Câu 1. Hai thuộc tính của hàng hoá, liên hệ hàng hoá sản xuất ở Việt Nam Câu 2: Quy luật giá trị và ý nghĩa của quy luật giá trị trong phát triển kinh tế thị trường ở Việt Nam Câu 3. Mâu thuẫn công thức chung của tư bản và lý luận hàng hoá sức lao động Câu 4. Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, so sánh và rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu. Câu 5. Thực chất của tích luỹ tư bản, quan hệ giữa tích luỹ, tích tụ, tập trung tư bản. Câu 6. Chủ nghĩa tư bản độc quyền nhà nước và xu hướng vận động của chủ nghĩa tư bản hiện nay. Câu 7. Tất yếu khách quan của thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội bỏ qua chế độ tư bản chủ nghĩa ở Việt Nam. Câu 8. Những nội dung cơ bản về vấn đề thành phần kinh tế trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở Việt Nam
Trang 11
Câu 1 Hai thuộc tính của hàng hoá, liên hệ hàng hoá sản xuất ở Việt Nam
1.1 Hai thuộc tính của hàng hóa
Hàng hoá là sản phẩm của lao động nhằm thoả mãn nhu cầu con người thông qua trao đổi, mua bán Hàng hoá gồm có hàng hoá hữu hình (tồn tại dưới dạng vật thể ví dụ lương thực, quần áo…) và hàng hoá vô hình (tồn tại dưới dạng phi vật thể ví dụ dịch vụ)
Hàng hóa có hai thuộc tính đó là giá trị sử dụng và giá trị Giá trị sử dụng của hàng hoá
là công dụng hay tính có ích của hàng hoá, nó thoả mãn nhu cầu nào đó của con người Mỗi hàng hóa luôn có một hoặc một số công dụng nhất định Ví dụ gạo có giá trị sử dụng nuôi sống con người; Vải có giá trị sử dụng là để làm ấm, để thẩm mỹ hoặc để làm rèm che Giá trị sử dụng của hàng hóa có ba đặc điểm đó là:
(1) Giá trị sử dụng do thuộc tính tự nhiên của vật (tính chất lý, hoá, sinh…) quy định
Do đó giá trị sử dụng của hàng hóa là một phạm trù vĩnh viễn Ví dụ dùng đồng làm dây điện
vì thuộc tính tự nhiên của đồng là có tính dẫn điện cao Nhựa làm vỏ dây điện vì thuộc tính tự nhiên của nó là cách nhiệt, cách điện Hoặc cùng là chất lỏng nhưng chỉ có nước là được dùng
để giải khát so với dầu hỏa, hoặc acid Và việc sử dụng nước để giải khát là một phạm trù vĩnh viễn, trong quá khứ, hiện tại hoặc tương lai đều vậy
(2) Khoa học - kỹ thuật càng phát triển công dụng của vật phẩm ngày càng được phát hiện nhiều hơn Ví dụ đầu tiên được dùng làm trang sức, rồi sau đó dùng làm tiền tệ bởi vì
sự quý hiếm và một số đặc tính khác của nó Khi KHKT phát triển thì vàng còn được làm vi mạch do trong các sản phẩm công nghệ cao do đặc tính dẫn điện tốt của vàng mà con người phát hiện ra
(3) Giá trị sử dụng của hàng hoá là giá trị sử dụng cho người khác, cho xã hội thông qua con đường trao đổi, mua bán (sản xuất cái gì, sản xuất bao nhiêu, sản xuất như thế nào…
do thị trường quyết định) Ví dụ cũng là chiếc điện thoại để nghe gọi nhưng có cái giá vài trăm nghìn có cái giá vài trăm triệu, mục đích là để phục vụ cho nhu cầu của những tầng lớp người khác nhau
Về giá trị của hàng hoá, để nhận thức được giá trị của hàng hoá chúng ta phải thông qua giá trị trao đổi của hàng hoá Giá trị trao đổi của hàng hoá là quan hệ về lượng, là tỷ lệ trao đổi lẫn nhau giữa những hàng hoá có giá trị sử dụng khác nhau Ví dụ 1m vải đổi lấy 30kg thóc Hai hàng hoá khác nhau (vải và thóc) muốn trao đổi được với nhau thì giữa chúng phải có cơ
sở chung giống nhau Cái chung đó không thể là thuộc tính tự nhiên, không thể là giá trị sử dụng, mà cái chung đó là do chúng đều là sản phẩm của lao động Nhờ cái chung đó mà tất cả các hàng hoá trao đổi được với nhau Thực chất của trao đổi hàng hoá cho nhau là trao đổi lao động ẩn giấu trong các hàng hoá đó Chất của giá trị là lao động, vì vậy sản phẩm nào không
có lao động của người sản xuất chứa đựng trong đó, thì nó không có giá trị Sản phẩm nào lao động hao phí để sản xuất ra chúng càng nhiều thì giá trị càng cao
Đặc điểm của giá trị: (1) Giá trị của hàng hoá là lao động trừu tượng (xã hội) của người sản xuất hàng hoá kết tinh trong hàng hoá đó (2) Giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện bên ngoài của giá trị, giá trị là nội dung bên trong của giá trị trao đổi (3) Giá trị của hàng hoá là một phạm trù lịch sử, thể hiện mối quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hoá
Giữa hai thuộc tính của hàng hóa có mối quan hệ biện chứng với nhau, giá trị sử dụng
và giá trị vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn với nhau Chúng thống nhất với nhau được thể hiện
Trang 22
bởi giá trị sử dụng và giá trị là hai mặt đối lập tồn tại thống nhất trong một hàng hoá, nếu thiếu một trong hai thuộc tính thì sản phẩm không thể trở thành hàng hoá Ví dụ ánh nắng, hoặc không khí không phải là hàng hóa mặc dù sự sống sẽ không có nếu không có chúng Giá trị sử dụng chúng là cực kỳ to lớn nhưng chúng lại thiếu đi thuộc tính giá trị
Tuy nhiên giữa chúng cũng có sự mâu thuẫn Xét về mặt giá trị sử dụng, hàng hoá không đồng nhất về chất, còn xét về mặt giá trị hàng hoá đồng nhất về chất Mâu thuẫn trong quá trình thực hiện, quá trình thực hiện giá trị sử dụng và giá trị khác nhau cả về không gian và thời gian (về mặt thời gian thì giá trị luôn được thực hiện trước giá trị sử dụng Ví dụ mua một món hàng thì chúng ta trả tiền cho nó trước khi chúng ta sử dụng nó Về mặt không gian thì giá trị được thực hiện ở thị trường còn giá trị sử dụng được thực hiện ở khía cạnh tiêu dùng) Mối quan tâm giữa người bán và người mua không giống nhau, mục đích của người sản xuất là giá trị hàng hoá, mục đích của người mua là giá trị sử dụng của hàng hoá
Người mua hàng không quan tâm tới giá trị của hàng hoá, nhưng để có được giá trị sử dụng của hàng hoá, trước hết phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó Người sản xuất không quan tâm tới giá trị sử dụng của hàng hoá, nhưng để thu được giá trị của hàng hoá, trước hết họ phải tạo ra giá trị sử dụng cho hàng hoá
Sở dĩ hàng hóa có 2 thuộc tính như vậy vì lao động sản xuất có tính chất 2 mặt, lao động
cụ thể và lao động trừu tượng Lao động cụ thể là lao động có ích dưới 1 hình thức cụ thể của những nghề nghiệp chuyên môn nhất định Mỗi lao động cụ thể có mục đích, phương pháp, công cụ lao động, đối tượng lao động và kết quả lao động riêng Do đó, lao động cụ thể tạo ra giá trị sử dụng của hàng hóa Nếu phân công lao động xã hội càng phát triển thì càng có nhiều giá trị sử dụng khác nhau để đáp ứng nhu cầu xã hội Lao động trừu tượng là sự tiêu hao sức lao động (tiêu hao sức bắp thịt, thần kinh) của người sản xuất hàng hóa tạo ra giá trị của hàng hóa Ta có thể nói, giá trị của hàng hóa là lao động trừu tượng kết tinh trong hàng hóa Đây chính là mặt chất của giá trị hàng hóa
