cách mạng xã hội chủ nghĩa) Tính chất giai đoạn và lý luận cách mạng không ngừng đã được thể hiện trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng: cách mạng tư sản dân quyền là thời kỳ dự bị để tiên lên cách mạng xã hội chủ nghĩa Đây là con đường cứu nước mới, khác với những chủ trương, những con đường cứu nước của những nhà yêu nước đương thời đã
đi vào bê tắc và thất bại Như vậy, ngay từ đầu Đảng ta đã tiếp thu và vận dụng sáng tạo lý luận MÁCLÊNIN vào hoàn cảnh cụ thể của đất nước Đường lối cơ bản của cách mạng Việt Nam được phản ánh trong Cương lĩnh đã thiện được tư tưởng độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghiã xã hội Việc xác định đúng đắn phương hướng, con đường của cách mạng Việt Nam ngay từ đầu có ý nghĩa hết sức quan trọng Đó là ngọn cờ tập hợp lực lượng cách mạng, là cơ sở để giải quyết đứng đắn các vấn đề cơ bản của cách mạng việt Nam
Trang 72- Nhiệm vụ, mục tiêu cơ bản của cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh chỉ rõ: ''Đánh đố
đế quốc chủ nghĩa và bọn phong kiến Làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập" Tức là nhiệm
vụ của cách mạng tư sản dân quyền (sau này gọi là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân) là chống
đế quốc giành độc lập cho dân tộc và chống phong kiến để giành ruộng đất cho dân cày Trong đó nhiệm vụ chống đế quốc, giải phóng dân tộc là nhiệm vụ được đặt lên hàng đầu
Xuất phát từ đặc điếm của chế độ thuộc địa nửa phong kiến, đây là hai nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam Sự kết hợp hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến đã khẳng định tính toàn diện, triệt để của đường lối cách mạng Việt Nam Những nhiệm vụ đó là biểu hiện sinh động của việc kết hợp giải phóng dân tộc, giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội và giải phóng con người trong đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam và lãnh tụ Nguyễn Ái Quốc
3- Về lực lượng của cách mạng Việt Nam, phải đoàn kết công nhân, nông dân-đây là lực lượng cơ bản trong đó giai cấp công nhân lãnh đạo; đồng thời Cương lĩnh nêu rõ: "Đảng phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, trí thức, trung nông, Thanh niên, Tân Việt, v.v đế kéo họ đi vào phe vô sản giai cấp Còn đối với bọn phú nông, trung, tiểu địa chủ và tư bản An Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họ đứng trung lập'' Đây là tư tưởng tập hợp lực lượng cách mạng trên cơ sở đánh giá thái độ các giai cấp phù hợp với đặc điểm xã hội Việt Nam
4- Về phương pháp cách mạng Việt Nam, Cương lĩnh đã khẳng định: phương pháp cách mạng cơ bản của Việt Nam là dùng sức mạnh tổng hợp của quần chúng nhân dân để đánh đổ
đế quốc phong kiến, đó là bạo lực cách mạng Phương pháp bạo lực cách mạng được nêu lên với những biểu hiện cụ thể: đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, đánh đổ các đảng phản cách mạng như Đảng Lập hiến, đánh trúc bọn đại địa chủ và phong kiến Chính sự thất bại của khuynh hướng cải lương hoà bình ở Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX đã cho thấy cách mạng muốn giành thắng lợi, không có con đường nào khác là phải sử dụng bạo lực cách mạng Việc nêu lên phương pháp cách mạng bạo lực trong sự nghiệp cách mạng của nhân dân ta đã thể hiện sự thấm nhuần và tiếp thu tư tưởng cách mạng bạo lực của chủ nghĩa MÁC-LÊNIN
5- Xác định vai trò của Đảng Cộng sản Việt Nam là đội tiên phong của giai cấp công nhân, phải thu phục và lãnh đạo được dân chúng
Để thực hiện thành công sự nghiệp cách mạng, Cương lĩnh đã khẳng định vai trò quyết định của Đảng: Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp Để lám tròn sứ mệnh lịch sử là nhân tố tiên phong quyết đinh thắng lơi của cách mạng Việt Nam, Đảng phải: "thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấp mình lãnh đạo được dân chúng" Khẳng định bản chất giai cấp của Đảng, vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân và chiến lược đại đoàn kết dân tộc trên cơ
sở liên minh công - nông là những vấn đế then chốt bảo đảm cho Đảng ta trở thành nhân tố duy nhất lãnh đạo cách mạng Việt Nam Cương lĩnh cũng nêu lên sự gắn bó, quan hệ máu thịt giữa Đảng với quần chúng Đây là điều kiện tạo cho Đảng có nguồn súc mạnh vĩ đại và trở thành lãnh
tụ chính trị cho cả dân tộc Sự lãnh đạo của Đảng là yếu tố quyết định nhất cho thắng lợi của cách mạng Việt Nam
