1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

THẢO LUẬN ĐƯỜNG lối CHÍNH SÁCH của ĐẢNG (vănhóa)

45 96 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 45
Dung lượng 128,34 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

THẢO LUẬN ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM VỀ CÁC LĨNH VỰC CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI Phần Văn hóa – Xã hội Câu 1 Thông qua mối quan hệ giữa con người và sự phát triển văn hóa,

Trang 1

THẢO LUẬN ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG, NHÀ NƯỚC VIỆT NAM

VỀ CÁC LĨNH VỰC CỦA ĐỜI SỐNG XÃ HỘI

(Phần Văn hóa – Xã hội) Câu 1) Thông qua mối quan hệ giữa con người và sự phát triển văn hóa, anh chị hãy cho biết con người Việt Nam trong bối cảnh hiện nay cần hoàn thiện những giá trị nhân cách văn hóa cốt lõi nào? Vì Sao?

Như Bác Hồ đã nói "Cách dạy trẻ: cần làm cho chúng biết yêu Tổ quốc, thương đồng bào, yêu lao động, biết

vệ sinh, giữ kỷ luật, học văn hóa " Vậy văn hóa là gì?

1 Khái niệm về văn hóa

Văn hóa là phạm trù thuộc về con người, của con người, loài người, do con người sáng tạo ra, vì cuộc sống

và sự phát triển, hoàn thiện của chính mình, làm cho con người trở thành Người, làm cho con người trở nên Ngườihơn, là tính người, chất người Mục tiêu và nội dung cốt lõi quan trọng nhất trong xây dựng văn hóa là xây dựngcon người – nhân cách Văn hóa và con người là hai mặt của cùng một vấn đề Mục tiêu quan trọng nhất của vănhóa là con người Mục tiêu quan trọng nhất của vấn đề con người là văn hóa

Theo Hồ Chí Minh, “văn hoá là tổng hợp của mọi phương thức sinh hoạt cùng với biểu hiện của nó mà loàingười đã sản sinh ra nhằm thích ứng những nhu cầu đời sống và đòi hỏi của sự sinh tồn”

Vậy, khi ta nói đến nền văn hóa là nói về cái to lớn, vĩ mô, nhưng vẫn còn trừu tượng Trong cái vĩ mô ấy,nhất thiết phải có, phải xuyên suốt, đầu tiên và cuối cùng, phần cốt lõi quan trọng nhất của văn hóa, là con người,từng con người, từng cuộc đời, những con người, với nhân cách của họ Cộng nhiều người lại, với quan hệ xã hộicủa họ với nhau, thành một dân tộc, một xã hội Để đánh giá văn hóa thế nào thì quan trọng nhất là xem thử conngười với nhân cách, đạo đức xã hội ra sao

2 Con người Việt Nam trong bối cảnh hiện nay cần hoàn thiện những giá trị nhân cách văn hóa cốt lõi

Từ khi nước ta tiến hành đổi mới đến nay, về văn hóa và con người, Việt Nam đã có nhiều mặt tiến bộ đáng

kể Đời sống vật chất và tinh thần có nhiều mặt khá hơn trước; giáo dục phát triển mạnh về quy mô, số lượng,mạng lưới, trình độ học vấn của nhân dân cao hơn, đã phổ cập trung học cơ sở và xóa mù chữ trên toàn quốc; conngười ngày càng tiếp cận nhiều hơn với các nguồn thông tin đa dạng và nhiều chiều, từ đó mà kiến thức và nhậnthức nhiều mặt đã nâng lên Vấn đề con người và quyền con người được quan tâm hơn, thể hiện cả trong Cươnglĩnh, trong Hiến pháp và luật pháp Dân chủ có những mặt tiến bộ đáng kể do nhận thức của các cấp và trình độdân trí được nâng lên, chịu sự tác động của thông tin Tinh thần yêu nước, tinh thần dân tộc cơ bản được giữ vững;các phong trào xóa đói giảm nghèo, uống nước nhớ nguồn, đền ơn đáp nghĩa, nhân đạo, từ thiện, xây dựng đờisống văn hóa ở cơ sở… đạt những kết quả đáng ghi nhận; các ấn phẩm văn học, nghệ thuật có phát triển về sốlượng, quy mô phát hành, phong phú về đề tài và phương thức thể hiện…

Tuy nhiên, điều đáng lo ngại nhất là đạo đức xã hội có nhiều mặt xuống cấp, trong đó, có mặt nghiêm trọngđáng báo động Tiêu cực và tội phạm gia tăng Nạn cướp của, giết người, hãm hiếp và buôn bán phụ nữ, trẻ em; sựgiả dối, lừa gạt, hàng giả, thuốc chữa bệnh giả, thực phẩm độc hại; buôn bán ma túy, phá rừng, đổ chất độc hại ramôi trường, tội phạm là phụ nữ và trẻ em tăng lên Nạn tham nhũng chưa được đẩy lùi mà có mặt còn phức tạp vànghiêm trọng hơn, gây nhức nhối, mặc dù Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương và mấy năm gần đây quyếtliệt hơn trong chỉ đạo cụ thể Việc chạy chức, chạy quyền, chạy tội, chạy dự án còn diễn ra phức tạp “Văn hóaphong bì” còn khá phổ biến Kinh tế thị trường còn nhiều hoang dã, chụp giật Các biểu hiện lợi ích nhóm, lũngđoạn kinh tế rất đáng lo ngại, về mặt nào đó có hiện tượng giống như tình hình ở nhiều nước trong thời kỳ tích lũy

tư bản, điều này nếu không kịp thời ngăn chặn một cách hiệu quả để phát triển thì sẽ dẫn đến chệch hướng khỏimục tiêu XHCN và làm cho đất nước lún sâu trong bẫy thu nhập trung bình, mà rồi sẽ mất nhiều chục năm đểvùng vẫy thoát ra Một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên thoái hóa, trong đó có cả cán bộ trung, cao cấp nhưNghị quyết Trung ương 4 khóa XI đã chỉ ra Các tệ nạn tiêu cực xảy ra ở hầu hết các lĩnh vực của đời sống xã hội,

kể cả ở những nơi đáng ra phải luôn trang nghiêm, trong sạch (như nơi nắm cán cân công lý, bảo vệ pháp luật, nơidạy người, nơi cứu người, nơi truyền bá các giá trị nhân văn, nơi tham mưu cấp chiến lược, nơi thiêng liêng về tâmlinh, tín ngưỡng, thờ tự)

Tình trạng đạo đức xã hội sa sút có nhiều nguyên nhân Rất đáng lưu ý là hệ giá trị bị đảo lộn về vị trí, thangbậc Nhân cách đáng ra phải luôn ở vị trí hàng đầu, trung tâm thì trong nhiều trường hợp đã xuống hàng thứ yếu,sang bên cạnh, trong khi đồng tiền lại lên ngôi, chi phối nhiều mặt, nhiều việc Vì tiền, con người ta đã vi phạmđạo đức, kể cả làm việc ác Nhưng vì sao mà hệ giá trị lại bị đảo lộn? Đương nhiên có lý do từ mặt trái của cơ chếthị trường, nhưng không thể đổ lỗi cho cơ chế ấy, bởi vì nó là vậy, có nhiều mặt tích cực, tạo động lực phát triển,

sự lựa chọn cơ chế thị trường là đúng, và có một số mặt tiêu cực cần phải phòng tránh Khuyết điểm đáng lưu ý làkhi bước vào kinh tế thị trường, chúng ta chưa lường hết sự phức tạp, tác hại và nhất là chưa có giải pháp hữu hiệuchủ động phòng tránh để hạn chế tác hại bởi mặt trái của cơ chế ấy Nói cách khác, chưa tạo ra được những cơ chế

Trang 2

quản lý hữu hiệu để hạn chế tác hại bởi mặt trái của cơ chế thị trường Mặt khác, sự tác động từ mặt trái của cơ chếthị trường lại trong điều kiện Đảng ta cầm quyền, cán bộ, đảng viên nhiều người có quyền lực, được giao quản lýtài nguyên, tài sản, tài chính, dự án và các mặt quan trọng của đời sống xã hội, mà bản thân quyền lực thì mặt tráicủa nó là làm thoái hóa con người khi sử dụng nó nếu như không có cơ chế tốt để kiểm soát quyền lực, để lựa chọncán bộ có “đức trọng” mới giao “quyền cao”, để giám sát nhân cách những người có chức, có quyền, dù lớn, dùnhỏ Khuyết điểm trong lãnh đạo, quản lý, sự tác động từ mặt trái của cơ chế thị trường cộng hưởng với mặt tráicủa cơ chế quyền lực như hai con ngựa bất kham Trong khi cơ chế quản lý, giám sát, kiểm soát kể cả đối với kinh

tế và đối với quyền lực còn nhiều sơ hở, khiếm khuyết Việc tự rèn luyện nhân cách của từng người không thườngxuyên liên tục, không gương mẫu, tức là chưa đủ độ chín về văn hóa; và kể cả khuyết điểm trong giáo dục đạođức, liêm sỉ, trong lựa chọn, bố trí và sử dụng cán bộ

Để khắc phục tình hình nói trên, tới đây, việc trước tiên là tiếp tục nhận thức sâu hơn tầm quan trọng đặc biệtcủa văn hóa, đạo đức trong đời sống xã hội, trong xây dựng hệ thống chính trị Đại văn hào Macxim Gorky đã cólần nói, đối với ông, khi nghe nói văn hóa lâm nguy còn đáng sợ hơn là Tổ quốc lâm nguy Về tầm sâu xa, ông nóiđúng Nếu Tổ quốc lâm nguy mà văn hóa còn bền vững thì người ta sẽ giữ được Tổ quốc, lấy lại được Tổ quốc khi

đã mất; còn nếu văn hóa lâm nguy thì chẳng những mất Tổ quốc mà còn mất cả dân tộc