Giữa hai thuộc tính của hàng hóa luôn có mối quan hệ ràng buộc lẫn nhau Trong đó, giá trị là nội dung, là cơ sở của giá trị trao đổi còn giá trị trao đổi là hình thức biểu hiện của giá trị
ra bên ngoài Khi trao đổi sản phẩm cho nhau, những người sản xuất ngầm so sánh lao động ẩn giấu trong hàng hoá với nhau Thực chất của quan hệ trao đổi là người ta trao đổi lượng lao động hao phí của mình chứa đựng trong các hàng hoá Vì vậy, giá trị là biểu hiện quan hệ xã hội giữa những người sản xuất hàng hoá Giá trị là một phạm trù lịch sử, gắn liền với nền sản xuất hàng hoá Nếu giá trị sử dụng là thuộc tính tự nhiên thì giá trị là thuộc tính xã hội của hàng hoá
Như vậy, hàng hoá là sự thống nhất của hai thuộc tính giá trị sử dụng và giá trị, nhưng
là sự thống nhất của hai mặt đối lập Đối với người sản xuất hàng hoá, họ tạo ra giá trị sử dụng, nhưng mục đích của họ không phải là giá trị sử dụng mà là giá trị, họ quan tâm đến giá trị sử dụng là để đạt được mục đích giá trị mà thôi Ngược lại, đối với người mua, cái mà họ quan tâm là giá trị sử dụng để thoả mãn nhu cầu tiêu dùng của mình Nhưng, muốn có giá trị sử dụng thì phải trả giá trị cho người sản xuất ra nó Như vậy, trước khi thực hiện giá trị sử dụng phải thực hiện giá trị của nó Nếu không thực hiện được giá trị, sẽ không thực hiện được giá trị sử dụng
Trang 33
Ý nghĩa khi nghiên cứu hai thuộc tính của hàng hóa: Quá trình tìm hiểu và nghiên cứu thuộc tính của hàng hóa giúp cho nhà sản xuất tiếp cận được với thị trường, nhu cầu và thị hiếu của khách hàng, đề ra chiến lược sản xuất kinh doanh hợp lý, kéo dài chu kỳ sống của sản phẩm, đưa ra thị trường những hàng hóa người tiêu dùng cần chứ không phải đưa ra thị trường cái mà mình có Nghiên cứu hai thuộc tính của hàng hóa giúp đẩy mạnh phân công lao động, giúp phát triển nền kinh tế hàng hóa ở Việt Nam Đồng thời nghiên cứu hai thuộc tính, giúp hiểu được ý nghĩa và tôn trọng cả hai thuộc tính, từ đó luôn tìm cách để nâng cao chất lượng, hạ giá thành, tăng sự cạnh tranh của nền kinh tế hàng hóa
1.2 Liên hệ hàng hoá sản xuất ở Việt Nam
Hàng hóa được sản xuất ở nước ta hiện nay số lượng nhiều, mẫu mã được cải tiến, chủng loại đa dạng, chất lượng ngày càng được nâng cao, giá cả phù hợp với khả năng thanh toán của người tiêu dùng trong nước cũng như xuất khẩu ra nước ngoài Tuy nhiên, so sánh với hàng hóa cùng chủng loại của các nước khác, thì hàng hóa của Việt Nam còn ít về số lượng, chủng loại cũng như mẫu mã, chất lượng thấp nhưng giá lại cao do hao phí lao động của nước ta cao hơn
so với các nước khác, không đáp ứng cho nhu cầu XH Nguyên nhân chủ yếu là do trình độ khoa học kỹ thuật còn hạn chế, nhà sản xuất còn chưa quan tâm đến việc giảm giá thành sản phẩm Trình độ, năng lực của người lao động còn thấp Mẫu mã, chủng loại còn hạn chế
Giải pháp: Trong xu thế toàn cầu hóa, hội nhập kinh tế quốc tế ở nước ta hiện nay, để tăng khả năng cạnh tranh bình đẳng trong môi trường tự do hóa thương mại thế giới thì đòi hỏi nhà nước cần đẩy mạnh CNH-HĐH với mục tiêu cải tiến năng suất áp dụng tiến bộ khoa học nhằm giảm hao phí lao động, giúp giảm giá trị sản phẩm để giảm giá cả, tăng cạnh tranh Phải vận dụng hai thuộc tính hàng hóa bằng các qui định về kinh tế, qui định nhà sản xuất sao cho phù hợp trên cơ sở khoa học nhằm thực hiện có hiệu quả những mục tiêu kinh tế xã hội đã đề
ra ở Đại hội XI của Đảng: Phấn đấu đến năm 2020, nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại Bên cạnh đó các nhà sản xuất phải chủ động, sáng tạo nhạy bén trong tổ chức quản lý, áp dụng khoa học kỹ thuật, đổi mới sản xuất, nâng cao năng suất lao động, tạo ra sản phẩm có chất lượng tốt, đẹp hơn, giá cả ổn định, có thể hạ giá thành để giành ưu thế trên thị trường Đẩy mạnh phân công lao động để phát triển kinh tế hàng hóa, đáp ứng nhu cầu đa dạng và phong phú của xã hội Phải coi trọng hai thuộc tính của hàng hóa để không ngừng cải tiến mẫu mã, tạo ra hàng hóa phong phú đa dạng cả về số lượng, chất lượng để đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng trong nước và xuất khẩu
Ví dụ đối với hàng hóa là dầu gội đầu Hương Bưởi Thorakao của Việt Nam, là một dầu gội dầu tốt, có chất lượng đảm bảo, nhưng do nhiều yếu tố tác động như: trình độ khoa học kỹ thuật còn hạn chế nên số lượng sản phẩm tạo ra còn thấp, chất lượng chưa được nâng cao, chủng loại còn ít, nên hao phí lao động tạo ra cao, giá thành cao nên cạnh tranh còn thấp so với hàng hóa về dầu gội đầu của các thương hiệu khác
2 Liên hệ
a) Khái quát: Nước ta là 1 nước có nền kinh tế thị trường định hướng XHCN nhiều thành phần, sản xuất đa dạng các loại hàng hóa nhằm đáp ứng nhu cầu trong nước và trao đổi, mua bán trên thế giới Do đó, sản xuất hàng hóa ở nước ta đặc biệt là nền kinh tế hàng hóa hiện nay phải luôn đảm bảo 2 thuộc tính giá trị sử dụng và gia tri b) Thực trang (ưu-nhược điểm) Đặc điểm:
Trang 44
Nền kinh tế nước ta mang nặng tính tự cấp tự túc, ảnh hưởng của cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
Công cụ lao động lạc hậu, nhiều lao động thủ công trinh độ cơ sở vật chất lạc hậu➔ chất lượng sản phẩm kém ➔không có khả năng cạnh tranh
Hầu như không có đội ngũ nhà doanh nghiệp có tầm cỡ
Nền kinh tế hàng hóa nước ta chịu tác động của sự thay đổi cơ cấu ngành theo hướng nền kinh tế dịch vụ phát triển nhanh chóng
Nền kinh tế hàng hoá phát triển với chiến lược thị trường "hướng ngoại"
Thực trạng hiện nay
• Ưu điểm, Nhược điểm
• Sản lượng hàng xuất khẩu tăng đáng kể
• Thiếu vốn
• Xuất hiện nhiều loại mặt hàng hơn
• Khoa học kỹ thuật chưa phát triển đồng bộ
• Nhiều phương pháp sản xuất với khoa học kỹ thuật mới đã được sử dụng
• Chưa đánh giá đúng được giá trị sử dụng, giá trị hàng hóa nên chưa chú trọng những mặt hàng có lợi
• Nền sản xuất hàng hóa hiện nay đã mang lại đời sống ổn định cho người dân
• Hầu hết giá cả hàng hàng hóa đều do Nhà nước quy định
• Khâu tổ chức và quản lý đã được chú trọng
• Sản xuất theo kiểu lạc hậu, bao cấp
• Được hưởng những ưu đãi từ thuế
• Hàng nội địa thường có chất lượng kém hơn hàng xuất khẩu
• Nền kinh tế nước ta hiện nay đang chứa đựng nhiều yếu tố bất ổn