6- Phát huy tinh thần tự lực tự cường, đồng thời tranh thủ sự đoàn kết, ủng hộ của các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp
Trang 87- Xây dựng Đảng cách mạng vững mạnh, kêu gọi mọi người ủng hộ và gia nhập Đảng, phải có tổ chức chặt chẽ
Lần đầu tiên cách mạng Việt Nam có một bản cương lĩnh chính trị phản ánh được quy luật khách quan của xã hội Việt Nam, đáp ứng những nhu cầu cơ bản và cấp bách của xã hội Việt Nam, phù hợp với xu thế của thời đại Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: "Cương lĩnh ấy rất phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa số nhân dân ta Vì vậy, Đảng đã đoàn kết được những lực lượng cách mạng to lớn chung quanh giai cấp mình Còn các đảng phái của các giai cấp khác thì hoặc bị phá sản, hoặc bị cô lập Do đó, quyền lãnh đạo của Đảng ta - Đảng của giai cấp công nhân
- không ngừng củng cố và tăng cường"
Đường lối cách mạng DTDCND được thể rõ nhất trong giai đoạn 1939 – 1945 Đó là đường lối giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc
a Bối cảnh lịch sử
Tình hình thê ́ giới
Cuộc khủng hoảng kinh tế trong những năm 1929 – 1933 ở các nước tư bản chủ nghĩa đã làm cho mâu thuẫn nội tại của chủ nghĩa tư bản ngày càng gay gắt và phong trào cách mạng của quần chúng dâng cao
Chủ nghĩa phát xít đã xuất hiện và thắng thế ở một số nơi Chúng tiến hành chiến tranh xâm lược, bành trướng và nô dịch các nước khác Nguy cơ chủ nghĩa phát xít và chiến tranh thế giới đe dọa nghiêm trọng nền hòa bình và an ninh quốc tế
Trước tình hình đó, Đại hội lần thứ VII của Quốc tế cộng sản họp tại Matxcơva (tháng 7/1935) Đoàn đại biểu Đảng cộng sản Đông Dương do Lê Hồng Phong dẫn đầu đã tham dự Đại hội
Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ: Ngày 1/9/1939, phát xít Đức tấn công Ba Lan Hai ngày sau Anh, Pháp tuyên chiến với Đức Tháng 6/1940, Đức tấn công Pháp Chính phủ Pháp đầu hàng Đức Ngày 22/6/1941, quân phát xít Đức tấn công Liên Xô
Tình hình trong nước
Cuộc khủng hoảng kinh tế 1929 – 1933 đã tác động sâu sắc không chỉ đến đời sống các giai tầng và tầng lớp nhân dân lao động mà còn đến cả những nhà tư sản, địa chủ hạng vừa và nhỏ Trong khi đó, bọn cầm quyền phản động ở Đông Dương vẫn ra sức vơ vét, bóc lột, bóp nghẹt mọi quyền tự do, dân chủ và thi hành chính sách khủng bố, đàn áp phong trào đấu tranh của nhân dân
ta
Thực dân Pháp đã thi hành chính sách thời chiến rất trắng trợn Chúng phát xít hóa bộ máy thống trị, thẳng tay đàn áp phong trào cách mạng của nhân dân, tập trung lực lượng đánh vào Đảng cộng sản Đông Dương
Ngày 22/9/1940, phát xít Nhật tiến vào Lạng Sơn và đổ bộ vào Hải Phòng Ngày 23/9/1940, tại Hà Nội, Pháp ký hiệp định đầu hàng Nhật Từ đó, nhân dân chịu cảnh một cổ 2 tròng áp bức, bóc lột của Pháp - Nhật Mâu thuẫn giữa dân tộc ta với đế quốc, phát xít Pháp - Nhật trở nên gay gắt hơn bao giờ hết
b Đường lối giương cao ngọn cờ giải phóng dân tộc
Hội nghị TW 6 (11/1939) nhận định đánh giá tình hình chiến tranh TG lần II kết thúc tạo
ra thời cơ cho CM Việt Nam:
Trang 9• Xác định nhiệm vụ mục tiêu mới là tập trung vào giải phóng dân tộc, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập
• Thành lập mặt trận thống nhất dân tộc phản đế Đông Dương
• Thay đổi khẩu hiệu cách mạng “Chống Thực Dân Đế quốc”
• Chuyển hình thức đấu tranh sang hoạt động bí mật
• Tìm điều kiện khởi nghĩa
Tại hội nghị TW 7 (11/1940) Đảng đã chỉ đạo:
• Duy trì phát triển đội du kích
• Thành lập khu căn cứ CM lấy Bắc Sơn và Vũ Nhai làm trung tâm
Tại hội nghị TW 8 (5/1941) Đảng đã nhận định tình hình, hoàn chỉnh đường lối giải phóng dân tộc:
• Đặt vấn đề chống đế quốc, giải phóng dân tộc lên hàng đầu Mục tiêu trước mắt là đánh
đổ đế quốc và tay sai làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập Vấn đề cần kíp là “dân tộc giải phóng”
• Chủ trương đoàn kết rộng rãi lực lượng toàn dân tộc, thành lập mặt trận Việt Minh để tập hợp đông đảo mọi đảng phái, giai cấp, dân tộc, tôn giáo…miễn có lòng yêu nước, mưu cầu độc lập nhằm đấu tranh giải phóng dân tộc
• Chủ trương giải phóng dân tộc trong khuôn khổ từng nước
• Đặt công tác chuẩn bị khởi nghĩa vũ trang làm nhiệm vụ trung tâm của cách mạng Đông Dương
• Coi trọng nhiệm vụ xây dựng Đảng, đảm bảo vai trò tiên phong của giai cấp công nhân
• Những chủ trương đúng đắn của Đảng thể hiện rõ sự trưởng thành vượt bậc của Đảng