Nhìn lại các triều đại phong kiến Việt Nam thấy rằng, phần lớn các triều đại khi mới lên được nhân dân ủng

hộ, lập được nhiều công tích lớn, có ý nghĩa lịch sử, nhưng sau đó không lâu thì suy thoái về văn hóa, đạo đứctrong đội ngũ quan chức và trong triều đình, dẫn đến sụp đổ Tiếp theo, triều đại khác lên thay rồi cũng lặp lại nhưvậy Mỗi khi thoái hóa đạo đức trong đội ngũ quan lại thì dẫn đến đạo đức xã hội suy đồi, trật tự xã hội rối ren.Một nửa số triều đại phong kiến chỉ tồn tại trên dưới vài chục năm, rồi sụp đổ ngay trong đời vua thứ nhất, thứ nhì.Nhà Lý và nhà Trần trị vì dài nhất, mỗi triều đại trên dưới 200 năm, là nhờ biết chăm lo xây dựng văn hóa trongchính trị “dân là gốc”; mặc dù vậy, cuối cùng cũng do thoái hóa mà suy sụp Liên Xô, thời kỳ đầu, xây dựng chínhquyền của dân, được nhân dân ủng hộ, đã làm nên nhiều việc lớn lao như chiến thắng 14 nước đế quốc đến baovây khi chính quyền Xô Viết còn non trẻ, chiến thắng chủ nghĩa phát xít cứu nhân loại khỏi thảm họa diệt chủng,đưa một đất nước từ chủ yếu còn là nông nghiệp thành một nước công nghiệp hùng mạnh; từ một nước chủ yếucòn là thủ công thành một nước có công nghiệp vũ trụ hàng đầu thế giới… Vậy mà, giai đoạn sau, đã để thoái hóa,

từ một nhà nước của dân thành nhà nước của các quan cai trị tham nhũng, dẫn đến đổ vỡ Sự đổ ngã của Liên Xôchủ yếu là do “tự đổ” chứ không phải hoàn toàn do địch phá Địch thì bao giờ mà chẳng phá, do nó phá nên mớigọi là địch Nhưng địch phá sao bằng các thời kỳ trước đó? Phá là việc của địch, còn đổ là việc của ta Mặt trái của

cơ chế quyền lực luôn song hành, luôn bám theo trong mỗi bước đi từ lúc đã thành công Khi chiến thắng đến đỉnhcao thì cũng là lúc bắt đầu thua Khi đã có trong tay tất cả thì cũng là lúc bắt đầu mất dần Bài học lịch sử là, cácnhà nước của vua và tập đoàn phong kiến, nhà nước của các quan cai trị, nhà nước do các tập đoàn tài phiệt chiphối cuối cùng do thoái hóa bởi mặt trái của cơ chế quyền lực mà đổ ngã (tất nhiên còn có cả lý do từ quy luật pháttriển) Chỉ có nhà nước của nhân dân, thật sự của nhân dân, mọi quyền lực đều của nhân dân, như tư tưởng Hồ ChíMinh, thì mới bền vững lâu dài, vì nhân dân là vạn đại, việc bảo vệ và phục vụ nhân dân thì lúc nào cũng cần thiết

Nghị quyết Hội nghị Trung ương lần thứ 9 khóa XI về văn hóa đã nhấn mạnh vấn đề cốt lõi, trung tâm

của xây dựng văn hóa là xây dựng con người có nhân cách, đạo đức tốt đẹp Tinh thần ấy thể hiện xuyên suốttrong Nghị quyết, từ tên gọi đến mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp Đây là điểm cần đặc biệt lưu ý đểluôn bám chắc mục tiêu chủ yếu trong quá trình xây dựng văn hóa Nền văn hóa là cái to lớn, nhưng cũng sẽ chưa

có nghĩa gì nếu như trong đó vấn đề con người – nhân cách không được quan tâm đúng mức, để cho đạo đức suyđồi Càng không thể hiểu sai rằng văn hóa là chuyện “cờ, đèn, kèn, trống”, “nhảy múa, hát hò”, là cái đi sau, cáiđuôi của kinh tế, là chuyện mua vui

- Con người Việt Nam phải là những con người có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và CHXH, có ý chí vươn lên, đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kết và luôn phấn đấu sánh vai cùng các nước cường quốc năm châu về mọi lĩnh vực đời sống kính tế văn hóa xã hội, luôn đấu tranh vì hòa bình, độc lập dân tộc và tiến bộ xã hội Trong xây dựng văn hóa cần quan tâm thường xuyên

việc xây đắp lòng yêu nước, tinh thần dân tộc Nhờ đặc điểm này của văn hóa Việt Nam mà chúng ta đã giữ đượcnước, lấy lại được nước sau bao nhiêu lần bị kẻ thù mạnh hơn ta rất nhiều đến xâm lược và đô hộ; nhờ đó màchúng ta không bị đồng hóa qua một nghìn năm Bắc thuộc Ngày nay cũng cần phải lấy tinh thần yêu nước, tinhthần dân tộc làm bàn đạp và chỗ dựa để tiến lên, phát triển Trong thế giới hội nhập, với cuộc tiếp biến văn hóa ởquy mô toàn cầu, chỉ có phát triển mới tồn tại chính mình – một dân tộc thực sự độc lập

- Con người Việt Nam phải đề cao tinh thần tập thể, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung và đặc biệt, con người Việt Nam phải có lòng nhân ái Trong quá khứ, người Việt Nam đã biết yêu thương, đùm bọc nhau, nhất là

mỗi khi có khó khăn, sóng gió, hoạn nạn Trong tương lai, để có một xã hội thật sự tốt đẹp như mong muốn củaBác Hồ, của Đảng và nhân dân ta, lòng nhân ái cũng sẽ là nền tảng quan trọng nhất cho sự tốt đẹp ấy trong đờisống xã hội

Trang 3

- Con người Việt Nam phải có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa, tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước của cộng đồng; có ý thức bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái

- Con người Việt Nam luôn lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp cao, luôn đề cao trách nhiệm

bản thân với gia đình, với tập thể, cộng đồng xã hội

- Con người Việt Nam phải là những con người thường xuyên học hỏi, sáng tạo, nâng cao hiểu biết, năng cao trình độ chuyên môn năng lực thẩm mỹ và thể lực Xưa nay, ta thấy con người Việt Nam dễ thích nghi,

có sáng kiến, nhưng bên cạnh đó lại có mặt bảo thủ, chưa đi đến cùng trong công cuộc sáng tạo để phát triển.Điểm mạnh nhất của văn hóa Việt Nam là văn hóa giữ nước Điểm chưa mạnh (nếu không muốn nói là điểm yếu)

là văn hóa phát triển Thực tế đã kiểm nghiệm điều đó Dân tộc ta trong những hoàn cảnh hết sức khó khăn đã giữnước rất kiên cường và thành công; mặt khác, lịch sử Việt Nam không chỉ có chiến tranh mà còn có nhiều thời kỳxây dựng hòa bình, nhưng đến nay vẫn là nước chưa phát triển, rất vất vả trong quá trình phát triển Từng conngười Việt Nam phải phát triển, một dân tộc Việt Nam phải phát triển, đó là mục tiêu quan trọng nhất của xâydựng văn hóa Muốn phát triển được thì phải đổi mới, phải sáng tạo, liên tục, không ngừng, nhất thiết phải nhưvậy, không có cách khác

Văn hóa là những giá trị thật, trong cuộc sống thực Bệnh hình thức, bệnh thành tích, sự giả dối không baogiờ tạo ra được các giá trị văn hóa, mà ngược lại nó làm hỏng văn hóa Con người Việt Nam phải là những conngười trung thực, có tự trọng, biết xấu hổ với cha ông, với đồng bào đồng chí và với chính mình Con người ViệtNam yêu nước, nhân ái, trung thực, sáng tạo… là các đặc tính rất quan trọng đã nêu trong Nghị quyết Trung ương

Trong các hoạt động văn hóa, văn học, nghệ thuật là bộ phận tinh tế nhất, là con đường ngắn nhất để đến vớitrái tim; là con đường để có thể vào sâu và đánh thức những tâm hồn Vào sâu và ở lại, biến thành của người đó,góp phần trực tiếp hoặc dọn “sân vườn” cho việc hình thành và phát triển nhân cách Yêu cầu đối với các loại hìnhvăn học, nghệ thuật là tạo ra và lan tỏa các giá trị nhân văn Quyển sách, bài hát, bản nhạc, một chương trình sânkhấu, một bức tranh, một lễ hội… là quan trọng, tuy nhiên, đó mới là sản phẩm “trung gian”, còn sản phẩm cuốicùng, mục đích cao nhất là nó tác động tích cực cho việc xây dựng nhân cách, thông qua nội dung và nghệ thuật làhai mặt của cùng một vấn đề, đều quan trọng như nhau, tạo ra trí tuệ, đạo đức, năng lực và làm phong phú tâmhồn

Thông tin truyền thông cũng là một loại hoạt động văn hóa, vừa đáp ứng nhu cầu thông tin của con người

vừa tham gia xây dựng nhân cách, thông qua việc phát hiện, tôn vinh, làm lan tỏa các giá trị nhân văn và lên án, côlập, loại trừ cái xấu, cái ác

Văn học, nghệ thuật và thông tin truyền thông đều phải có trách nhiệm chiến đấu để chống lại cái xấu, cái ácnhư Nguyễn Đình Chiểu đã viết: “Tải bao nhiêu đạo thuyền không khẳm; đâm mấy thằng gian bút chẳng tà” Trừgian là để tải đạo, để tạo điều kiện cho cái tốt, cái đẹp, cái thiện đâm chồi phát triển, giống như diệt cỏ dại để lúatrĩu hạt cho đời, chứ không phải là sự đập phá gây đổ ngã Nhà văn vừa là thư ký thời đại vừa là kỹ sư tâm hồn,phản ánh hiện thực với lòng nhân ái, là “thầy thuốc” chữa các chứng bệnh thoái hóa nhân cách cho cộng đồng, làngười thắp lên ngọn đuốc để tham gia soi đường về với nhân văn Nếu văn học, điện ảnh, sân khấu, thông tintruyền thông và dư luận xã hội không còn tính chiến đấu chống lại cái xấu, cái ác thì cơ thể xã hội mất sức đềkháng – căn bệnh thế kỷ mà loài người đang phòng tránh và chạy chữa

Đặc điểm của loại lao động trên lĩnh vực văn học, nghệ thuật mang đậm dấu ấn của cá nhân người nghệ sĩ vàtính sáng tạo cao Đối với khoa học tự nhiên, nếu một nhà bác học nào đó không phát minh ra công thức ấy thì sau

đó, có thể rất lâu, có thể làm chậm rất nhiều đối với sự phát triển của nền văn minh nhân loại, nhưng chắc chắn rồi

sẽ có một nhà bác học khác phát minh ra công thức ấy Còn không có Nguyễn Du, không có Léptônxtôi, thì nhânloại mãi mãi không có “Truyện Kiều”, không có “Chiến tranh và hòa bình” Vì vậy, tôn trọng sự tự do và tôn vinhsáng tạo của người nghệ sĩ chính là tạo điều kiện cho các kiệt tác ra đời

Trang 4

Vấn đề nhân cách và giáo dục văn hoá nhân cách của con người phải được nhìn nhận là điểm cốt lõi, sâu sắc và tinh tế nhất

Một con người đạt tới sự trưởng thành xã hội phải là một con người có nhân cách.