• Quy mô thị trường hàng hóa bị hạn chế (các tư liệu sản xuất không được coi là hàng hóa)
• Lạm dụng tài nguyên do muốn sản xuất nhiều sản phẩm nên gây ô nhiễm môi trường
• Chủ yếu tồn tại các cơ sở sản xuất nhỏ lẻ, riêng lẻ không có sự liên kết
• 1 số nhà sản xuất chạy theo lợi nhuận gây hậu quả xấu
c) Giải pháp
• Đẩy mạnh hội nhập kinh tế quốc tế
• Đưa ra chính sách thu hút đầu tư nước ngoài
• Xác định rõ mặt hàng trọng yếu có sức cạnh tranh để đầu tư
• Điều chỉnh cơ cấu ngành hợp lý
• Phân công lao động phù hợp
• Xóa bỏ triệt để cơ chế tập trung quan liêu bao cấp
• Kích thích cạnh tranh để cải tiến đổi mới mẫu mã chất lượng
• Phát triển, khai thác tốt giá trị sử dụng của hàng hóa
• Tận dụng hiểu quả các yếu tố về tư liệu sản xuất, điều kiện tự nhiên
• Ứng dụng khoa học kĩ thuật, đầu tư đổi ms công nghệ
Trang 55
• Xây dựng quảng bá cho các sản phẩm mang thương hiệu Việt
• Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực
• Ban hành chính sách định lượng về quản lý giá cả
• Đầu tư cải tiến hàng xuất khẩu cũng như hàng trong nước
• Xây dựng chiến lược sản xuất kỹ càng, đầy đủ
d) Kết luận: Để vực dậy nền sản xuất hàng hóa vốn yếu kem của Việt Nam ta phải luôn coi trọng cả 2 thuộc tính của hàng hóa để từ đó không ngừng cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng,
hạ giá thành Có thể nói nghiên cứu 2 thuộc tính này cũng như mối quan hệ giữa chúng sẽ có đóng góp quan trọng trong phát triển kinh tế hàng hóa nói riêng và trong nền kinh tế thị trường nói chung
Câu 2: Quy luật giá trị và ý nghĩa của quy luật giá trị trong phát triển kinh tế thị trường
ở Việt Nam
2.1 Quy luật giá trị Khái niệm
Quy luật giá trị là quy luật kinh tế căn bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa, ở đâu có sản xuất và trao đổi hàng hóa thì ở đó có sự tồn tại và phát huy tác dụng của quy luật giá trị
Sản xuất hàng hóa là kiểu tổ chức kinh tế mà ở đó sản phẩm được sản xuất ra để trao đổi hoặc mua bán trên thị trường Sản xuất hàng hóa ra đời là một động lực mạnh mẽ thúc đẩy sản xuất phát triển và nâng cao hiệu quả kinh tế của xã hội
Nội dung của quy luật giá trị
Nội dung chính của quy luật giá trị là việc sản xuất và trao đổi hàng hóa phải dựa trên
cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết
Hao phí lao động xã hội cần thiết: Trên thị trường có vô số người bán và vô số người mua Mỗi người có sự hao phí lao động khác nhau nhưng giá trị hàng hóa phản ánh hao phí lao động trung bình của xã hội Hao phí lao động xã hội cần thiết là hao phí lao động để sản xuất
ra hàng hóa trog điều kiện sản xuất bình thường, trình độ lao động bình thường và cường độ lao động trung bình Hao phí lao động xã hội quyết định lượng giá trị và có thể biến đổi tùy theo
sự biến đổi của năng suất lao động
Do đó, sản xuất và trao đổi hàng hóa dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội chính là sản xuất và trao đổi hàng hóa dựa trên cơ sở giá trị hàng hóa Điều đó thể hiện sự trao đổi các hàng hóa ngang nhau về giá trị (giá cả = giá trị) hay nói cách khác đi là trao đổi theo nguyên tắc ngang giá
Nhìn bề ngoài, sản xuất và trao đổi hàng hóa như là việc riêng của từng chủ thể, họ độc lập và hình như không chịu sự chi phối nào Nhưng thực tế, những hoạt động đó đều chịu sự chi phối của quy luật giá trị hay nói cụ thể hơn là quy tắc trao đổi ngang giá Những ai có chi phí thấp hơn so với chi phí mà xã hội thừa nhận thì người đó sẽ tồn tại và phát triển, ngược lại
sẽ thua lỗ và phá sản
Trao đổi ngang giá là trao đổi là trao đổi để bù đắp lại lượng lao động đã tiêu phí để sản xuất ra hàng hóa đúng với thời gian lao động xã hội cần thiết Trao đổi ngang giá là quy tắc trao đổi hàng hóa một cách bình thường, phù hợp với yêu cầu của quy luật giá trị Trao đổi ngang giá phải đảm bảo nguyên tắc thuận mua vừa bán, người bán phải cung ứng cho người mua một giá trị sử dụng phù hợp với nhu cầu người mua và ngược lại người mua phải trả đầy đủ cho
Trang 66
người bán chi phí lao động xã hội cần thiết để sản xuất ra hàng hóa theo giá cả thị trường hiện hành
Như vậy nội dung của quy luật giá trị mang tính khách quan, đảm bảo sự công bằng hợp
lý, bình đẳng giữa người sản xuất và trao đổi hàng hóa
Nội dung quy luật: Đây là quy luật kinh tế cơ bản của sản xuất và trao đổi hàng hóa Sản xuất và trao đổi hàng hoá phải trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết
Quy luật giá trị đòi hỏi việc sản xuất và trao đổi hàng hoá phải dựa trên cơ sở giá trị của
nó tức là hao phí lao động xã hội cần thiết Vì vậy, muốn bán được hàng hoá, bù đắp được chi phí và có lãi thì yêu cầu của quy luật giá trị trong sản xuất là người sản xuất phải điều chỉnh làm cho chi phí lao động cá biệt của mình phù hợp với mức chi phí mà xã hội chấp nhận được Trong trao đổi hàng hoá cũng phải dựa trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết, có nghĩa là trao đổi theo nguyên tắc ngang giá đó là giá cả hàng hoá phải phù hợp với giá trị của nó
Hình thức vận động của quy luật giá trị: Quy luật giá trị hoạt động được thể hiện ở sự lên xuống của giá cả thị trường Giá cả là hình thức biểu hiện bằng tiền của giá trị hàng hóa, là kết quả của sự thỏa thuận giữa người mua và người bán hàng hóa trên thị trường Giá trị là cơ
sở của giá cả Mức giá cả phụ thuộc vào lượng giá trị Hàng hóa nào có nhiều giá trị thì giá cả của nó sẽ cao và ngược lại Tuy nhiên, do giá cả hàng hóa được thực hiện trên thị trường nên ngoài giá trị, giá cả còn phụ thuộc vào các nhân tố khác như: cạnh tranh, cung cầu, sức mua của đồng tiền, tình trạng độc quyền… Sự tác động của các nhân tố này làm cho giá cả hàng hóa trên thị trường tách rời với giá trị và lên xuống xoay quanh trục giá trị của nó, có khi cao hơn hoặc thấp hơn giá trị Sự vận động giá cả thị trường của hàng hóa xoay quanh trục giá trị của nó chính là cơ chế hoạt động của quy luật giá trị Thông qua sự vận động của giá cả thị trường mà quy luật giá trị phát huy tác dụng Trong các nền kinh tế hiện đại, giá cả còn biến động bởi sự can thiệp trực tiếp hay gián tiếp của nhà nước
Các quy luật liên quan đến quy luật giá trị: Quy luật lưu thông tiền tệ; Quy luật cung cầu hàng hóa dịch vụ; Quy luật cạnh tranh Ba quy luật trên thực chất là phát sinh từ quy luật giá trị Chúng có tác dụng bổ sung và tạo ra cơ chế hoạt động cho quy luật giá trị