về tư duy cách mạng, về lãnh đạo chính trị, độc lập, tự chủ trong xác định đường lối đặt nền tảng cho thành công của cuộc vận động, chuẩn bị khởi nghĩa và tổng khởi nghĩa tháng 8
• Thành lập các đội tư vệ, đội cứu quốc, đội VN tuyên truyền giải phóng quân
• Xây dựng căn cứ địa cách mạng
Thời cơ cách mạng: Ngày 9-3-1945, phát-xít Nhật đảo chính Pháp, kéo theo đó là tình trạng khủng hoảng chính trị ở Việt Nam Ngay lập tức Ban Thường vụ Trung ương Ðảng đã họp và đưa
ra những nhận định khách quan về thời cơ khởi nghĩa đang đến rất gần: "Những cơ hội tốt đang giúp cho những điều kiện khởi nghĩa mau chín muồi"; và ra Chỉ thị: "Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của chúng ta" Ðảng quyết định phát động cao trào chống Nhật cứu nước
Trang 10Ðến tháng 7-1945, phát-xít Ðức, Ý đã bại trận trên chiến trường châu Âu Ở châu Á, phátxít Nhật đang trên đường thất bại và sụp đổ Dù đang bị ốm giữa rừng Tân Trào, Chủ tịch
Hồ Chí Minh vẫn chỉ thị cho các đồng chí: "Lúc này thời cơ đã đến, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập"
Khi phát-xít Nhật đầu hàng Ðồng minh (13-8-1945), Ðảng ta khẳng định, tình thế cách mạng đã xuất hiện, đây là cơ hội giải phóng dân tộc ngàn năm có một: "Giờ quyết định cho vận mệnh dân tộc ta đã đến Toàn quốc đồng bào hãy đứng dậy đem sức ta mà tự giải phóng cho ta"
Cả dân tộc theo tiếng gọi của Người, nhất tề đứng lên khởi nghĩa, chỉ trong chưa đầy nửa tháng, các địa phương trong cả nước đã giành thắng lợi
Có thể khẳng định, thành công lớn nhất của nghệ thuật khởi nghĩa trong Cách mạng Tháng Tám: Ðảng ta đã chọn đúng thời cơ "nổ ra đúng lúc" Ðó là lúc 16 nghìn quân Anh chưa vào miền nam và 200 nghìn quân Tưởng chưa vào miền bắc để giải giáp quân Nhật (ngày 28/8); cũng là lúc quân Nhật bại trận mất tinh thần, ngồi chờ Ðồng minh đến tước vũ khí; ngụy quyền tay sai bỏ trốn hoặc đầu hàng chính quyền cách mạng Chọn đúng thời cơ là một khoa học, là một nghệ thuật, nhờ thế sức mạnh của toàn dân ta được nhân lên gấp bội, tiến tới khởi nghĩa giành chính quyền trong cả nước một cách nhanh, gọn, không đổ máu và thành công triệt để
Thành công của Cách mạng Tháng Tám 1945 chứng tỏ, Ðảng ta, đứng đầu là Chủ tịch Hồ Chí Minh có tầm nhìn vượt trước thời gian, xác định đúng thời cơ, cho nên đã chuẩn bị tốt lực lượng, sẵn sàng chủ động, chớp thời cơ lãnh đạo nhân dân ta đứng lên tổng khởi nghĩa giành thắng lợi Ðây là sự vận dụng sáng tạo quy luật vận động phát triển của khởi nghĩa và cách mạng, khôn khéo trong nghệ thuật chỉ đạo chớp thời cơ, giành thắng lợi
Đảng ta đã lãnh đạo cao trào kháng Nhật cứu nước:
• Chuẩn bị về thời cơ và chớp thời cơ (dự báo chính xác khả năng xuất hiện thời cơ bằng việc dự báo quân Nhật sẽ đầu hàng đồng minh là thời cơ ta đứng lên tổng khởi nghĩa)
• Chớp thời cơ lãnh đạo cuộc tổng khởi nghĩa thành công (chớp thời cơ trong vòng từ ngày 13 - 28)
Cách mạng tháng 8 thành công trong 15 ngày nhưng đó là sự chuẩn bị chu đáo trong 15 năm của Đảng và nhân dân ta:
• Thắng lợi của cách mạng tháng Tám đã đập tan xiền xích nô lệ của chủ nghĩa đế quốc trong gần một thế kỷ, chấm dứt sự tồn tại của chế độ quân chủ chuyên chế suốt mấy ngàn năm và ách thống trị của phát xít Nhật
• Ra đời nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, nhân dân Việt Nam từ thân phận nô lệ trở thành người tự do, người làm chủ vận mệnh của mình
• Đưa dân tộc Việt Nam vào kỷ nguyên độc lập, tự do và chủ nghĩa xã hội
2 Trong giai đoạn 1945 – 1954 Đường lối kháng chiến chống Thực dân Pháp:
a Âm mưu của thực dân Pháp
Phát động cuộc chiến tranh ở Nam Bộ ngày 23/9/1945, những phần tử hiếu chiến trong giới cầm quyền Pháp bộc lộ rõ âm mưu tái chiếm Đông Dương lần thứ hai Với sức mạnh quân sự và
vũ khí vượt trội, TDP hy vọng là sẽ “đánh nhanh, thắng nhanh” Cho nên tất cả các hoạt động đối ngoại từ phía nhà nước ta cuối cùng đều bị vô hiệu hóa bởi dã tâm xâm lược của TDP Vì mong
Trang 11muốn hòa bình chúng ta đã phải nhân nhượng, còn TDP thì tìm mọi cách để thực hiện âm mưu xâm lược nước ta nhanh hơn
b Đường lối kháng chiến chống thực dân Pháp
Đường lối kháng chiến chống Pháp được thực hiện thông qua các văn kiện:
• Chỉ thị kháng chiến, kiến quốc 25/11/1945
• Chỉ thị "Toàn dân kháng chiến" của trung ương Đảng (12-12-1946)
• Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chí Minh (19-12-1946)