Nhân cách là nhân cách của từng người, trong tính cá thể sinh động của nó, trong sự tự biểu hiện và tự khẳngđịnh chặt lượng phát triển người của nó với tư cách một cá nhân, một chủ thể mang nhân cách Đây là sự phát triểnđặc trưng của cái riêng, của từng cái riêng một trong mối liên hệ mật thiết về bản chất với cái chung Mỗi cái riêng

đó là một con người cá thể, cá nhân mà nhân cách của nó phản ánh nhân cách xã hội, là sản phẩm của sự phát triển

xã hội trong những điều kiện lịch sử nhất định Mỗi một cái Tôi nhân cách đều mang dấu ấn của nhân cách xã hội,chịu ảnh hưởng và tác động của hoàn cảnh xã hội, điều kiện sống, truyền thống lịch sử, văn hoá cũng như trình độ

và tính chất phát triển của xã hội đương thời Cái chung của nhân cách xã hội chi phối nhân cách cá nhân thôngqua hệ giá trị và chuẩn mực của nó, biểu hiện thành thế giới quan và nhân sinh quan, thành tư tưởng và đạo đức,tình cảm và niềm tin, thành hành vi trong hoạt động và ứng xử của con người trong cộng đồng xã hội Do đó, mỗi

cá nhân mang cái tôi nhân cách như một hình ảnh thu nhỏ của nhân cách xã hội Đời sống hiện thực, hàng ngàycủa nó diễn ra trong môi trường xã hội, giữa những người khác, trong công việc, trong giao tiếp và ứng xử Môitrường xã hội, hoạt động của con người và những quan hệ xã hội của nó là những nhân tố trực tiếp nhất tham giavào sự hình thành và thực hiện nhân cách của mỗi cá nhân Tính hiện thực này của nhân cách xác định hình thứcbiểu hiện của nhân cách ở lẽ sống, lối sống và nếp sống Lẽ sống biểu đạt một quan niệm sống, một thái độ lựachọn và định hướng giá trị cuộc sống của bản thân, chứa đựng trong đó cả mục đích, động cơ, nhu cầu và lý tưởng

xã hội mà cá nhân hướng tới Nó đo lường trình độ trưởng thành xã hội của cá nhân về mặt nhận thức, lý trí, tìnhcảm… ý thức và tự ý thức về mình – cải tạo thành bản ngã, hay ý thức về cái tôi cá thể và chủ thể, trước hết đượcđịnh hình ở lẽ sống Nó như một triết lý về con người và cuộc sống

Hồ Chí Minh khái quát triết lý ấy trên hai phương diện của cùng một vấn đề: Sống ở đời và Làm người Làmngười và sống ở đời thì phải chính tâm và thân dân Với những con người trẻ tuổi mới bước vào đời, lập thân vàlập nghiệp, lẽ sống là cả một vấn đề hệ trọng của cuộc đời Xã hội, trước hết là gia đình, nhà trường, các bậc cha

mẹ, các nhà giáo dục và những thế hệ đi trước phải giúp đỡ thế hệ trẻ tự mình tìm thấy câu trả lời đúng và tôi, tôi

và đẹp về lẽ sống Đây thực sự là một định hướng mang ý nghĩa sâu xa về văn hoá, về văn hoá nhân cách

Xác định đúng đắn về lẽ sống đối với một con người là điểm tựa tinh thần đầu tiên để con người phát triểnthành một nhân cách với nghĩa là biết sống lương thiện, tử tế, có trách nhiệm với chính mình và xã hội

Xây dựng lối sống và đời sống văn hoá tinh thần là tạo ra môi trường văn hoá theo các chuẩn mực giá trị vềđạo đức, khoa học, thẩm mỹ để hình thành văn hoá nhân cách của cá nhân cũng như tập thể Lối sống vừa phảnánh nhân cách vừa đánh giá nhân cách của cá nhân mỗi người

Văn hoá nhân cách của cá nhân biểu hiện trình độ phát triển nhân cách của cá nhân đó ở mức độ điển hình,trong đó những thuộc tính giá trị của nhân cách đã trở nên ổn định, bền vững Ý thức về cái đúng (chân), cái tốt(thiện), cái đẹp (mỹ) đã gắn liền với năng lực thực hành lối sống theo những giá trị đó Nó trở thành xu hướng chủđạo dẫn dắt cá nhân tới những hoạt động chủ động, tích cực, sáng tạo, tới những hành vi giao tiếp và ứng xử vớinhững người xung quanh một cách có văn hoá, đặc biệt là văn hoá đạo đức Đó là những nét đẹp thuộc về tưtưởng, tâm hồn, tính cách như sự trung thực, lòng chân thành, tính vị tha, bao dung, sự ân cần chu đáo với conngười, thái độ tôn trọng nhân cách con người và coi trọng đạo lý làm người

Vậy, văn hoá nhân cách biểu hiện trình độ phát triển nhân cách thông qua lối sống có văn hoá, là cái đã trởthành lối sống văn hoá, thành chất lượng văn hoá lối sống của cá nhân Đây là mục tiêu cần đạt tới của giáo dụcvăn hoá nhân cách đối với con người, nhất là đối với thế hệ trẻ Người đạt đến văn hoá lối sống và văn hoá nhâncách là người không chỉ đạt đến trình độ phát triển của năng lực, của đạo đức và các giá trị, các chuẩn mực xã hộikhác của nhân cách, mà còn đạt tới sự phát triển về nhu cầu - những nhu cầu bên trong thuộc về đời sống văn hoátinh thần của mình, tự khẳng định mình về tư tưởng, đạo đức, lối sống theo các chuẩn mực giá trị Chân - Thiện -Mỹ

Người có văn hoá lối sống và văn hoá nhân cách là người có sự phát triển bền vững của văn hoá đạo đức.Văn hoá đạo đức là nền tảng và giá trị cốt lõi nhất tạo nên đặc trưng điển hình và bao trùm cho một nhân cách đãchín muồi

Trong khi nhấn mạnh cả hai mặt đức và tài của nhân cách, Hồ Chí Minh vẫn coi đức là gốc, là quyết định, là hàng đầu chính là vì vậy.

Theo quan niệm đó, người được coi là có nhân cách, trước hết là người có đạo đức, được đánh giá về đạođức bởi những người khác, bởi dư luận xã hội Sự đánh giá này tập trung vào lối sống của con người, trong quan

hệ với công việc, với những người xung quanh, với cả bản thân mình từ thái độ đến hành vi, ứng xử Tính ích kỷ,

sự vụ lợi mà rộng hơn là cá nhân chủ nghĩa xa lạ với những gì thuộc về nhân cách con người cả trên bình diện đạođức lẫn bình diện văn hoá Sống đúng, sống tốt và sống đẹp giữa mọi người, không phải vì mình mà vì ngườikhác, coi lối sống, cách sống đó như một nhu cầu, một sự thoả mãn đạo đức và văn hoá làm người - đó là thước đogiá trị nhân cách trong lối sống Người mang lối sống ấy sẽ biểu hiện nhân cách của mình bằng cách làm việc hết

Trang 5

mình, tận tuy thực hiện bổn phận, nghĩa vụ, nhất quán giữa lời nói là việc làm - những cái mà ta thường nói, sống

có tâm, có tình, có nghĩa Với cái tâm đó, người ta mới biết đem cái tài ra để giúp ích cho đời, cho người Vị tha lànét cao quý, đáng nể trọng của đạo làm người Không nhân ái thì không thể vị tha được Cũng như vậy, không cólòng vị tha thì không thể khiêm nhường, thành thật, bao dung, độ lượng với người và nghiêm khắc với mình được.Phải có những phẩm chất ấy, con người ta mới có thể đem vào trong nếp sống hàng ngày của mình những biểuhiện của sự quan tâm, ân cần, chu đáo với người khác, tính cẩn thận, nề nếp, tận tâm, tận lực trong mọi công việclớn, nhỏ vì người khác Đó là sự hy sinh, sự quên mình, chỉ với một tình cảm thiết tha được sống vì người khác,được góp phần nhỏ bé của mình vào sự lớn rộng thêm những niềm vui và hạnh phúc cho người khác, làm vợi đinhững khó khăn, vất vả làm dịu đi những nỗi buồn, những đau khổ của người khác, cũng như làm được ngày mộtnhiều hơn những điều, những việc hữu ích cho cuộc đời

Là sự cụ thể hoá lối sống, củng cố sự bền vững những giá trị và chuẩn mực của văn hoá lối sống, nếp sốngthường ngày của mỗi cá nhân như những chỉ báo xác thực để đo lường mức độ trưởng thành cũng như xu hướngphát triển nhân cách của cá nhân đó Với những biểu hiện của nếp sống, con người tự bộc lộ mình là người như thếnào, là một nhân cách như thế nào Qua nếp sống của một con người cụ thể, có thể đánh giá được người ấy đã tựgiáo dục mình đến đâu, đã chuyển hoá học vấn thành văn hoá nhân cách của mình đến mức nào

Từ những điều trình bày trên đây, cần nhấn mạnh rằng, nhân cách và văn hoá, nhân cách liên quan trên toàn

bộ chất lượng phát triển con người ảnh hưởng và có sức chi phối sâu xa đến cuộc sống của con người với sự toànvẹn của chỉnh thể cá nhân, cá thể của nó cũng như sự tác động qua lại giữa nó với những cá nhân, cá thể khác vớicộng đồng xã hội mà nó là một phần tử hợp thành, không thể tách rời

Nhân cách là toàn bộ các giá trị mà con người đạt được trong sự trưởng thành xã hội của nó Những

giá trị đó gắn liền với những chức năng và vị thế của con người trong các quan hệ xã hội mà nó biểu hiện ra bằnghoạt động, với tất cả sự phong phú và toàn vẹn của đời sống cá nhân trong môi trường xã hội, trong sự phát triểncủa cá nhân và xã hội

Đạo đức cũng như năng lực là những thành phần chủ yếu của cấu trúc nhân cách, nhưng chỉ riêng đạo đứchay năng lực không đủ để xác định một nhân cách Nói đạo đức là yếu tố quan trọng hàng đầu là gốc, là cái quyếtđịnh của nhân cách không có nghĩa là đồng nhất đạo đức với nhân cách, coi nhân cách chỉ là đạo đức Cần phảikhắc phục một quan niệm đơn giản khi lược quy nhân cách vào mặt duy nhất là đạo đức, cũng như đồng nhất họcvấn với văn hoá như vẫn thường thấy khi đánh giá sự phát triển của cá nhân về mặt học vấn, học thức Mặt khác,nếu tách rời đạo đức với năng lực, tuyệt đối hoá đạo đức mà xem nhẹ năng lực, hoặc cho rằng dường như nhữnghạn chế, yếu kém, thiết hụt về năng lực có thể được bù trừ, châm chước bằng phẩm chất đạo đức, thì đó sẽ là mộtquan niệm không đúng về nhân cách Ngược lại, đề cao năng lực đến mức coi năng lực là tất cả, chỉ cần rèn luyệnnăng lực để làm việc, còn đạo đức không có vai trò quyết định thì quan niệm đó càng sai lệch nhiều hơn Đó lànhững biểu hiện khác nhau của cách hiểu phiến diện, siêu hình về nhân cách

Trên thực tế, đạo đức chi phối và quyết định năng lực, đồng thời đạo đức phải biểu hiện qua năng lực, ở tácdụng và hiệu quả của năng lực trong hoạt động

Đạo đức và năng lực phải được hình dung cụ thể trong công việc và trong các quan hệ mà con người phảigiải quyết và ứng xử hàng ngày, tức là trong những tình huống khác nhau của cuộc sống Thông qua những côngviệc và quan hệ đó, con người tỏ rõ mình đã làm được những gì, đã sống như thế nào giữa những người khác, nhờ

đó mà nhân cách cá nhân của nó được định bơm và cũng có thể tự đánh giá Phải thông qua những đánh giá xã hộithì nhân cách cá nhân mới có tính hiện thực Tính hiện thực đó biểu hiện ở ảnh hưởng và uy tín mà người này cóđược ở người khác, trong những người khác và ngược lại

Mỗi cá nhân là một chủ thể mang nhân cách của mình, đồng thời là đối tượng; khách thể được đánh giá vềnhân cách bởi một chả thể khác, bởi cộng đồng xã hội

Nhân cách của mỗi cá nhân được hình thành trong các mối liên hệ xã hội, trong các quan hệ liên nhân cách Điều đó được thể hiện trước tiên trong giao tiếp văn hoá.