Nếu sức mua của đồng tiền không đổi, không kể đến sự điều tiết của nhà nước, sự cạnh tranh, độc quyền thì xảy ra ba trường hợp: (1) Khi cung = cầu thì giá cả = giá trị; (2) Khi cung
> cầu thì giá cả < giá trị; (3) Khi cung < cầu thì giá cả > giá trị Sự tách rời của giá cả và giá trị đó là biểu hiện của quy luật giá trị Còn đối với tổng hàng hoá thì tổng giá cả phải ngang bằng tổng giá trị của hàng hoá
2.2 Tác động của quy luật giá trị
a Điều tiết sản xuất và lưu thông hàng hoá: Điều tiết sản xuất là tức là điều hoà, phân
bổ các yếu tố sản xuất giữa các ngành, lĩnh vực của nền kinh tế
Quy luật giá trị giúp điều tiết sản xuất, lưu thông hàng hóa Quy luật giá trị có thể làm cho nguồn lực, nguồn vốn di chuyển từ lĩnh vực này sang lĩnh vực khác Cung < cầu: khi một hàng hóa nào đó mà người sản xuất cung ra thị trường ít hơn so với lượng mà người tiêu dùng muốn mua, trên thị trường sẽ xảy ra tình trạng thiếu hụt Lúc đó, giá cả hàng hóa cao hơn giá trị, hàng hóa thu được nhiều lãi Khi đó người sản xuất sẽ mở rộng quy mô sản xuất đối với mặt hàng này… Cung > cầu: Giá cả nhỏ hơn giá trị, hàng hóa cung ra thị trường không được tiêu thụ hết, ế thừa khiến lợi nhuận giảm Tình hình này buộc người sản xuất phải thu hẹp quy mô
Trang 77
sản xuất mặt hàng này đồng thời chuyển sang sản xuất hàng hóa khác có giá trị hơn Cung = cầu: đây là trạng thái cân bằng của thị trường mà người mua va người bán luôn mong muốn hướng tới Giá cả = giá trị Tuy nhiên đây là trường hợp ngẫu nhiên, rất hiếm khi xảy ra Ví dụ cuối năm 2014 đầu năm 2015, nhiều người nông dân ở Tây Nguyên chặt cao su, cafe chuyển sang trồng cây tiêu, mác ca do giá tiêu, mác ca tăng Điều đó cho thấy tư liệu SX và sức lao động đã có sự di chuyển từ trồng cao su, cafe sang trồng tiêu, mác ca làm cho diện tích trồng cao su, cafe giảm xuống và diện tích trồng tiêu, mác ca tăng lên
Đối với lưu thông hàng hóa, quy luật giá trị giúp chuyển hàng hóa từ nơi có giá trị thấp đến nơi có giá trị cao tạo ra sự cân bằng hàng hóa tạm thời giữa các vùng miền qua đó giúp hàng hóa di chuyển giữa các vùng miền Ví dụ miền Nam không trồng được vải vì vải là 1 loại trái cây chỉ trồng được ở miền Bắc Do người dân miền Nam có nhu cầu ăn vải và vải ở miền Bắc trồng nhiều nên vải có xu hướng di chuyển từ miền Bắc vào miền Nam, cũng là di chuyển
từ nơi có giá thấp đến nơi có giá cao
b Kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá sản xuất, tăng năng suất lao động, lực lượng sản xuất phát triển nhanh:
Trong nền kinh tế hàng hoá, người nào có hao phí lao động cá biệt ít hơn hoặc bằng hao phí lao động xh cần thiết để sản xuất hàng hoá thì người đó có lợi Còn người có hao phí lao động cá biệt nhiều hơn lao động xã hội cần thiết thì sẽ bị thiệt vì không thể thu được toàn bộ lao động đã hao phí Chính vì vậy để tồn tại được trong cạnh tranh thì người lao động phải tìm cách giảm hao phí lao động xã hội cá biệt xuống mức tối thiểu có thể được bằng cách phải luôn tìm cách cải tiến kỹ thuật, cải tiến tổ chức quản lý, thực hiện tiết kiệm chặt chẽ, tăng năng suất lao động Do vậy mới đẩy mạnh được lực lượng sản xuất phát triển
Ví dụ công ty dệt may An Phước đầu tư dây chuyền sản xuất hiện đại, nâng cao tay nghề lao động, cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm để tránh lãng phí yếu tố đầu vào
Ví dụ đối với ngành nông nghiệp trồng lúa, hao phí lao động cá biệt trong trồng lúa là cao Để giảm hao phí lao động cá biệt này xuống, người nông dân trồng lúa phải mở rộng diện tích trồng lúa, thực hiện cơ giới hóa, tìm giống lúa mới có năng suất cao hơn, cũng như việc sử dụng phân bón và thuốc bảo vệ thực vật nhằm giảm hao phí lao động cá biệt xuống, để mang lại lợi nhiều hơn
c Thực hiện sự lựa chọn tự nhiên và phân hoá người sản xuất thành kẻ giàu người nghèo, làm xuất hiện quan hệ sản xuất tư bản chủ nghĩa
Quá trình cạnh tranh theo đuổi giá trị tất yếu dẫn đến kết quả là: những người có điều kiện sản xuất thuận lợi, có trình độ, kiến thức cao, trang bị kỹ thuật tốt nên có hao phí lao động
cá biệt thấp hơn hao phí lao động xã hội cần thiết, nhờ đó giàu lên nhanh chóng Họ mua sắm thêm TLSX, mở rộng sản xuất kinh doanh Ngược lại những người không có điều kiện thuận lợi làm ăn kém cỏi hoặc gặp rủi ro trong kinh doanh nên bị thua lỗ dẫn tới phá sản trở thành nghèo khó
Ví dụ P/S và Tribeco của VN bị phá sản, mua lại bởi các Tập đoàn nước ngoài Thời gian vừa qua, do khó khăn kinh tế mà hàng loạt các doanh nghiệp vừa và nhỏ bị phá sản hàng loạt
Do đó quy luật giá trị sẽ kích thích những yếu tố tích cực phát triển và đào thải các yếu
tố kém Nó đảm bảo sự bình đẳng của người sản xuất Chính do các tác động của quy luật giá
Trang 88
trị đã làm cho sản xuất hàng hóa thực sự là khởi điểm ra đời của chủ nghĩa tư bản Như vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực, do đó đồng thời với việc thúc đẩy sản xuất hàng hóa phát triển, cần có những biện pháp để phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của nó
2.3 Ý nghĩa đối với nền kinh tế thị trường ở nước ta hiện nay
Những tác động của quy luật giá trị trong nền kinh tế hàng hóa có ý nghĩa lý luận và thực tiễn hết sức to lớn: một mặt chi phối sự lựa chọn tự nhiên, đào thải các yếu kém, kích thích các nhân tố tích cực phát triển; mặt khác, phân hóa XH thành kẻ giàu người nghèo, tạo ra sự bất bình đẳng trong XH Như vậy, quy luật giá trị vừa có tác động tích cực, vừa có tác động tiêu cực Nhận thức quy luật khách quan, tạo điều kiện cho quy luật hoạt động nhưng hạn chế tác động tiêu cực
a Về điều tiết SX và lưu thông hàng hóa: Mặt tích cực là bình ổn thị trường; Buộc những
người sản xuất phải quan tâm đến nhu cầu thực sự của người tiêu dùng để sản xuất hàng hoá và đưa hàng hoá tới nơi cần; Người sản xuất phải tích cực hơn, nhạy bén hơn sao cho cạnh tranh, tìm kiếm thị trường, nghiên cứu thị trường để SXHH cung cấp cho thị trường đáp ứng yêu cầu tiêu dùng Tuy nhiên cũng có mặt tiêu cực là dễ dàng chạy theo lợi nhuận, mất sự cân bằng cung cầu, nền kinh tế rơi vào tình trạng mất cân đối; Gây bong bóng, sốt giá Chính vì những
lý do này mà nhà nước cần phải thực hiện chính sách bình ổn giá khi thị trường sốt giá, biến động lớn; Ký kết Hiệp định thương mại, gia nhập các tổ chức kinh tế khu vực, TG để mở rộng thị trường
b Về kích thích cải tiến kỹ thuật, hợp lý hoá SX, tăng năng suất LĐ: Mặt tích cực là