• Tác phẩm "Kháng chiến nhất định thắng lợi" của đồng chí Trường Chinh (9-1947) Nội dung của Đường lối xác định:
• Mục đích kháng chiến: Kế tục và phát triển sự nghiệp Cách mạng Tháng Tám, "Đánh phản động thực dân Pháp xâm lược; giành thống nhất và độc lập"
• Tính chất kháng chiến: "Cuộc kháng chiến của dân tộc tạ là một cuộc chiến tranh cách mạng của nhân dân, chiến tranh chính nghĩa Nó có tính chất toàn dân, toàn diện và lâu dài" "Là một cuộc chiến tranh tiến bộ Vì tự do, độc lập, dân chủ và hòa bình" Đó là cuộc kháng chiến có tính chất dân tộc giải phóng và dân chủ mới
• Chương trình và nhiệm vụ kháng chiến: “Đoàn kết toàn dân, thực hiện quân, chính, dân nhất trí… Động viên nhân lực, vật lực, tài lực thực hiện toàn dân kháng chiến, toàn diện kháng chiến, trường kỳ kháng chiến Giành quyền độc lập, bảo toàn lãnh thổ, thống nhất Trung, Nam, Bắc Củng cố chế độ cộng hòa dân chủ…Tăng gia sản xuất, thực hiện kinh tế tự túc…”
• Phương châm tiến hành kháng chiến: tiến hành cuộc chiến tranh nhân dân, thực hiện kháng chiến toàn dân, toàn diện, lâu dài, dựa vào sức mạnh là chính
Kháng chiến toàn dân: "Bất kỳ đàn ông, đàn bà không chia tôn giáo, đảng phái, dân tộc, bất
kỳ người già, người trẻ Hễ là người Việt Nam phải đứng lên đánh thực dân Pháp", thực hiện mỗi người dân là một chiến sỹ, mỗi làng xóm là một pháo đài
Kháng chiến toàn diện: Đánh địch về mọi mặt chính trị, quân sự, kinh tế, văn hoá, ngoại giao Trong đó:
• Về chính trị: Thực hiện đoàn kết toàn dân, tăng cường xây dựng Đảng, chính quyền, các đoàn thể nhân dân; đoàn kết với Miên, Lào và các dân tộc yêu chuộng tự do, hoà bình
• Về quân sự: Thực hiện vũ trang toàn dân, xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân, tiêu diệt địch, giải phóng nhân dân và đất đai, thực hiện du kích chiến tiến lên vận động chiến, đánh chính quy, là "triệt để dùng du kích, vận động chiến Bảo toàn thực lực, kháng chiến lâu dài vừa đánh vừa võ trang thêm, vừa đánh vừa đào tạo thêm cán bộ"
• Về kinh tế: Tiêu thổ kháng chiến, xây dựng kinh tế tự cung tự túc, tập trung phát triển nông nghiệp, thủ công nghiệp, thương nghiệp và công nghiệp quốc phòng
• Về văn hoá: Xoá bỏ văn hoá thực dân, phong kiến, xây dựng nền văn hoá dân chủ mới theo ba nguyên tắc: dân tộc, khoa học, đại chúng
• Về ngoại giao: Thực hiện thêm bạn bớt thù, biểu dương thực lực "Liên hiệp với dân tộc Pháp, chống phản động thực dân pháp", sẵn sàng đàm phán nếu Pháp công nhận Việt Nam độc lập
Trang 12Kháng chiến lâu dài (trường kỳ): Là để chống âm mưu đánh nhanh, thắng nhanh của Pháp,
để có thời gian để củng cố, xây dựng lực lượng, nhằm chuyển hoá tương quan lực lượng từ chỗ ta yếu hơn địch đến chỗ ta mạnh hơn địch, đánh thắng địch
Dựa vào sức mình là chính: “Phải tự cấp, tự túc về mọi mặt", vì ta bị bao vây bốn phía, chưa được nước nào giúp đỡ nên phải tự lực cánh sinh Khi nào có điều kiện ta sẽ tranh thủ sự giúp đỡ của các nước, song lúc đó cũng không được ỷ lại
Triển vọng kháng chiến: Mặc dù lâu dài, gian khổ, khó khăn, song nhất định thắng lợi
Quá trình Đảng ta bổ sung, phát triển, hoàn chỉnh đường lối được cụ thể hóa tại Đại hội toàn quốc lần thứ II (2/1951)
Đến đầu năm 1951, tình hình thế giới và cách mạng Đông Dương có nhiều chuyển biến mới Nước ta đã được các nước xã hội chủ nghĩa công nhận và đặt quan hệ ngoại giao Cuộc kháng chiến của nhân dân ba nước Đông Dương đã dành được những thắng lợi quan trọng Song lợi dụng tình thế khó khăn của thực dân Pháp, đế quổc Mỹ đã can thiệp trực tiếp vào cuộc chiến tranh Đông Dương Điều kiện lịch sử đó đặt ra yêu cầu bổ sung và hoàn chỉnh đường lối cách mạng, đưa cuộc chiến tranh đến thắng lợi
Đáp ứng yêu cầu đó, tháng 2-1951, Đảng Cộng sản Đông Dương đã họp Đại hội đại biểu lần thứ II tại tỉnh Tuyên Quang Đại hội đã nhất trí tán thành Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương do Chủ tịch Hồ Chí Minh trình bày và ra Nghị quyết chia tách Đảng Cộng sản Đông Dương thành ba Đảng cánh mạng để lãnh đạo cuộc kháng chiến của ba dân tộc thắng lợi Ở Việt Nam, Đảng ra hoạt động công khai lấy tên là Đảng Lao động Việt Nam
Báo cáo Hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển dân chủ nhân dân, tiến tới chủ nghĩa xã hội do Tổng Bí thư Trường Chinh trình bày tại Đại hội của Đảng Lao động Việt Nam đã kể thừa