Giao tiếp văn hoá để học cách sống, cách ứng xử văn hoá, tập luyện hành vi, thói quen tốt cho từng cá nhântheo những chuẩn mực và giá trị của văn hoá giao tiếp, văn hoá đối thoại, tranh luận, văn hoá ứng xử Làm chotừng cá nhân nảy nở và phát triển nhu cầu văn hoá trên những phương diện đó chính là con đường giáo dục vănhoá nhân cách cho họ

Cảm nhận một cách tinh tế yêu cầu lý, Nêru, nhà hoạt động văn hoá lỗi lạc Ấn Độ nhấn mạnh rằng, “Văn hoá chính là khả năng hiểu biết người khác và làm cho người khác hiểu mình” Còn viện sĩ Lik- hachốp coi “Văn hoá là biết lắng nghe” và Xukhômlinxki, nhà giáo dục xô viết nổi tiếng, người đã dồn hết tâm huyết và tinh lực cả đời mình cho công việc giáo dục thế hệ trẻ, với tác phẩm vĩ đại “Giáo dục con người chân chính như thế nào?” lại đặc biệt chú ý tới phẩm chất làm người thông qua giáo dục văn hoá nhân cách Ông quan niệm “Văn hoá chính là khả năng biết nhìn thấy người bên cạnh”.

Biết lắng nghe, ấy là sự khiêm nhường, là sự tôn trọng con người Biết nhìn thấy người khác, ấy là sự ân cần,chu đáo, sự thông cảm, chia xẻ với những số phận con người - một biểu hiện cao quí của nhân tính Mác đã từng

Trang 6

nói: chỉ có súc vật mới quay lưng lại với nỗi thống khổ của đồng tính Mác đã từng nói: chỉ nói có súc vật mớiquay lưng lại với nỗi thống khổ của đồng loại.

Tập luyện, gieo trồng, vun trồng nhân tính là gốc rễ bền bỉ nhất của văn hoá Nhân tính đó, chính là chiềusâu của sự hiểu biết, sự đồng cảm của con người với con người Đó cũng là nhu cầu văn hoá đạo đức của mỗi cánhân trong lao động, hoạt động, trong gian tiếp, ứng xử với những người khác

Những thuộc tính giá trị cộng đồng và cộng cảm ấy của văn hoá làm người, văn hoá nhân cách tỏ rõ rằng,nhân cách con người không bao giờ độc lập, biệt lập trong cái trạng thái cô đơn, ốc đảo khép kín ở một cá thế Nó

là sự giao hoà giữa nhân cách của nó với những nhân cách ngoài nó, của những con người, những cuộc đời và của

cả cộng đồng xã hội nói chung Nhân cách là một quan hệ liên nhân cách chính là vì thế

Sự phối hợp đồng bộ các lực lượng giáo dục cũng như sự thống nhất giữa mục tiêu và phương pháp giáo dụctrở nên hết sức cần thiết Nó tạo ra những tác động tích cực cùng chiều tới sự hình thành nhân cách của thế hệ trẻ.Muốn vậy, phải khai thác tối đa sức mạnh của giáo đục truyền, thống lịch sử dân tộc, truyền thống cách mạng; kếthợp giáo dục khoa học để rèn luyện phương pháp tư duy sáng tạo và phát triển trí tuệ với giáo dục đạo đức và traudồi sự tinh tế trong cảm thụ nghệ thuật, nâng cao khiếu thẩm mỹ để làm phong phú thế giới tinh thần của họ Đó lànhững lực đẩy cần thiết giúp con người phát triển và hoàn thiện nhân cách Nó còn cần thiết để thức tỉnh nhữngngười đã bị lệch lạc về nhân cách, thậm chí đánh mất nhân cách của mình mà trong hoàn cảnh và ở thời điểm nào

đó, họ có thể hoàn lương và hướng thiện

Tóm lại, việc xây dựng con người phát triển toàn diện với những phẩm chất cao quý của con người là công

việc khó khăn, phúc tạp cần phải có sự kiên trì, bền bỉ và có một chiến lược lâu dài Phải huy độngmọi lực lượng,vận dụng sức mạnh tổng hợp của văn hóa để hình thành con người mới từ lúc lọt lòng và trong suốt cả cuộc đờibằng nhiều hình thức và biện pháp sinh động, hiệu quả và thích hợp với từng giai đoạn

Câu 2) Thông qua mối quan hệ giữa môi trường văn hóa và sự phát triển văn hóa, anh chị hãy chỉ rõ cần phải phát triển đồng bộ các môi trường văn hóa nào trong bối cảnh của đất nước ta hiện nay? Vì sao?

Tham khảo ở sách học Bài 4 - trang 117.

Bác Hồ có câu "Chúng ta phải học, phải cố gắng học nhiều Không chịu khó học thì không tiến bộ được.Không tiến bộ là thoái bộ Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo Mình không chịu họcthì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình "

a Về khái niệm và bản chất của môi trường văn hóa

Về khái niệm, trước hết cần phải có sự khu biệt nhất định về khái niệm "văn hoá" trong quan niệm về môitrường văn hóa (MTVH) Bởi, nếu văn hoá được hiểu theo nghĩa rộng (bao hàm tất cả mọi hoạt động sáng tạo củacon người) thì nội hàm khái niệm MTVH phải được mở rộng tối đa Như thế sẽ rất khó phân biệt được tính đặc thùcủa MTVH Còn nếu nhìn văn hoá trong tổng thể cấu trúc xã hội, thì môi trường văn hoá là bộ phận quan trọng,phản ánh chiều sâu của môi trường xã hội, thậm chí đồng nhất với môi trường xã hội, đời sống xã hội

Cũng không thể theo ý kiến cho rằng nên co hẹp khái niệm MTVH MTVH chính là tổng hoà các loại điềukiện văn hoá tinh thần (chủ yếu như giáo dục, đạo đức, tôn giáo, tập tục ) tồn tại xung quanh chủ thể và tác độngtới hoạt động của chủ thể Nếu quan niệm như thế thì tất yếu sẽ gặp rào cản trong thực tiễn MTVH Bởi những yếu

tố tác động tới con người của MTVH - con người với tư cách vừa là sản phẩm và chủ thể - thì không chỉ có thuầntuý là các điều kiện văn hoá tinh thần

Chúng tôi đồng tình với cách tiếp cận: MTVH chỉ là một thành tố, một phương diện cấu thành của văn hóa

và phát triển văn hóa MTVH là tổng hoà của các phương diện: thực tiễn sáng tạo văn hóa (sự ứng xử, thích nghi của con người với môi trường sống); hệ giá trị văn hóa (kết quả của hoạt động sáng tạo) và tâm lý văn hóa (kế

thừa, trao truyền, tiếp nhận) Quan niệm MTVH từ góc nhìn này phản ánh được những mối quan hệ nội tại của vănhóa Trong mối quan hệ với văn hoá: MTVH phản ánh văn hoá vừa là thuộc tính bản chất của xã hội, dạng hoạtđộng của đời sống xã hội, biểu hiện kết quả hệ thống giá trị sáng tạo; văn hoá vừa như là một tiểu hệ thống củatoàn bộ hệ thống xã hội - tiểu hệ thống văn hoá tinh thần

Tiếp cận từ góc nhìn này sẽ tránh được sự chồng chéo và sự mở rộng quá mức nội hàm khái niệm, đồng thờilàm rõ được tính đặc thù của MTVH Tiếp cận MTVH là một yếu tố cấu thành của văn hóa, sẽ có cơ sở để phânbiệt cấu trúc và nội dung của xây dựng môi trường văn hóa, tác động của MTVH đến các hoạt động sáng tạo vănhóa Còn nếu quá mở rộng phạm vi khái niệm "môi trường văn hoá" thì sẽ dẫn đến sự chồng chéo giữa các kháiniệm và nội hàm của nó Quá co hẹp trong quan niệm thì sẽ dẫn đến những giới hạn sẽ làm hạn chế phạm vi ảnhhưởng và tác động của của "môi trường văn hoá" trong các hoạt động quản lý cũng như thực hành phát huy vai tròMTVH trong phát triển đời sống xã hội

Từ quan điểm trên đây, đưa ra khái niệm MTVH như sau: Môi trường văn hoá là tổng thể sống động các yếu tố văn hoá vật thể và phi vật thể bao quanh con người trong một không gian, thời gian xác định, các yếu tố đó

Trang 7

tác động lẫn nhau và có quan hệ tương tác đối với con người, nhằm phát triển, phát huy vai trò con người vừa là sản phẩm vừa là chủ thể văn hoá.