buộc những người sản xuất hàng hoá phải quan tâm đến việc cải tiến khoa học kỹ thuật, cải tiến trang thiết bị, nâng cao tay nghể, trình độ của người lao động để nâng cao giá trị sản phẩm Tuy nhiên mặt tiêu cực là do DN không có vốn nhiều nên phải đầu tư công nghệ lạc hậu =>, sản xuất gây ô nhiễm môi trường, sản phẩm vẫn kém hơn sản phẩm nước ngoài, sử dụng nhiều hóa chất, chất bảo quản gây hại cho sức khỏe người tiêu dùng Chính vì vậy vai trò nhà nước phải đẩy mạnh CNH-HDH để phát triển LLSX, khuyến khích và hỗ trợ vốn cho DN đầu tư, áp dụng công nghệ-KH-Kỹ thuật hiện đại, tiên tiến vào SX nhằm nâng cao năng suất, chất lượng sp, giá
cả sp ngày càng rẻ, mẫu mã ngày càng đẹp, phong phú, đa dạng về chủng loại, đáp ứng nhu cầu
và thị hiếu của người tiêu dùng, Đề ra các chính sách về giá cả, chuyển đổi cơ cấu kinh tế phù hợp,
c Về sự phân hóa giàu nghèo: Mặt tích cực là kịp thời loại bỏ ra khỏi nền kinh tế những
nhân tố yếu kém, lạc hậu, giữ lại những nhân tố tốt, tạo điều kiện cho nền kinh tế phát triển; Tạo động lực phát triển kinh tế, làm giàu cho nhân dân, khuyết khích người dân bỏ vốn, bỏ sức
ra làm ăn, phát triển kinh tế => làm cho DN năng động, sáng tạo, tăng tính cạnh tranh trong nền kinh tế Tuy nhiên mặt tiêu cực là trong cuộc canh tranh gay gắt, phần thua thiệt sẽ là những người sản xuất nhỏ trong nước, điều này tạo nên sự phân hoá giàu nghèo trong nền kinh tế; Dễ gây tình trạng phá sản, thất nghiệp dẫn đến nghèo đói, tệ nạn XH phát triển, gây bất ổn, mâu thuẫn trong XH Do đó vai trò nhà nước là thực hiện tốt chính sách an sinh XH, hài hòa hợi ích các bên trong đầu tư phát triển kinh tế: chính sách thu hồi đất, tái định cư ; Thực hiện chính sách thuế thu nhập cá nhân, thuế tiêu thụ đặc biệt, quỹ hỗ trợ người nghèo, BHXH, BHYT để giảm chênh lệch giàu nghèo; Thực hiện những chính sách đãi ngộ đặc biệt, trợ cấp, khuyến
Trang 99
khích họ học tập, phát triển, nâng cao trình độ dân trí, để có thể tiến kịp trình độ KH-KT hiện đại và hòa nhập với một đất nước CNH-HDH trong tương lai Bên cạnh đó, nâng cao chất lượng
cs cả về v/c lẫn tinh thần, chủ trương tài trợ và khuyến khích phát triển ở những địa phương, những gia đình, cá nhân gặp nhiều khó khăn, tạo cơ hội cho họ phát triển, giúp họ có công ăn việc làm ổn định…; Nhà Doanh nghiệp cần phải tuân thủ, thực hiện đầy đủ chính sách của nhà nước về thuế và luôn cạnh tranh lành mạnh, tích cực
Trong thời gian qua, Đảng và nhà nước ta đã nhận thức đúng vấn đề, tầm quan trọng trong việc đổi mới kinh tế, xã hội cũng như hiểu rõ vai trò và tác dụng của quy luật giá trị mà
từ đó thực hiện nhiều cuộc cải cách kinh tế tuân theo những nội dung của quy luật giá trị, nhằm hình thành và phát triển nền kinh tế hàng hóa XHCN đa dạng và đã được những thành tựu đáng
kể
Câu 3 Mâu thuẫn công thức chung của tư bản và lý luận hàng hoá sức lao động
3.1 Công thức chung của tư bản
Khi kinh tế hàng hóa phát triển đến một trình độ nhất định, sản xuất TBCN vừa có điểm giống vừa có điểm khác sản xuất hàng hóa giản đơn Sản xuất hàng hóa giản đơn được mô tả bằng công thức H-T-H, sản xuất hàng hóa TBCN được mô tả bằng công thức T-H-T’, trong đó T’=T+Δt Công thức T-H-T’ được gọi là công thức chung, phản ánh thực chất của quá trình sản xuất TBCN, trong đó Δt là số tăng thêm hay số dư so với giá trị lúc ban đầu, CMac gọi là giá trị thặng dư, kí hiệu là (m)
Trong công thức H_T_H tiền vận động với tư cách là tiền, làm phương tiện lưu thông Còn trong công thức T_H_T’ tiền vận động với tư cách là tư bản trong sự vận động của
chúng, những đồng tiền nào đi theo vòng lưu thông cuối cùng này đểu được chuyển hóa thành
tư bản, trở thành tư bản, và do mục đích của chúng cũng đã là tư bản
Trong hai công thức trên, chúng giống nhau là đều phản ánh sự vận động của kinh tế hàng hóa, đều bao hàm 2 hành vi mua và bán, đều có 2 nhân tố tiền và hàng, và đằng sau đó là quan hệ giữa người mua và người bán Nhưng 2 công thức ấy phản ánh 2 trình độ phát triển khác nhau của kinh tế hàng hóa Trong công thức H_T_H tiền chỉ làm môi giới, còn hàng hóa
là điểm xuất phát và điểm kết thúc; còn trong công thức T_H_T’ tiền chỉ là khoản ứng trước và phải quay về điểm xuất phát với số lượng tăng thêm Nếu tiền không quay về điểm xuất phát thì quá trình vận động chưa trọn vẹn, tiền quay về càng nhanh thì hiệu quả kinh tế càng cao Trong công thức H_T_H thì bán trước, mua sau, mục đích cuối cùng là giá trị sử dụng, đầu ra
là hàng hóa, còn đầu vào không nhất thiết là hàng hóa vì sức lao động không phải thông qua mua bán và người sản xuất hàng hóa nhỏ mua càng ít càng tốt, nếu cần có thể tự tạo ra một số TLSX (như tự đẽo lấy cày, tự làm đòn gánh…) và tự tiêu dùng 1 số TL sinh hoạt do chính mình làm ra Vì vậy, đây là kinh tế hàng hóa, nhưng chưa thể gọi là kinh tế thị trường Trong công thức T_H_T’ thì mua trước, bán sau, mục đích cuối cùng là giá trị, hơn nữa là giá trị tăng thêm
về lượng, nếu không thì quá trình vận động trở thành vô nghĩa Toàn bộ các yếu tố đầu vào và đầu ra đều phải thông qua thị trường, kể cả sức lao động Do đó, đây là biểu hiện kinh tế thị trường, trình độ cao của kinh tế hàng hóa
Trang 1010
Sự vận động H_T_H có giới hạn ở mục đích cuối cùng là sự tiêu dùng nằm ngoài quá trình lưu thông còn sự vận động T_H_T’ là sự vận động không ngừng, chừng nào còn là TB thì tiền còn phải tiếp tục vận động Chính vì thế T_H_T’ là công thức chung của tư bản
Tư bản là giá trị mang lại giá trị thặng dư, tiền chỉ được xem là tư bản khi nó được dùng
để mang lại giá trị thặng dư Giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động, do công nhân làm thuê tạo ra và thuộc về nhà tư bản Giá trị thặng dư thể hiện bản chất bóc lột của quan hệ sản xuất TBCN, muốn thu được giá trị thặng dư thì hàng hóa phải được bán
đi
Ví dụ nhà tư bản thuê một công nhân để chuyển 10kg bông thành 10kg sợi, làm việc trong 8 giờ với tiền công là 3$ Nhà tư bản ứng ra 10$ để mua 10kg bông, và khấu hao máy móc để chuyển thành 10kg sợi là 2$ Giả sử trong 4h lao động, công nhân đã chuyển hết 10kg bông thành 10kg sợi và giả sử lượng giá trị mới công nhân làm thuê tạo ra ngang bằng với giá trị sức lao động, nghĩa là 10kg sợi có giá là 15$ (bao gồm 10$ tiền bông, 2$ khấu hao máy móc