và phát triển đường lối cách mạng trong các cương lĩnh chính trị trước đây của Đảng thành đường lối cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Đường lối đó được phản ánh trong Chính cương của Đảng Lao động Việt Nam Nội dung cơ bản là:
Tính chất xã hội: "Xã hội Việt Nam hiện nay gồm có ba tính chất: dân chủ nhân dân, một phần thuộc địa và nửa phong kiến Ba tính chất đó đang đấu tranh lẫn nhau Nhưng mâu thuẫn chủ yếu lúc này là mâu thuẫn giữa tính chất dân chủ nhân dân và tính chất thuộc địa Mâu thuẫn đó đang được giải quyết trong quá trình kháng chiến của dân Việt Nam chống thực dân pháp và bọn can thiệp"
Đối tượng cách mạng: Cách mạng Việt Nam có hai đối tượng: đối tượng chính hiện nay là chủ nghĩa đế quốc xâm lược, cụ thể lúc này là đế quốc Pháp và bọn can thiệp Mỹ; đối tượng phụ hiện nay là phong kiến, cụ thể lúc này là phong kiến phản động
Nhiệm vụ cách mạng: "Nhiệm vụ cơ bản hiện nay của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn đế quốc xâm lược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc, xóa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân đân, gây cơ
sở cho chủ nghĩa xã hội
Ba nhiệm vụ đó khăng khít với nhau Song nhiệm vụ chính trước mắt là hoàn thành giải phóng dân tộc Cho nên lúc này phải tập trung lực lượng vào việc kháng chiến để quyết thắng quân xâm lược”
Trang 13Động lực của cách mạng: Gồm "công nhân, nông dân, tiểu tư sản thành thị, tiểu tư sản trí thức và tư sản dân tộc; ngoài ra là những thân sĩ (địa chủ) yêu nước và tiến bộ Những giai cấp tầng lớp và phần tử đó hợp thành nhân dân Nền tảng của nhân dân là công, nông và lao động tri thức"
Đặc điểm cách mạng: "giải quyết những nhiệm vụ cơ bản nói trên do nhân dân làm động lực, công nông và lao động trí thức làm nền tảng và giai cấp công nhân lãnh đạo, cách mạng Việt Nam hiện nay là một cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Cách mạng đó không phải là cách mạng dân chủ tư sản lối cũ mà cũng không phải là cách mạng xã hội chủ nghĩa mà là một thứ cách mạng dân chủ tư sản đổi mới tiến triển thành cách mạng xã hội chủ nghĩa"
Triển vọng của cách mạng; "Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân Việt Nam nhất định sẽ đưa Việt Nam tiến tới chủ nghĩa xã hội"
Con đường đi lên chủ nghĩa xã hội: "Đó là một con đường đấu tranh lâu dài, đại thể trải qua ba giai đoạn: giai đoạn thứ nhất, nhiệm vụ chủ yếu là hoàn thành giải phóng dân tộc; giai đoạn thứ hai, nhiệm vụ chủ yếu là xỏa bỏ những di tích phong kiến và nửa phong kiến, thực hiện triệt
để người cày có ruộng, phát triển kỹ nghệ, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân; giai đoạn thứ ba, nhiệm vụ chủ yếu là xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xã hội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội Ba giai đoạn ấy không tách rời nhau, mà mật thiết liên hệ xen kẽ với nhau"
Giai cấp lãnh đạo và mục tiêu của Đảng: "Người lãnh đạo cách mạng là giai cấp công nhân "Đảng Lao động Việt Nam là Đảng của giai cấp công nhân và nhân dân lao động Việt Nam Mục đích của Đảng là phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chế độ xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam,
để thực hiện tự do, hạnh phúc cho giai cấp công nhân, nhân dân lao động và tất cả các dân tộc đa
số, thiểu số ở Việt Nam"
Chính sách của Đảng: Có 15 chính sách lớn nhằm phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây mầm mống cho chủ nghĩa xã hội và đẩy mạnh kháng chiến đến thắng lợi
Quan hệ quốc tế: Việt Nam đứng về phe hòa bình và dân chủ, phải tranh thủ sự giúp đỡ của các nước xã hội chủ nghĩa và nhân dân thế giới, của Trung Quốc, Liên Xô; thực hiện đoàn kết Việt - Trung - Xô và đoàn kết Việt - Miên - Lào
Đường lối, chính sách của Đại hội đã được bổ sung, phát triển qua các hội nghị Trung ương tiếp theo
Tại Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (tháng 3-1951), Đảng đã phân tích tình hình quốc tế
và trong nước, nhấn mạnh chủ trương phải tăng cường hơn nữa công tác chỉ đạo chiến tranh, "củng
cố và gia cường quân đội chủ lực, củng cố bộ đội địa phương và dân quân du kích"; "gia cường việc lãnh đạo kinh tế tài chính", "thực hiện việc khuyến khích, giúp đỡ tư sản dân tộc kinh doanh
và gọi vốn của tư nhân để phát triển công thương nghiệp", "Tích cực tham gia phong trào bảo vệ hòa bình thế giới", "Củng cố Đảng về tư tưởng, chính trị và tổ chức"
Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ hai (họp từ ngày 27-9 đến ngày 5-10-1951) đã nêu lên chủ trương đẩy mạnh cuộc kháng chiến trên cơ sở thực hiện tốt ba nhiệm vụ lớn là "ra sức tiêu diệt sinh lực của địch, tiến tới giành ưu thế quân sự"; "ra sức phá âm mưu thâm độc của địch: lấy chiến tranh nuôi chiến tranh, dùng người Việt đánh người Việt", đẩy mạnh kháng chiến ở vùng tạm bị chiếm; "củng cố và phát triển sức kháng chiến của toàn quốc, toàn dân, củng cố và phát triển đoàn kết"
Trang 14Tại Hội nghị Trung ương lần thứ tư (tháng 1-1953), vấn đề cách mạng ruộng đất được Đảng tập trung nghiên cứu, kiểm điểm và đề ra chủ trương thực hiện triệt để giảm tô, chuẩn bị tiến tới cải cách ruộng đất Hội nghị cho rằng: muốn kháng chiến hoàn toàn thắng lợi, dân chủ nhân dân thật thà thực hiện, thì phải thiết thực nâng cao quyền lợi kinh tế và chính trị của nông dân, phải chia ruộng đất cho nông dân
Đến Hội nghị Trung ương lần thứ năm (tháng 11- 1953), Đảng quyết định phát động quần chúng triệt để giảm tô và tiến hành cải cách ruộng đất trong kháng chiến "Cải cách ruộng đất để đảm bảo cho kháng chiến thắng lợi" "Cải cách ruộng đất là chính sách chung của cả nước, nhưng phải làm từng bước tùy điều kiện mà nơi thì làm trước nơi thì làm sau" Hội nghị cũng khẳng định:
"Cải cách ruộng đất là một cuộc cách mạng nông dân, một cuộc giai cấp đấu tranh ở nông thôn, rất rộng lớn, gay go và phức tạp Cho nên chuẩn bị phải thật đầy đủ, kế hoạch phải thật rõ ràng, lãnh đạo phải thật chặt chẽ
Đường lối hoàn thành giải phóng dân tộc, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, tiến lên chủ nghĩa xã hội của Đảng được thực hiện trên thực tế trong giai đoạn 1951-1954
3 Giai đoạn 1954 – 1975 Đường lối kháng chiến chống Mỹ cứu nước:
a Âm mưu của Đế quốc Mỹ và tay sai
Đế quốc Mỹ có tiềm lực kinh tế, quân sự hùng mạnh, âm mưu làm bá chủ thế giới với các chiến lược toàn cầu phản cách mạng Mỹ tìm mọi cách mở rộng phạm vi ảnh hưởng, bao vây chống phá CNXH
Mỹ không ký vào tuyên bố cuối cùng của hiệp định Giơnevo, tìm mọi cách thay thế TDP
ở miền Nam
Đưa Ngô Đình Nhiệm lên làm thủ tướng chính phủ bù nhìn
Mỹ đã gạt bỏ Pháp bằng quyết định NSC 5429/2: trực tiếp viện trợ cho Ngụy quyền SG; loại bỏ Bảo Đại
Mỹ từng bước biến Miền Nam thành căn cứ quân sự và thuộc địa kiểu mới ở Đông Nam
Á
b Đường lối của cách mạng Miền Nam
Đường lối của CMMN qua 21 năm được thực hiện qua rất nhiều hội nghị TW và đại hội lần thứ III của Đảng, cụ thể:
Hội nghị lần thứ sáu BCHTW khóa II (7/1954) đã xác định: đế quốc Mỹ là kẻ thủ chính của nhân dân thế giới và hiện đang trở thành kẻ thù chính trực tiếp của nhân dân Đông Dương Như vậy, Đảng ta đã sớm xác định được: kẻ thù của cách mạng Việt Nam
9-1954 BCT ra Nghị quyết về tình hình mới, nhiệm vụ mới và chính sách mới của Đảng Nghị quyết đã chỉ ra những đặc điểm chủ yếu của tình hình trong lúc cách mạng Việt Nam bước vào một giai đoạn mới là: từ chiến tranh chuyển sang hoà bình; nước nhà tạm chia làm hai miền;
từ nông thôn chuyển vào thành thị; từ phân tán chuyển đến tập trung
Tại Hội nghị lần thứ bảy (tháng 3-1955) và lần thứ tám (tháng 8-1955) Trung ương Đảng nhận định: muốn chống đế quốc Mỹ và tay sai, củng cố hoà bình, thực hiện thống nhất, hoàn thành độc lập và dân chủ, điều cốt lõi là phải ra sức củng cố miền Bắc, đồng thời giữ vững và đẩy mạnh cuộc dấu tranh của nhân dân miền Nam
Trang 15Đề cương của CMMN do đồng chí Lê Duẩn soạn thảo (6/1956) khẳng định: “Nhiệm vụ của cách mạng miền Nam là trực tiếp đánh đổ chính quyền độc tài, phát xít Ngô Đình Diệm, tay sai của Mỹ, giải phóng nhân dân miền Nam khỏi ách đế quốc, phong kiến, thiết lập ở miền Nam một chính quyền liên hiệp có tính chất dân tộc, dân chủ để cùng với miền Bắc thực hiện một nước Việt Nam hòa bình, thống nhất, độc lập và dân chủ nhân dân”
Đặc biệt, tháng 12-1957, tại Hội nghị Trung ương lần thứ 13, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định: ta đang đồng thời tiến hành hai chiến lược cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa Nhiệm vụ củng cố miền Bắc tiến dần lên chủ nghĩa xã hội có tính chất quyết định cho toàn bộ thắng lợi cách mạng trong giai đoạn mới Lực lượng cách mạng ở miền Nam được duy trì và phát triển là nhân tố trực tiếp quyết định thắng lợi của cuộc đấu tranh cách mạng của miền Nam