Với định nghĩa này, nội hàm của MTVH được quan niệm rộng hơn nội hàm của đời sống văn hoá, MTVH làgiới hạn có thể xác định trong mối quan hệ biện chứng của con người với môi trường tự nhiên và môi trường xã

hội Trong môi trường sống của con người, môi trường tự nhiên là sự tập hợp các yếu tố bên ngoài hệ thống xã hội

- con người, là điều kiện cần cho sự tồn tại phát triển Còn môi trường văn hoá là tập hợp các yếu tố bên trong hệ

thống xã hội - con người làm thành điều kiện đủ định hướng cho mỗi tiểu hệ thống trong hệ thống tồn tại, pháttriển(5)

Định nghĩa này cũng cho phép chúng ta nhận diện đặc trưng, đặc điểm của MTVH trong mối quan hệ với

đời sống văn hoá và đời sống xã hội Đặc điểm đó chính là tính phi vật thể Tính phi vật thể được hiểu rõ hơn khi chúng ta xem xét phương thức tác dụng của MTVH so với môi trường xã hội Sức mạnh của MTVH có tính vô hình vì tác động theo hình thức thấm dần, làm thay đổi cảm nhận, hành vi của con người So với sức mạnh có tính hữu hình, trực tiếp và tính biến đổi sôi động của môi trường xã hội, thì MTVH có tính lắng đọng hơn Trong mối

quan hệ với đời sống văn hoá, MTVH là khái niệm không đồng nhất, mà bao trùm lên toàn bộ đời sống văn hoácủa con người MTVH phải được xem xét như một chỉnh thể, như một hệ thống

Môi trường văn hóa là nơi con người sống và chịu sự tác động của nó trong quá trình hình thành nhân cách Gia đình, cộng đồng, văn hóa trong kinh tế, văn hóa trong chính trị có vai trò hết sức quan trọng đối với việc

xây dựng nhân cách Cần phải có những gia đình hiếu học và chiếc nôi nuôi dưỡng nhân cách Cần phải có mộtnền kinh tế phát triển bền vững, lành mạnh, hiệu quả, trong đó những người lao động được tôn trọng, không bịphân hóa giàu nghèo bất hợp lý, không bị lợi ích nhóm (theo nghĩa xấu) chi phối, có cơ chế quản lý tiên tiến, đủsức hạn chế “yêu quái” từ mặt trái của cơ chế thị trường Cần có một nền chính trị dân chủ thấm đẫm văn hóa “dân

là gốc”, nói cách khác là một nền “dân trị”, trong đó dân thật sự là chủ, làm chủ, quyền lực là của nhân dân, cán bộ

là những người hết lòng hết sức phục vụ nhân dân, kính trọng và lễ phép với nhân dân; có cơ chế kiểm soát quyềnlực đủ mạnh để hạn chế một cách hiệu quả mặt trái của con ngựa bất kham Đó là điểm quan trọng nhất về xâydựng văn hóa chính trị Không thực hiện thành công điều đó thì không thể có CNXH hiện thực được, dù chúng ta

có viết, có hô khẩu hiệu nghìn lần Trong nền chính trị ấy, và để xây dựng nền chính trị ấy, cần có Đảng là bộtham mưu chiến lược, là “con nòi” của dân tộc, là một Đảng chân chính, trong sạch, “đạo đức và văn minh”, “trítuệ, danh dự và lương tâm” như cách nói của Hồ Chí Minh và Lênin

Môi trường văn hóa tốt đẹp là một môi trường mà khi tiếp cận với nó, sống trong đó, con người ta sẽ tốt hơnlên, trưởng thành, hoàn thiện và hạnh phúc hơn Một nền văn hóa tốt đẹp do con người tạo ra và đến lượt nó sẽ làmột môi trường văn hóa khổng lồ tác động trở lại tạo ra những con người có nhân cách tốt đẹp Hội nghị Trungương 5 khóa VIII đã có chủ trương xây dựng một nền văn hóa “tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc” Kế thừa và tiếptục phát triển tinh thần ấy, Hội nghị Trung ương 9 khóa XI đã lưu ý các đặc trưng của một nền văn hóa Việt Nam

là dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học Dân tộc ta nhất quyết phải phát triển và phải là Việt Nam; với một nềnvăn hóa giàu tính nhân văn, để trong đó con người đẹp hơn và được hạnh phúc; với một chế độ dân chủ để ổn địnhbền vững và có sức mạnh tiến lên; với một nền khoa học phát triển để dân tộc có thể tiến cùng thời đại

Nói chung, môi trường văn hóa là tổng hòa các loại điều kiện văn hóa tinh thần tồn tại xung quanh con người và tác động tới hoạt động của con người Yếu tố chủ yếu tạo thành môi trường văn hóa là giáo dục, khoa học, kinh tế, văn nghệ, đạo đức, tôn giáo, triết học, tâm lý dân tộc và tập tục truyền thống

Từ tầm nhìn vĩ mô, môi trường văn hóa là một bộ phận hợp thành của toàn bộ môi trường xã hội, vì thế, nó

có vai trò to lớn đối với sự ổn định phát triển và tiến bộ của toàn thể xã hội

Thứ nhất, môi trường văn hóa có ảnh hưởng đến sự hình thành quan điểm giá trị và quan niệm phân phối xã

hội một cách hợp lý, nhân văn, phù hợp với các tầng lớp khác nhau trong xã hội nhằm bảo đảm sự ổn định

Thứ hai, môi trường văn hóa ảnh hưởng tới ổn định xã hội thông qua quan hệ giữa con người với con người

Xã hội là do con người tổ chức hợp thành Cá nhân, gia đình là tế bào của xã hội Con người sống trong xã hội tất nhiên sẽ phát sinh nhiều loại quan hệ và những mối quan hệ này ở những mức độ khác nhau sẽ ảnh hưởng đến ổn định xã hội Phải tăng cường ý thức đạo đức bao gồm quan niệm đạo đức xã hội và đạo đức nghề nghiệp Thông qua dư luận xã hội và hoạt động văn hóa làm cho các yêu cầu đạo đức trở thành một bộ phận hợp thành ý thức tư tưởng của mọi công dân

Thứ ba, phải thực hiện công bằng xã hội Môi trường văn hóa tạo cơ hội, tạo điều kiện hưởng thụ văn hóa,

hưởng thụ giáo dục Bên cạnh đó, việc hưởng thụ các giá trị tinh thần khác thông qua sách báo, truyền hình, ca nhạc, triển lãm, du lịch văn hóa và du lịch sinh thái cũng rất quan trọng Vấn đề đặt ra với chúng ta hiện nay là song song với việc mở rộng không gian và môi trường văn hóa, cần chú trọng hơn nữa chất lượng hưởng thụ văn hóa, giảm dần sự cách biệt giữa nông thôn và thành thị, giữa vùng phát triển nhanh và vùng phát triển chậm, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa

Môi trường văn hóa và biến đổi xã hội: Xã hội ổn định không có nghĩa là xã hội không có biến đổi Trong hệ

thống xã hội to lớn và phức tạp, giữa các tầng bậc, các thành phần, các yếu tố có thể xảy ra tình trạng không thích

Trang 8

ứng, không hài hòa Đây là cội nguồn khách quan của biến đổi xã hội Với tư cách là một bộ phận hợp thành môi trường xã hội, môi trường văn hóa tất có liên quan đến sự biến đổi xã hội, đặc biệt là liên quan đến văn minh chínhtrị của nhà cầm quyền và sự lựa chọn hình thức phát triển đất nước của người dân.

Trong thời đại ngày nay, sự phát triển văn minh vật chất gắn liền với thành tựu khoa học - kỹ thuật hiện đại như kỹ thuật số, công nghệ tin học, công nghệ sinh học Như vậy, văn minh vật chất hiện đại chủ yếu dựa vào trí lực, không phải là khai thác và lợi dụng tài nguyên theo kiểu tiêu hao mà khai thác tài nguyên song song với việc bảo vệ và tái sinh tài nguyên

Còn về văn minh tinh thần, trước hết, môi trường văn hóa tốt đẹp sẽ tương thích và thúc đẩy sự phát triển

lành mạnh của đời sống văn hóa tinh thần vì thành phần cơ bản của môi trường văn hóa bao gồm tình trạng đời sống văn hóa của quần chúng, tình trạng giáo dục khoa học - kỹ thuật, tình trạng đạo đức xã hội và tình trạng tư

tưởng lý luận Thứ hai, nhìn từ góc độ khác sẽ thấy phạm vi môi trường văn hóa rộng hơn giá trị văn hóa tinh thần.

Vì môi trường văn hóa hiện thực bao gồm loại hình văn hóa, hoạt động văn hóa, tâm lý văn hóa nên ở đó, tồn tại

cả cái tốt và cái xấu, tích cực và tiêu cực, tiến bộ và lạc hậu Còn phạm trù giá trị văn hóa tinh thần là phạm trù chỉ những giá trị mang ý nghĩa kết tinh, ở đó không có chỗ cho những sản phẩm văn hóa kém chất lượng

Môi trường văn hóa và sự phát triển kinh tế - xã hội: Môi trường văn hóa có tác dụng thúc đẩy tích cực đối với phát triển kinh tế Thứ nhất, môi trường văn hóa có tác dụng điều chỉnh hài hòa đối với vận hành bình thường

của nền kinh tế Các loại giá trị văn hóa không những là cơ sở chỉ đạo động cơ tăng trưởng kinh tế mà còn quy

định tính hợp lý của mục tiêu tăng trưởng Thứ hai, môi trường văn hóa tốt đẹp có thể điều hòa, sửa chữa, uốn nắn

tính hẹp hòi của quan điểm giá trị vì lợi nhuận của kinh tế thị trường Đặc biệt phải coi trọng vai trò động lực của văn hóa; phải không ngừng nâng cao tỷ trọng văn hóa tinh thần; làm trong sạch thị trường văn hóa, chỉnh đốn và quy phạm trật tự thị trường văn hóa theo pháp luật; đặt phát triển văn hóa vào vị trí chiến lược quan trọng trong chiến lược phát triển đất nước

Môi trường văn hóa và sự phát triển toàn diện con người: Tăng cường xây dựng môi trường văn hóa tạo

dựng nên một môi trường văn hóa lành mạnh, tiến lên, phát triển là bảo đảm quan trọng cho việc thực hiện phát triển toàn diện con người

Xây dựng văn hóa gia đình

“Văn hóa gia đình là hệ thống những giá trị, chuẩn mực khu biệt đặc thù điều tiết mối quan hệ giữa các thành viên trong gia đình và mối quan hệ giữa gia đình với xã hội, phản ánh bản chất của các hình thái gia đình đặc trưng cho các cộng đồng các tộc người, các dân tộc và các khu vực khác nhau được hình thành và phát triển lâu dài của đời sống gia đình, gắn liền với những điều kiện phát triển kinh tế, môi trường tự nhiên và xã hội” (1).Nhận thức được vai trò của gia đình trong việc giữ vững ổn định xã hội, phát triển kinh tế, nuôi dưỡng giáo dục và cung cấp nguồn lực con người đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước trong thời kỳ phát triển kinh tế tri thức và hội nhập quốc tế, Đảng ta luôn quan tâm đến xây dựng văn hóa gia đình Xây dựng môi trường văn hóa và văn hóa gia đình đã được đề ra trong Nghị quyết Trung ương 5, khóa VIII về xây dựng văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển của đất nước: “Xây dựng môi trường văn hóa với nội dung đầu tiên là xây dựng văn hóa gia đình “tạo ra ở các đơn vị cơ sở (gia đình, làng, bản, trường học, đơn vị bộ đội), các vùng dân cư (đô thị, nông thôn, miền núi) đời sống văn hóa lành mạnh, đáp ứng những nhu cầu đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân” (2)

Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước xác định một trong những nhiệm vụ xây dựng môi trường văn hóa là thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam, xây dựng gia đình thực sự là nơi hình thành nuôi dưỡng nhân cách văn hóa và giáo dục nếp sống cho con người Phát huy giá trị truyền thống tốt đẹp, xây dựng gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc, văn minh Xây dựng và nhân rộng các mô hình gia đình văn hóa tiêu biểu, có nền nếp ông bà, cha mẹ mẫu mực, con cháu hiếu thảo, vợ chồng hòa thuận, anh chị em đoàn kết, thương yêu nhau

Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt các đề án “Phát huy giá trị tốt đẹp của mối quan hệ trong gia đình và hỗ trợ xây dựng gia đình hạnh phúc, bền vững đến năm 2020” (Quyết định số 279/QĐ-TTg); phê duyệt “Chiến lược phát triển gia đình Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030” (Quyết định số 629/QĐ-TTg); phê duyệt “Chương trình hành động quốc gia về phòng chống bạo lực gia đình đến năm 2020” (Quyết định số 215/QĐ-TTg) nhằm thể chế Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI Các chương trình và đề án đã khẳng định xã hội gia đình no ấm, tiến bộ, hạnh phúc là một trong những mục tiêu quan trọng của chiến lược phát triển kinh tế - xã hội giai đoạn 2011 -

2020, tạo nguồn nhân lực cho sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc Vì vậy phát huy các giá trị tốt đẹp các mối quan hệ trong gia đình và hỗ trợ xây dựng gia đình Việt Nam hạnh phúc, bền vững là trách nhiệm của toàn Đảng

và toàn dân

Trên thực tế, xây dựng văn hóa gia đình hướng vào các mục tiêu cụ thể:

(1) Nhận thức về vai trò, vị trí, trách nhiệm của gia đình và cộng đồng trong việc thực hiện tốt chủ trương, đường lối, chính sách, pháp luật về hôn nhân và gia đình, bình đẳng giới, phòng, chống bạo lực gia đình, ngăn chặn các tệ nạn xã hội thâm nhập vào gia đình Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đã tổ chức rất nhiều hoạt động

Trang 9

nhằm tạo sự chuyển biến mạnh mẽ về nhận thức và nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, gia đình, cộng đồng và toàn xã hội trong công tác phòng chống, chống bạo lực gia đình, từng bước ngăn chặn và giảm bạo lực giađình trên phạm vi toàn quốc; cụ thể là các hoạt động viết về gương điển hình trong phòng, chống bạo lực gia đình; cuộc thi Câu lạc bộ gia đình chủ đề: Gia đình hạnh phúc, xây dựng kế hoạch mạng lưới quốc gia về phòng chống bạo lực gia đình giai đoạn 2010 - 2020 Trên thực tế, tình trạng ngoại tình, kết hôn bất hợp pháp, ly thân, chung sống không kết hôn, không muốn sinh con, lối sống thử, sống độc thân, kết hôn đồng tính là nguyên nhân dẫn đến bạo lực gia đình Theo số liệu thống kê hành vi đánh đập ngược đãi dẫn đến ly hôn chiếm khoảng hơn 50% trong tất cả các nguyên nhân dẫn đến ly hôn.

(2) Tăng cường các giải pháp hữu hiệu nhằm kế thừa, phát huy các giá trị truyền thống của gia đình Việt Nam, tiếp thu có chọn lọc các giá trị tiên tiến của gia đình trong xã hội phát triển, thực hiện đầy đủ các quyền và trách nhiệm của các thành viên trong gia đình, đặc biệt đối với trẻ em, người cao tuổi, phụ nữ có thai, nuôi con nhỏ Những hoạt động hưởng ứng Ngày quốc tế hạnh phúc 20-3 với chủ đề Yêu thương và chia sẻ; các hoạt động

kỷ niệm 15 năm ngày gia đình Việt Nam 28-6 với chủ đề Bữa cơm gia đình ấm áp yêu thương cùng với công tác truyền thông về lĩnh vực tiếp tục được đẩy mạnh với nhiều hình thức đa dạng, nội dung phong phú trên các

phương tiện thông tin đại chúng đã tạo nên các mối quan hệ trong gia đình ngày càng tốt đẹp, tiến bộ, văn minh

Đó là các quan hệ giữa vợ với chồng, cha mẹ với con cái, quan hệ giữa người cao tuổi và con cháu trưởng thành nhằm hỗ trợ xây dựng gia đình hạnh phúc bền vững

(3) Cùng với quá trình phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; tính năng động, tích cực của các thành viên trong gia đình tăng lên theo quá trình phát triển của đất nước Năng lực của gia đình trong phát triển kinh tế, ứng phó với thiên tai và khủng hoảng kinh tế ngày càng được nâng cao; việc làm phong phú và đa dạng hơn đã tăng thu nhập và phúc lợi cho các hộ gia đình; đặc biệt đối với các hộ gia đình chính sách,

hộ nghèo và cận nghèo

Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam mà trọng tâm là xây dựng môi trường văn hóa phải bắt đầu từ xây dựng văn hóa gia đình Vì chính gia đình là nơi sinh ra, giáo dục và nuôi dưỡng thể lực và nhân cách của mỗi con người, đó là nguồn lực tổng hợp như vốn xã hội để phát triển Không có nguồn lực nào quan trọng và quý giá bằng nguồn lực con người, bằng nguồn nhân lực, từ nhân lực hiện hữu bằng sức lao động đã trưởng thành, đang được sử dụng đến nhân lực tiềm tàng, tiềm năng đang được nuôi dưỡng, đào tạo, nó như “của để dành" như”

“vốn dự trữ” cho tương lai Do đó, con người, “tư bản” người là quan trọng bậc nhất, quyết định nhất vốn xã hội, nhìn từ quan điểm phát triển, từ lăng kính quản lý xã hội, quản trị doanh nghiệp và sâu xa hơn từ tầm nhìn văn hóa, từ triết lý nhân văn của phát triển văn hóa, phát triển con người Để có được nguồn nhân lực đó, đầu tiên và quan trọng nhất là từ nhiệm vụ xây dựng văn hóa gia đình

Nghị quyết Trung ương 9, khóa XI xác định rằng, “phát triển văn hóa vì sự hoàn thiện nhân cách con người

và xây dựng con người để phát triển văn hóa”

Quan điểm chỉ đạo này cho thấy, mối liên hệ bên trong mật thiết, gắn bó chặt chẽ, không thể tách rời giữa văn hóa với con người, giữa con người với văn hóa, về thực chất, phát triển văn hóa là phát triển con người, lấy phát triển con người là trọng tâm Phát triển con người không chỉ tạo ra chất lượng nguồn nhân lực để phát triển văn hóa mà con người với năng lực sáng tạo, trình độ học vấn, tiềm lực trí tuệ, phẩm giá đạo đức, lối sống của nó,

tựu trung lại là sự phát triển và hoàn thiện nhân cách của con người là tính hướng đích, là mục đích, mục tiêu của

phát triển văn hóa Xét theo quan điểm giá trị thì hệ giá trị Chân - Thiện - Mỹ của văn hóa cũng chính là hệ giá trị

phát triển con người, con người vừa với tư cách là chủ thể mang nhân cách của chính mình, phản ánh những chuẩn mực, yêu cầu của mẫu nhân cách xã hội, vừa với tư cách là chủ thể sáng tạo văn hóa, sản xuất ra văn hóa dưới

dạng các sản phẩm, các giá trị, đồng thời còn là chủ thể quản lý, cảm thụ, tiêu dùng văn hóa, thực hiện các hoạt động quảng bá, giao lưu văn hóa, tiếp xúc và tiếp biến văn hóa để phát triển xã hội, phát triển chính mình Chỉ có con người mới là chủ nhân đích thực của sáng tạo văn hóa, cả văn hóa vật chất (vật thể) lẫn văn hóa tinh thần (phi vật thể), cũng chỉ có con người, từ cấp độ cá nhân - cá thể gia đình đến cấp độ xã hội - cộng đồng, dân tộc, rộng nhất là nhân loại, mới tạo dựng nên môi trường văn hóa - xã hội để phát triển văn hóa và phát triển xã hội nói chung, để làm cho hiệu ứng xã hội của văn hóa (nhất là văn hóa tinh thần), lan tỏa, mở rộng, thấm sâu vào mọi lĩnh vực của đời sống, nhân lên sức sống, sức phát triển của con người, của văn hóa, không chỉ những thế hệ ngườitrong mối quan hệ gia đình, trong một dân tộc - quốc gia, nền văn hóa của mỗi dân tộc mà còn là sự phát triển của các dân tộc, của các nền văn hóa trong thế giới nhân loại Dòng chảy của sáng tạo và phát triển văn hóa là liên tục

từ quá khứ đến hiện tại và tương lai bắt đầu từ gia đình vì gia đình Việt Nam là một thiết chế nền tảng của xã hội Việt Nam truyền thống Con đường đi của phát triển, văn minh, tiến bộ của dân tộc cũng như của thế giới và thời đại là con đường của sáng tạo, phát triển văn hóa, của hội nhập văn hóa mà trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay, không một nước nào có thể ở bên ngoài tiến trình hội nhập để phát triển

Biện chứng của mối quan hệ văn hóa gia đình với con người, con người với văn hóa gia đình là ở tương tác nhân - quả giữa chủ thể và đối tượng Con người sáng tạo ra văn hóa và chính văn hóa lại tác động sâu xa, rộng

lớn tới phát triển con người, hoàn thiện nhân cách, nhân tính Có thể nói, con người là giá trị văn hóa cao nhất,

Trang 10

giá trị của mọi giá trị Hoàn thiện nhân cách, nhân tính của con người là sứ mệnh của văn hóa, là nỗ lực cao nhất

mà sáng tạo văn hóa cần đạt đến và mọi thành quả, thành tựu của văn hóa đều góp phần vào sự bộc lộ các năng lựcngười, khẳng định sức mạnh bản chất người của con người trong phát triển, từ cá thể người, gia đình đến cộng

đồng người trong dân tộc và trong nhân loại Giáo sư Vũ Khiêu đã từng nhấn mạnh, văn hóa là tất cả những gì cho thấy nhân tính vượt lên trên thú tính Hoàn thiện nhân tính, nhân cách con người rõ ràng là thước đo văn hóa

Đây là chỗ nói lên bản chất nhân văn đích thực của văn hóa, cũng là chỗ phân biệt văn hóa với phản văn hóa, trong

đó văn hóa gia đình có vai trò to lớn Trong bản chất của nó, văn hóa chỉ biểu đạt cái tốt đẹp, sự lương thiện và tử

tế, sự chính trực và lẽ công bằng, trọng sự thật và lẽ phải, tôn trọng chân lý khoa học, đạo lý và đạo nghĩa ở đời và làm người Văn hóa có cốt lõi của nó là đạo đức, mà đạo đức là gốc của nhân cách được hình thành bắt đầu từ văn hóa gia đình

Sự phát triển bền vững của đất nước thực chất là phát triển bền vững con người mà muốn vậy, phải đặc biệt chú trọng thực hiện chiến lược phát triển văn hóa, môi trường văn hóa và văn hóa gia đình Chỉ có tạo dựng môi

trường xã hội lành mạnh, môi trường văn hóa lành mạnh, trong đó có văn hóa gia đình lành mạnh mới có thể tạo ranhững con người mang nhân cách văn hóa, mới sáng tạo, sản sinh ra văn hóa vì con người, vì phát triển Đúng nhưđiều C Mác nói, nếu con người là sản phẩm của hoàn cảnh thì phải làm cho hoàn cảnh ngày càng có tính người nhiều hơn, và sự phong phú của mỗi cá nhân (nhân cách) tùy thuộc vào sự phong phú của những mối liên hệ xã hội của nó, trong đó có văn hóa gia đình