và 3$ trả công cho công nhân theo thỏa thuận làm việc 8h) Như vậy giá trị lúc này được tạo ra ngang bằng với lượng hao phí đã bỏ ra, do đó chưa có giá trị thặng dư Giả sử quá trình lao động tiếp tục được kéo dài thêm 4h, với những điều kiện không đổi, nhà tư bản chỉ cần ứng thêm 10$ để mua bông, 2$ khấu hao máy móc sẽ tạo ra được 10kg sợi với giá trị 15$ Như vậy tổng giá trị người lao động làm thuê tạo ra trong 8h là 30$, trong khi đó tổng chi phí nhà tư bản phải bỏ ra là 27$ Phần chênh lệch 3$ mà nhà tư bản thu về được gọi là giá trị thặng dư
3.2 Mâu thuẫn của công thức chung của tư bản
Sự vận động T_H_T’ dường như mâu thuẫn với các quy luật của sản xuất hàng hóa, dường như giá trị thặng dư do lưu thông hàng hóa sinh ra nhưng theo C.Mác thì giá trị chỉ được tạo ra trong lĩnh vực sản xuất Phải phân tích mâu thuẫn sau đây: “TB ko thể xuất hiện từ lưu thông và cũng ko thẻ xuất hiện ở bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời ko phải trong lưu thông”
Giá trị thặng dư không thể xuất hiện từ lưu thông Xét ở 2 tình huống là trao đổi ngang giá và trao đổi không ngang giá:
Đầu tiên là trao đổi ngang giá hàng hóa và tiền có cùng một giá trị nên ko ai rút được từ lưu thông ra nhiều giá trị hơn là số bỏ vào trong đó Nếu hàng hoá được trao đổi ngang giá, thì chỉ có sự thay đổi hình thái của giá trị, từ tiền thành hàng và từ hàng thành tiền, còn tổng giá trị cũng như phần giá trị nằm trong tay mỗi bên tham gia trao đổi trước sau vẫn không thay đổi Tuy nhiên, về mặt giá trị sử dụng, thì cả hai bên trao đổi đều có lợi vì có được những hàng hoá thích hợp với nhu cầu của mình Như vậy, trao đổi theo nguyên tắc ngang giá không tạo ra giá trị thặng dư
Xét trường hợp trao đổi không ngang giá: Xảy ra ba trường hợp: Trường hợp thứ nhất, nếu giả định mọi người đều bán hàng hóa cao hơn giá trị Trong thực tế không có nhà tư bản nào lại chỉ đóng vai trò là người bán hàng hóa, mà lại không là người đi mua các yếu tố sản xuất để sản xuất ra các hàng hóa đó Do đó khi là người mua, họ lại phải mua cao hơn giá trị
Do đó, số lời mà họ thu được khi là người bán thì sẽ mất đi khi là người mua Hành vi bán hàng hóa cao hơn giá trị đã không hề mang lại một chút giá trị thặng dư nào Trường hợp thứ hai, nếu giả định mọi người đều mua hàng hóa thấp hơn giá trị Trong trường hợp này cũng tương
tự như trường hợp ở trên, cái mà anh ta thu được do mua rẻ, sẽ bị mất đi khi anh ta là người bán
Trang 1111
vì cũng phải bán thấp hơn giá trị thì các nhà tư bản khác mới mua Rút cục giá trị thặng dư vẫn không được đẻ: từ hành vi mua rẻ Trường hợp thứ ba, giả định trong xã hội tư bản có một số
kẻ giỏi bịp bợm, lừa lọc, bao giờ họ cũng mua được rẻ và bán được đắt Tình huống thứ ba chỉ diễn ra sự phân hóa giá trị có lợi cho kẻ bịp bợm đó và thiệt hại cho những người bị lừa gạt, còn giá trị nằm trong lưu thông không tăng thêm lên được một nguyên tử nào
Nhưng nếu xét chung cả xã hội, thì giá trị thặng dư mà họ thu được lại chính là cái mà người khác mất đi, do đó tổng số giá trị hàng hóa trong xã hội không vì hành vi cướp đoạt, lừa gạt của họ mà tăng lên Ăn cắp lẫn nhau trong cùng giai cấp không thể là cách làm giàu phổ biến của giai cấp tư sản được Giai cấp tư sản không thể làm giàu trên lưng bản thân mình Sau khi xem xét, lật đi lật lại vấn đề thì lưu thông vẫn không thể đẻ ra giá trị, không thể làm tăng thêm giá trị được, dù trao đổi ngang giá hay trao đổi không ngang giá Như vậy lưu thông đã không đẻ ra giá trị thặng dư Vậy phải chăng giá trị thặng dư có thể đẻ ra ở ngoài lưu thông?
Tiền để ngoài lưu thông (như để trong két sắt) cũng không thể sinh ra giá trị thặng dư Phải đưa tiền vào lưu thông để mua các yếu tố sản xuất và làm ra hàng hóa để bán thì mới có thể thu được giá trị thặng dư Như vậy giá trị thặng dư sinh ra từ đâu, đó là mâu thuẫn Đến đây,
C Mác đã khẳng định “Vậy là tư bản không thể xuất hiện từ lưu thông và cũng không thể xuất hiện ở bên ngoài lưu thông Nó phải xuất hiện trong lưu thông và đồng thời không phải trong lưu thông” Đây chính là mâu thuẫn chứa đựng trong công thức chung của tư bản Vấn đề ở đây
là người có tiền cần phải tìm thấy trên thị trường một thứ hàng hoá mà khi tiêu dùng nó, thì sáng tạo ra được giá trị, hơn nữa lại sáng tạo ra một giá trị lốn hơn giá trị bản thân nó Nói cách khác, người có tiền phải tìm thấy trên thị trường một thứ hàng hoá đặc biệt mà giá trị sử dụng của nó có thuộc tính là nguồn gốc của giá trị Hàng hoá đặc biệt đó chính là sức lao động
3.4 Lý luận hàng hoá sức lao động
Sức lao động là tổng hợp toàn bộ thể lực và trí lực của con người được sử dụng trong quá trình lao động Theo Mac “sức lao động hay năng lực lao động là toàn bộ những năng lực thể chất và tinh thần tồn tại trong một cơ thể, trong một con người đang sống, và được người
đó đem ra vận dụng mỗi khi sản xuất ra một giá trị sử dụng nào đó” Lao động là hoạt động có mục đích, có ý thức của con người nhằm tạo ra những sản phẩm phục vụ những nhu cầu của chính đời sống con người
Điều kiện để sức lao động trở thành hàng hóa: Đầu tiên là người lao động phải được tự
do về thân thể sức lao động chỉ xuất hiện trên thị trường với tư cách là hàng hóa, nếu nó do bản thân người có sức lao động đưa ra bán Vậy người lo động phải được tự do về than thể, có quyền
sở hữu sức lao động của mình thì mới đem bán sức lao động được (ví dụ thời kỳ chiếm hữu nô
lệ, người nô lệ không được tự do về thân thể) Thứ hai là người lao động buộc phải bán hoặc mong muốn bán sức lao động của mình do người lao động mất hết TLSX chủ yếu buộc phải bán sức lao động để tồn tại hoặc người lao động có TLSX nhưng không có khả năng tổ chức
SX hoặc có khả năng nhưng kém hiệu quả
Hai thuộc tính của hàng hóa sức lao động: Khi sức lao động trở thành hàng hóa nó cũng
có 2 thuộc tính là giá trị và giá trị sử dụng, nhưng đây là một loại hàng hóa đặc biệt nên giá trị
và giá trị sử dụng của nó có những nét đặc thù so với hàng hóa đặc thù
Giá trị của hàng hóa sức lao động: Cũng như các hàng hóa khác giá trị của sức lao động được đo bằng thời gian lao động xã hội cần thiết để sản xuất và để tái sản xuất ra sức lao động
Trang 1212
Tái sản xuất ra sức lao động là duy trì cuộc sống của người lao động Muốn vậy, cần có 1 số tài liệu sinh hoạt nhất định nên thời gian LĐ xã hội cần thiết để sản xuất ra sức LĐ được quy thành giời gian LĐ cần thiết để tái sản xuất ra những TL sinh hoạt ấy hay nói cách khác giá trị của sức LĐ là giá trị của những TL sinh hoạt cần thiết để duy trì cuộc sống của người có sức LĐ