Từ năm 1954 đến năm 1959, Mỹ - Diệm trắng trợn vi phạm Hiệp định Giownevơ tiến hành tổng tuyển cử riêng rẽ khủng bố, đàn áp dã man phong trào yêu nước của nhân dân miền Nam Tình hình đó đặt cách mạng miền Nam vào tình trạng hết sức cấp bách Chính vì vậy, tháng 11959, Ban Chấp hành Trung ương đã triệu tập Hội nghị lần thứ 15 khoá II Hội nghị họp nhiều đợt, ra Nghị quyết về nhiệm vụ cách mạng ở miền Nam Những nội dung cơ bản của Nghị quyết gồm:
• Hội nghị xác định cách mạng Việt Nam lúc này có hai nhiệm vụ chiến lược cách mạng
xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam Hai nhiệm vụ chiến lược đó tuy có tính chất khác nhau, nhưng có quan hệ hữu cơ với nhau, song song tiến hành
• Nghị quyết chỉ rõ nhiệm vụ cơ bản của cách mạng Việt Nam ở miền Nam là: "giải phóng miền Nam khỏi ách thống trị của đế quốc và phong kiến, thực hiện độc lập dân tộc vaà người cày có ruộng, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập và giàu mạnh"'
• Phương hướng phát triển của cách mạng miền Nam: "ngoài con đường cách mạng, nhân dân miền Nam không có con đường nào khác", cho nên con đường phát triển cơ bản của cách mạng miền Nam là "khởi nghĩa giành chính quyền về tay nhân dân đó là lấy sức mạnh của quần chúng, dựa vào lực lượng chính trị của quần chúng là chủ yếu, kết hơp với lực lượng vũ trang để đánh đổ quyền thống trị của đế quốc và phong kiến, dựng lên chính quyền cách mạng của nhân dân"'
• Hội nghị dự kiến: "cuộc khởi nghĩa của nhân dân miền Nam cũng có khả năng chuyển thành cuộc đấu tranh vũ trang trường kỳ Trong tình hình đó, cuộc đấu tranh sẽ chuyển sang một cục diện mới: đó là chiến tranh trường kỳ giữa ta và địch, và thắng lợi cuối cùng nhất định về ta"
• Nghị quyết chỉ rõ ở miền Nam cần có Mặt trận dân tộc thống nhất riêng cho phù hợp với tính chất và nhiệm vụ của cách mạng
Nghị quyết Hội nghị lần thứ 15 có ý nghĩa lịch sử to lớn, không những đã mở đường cho cách mạng miền Nam tiến lên, mà còn thể hiện rõ bán lĩnh độc lập, tự chủ, sáng tạo của Đảng ta trong những năm tháng khó khăn của cách mạng Có thể nói, đến Hội nghị 15, đường lối cách
Trang 16mạng ở miền Nam đã được hoạch định một cách căn bản Sau đó, đến Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (từ ngày 5 đến ngày 10-9-1960), Đảng ta đã khẳng định những nội dung căn bản đó Đại hội đã bổ sung và hoàn chỉnh đường lối chiến lược chung của cách mạng Việt Nam Trong đó, Đại hội đã vạch ra nhiệm vụ chung, nhiệm vụ chiến lược, mục tiêu chiến lược của cách mạng, đồng thời nêu bật mối quan hệ giữa hai chiến lược cách mạng ở hai miền ĐH đề ra nhiệm
vụ chiến lược cho cách mạng cả nước và từng miền: Miền Bắc: cách mạng XHCN có vai trò quyết định nhất Miền Nam: Cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân có vai trò quyết định trực tiếp Cách mạng hai miền có quan hệ mật thiết, gắn bó nhau nhằm hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước, thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà
Quá trình Đảng bổ sung, phát triển đường lối
Hội nghị của BCT 1961, 1962: Giữ vững và phát triển thế tiến công mà ta đã giành được sau cuộc "đồng khởi" năm 1960, đưa cách mạng miền Nam từ khởi nghĩa từng phần phát triển thành chiến tranh cách mạng trên quy mô toàn miền
Kết hợp khởi nghĩa của quần chúng với chiến tranh cách mạng, giữ vững và đẩy mạnh đấu tranh chính trị, đồng thời phát triển đấu tranh vũ trang nhanh lên một bước mới, ngang tầm với đấu tranh chính trị
Thực hành kết hợp đấu tranh quân sự và đấu tranh chính trị song song, đẩy mạnh đánh địch bằng ba mũi giáp công, ba vùng chiến lược
Hội nghị TW lần 9 (11/1963): Hướng hoạt động đối ngoại vào việc kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại để đánh Mỹ và thắng Mỹ Kết hợp đấu tranh chính trị, đấu tranh vũ trang
đi đôi, cả hai đều có vai trò quyết định cơ bản, đồng thời nhấn mạnh yêu cầu mới của đấu tranh
+ Về phía ta, từ một nửa nước có chiến tranh thành cả nước có chiến tranh với mức độ và hình thức khác nhau Cuộc chiến đấu gay go, quyết liệt nhưng ta đã vững mạnh hơn hẳn trước, đã
có chuẩn bị về tư tưởng và tổ chức
Từ đó, Đảng rút ra kết luận: Một là, so sánh lực lượng giữa ta và địch căn bản không thay đổi Vì thế, ta cần giũ vững và phát huy chiến lược tiến công Hai là, tiếp tục tiến công và phản công, kết hợp đấu tranh quân sự và chính trị nhưng đấu tranh quân sự ngày càng có tác dụng quyết định trực tiếp Ba là, chủ trương đẩy mạnh hơn nữa hoạt động đối ngoại và đấu tranh ngoại giao, tăng cường tiếp xúc cả công khai và bí mật với nhiều nước trên thế giới, làm rõ chính nghĩa và thiện chí của ta