Xây dựng môi trường văn hóa lành mạnh

Để phát triển văn hóa gia đình và hoàn thiện nhân cách con người Việt Nam theo đúng quan điểm, mục tiêu, phương hướng, giải pháp mà Đảng đã xác định, trong tình hình hiện nay của nước ta và trước yêu cầu phát triển mới của đất nước, cần phải tập trung triển khai thực hiện những công việc cụ thể, thiết thực, có ích cho nước, có lợi cho dân, những việc làm thực tế, hợp với ý nguyện của lòng dân

- Trước hết, phải sử dụng có hiệu quả các nguồn lực vật chất, tinh thần từ công sức, mồ hôi nước mắt, sức

sáng tạo của dân mà có được để phát triển kinh tế, tạo thêm nhiều công ăn việc làm cho người dân, giải quyết nạn thất nghiệp đang nhức nhối trong xã hội hiện nay, bởi tình trạng hàng vạn thanh niên sinh viên tốt nghiệp, có học

thức mà không có việc làm An sinh là cái gốc của ổn định và phát triển, là tiền đề cho phát triển con người và vănhóa

- Thực hành triệt để tiết kiệm, chống lãng phí và đẩy lùi tham nhũng để chăm lo cuộc sống cho người dân,

nâng cao chất lượng cuộc sống và trình độ của dân, từ chăm lo dân sinh, nâng cao dân trí, bảo đảm dân quyền để

đi tới dân chủ Đó là một tổng hợp chương trình, chính sách phát triển kinh tế, xã hội, đó còn là chính trị, là đường lối, chính sách Chính trị vì dân, cũng là văn hóa trọng dân, trọng pháp rất cần trong lúc này, khi lòng dân không

yên, do không ít cán bộ suy thoái, hư hỏng

- Không có văn hóa và văn hóa chính trị nào cao quý hơn khi thực hiện cho được một nguyên tắc, một phương châm hành động “làm điều lợi cho dân, tránh điều hại tới dân”, có an dân thì mới đo được kết quả của việctrị quốc Có quốc thái thì sẽ có dân an Từ bài học của ông cha ta trong lịch sử đến Di sản cao quý của Chủ tịch HồChí Minh mà kế thừa, thực hiện và phát triển vào lúc này thì mọi việc lớn và nhỏ phải luôn luôn vì dân, phải coi

“dĩ công vi thượng” là văn hóa đạo đức, văn hóa chính trị hàng đầu trong giáo dục, rèn luyện cán bộ đảng viên, trong chỉnh đốn Đảng, trong cải cách thể chế, xây dựng Nhà nước pháp quyền của dân, do dân, vì dân Giáo dục đạo đức, đặc biệt là giáo dục liêm sỉ, lương tâm, danh dự, giáo dục ý thức trách nhiệm đi liền với thực hành đạo đức, lối sống liêm khiết phải được coi trọng trong văn hóa của Đảng, của các tổ chức công quyền

- Cùng với giáo dục phải siết chặt kỷ luật, kỷ cương, tính tôn nghiêm luật pháp, áp dụng chế tài mạnh mẽ để trừng phạt tất cả những người, những việc gây hại tới dân Đó là sức mạnh của văn hóa, của chính trị bảo đảm

“quang minh chính đại” theo chỉ dẫn của Chủ tịch Hồ Chí Minh Những người tốt phải được tôn vinh, những kẻ xấu phải bị phê phán, lên án, sàng lọc khỏi bộ máy để dân tin, dân tự mình bảo vệ Đảng và chế độ Sức mạnh của văn hóa và giá trị nhân cách con người, nhất là văn hóa trong Đảng và nhân cách văn hóa của mỗi cán bộ đảng viên, ở các cơ quan Đảng, cơ quan Nhà nước và các đoàn thể luôn là chỉ số quan trọng để thuyết phục dân, lấy lại niềm tin của dân đối với Đảng, với chế độ Tăng trưởng niềm tin của dân vào lúc này có tác dụng như một động

lực phát triển, nó minh chứng cho sự trong sạch, vững mạnh của Đảng từ tác động của văn hóa Tăng trưởng niềm tin của dân còn quan trọng và khó khăn hơn nhiều so với tăng trưởng kinh tế.

Đẩy mạnh giáo dục văn hóa gia đình, giáo dục lý tưởng, lẽ sống và rèn luyện đạo đức cho thế hệ trẻ phải được chú trọng, góp phần quan trọng vào công cuộc chấn hưng đạo đức, phát triển văn hóa ở nước ta Bộ Văn hóa,Thể thao và Du lịch tiếp tục thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam; chương trình hành động quốc gia

về phòng, chống bạo lực gia đình; chương trình quốc gia về giáo dục đời sống gia đình; Đề án phát huy giá trị tốt đẹp các mối quan hệ gia đình và hỗ trợ gia đình phát triển hạnh phúc bền vững; nhân rộng mô hình phòng, chống bạo lực gia đình; tuyên truyền đào tạo lối sống trong gia đình Việt Nam gắn với thực hiện Nghị quyết 33-NQ/TW

về “Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững của đất nước” và Nghị quyết Đại hội XII của Đảng

Trang 11

Xây dựng môi trường văn hoá để phát triển văn hoá và con người, phát triển bền vững đất nước

Thực tế triển khai thực hiện chủ trương trên thời gian qua cho thấy rằng có một số rào cản nhất định liênquan đến nội dung, nhiệm vụ xây dựng MTVH và công tác tổ chức thực hiện Bài viết này góp bàn làm rõ thêmvấn đề: Định hướng của Đảng về xây dựng MTVH, khái niệm và bản chất của MTVH, nội dung nhiệm vụ xâydựng MTVH trong giai đoạn hiện nay

a Những định hướng của Đảng về xây dựng MTVH

Lần đầu tiên trong Văn kiện Đại hội VIII của Đảng (1996), MTVH mới được nhận thức như là nhiệm vụ, nộidung của phát triển văn hoá Nội dung Nghị quyết ghi rõ: Mọi hoạt động văn hoá, văn nghệ phải nhằm xây dựng

và phát triển nền văn hoá tiên tiến, đậm đà bản sắc dân tộc, xây dựng con người Việt Nam về tư tưởng, đạo đức,

tâm hồn, tình cảm, lối sống, xây dựng môi trường văn hoá lành mạnh cho sự phát triển xã hội Tuy vậy phải đến

Văn kiện Đại hội Đảng VIII và Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII (1998), thì khái niệm, mục đích, nội dung xâydựng "môi trường văn hoá" mới được làm rõ hơn

Về khái niệm được xác định: "Môi trường văn hoá là môi trường chứa đựng những giá trị văn hoá và diễn

ra các quan hệ văn hoá, các hoạt động sáng tạo, hưởng thụ văn hoá của con người" Mục đích xây dựng MTVH

là để đáp ứng nhu cầu văn hoá đa dạng và không ngừng tăng lên của các tầng lớp nhân dân Nội dung xây dựngMTVH được xác định bao gồm: Xây dựng đời sống văn hoá ở các cơ sở; Xây dựng gia đình, cộng đồng dân cưvăn hoá; Xây dựng nếp sống văn minh; Xây dựng và nâng cao chất lượng hoạt động của các thiết chế văn hoá;Đẩy mạnh hoạt động của các tổ chức phong trào văn hoá, văn nghệ(1)

Đến Nghị quyết Trung ương 9 khoá XI (Nghị quyết số 33-NQ/TW) Về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước), nhận thức của Đảng về xây dựng MTVH có bước

tiến mới.Nghị quyết Trung ương 9đã có sự bổ sung mới cả về lý luận và thực tiễn

Mục đích xây dựng MTVH, xây dựng MTVH lành mạnh phù hợp với bối cảnh kinh tế thị trường và hộinhập, MTVHphải là nơi hình thành, nuôi dưỡng nhân cách văn hóa phát triển con người là chủ thể sáng tạo

Về quan điểm, phải xây dựng đồng bộ môi trường văn hoá, trong đó chú trọng vai trò của gia đình, cộngđồng, môi trường văn hoá chính trị

Về nội dung, xây dựng MTVH phải gắn với không gian, điều kiện và chủ thể của mỗi địa phương, cộngđồng, cơ quan, đơn vị;thực hiện chiến lược phát triển gia đình Việt Nam; chú trọng giá trị văn hoá tín ngưỡng tôngiáo trong xây dựng MTVH; gắn kết xây dựng MTVH với bảo vệ môi trường sinh thái; xây dựng đời sống vănhoá, đặc biệt vấn đề quy chế dân chủ, lối sống, nếp sống, hệ thống thiết chế văn hóa và tính tự quản của người dântrong các hoạt động (2)

Trên đây là những định hướng quan trọng của Đảng về xây dựng MTVH và đã được triển khai thực hiệntrong nhiều năm qua Tuy nhiên thực tế triển khai thực hiện và hiệu quả cho thấy cần phải tiếp tục làm rõ hơn nữa

về cơ sở lý luận và thực tiễn của vấn đề

Trước hết, chúng tôi đồng tình với một số ý kiến cho rằng, trong nội dung xây dựng MTVH của Nghị quyết

Trung ương 5 khóa VIII là chưa nhấn mạnh đến mối quan hệ, vai trò của môi trường văn hoá với phát triển nhâncách văn hoá và môi trường tự nhiên trong phát triển(3) Nhận định này hoàn toàn có sở, nhất là khi xem xét mốiquan hệ với đời sống văn hoá và thực tiễn MTVH về phương diện quản lý

Thứ hai,trong quan điểm của các nhà nghiên cứu và cả ngay trong các Văn kiện của Đảng, vẫn chưa có sự

thống nhất, phân biệt rõ ràng về khái niệm và nội hàm của đời sống văn hoá và môi trường văn hoá Điều đó đãdẫn đến có sự lẫn lộn trong nhận thức của xã hội và trong chỉ đạo thực tiễn về xây dựng MTVH

Sự không nhất quán thể hiện: Trong nhận thức lý luận của Đảng về văn hoá, các lĩnh vực văn hoá là đốitượng lãnh đạo, quản lý, xây dựng nền văn hoá, thì đời sống văn hoá được xem là một trong bốn lĩnh vực quantrọng (Nghị quyết Trung ương 5 khoá VIII) cần phải quan tâm Và khái niệm MTVH bao hàm khái niệm đời sốngvăn hoá Thế nhưng chỉ đạo thực tiễn (phần nhiệm vụ, giải pháp) xây dựng nền văn hoá, có nhiệm vụ xây dựngMTVH, xây dựng đời sống văn hoá và MTVH, có khi được xem vừa là nhiệm vụ, vừa là giải pháp Trong nhiệm

vụ xây dựng MTVH, lại có nội dung xây dựng đời sống văn hoá Sự chưa thống nhất như vậy sẽ rất khó đối vớinhững người làm công tác văn hoá, bởi họ vừa phải tổ chức, quản lý xây dựng đời sống văn hoá, vừa phải xâydựng MTVH(4)

Rõ ràng cần phải tiếp tục làm rõ hơn cơ sở lý luận trong nhận thức thực hiện nội dung, nhiệm vụ xây dựngMTVH hiện nay

b Về nội dung nhiệm vụ xây dựng MTVH

Quan niệm về MTVH trên đây là cơ sở để để xác định nội dung nhiệm vụ xây dựng MTVH Vấn đề đặt ra từthực tiễn phương diện quản lý, nhiệm vụ, nội dung xây dựng MTVH có phải là xây dựng các thành tố của nókhông?