ấy
Tuy nhiên, giá trị hàng hóa sức lao động khác với hàng hóa thông thường ở chỗ nó bao hàm cả yếu tố lịch sử, tinh thần Giá trị của sức LĐ bao gồm: Thứ nhất là giá trị những tư liệu sinh hoạt để duy trì cuộc sống của bản thân người LĐ Sức LĐ chỉ thực hiện trong LĐ Trong quá trình LĐ phải hao phí 1 lượng nhất định về cơ, thần kinh, não… Sự hao phí đó phải được
bù lại Do đó, phải đủ TL sinh hoạt để duy trì thể lực và sức khỏe của người LĐ như trước Bản thân những nhu cày tự nhiên như thức ăn, quần áo, chất đốt, nhà ở… cũng khác nhau tùy theo khí hậu và những đặc điểm thiên nhiên khác của từng nước Thứ hai là giá trị những TL sinh hoạt cho những người sẽ thay thế Người sở hữu sức LĐ sẽ phải về hưu hay chết Những sức
LĐ biến khỏi thị trường LĐ ấy cần phải được thường xuyên thay thế bằng những sức LĐ mới,
ít ra cũng với con số ngang như thế Vì vậy, tổng số những TL sinh hoạt cho những người thay thế đó, tức là cho con của những người LĐ Thứ ba là chi phí đào tạo, muốn cho sức LĐ trở thành 1 sức LĐ phát triển và đặc thù thì cần phải có 1 trình độ học vấn hay giáo dục nào đó nên phải có những chi phí đào tạo theo tính chất phức tạp của sức LĐ Do đó, những chi phí ấy đều gia nhập vào tổng só những giá trị được chi phí để sản xuất ra sức LĐ và tiền công cho LĐ phức tạp phải cao hơn LĐ giản đơn, vì LĐ phức tạp là bội số của LĐ giản đơn
Giá trị sử dụng của hàng hóa sức LĐ: Giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động thể hiện
ở quá trình tiêu dùng sức lao động tức là quá trình lao động của công nhân để sản xuất ra một hàng hóa, một dịch vụ nào đó Nhưng quá trình sử dụng hay tiêu dùng hàng hóa sức lao động khác với quá trình tiêu dùng hàng hóa thông thường ở chỗ: hàng hóa thông thường sau quá trình tiêu dùng hay sử dụng thì cả giá trị lẫn giá trị sử dụng của nó đều tiêu biến mất theo thời gian, trái lạitrong quá trình lao động, sức lao động tạo ra một lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó, phần dôi ra so với giá trị sức lao động là giá trị thặng dư mà nhà tư bản sẽ chiếm đoạt Như vậy, giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động có tính chất đặc biệt, nó là nguồn gốc sinh ra giá trị, tức là nó có thể sinh ra giá trị lớn hơn giá trị của bản thân nó Đó chính là đặc điểm riêng có của giá trị sử dụng của hàng hóa sức lao động
Giá trị sử dụng hay hàng hóa sức lao động cũng chỉ thể hiện ra khi tiêu dùng sức LĐ, tức
là trong quá trình LĐ tạo ra hàng hóa Trong quá trình này sức LĐ tạo ra 1 lượng giá trị mới lớn hơn giá trị của bản thân nó tức là tạo ra giá trị thặng dư Nhưng trong phương thức sản xuất TBCN thì tiền công chỉ được trả sau khi sức LĐ đã hoạt động trong 1 thời gian nhất định theo quy định của hợp đồng mua sức LĐ đó, nên tiền của người mua làm chức năng phương tiện thanh toán Khi hợp đồng được ký kết thì giá trị sử dụng của sức LĐ chưa thật sự chuyển sang tay người mua Cái mà người mua quan tâm là quá trình tiêu dùng sức lao đọng, đồng thời là quá trình sản xuất ra hàng hóa và giá trị thặng dư, cái mà họ quan tâm là giá trị mới do sự hoạt động của sức LĐ tạo ra phải lớn hơn giá trị của sức LĐ Người LĐ chỉ có thể tiếp tục hàn sức
LĐ của mình để nhận tiền công, chừng nào còn đáp ứng được nhu cầu ấy của người mua Dù tiền công tính theo thời gian hay tiền công tính theo sản phẩm thì người LĐ cũng chỉ nhận được phần LĐ tất yếu, còn phần LĐ thặng dư thuộc về người mua sức LĐ Bởi vậy, người LĐ phải
Trang 1313
đảm bảo 1 năng suất LĐ, một cường độ LĐ và một độ dài thời gian LĐ nhất định để tạo ra 1 lượng giá trị mới lớn hơn giá trị sức LĐ thì mới có quyền đòi hỏi tiền công ngang với giá trị sức LĐ
Như vậy hàng hóa sức lao động là chìa khóa giải thích cho công thức chung của tư bản, giải thích nguồn gốc của giá trị thặng dư
Câu 4 Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, so sánh và rút ra ý nghĩa của việc nghiên cứu
Giá trị thặng dư là bộ phận giá trị mới dôi ra ngoài giá trị sức lao động, do công nhân làm thuê tạo ra và thuộc về nhà tư bản Giá trị thặng dư thể hiện bản chất bóc lột của quan hệ sản xuất TBCN, muốn thu được giá trị thặng dư thì hàng hóa phải được bán đi
4.1 Hai phương pháp sản xuất giá trị thặng dư
a Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối
Là phương pháp được thực hiện bằng cách kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động xã hội cần thiết khi năng suất lao động xã hội, thời gian lao động xã hội cần thiết không thay đổi Ví dụ ngày lao động có độ dài 8h, thời gian lao động tất yếu là 4h, thời gian lao động thặng dư là 4h, giá trị thặng dư tuyệt đối được tạo ra trong thời gian lao động thặng dư là 4h, tỷ suất giá trị thặng dư là 100% Nếu ngày lao động kéo dài thành 10h, trong khi năng suất lao động, thời gian lao động tất yếu và giá trị sức lao động không đổi, giá trị thặng dư tuyệt đối được tạo ra trong thời gian lao động thặng dư là 6h và tỷ suất giá trị thặng dư sẽ tăng lên thành 150%
Để có được giá trị thặng dư tuyệt đối có thể sử dụng các biện pháp như kéo dài ngày lao động vượt quá thời gian lao động tất yếu càng dài càng tốt hoặc tăng cường độ lao động Do
đó, sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối bị giới hạn bởi thời gian trong ngày và tình hình sức khỏe, tâm sinh lý của người công nhân Việc áp dung phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối thường gây ra sự phản kháng của công nhân làm thuê
b Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối
Là phương pháp được thực hiện bằng cách rút ngắn thời gian lao động cần thiết trong khi độ dài ngày lao động không thay đổi nhờ tăng năng suất lao động trên phạm vi toàn xã hội
Ví dụ ngày lao động có độ dài 8h, thời gian lao động tất yếu là 4h, thời gian lao động thặng dư
là 4h, giá trị thặng dư tuyệt đối được tạo ra trong thời gian lao động thặng dư là 4h, tỷ suất giá trị thặng dư là 100% Nếu ngày lao động không đổi, thời gian lao động tất yếu giảm xuống còn 3h thì tỷ suất giá trị thặng dư sẽ tăng lên thành 167% Nếu ngày lao động rút ngắn còn 7h, thời gian lao động tất yếu giảm xuống còn 2h thì tỷ suất giá trị thặng dư sẽ tăng lên thành 250%
Để thu được giá trị thặng dư tương đối, cần rút ngắn thời gian lao động tất yếu Để rút ngắn thời gian lao động tất yếu cần phải hạ thấp giá trị sức lai động Mà muốn hạ thấp giá trị sức lao động thì phải tìm cách hạ giá trị tư liệu sinh hoạt cần thiết để tái sản xuất sức lao động thông qua các biện pháp tăng năng suất lao động trong những ngành sản xuất tư liệu sản xuất