Hội nghị lần thứ 13 (1/1967) quyết định mở mặt trận ngoại giao tranh thủ sự ủng hộ của quốc tế, phát huy sức mạnh tổng hợp để đánh Mỹ Đây là điều kiện để chúng ta chuẩn bị cho cuộc đàm phán ở hội nghị Pari
Nghị quyết hội nghị lần thứ 14 (1/1968): “anh dũng tiến lên, thực hiện tổng công kích và tổng khởi nghĩa giàng thắng lợi quyết định cho sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước”
Trang 17Hội nghị lần thứ 18 (1/1970) đề ra nhiệm vụ trước mắt là đẩy mạnh cuộc kháng chiến trên tất cả các mặt, vừa tấn công, vừa xây dựng lực lượng, giành thắng lợi từng bước đi lên giành thắng lợi quyết định
Hội nghị đã phân tích những thắng lợi của nhân dân hai miền Nam, Bắc, chỉ ra thất bại to lớn của địch và đánh giá: “Qua hai năm, từ khi chuyển sang giai đoạn mới, ta đã giành được những thắng lợi về chiến lược to lớn, toàn diện, chưa từng có, gây cho địch những thất bại nặng nề về mọi mặt'' Thắng lợi của cách mạng hai miền đã buộc địch phải bị động, xuống thang ở miền Bắc,
từ thực hiện ném bom hạn chế (tháng 3-1968), đi đến phải chấm dứt không điều kiện cuộc chiến tranh phá hoại (tháng 11-1968) Hội nghị xác định nhiệm vụ trước mắt của cách mạng là: kiên trì
và đẩy mạnh cuộc kháng chiến, tiếp tục phát triển chiến lược tiến công một cách toàn diện, liên tục và mạnh mẽ, đẩy mạnh tiến công quân sự và chính trị, kết hợp với tiến công ngoại giao, vừa tiến công địch vừa ra sức xây dựng lực lượng quân sự và chính trị của ta ngày càng lớn mạnh; đánh bại âm mưu “Việt Nam hoá chiến tranh” của đế quốc Mỹ; tạo điều kiện cơ bản để thực hiện một miền Nam độc lập, dân chủ, hoà bình, trung lập, tiến tới thống nhất đất nước Hội nghị đã vạch ra các phương châm chiến lược trong giai đoạn mới của cách mạng: 1- Đẩy mạnh tiến công toàn diện về quân sự, chính trị, ngoại giao; kết hợp tiến công quân sự và nổi dậy của quần chúng; kết hợp việc tiêu diệt địch với việc giành lấy và giữ vững quyền làm chủ của nhân dân 2- Vận dụng đúng đắn phương châm tiến công địch trên cả ba vùng chiến lược 3- Vận dụng đúng đắn phương châm chiến lược đánh lâu dài, trên cơ sở đó tranh thủ giành thắng lợi quyết định trong thời gian tương đối ngắn Về mặt tác chiến, phải thực hiện cho kỳ được một chuyển biến mạnh
mẽ trong phong trào chiến tranh du kích ở địa phương Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đặc biệt là ở vùng thành thị, đẩy mạnh đấu tranh quân sự và nổi dậy của quần chúng ở nông thôn, mở rộng vùng giải phóng Hội nghị nhấn mạnh để cách mạng miền Nam tiến công thắng lợi, nhiệm
vụ của miền Bắc trước tình hình mới là: tiếp tục đưa sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa xã hội tiến lên; ra sức tăng thêm tiềm lực kinh tế và quốc phòng, củng cố hậu phương vững mạnh; có kế hoạch làm tròn nghĩa vụ thiêng liêng của hậu phương lớn đối với tiền tuyến lớn; luôn luôn sẵn sàng chiến đấu và chiến đấu tốt, đánh bại mọi âm mưu khiêu khích vũ trang hoặc mở rộng chiến tranh xâm lược của đế quốc Mỹ và tay sai Hội nghị kết luận: Cuộc chiến tranh đang ở bước quyết định của giai đoạn cuối, vấn đề tăng cường hơn nữa sự lãnh đạo chiến tranh của Đảng các cấp có một ý nghĩa hết sức quan trọng
Hội nghị lần thứ 21 (7/1973): Hội nghị đã tổng kết 18 năm chiến đấu của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước và đề ra nhiệm vụ của cách mạng miền Nam trong giai đoạn mới Đó là sự tổng kết có giá trị sâu sắc cả về lý luận và thực tiễn, làm cơ sở cho những quyết sách trong giai đoạn mới
Hội nghị nhận định đế quốc Mỹ vẫn thực hiện "học thuyết Níchxơn", áp đặt chủ nghĩa thực dân mới ở miền Nam, chia cắt lâu dài đất nước ta, từ đó khẳng định dù tình hình phát triển như thế nào, con đường cách mạng miền Nam vẫn là con đường bạo lực Vì vậy, phải nắm vững thời
cơ giữ vững thế chiến lược tiến công và chỉ dạo linh hoạt để đưa cách mạng tiến lên
Hội nghị Trung ương lần thứ 21 cũng dự kiến hai khả năng phát triển của cách mạng miền Nam, tuy nhiên Trung ương Đảng cũng cho rằng: Dù tình hình phát triển theo khả năng nào, con đường tiến lên giành thắng lợi của cách mạng miền Nam chỉ có thể là con đường bạo lực diễn ra