để sản xuất tư liệu sinh hoạt và trong những ngành sản xuất tư liệu sinh hoạt
Quá trình tăng năng suất lao động diễn ra trong thực tế trước hết ở một hoặc một số doanh nghiệp Những doanh nghiệp đi đầu trong việc ứng dụng công nghê mới, cải tiến quản
lý hay tận dụng được những điều kiện sản xuất thuận lợi sẽ tăng năng suất lao động cá biệt, giảm giá trị cá biệt của hàng hóa thấp hơn giá trị thị trường, từ đó sẽ thu được một số giá trị
Trang 1414
thặng dư vượt trội so với các doanh nghiệp khác Phần giá trị thặng dư trội hơn đó là giá trị thặng dư siêu ngạch
4.2 So sánh 02 phương pháp
a Sự giống nhau
Đều có mục đích là kéo dài thời gian lao động thặng dư để tao ra giá trị thặng dư ngày càng lớn cho nhà tư bản
Đều thể hiện được mâu thuẫn đối kháng của hai giai cấp: giai cấp tư sản và giai cấp công
nhân, nghĩa là Mâu thuẫn giai cấp sẽ diễn ra b Sự khác nhau
Phương pháp sản xuất giá trị thặng
dư tuyệt đối
Phương pháp sx giá trị thặng dư tương đối
Trình độ của người lao động Vốn
Tâm lý và thể chất, tinh thần, sức khỏe của người lao động có giới hạn
Thời điểm được
4.3 Ý nghĩa nghiên cứu (lý luận và thực tiễn)
a Lý luận: Hai phương pháp này cho ta thấy bản chất của CNTB là bóc lột lao động làm thuê
Giá trị thặng dư là cơ sở tồn tại, phát triển của CNTB, không những phản ánh mục đích
mà cả phương pháp, thủ đoạn và phương tiện để đạt mục đích của nên SXTBCN
Mục đích trực tiếp của SXTBCN không phải là sản xuất ra giá trị sử dụng và cũng không phải vì sản xuất ra giá trị nói chung, mà là sản xuất ra giá trị thặng dư Đối với tất cả các nhà tư bản, giá trị thặng dư càng nhiều càng tốt
Phương pháp và thủ đoạn bóc lột công nhân làm thuê để có giá trị thặng dư ngày càng lớn là kéo dài ngày lao động, tăng cường độ lao động, tăng năng suất lao động Phương tiện để đạt được mục đích trên là ứng dụng kỹ thuật, công nghệ hiện đại trên cơ sở hình thành và phát triển nền đại công nghiệp cơ khí Do vậy, sản xuất giá trị thặng dư là quy luật tuyệt đối của CNTB
Quy luật giá trị thặng dư tác động mạnh mẽ đến mọi mặt của XHTB Nó quyết định toàn
bộ quá trình phát sinh, phát triển của CNTB và sự thay thế CNTB bằng 1 xã hội mới, cao hơn
Nó là động lực mạnh mẽ nhất thúc đẩy phát triển kỹ thuật, công nghệ, phân công lao động, xã hội hóa sản xuất; nó lôi cuốn mọi hoạt động sản xuất và thu hút toàn bộ lao động xã hội vào phục vụ cho lợi ích của giai cấp tư sản
Trang 1515
Tuy nhiên do tác động của quy luật giá trị thặng dư nên sự phát triển của nền sản xuất TBCN diễn ra dưới hình thức mâu thuẫn đối kháng Sự tác động của quy luật này làm cho mâu thuẫn cơ bản – mâu thuẫn giữa tính chất xã hội hóa của sản xuất với hình thức chiếm hữu tư nhân TBCN – và nói chung, toàn bộ mâu thuẫn của CNTB ngày càng sâu sắc, tạo cơ sở kinh
tế, XH quyết định địa vị lịch sử của CNTB
Sự mẫu thuẫn đối kháng trong CNTB ngày càng sâu sắc => tất yếu sẽ được thay thế bằng
01 PTSX tiến bộ hơn => loài người sẽ tiến lên CNCS là 01 quy luật tất yếu b Thực tiễn
Đây là phương pháp tăng giá trị mới cho nền kinh tế, phát triển KT-XH cần được áp dụng trong nền KT nước ta Nếu gạt bỏ mục đích và tính chất của chủ nghĩa tư bản thì vận dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, nhất là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch trong các doanh nghiệp sẽ kích thích sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, sử dụng kỹ thuật - công nghệ mới, cải tiến tổ chức quản lý, tiết kiệm chi phí sản xuất
Hiện nay, Việt Nam vận dụng 2 phương pháp này như sau: Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối: tăng ca (tối đa 200giờ/năm) nhưng phải đảm bảo sức khỏe của người lao động, đảm bảo có đủ thời gian để tái tạo sức lao động, tăng thêm thu nhập cho người lao động
để tránh phát sinh mâu thuẫn giữa người sử dụng lao động và người lao động Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối: đẩy mạnh công cuộc Công nghiệp hóa – Hiện đại hóa đất nước
để phát triển LLSX, ứng dụng KHCN để tăng năng suất lao động của xã hội
Liên hệ thực tiễn Việt Nam
Sản xuất giá trị thặng dư việc nghiên cứu hai phương pháp nói trên, khi gạt bỏ mục đích
và tính chất của chủ nghĩa tư bản thì các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư, nhất là phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tương đối và giá trị thặng dư siêu ngạch có thể vận dụng trong các doanh nghiệp nước ta nhằm kích thích sản xuất, tăng năng suất lao động xã hội, sử dụng kỹ thuật mới, cải tiến tổ chức quản lý, tiết kiệm chi phí sản xuất Đối với quá trình phát triển nền kinh tế quốc dân của nước ta, việc nghiên cứu sản xuất giá trị thặng dư gợi mở cho các nhà hoạch định chính sách phương thức làm tăng của cải, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, cần tận dụng triệt để các nguồn lực, nhất là lao động và sản xuất kinh doanh Về cơ bản lâu dài, cần phải coi trọng việc tăng năng suất lao động xã hội, coi đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nền kinh
tế quốc dân là giải pháp cơ bản để tăng năng suất lao động xã hội, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế
Phương pháp sản xuất giá trị thặng dư tuyệt đối và tương đối được vận dụng và công cuộc công nghiệp hóa – hiện đại hóa của nước ta hiện nay Giá trị thặng dư là do lao động không công của công nhân lao động làm thuê tạo ra, là mục đích, kết quả hoạt động của tư bản, của giai cấp tư sản Trong xã hội chủ nghĩa, việc bóc lột sức lao động không công của con người công nhân không còn nữa, nhưng không có nghĩa là giá trị thặng dư không còn tồn tại mà giá trị thặng dư được sử dụng vào mục đích khác không giống như giai cấp tư sản, đó là giá trị thặng dư thu được là cơ sở, tiền đề để xây đất nước, xây dựng chế độ công hữu về tư liệu sản xuất, vì mục đích phát triển xã hội chủ nghĩa Vì con người không tách ra khỏi xu hướng của
xã hội, Việt Nam vận dụng các phương pháp sản xuất giá trị thặng dư vào công cuộc dây dựng đất nước, trong đó tiến hành công nghiệp hóa – hiện đại hóa là một nhiệm vụ hàng đầu, đây cũng là một quy luật đặc biệt của quá trình sản xuất phát triển kinh tế mỗi quốc gia Công nghiệp hóa – hiện đại hóa ở nước ta là quá trình chuyển đổi căn bản, toàn diện các hoạt động sản xuất