Nội dung xây dựng MTVH chính là xây dựng cái bao quanh, cái có thể tác động đến con người để trong đó

con người vừa là sản phẩm vừa tự hoàn thiện mình với tư cách là chủ thể Hay nói cách khác, xây dựng MTVH

là tạo các điều kiện bên ngoài - cái có thể góp phần vào sự hình thành, hoàn thiện nhân cách, để không phải là cái

Trang 12

có thể tha hoá nhân cách Xây dựng MTVH là tạo các điều kiện để phát huy vai trò của động của con người trongcác mối quan hệ ứng xử MTVH bao gồm tổng thể các loại sản phẩm văn hoá; những cảnh quan văn hoá; các thiếtchế văn hoá; hệ thống những ứng xử văn hoá; diện mạo những vi MTVH (văn hoá gia đình, cơ quan, đơn vị, bản,làng ).

Phát triển quan điểm của Đảng, nội dung nhiệm vụ xây dựng MTVH ở nước ta hiện nay, bao gồm:

1 Xây dựng đồng bộ môi trường văn hoá, gắn với hệ giá trị, chuẩn mực cụ thể, tạo tiền đề cơ sở, định hướng

sự hình thành, phát triển hoàn thiện nhân cách văn hoá Trước hết thực hiện chiến lược phát triển gia đình, xâydựng gia đình văn hoá - môi trường đầu tiên của con người Xây dựng môi trường văn hoá ở trường học, địa bàndân cư, các cơ quan, đơn vị, doanh nghiệp , cộng đồng dân cư văn hoá , là các không gian gắn kết quan hệ giữacon người

2 Xây dựng đời sống văn hoá(bao hàm các hoạt động tinh thần, tạo giá trị tinh thần), gắn với các hoạt động

văn hoá của cá nhân và cộng đồng Cụ thể là xây dựng lối sống, nếp sống văn minh (việc cưới, việc tang, lễ hội ),quy chế dân chủ; giá trị văn hoá tín ngưỡng, tôn giáo gắn bó dân tộc, hướng thiện, nhân văn; các hoạt động hướngthiện, "đền ơn đáp nghĩa", "uống nước nhớ nguồn"; văn hoá môi trường sinh thái

3 Xây dựng hệ thống thiết chế văn hoá, cảnh quan văn hoá gắn với việc nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của các thiết chế văn hoá Trước hết là xây dựng, hoàn thiện hệ thống thiết chế văn hoá - xã hội: trường học

nhà mẫu giáo, sân vận động, trung tâm văn hoá, câu lạc bộ, thư viện, phòng truyền thống, rạp chiếu phim, côngviên văn hoá Tạo mới, hoặc giữ gìn cảnh quan thiên nhiên; xây mới hoặc bảo vệ, trùng tu các công trình tượngđài, công trình văn hoá kiến trúc, quảng trường, đường xã,

4 Tạo điều kiện để người dân chủ động tổ chức các hoạt động văn hóa cộng đồng Xây dựng các quy chế,

quy định hợp lý để người dân tham gia xây dựng, quản lý tốt hệ thống thiết chế văn hoá (thư viện, câu lạc bộ, khuvui chơi giải trí ) ở các khu dân cư thôn, xã

Tóm lại, MTVH bao giờ cũng gắn với không gian thời gian cụ thể, nên xây dựng MTVH phải gắn với nhữngđiều kiện, hoàn cảnh cụ thể

Câu 3) Anh chị hãy trình bày những chính sách cụ thể mà Đảng và Nhà nước đang thực hiện nhằm hiện thực hóa các quan điểm chỉ đạo về phát triển giáo dục và đào tạo trong giai đoạn hiện nay? Liên hệ thực tiễn ở nước ta hiện nay.

Tham khảo sách học trang 121 và bài 6 trang 177

1 Khái niệm về GD và ĐT – trang 177

2 Bối cảnh mới tác động đến phát triển GD&ĐT – trang 180

3 Thực trạng phát triển GD&ĐT KHCN ở VN hiện nay – trang 188

4

Bác Hồ nói "Người thầy giáo tốt - thầy giáo xứng đáng là thầy giáo - là người vẻ vang nhất Dù là tên tuổikhông đăng trên báo, không được thưởng huân chương, song những người thầy giáo tốt là những anh hùng vôdanh Đây là một điều rất vẻ vang"

Và đặc biệt Bác đã khẳng định "Tôi khuyên các bạn là chớ đặt những chương trình kế hoạch mênh mông,đọc nghe sướng tai nhưng không thực hiện được Việc gì cũng cần phải thiết thực, nói được, làm được Việc gìcũng phải từ nhỏ dần dần đến to, từ dễ dần đến khó, từ thấp dần đến cao Một chương trình nhỏ mà thực hànhđược hẳn hoi hơn là một trăm chương trình to tát mà không làm được"

Từ ngày xưa, cha ông ta đã khẳng định; “Hiền tài là nguyên khí quốc gia” và điều đó đã trở thành truyềnthống quý báu của dân tộc ta Phát huy truyền thống đó, Đảng và Nhà nước luôn luôn dành sự quan tâm đặc biệtđến sự nghiệp giáo dục, đào tạo Nhận biết rõ tầm quan trọng của tri thức và việc học tập của mỗi cá nhân nên chỉmột ngày sau khi đọc tuyên ngôn độp lập, trong phiên học đầu tiên vào ngày 3-9-1945, của Chính phủ lâm thờinước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đưa ra những biện pháp cấp bách của Nhà nước ta

lúc bấy giờ Trong nhiệm vụ cấp bách thứ hai, Người đã nói: “…Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu Vì vậy, tôi đề nghị mở một chiến dịch chống nạn mù chữ…”, (Hồ Chí Minh toàn tập, Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà Nội

năm 2002, tập 4, trang 8)

Và trong thư gửi các học sinh nhân ngày khai trường đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, Người

đã khẳng định rằng: “…Non sông Việt Nam có trở nên tươi đẹp hay không, dân tộc Việt Nam có bước tới đài vinh quang để sánh vai với các cường quốc năm châu được hay không, chính là nhờ một phần lớn ở công học tập của các em”, (Sđd, t 4, tr 33) Từ quan điểm vô cùng sáng suốt và đúng đắn của Chủ tịch Hồ Chí Minh, của Đảng ta về

giáo dục, về khuyến học, khuyến tài… đã phát huy tác dụng to lớn trong việc nhanh chóng nâng cao dân trí, thuhút tầng lớp trí thức tham gia phong trào cách mạng

Trang 13

Tiếp nối quan điểm này, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng đã quyết định đẩy mạnh côngnghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh, vững bước đi lên chủ

nghĩa xã hội Và nghị quyết Đại hội VIII của Đảng đã khẳng định: Muốn tiến hành công nghiệp hóa, hiện đại hóa thắng lợi phải phát triển mạnh giáo dục - đào tạo, phát huy nguồn lực con người, yếu tố cơ bản của sự phát triển nhanh và bền vững Và để thực hiện thành công Nghị quyết Đại hội VIII, Hội nghị lần thứ hai Ban Chấp hành

Trung ương quyết định ban hành Nghị quyết định hướng chiến lược phát triển giáo dục - đào tạo trong thời kỳcông nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000

Có thể khẳng định, từ khi được thành lập đến nay, Đảng ta đặc biệt quan tâm đến công tác giáo dục và đàotạo Các văn kiện của Đảng về giáo dục và đào tạo đã nêu nhiều quan điểm chỉ đạo mà đến nay vẫn còn nguyêngiá trị và cần tiếp tục quán triệt và thực hiện Những quan điểm đó là: Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu;đầu tư cho giáo dục là đầu tư phát triển; giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân; mụctiêu của giáo dục là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài; phát triển giáo dục gắn với nhu cầuphát triển kinh tế - xã hội và củng cố quốc phòng - an ninh; đa dạng hóa các loại hình giáo dục; học đi đôi vớihành, giáo dục nhà trường gắn liền với giáo dục gia đình, xã hội; thực hiện công bằng trong giáo dục; ưu tiên đầu

tư phát triển giáo dục vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, vùng dân tộc thiểu số và các đối tượngdiện chính sách; thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục… Tuy nhiên, để thực hiện đổi mới căn bản, toàn diệngiáo dục và đào tạo đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường, định hướng

xã hội chủ nghĩa và hội nhập quốc tế, Đảng ta đã đề ra một số nội dung mới trong quan điểm chỉ đạo và những nộidung này được nêu cụ thể trong Nghị quyết Hội nghị Ban chấp hành Trung ương lần thứ 8, khóa XI, gồm:

Thứ nhất là giáo dục và đào tạo là một nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; đầu tư cho giáo dục được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế - xã hội.

Thư hai là cụ thể hóa nội hàm quan niệm và các yêu cầu về “đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo” Tức là: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ

quan điểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thựchiện; đổi mới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục,đào tạo và việc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học,ngành học Đổi mới để tạo ra chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng và hiệu quả giáo dục, đáp ứng ngày càng tốthơn yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, nhu cầu học tập của nhân dân

Thứ ba là chuyển mạnh quá trình giáo dục từ chủ yếu chú trọng trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Tứ là người dạy và người học hiểu đúng mục đích của việc dạy và học; dạy và

học thực chất; kết quả thi, kiểm tra phản ánh đúng, thực chất chất lượng giáo dục; người học là chủ thể trung tâmcủa quá trình giáo dục, sau khi tốt nghiệp có đủ năng lực và phẩm chất cần thiết để sống và làm việc Đồng thời,phát triển giáo dục và đào tạo phải phù hợp quy luật phát triển khách quan, những tiến bộ khoa học và công nghệ.Chuyển phát triển giáo dục từ chủ yếu theo mục tiêu số lượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thờiđáp ứng yêu cầu số lượng Thực hiện chuẩn hóa, hiện đại hóa

Thứ tư là đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, bảo đảm liên thông giữa các bậc học, trình

độ và giữa các phương thức đào tạo; tạo điều kiện thuận lợi cho việc học tập suốt đời; xây dựng xã hội học tập Cụ

thể là đẩy mạnh xã hội hóa, trước hết là đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; có chính sách khuyếnkhích cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục và đào tạo trên cơ sở bảo đảm quyền lợi của người học, người sử dụnglao động và cơ sở giáo dục, đào tạo Đối với các ngành đào tạo có khả năng xã hội hóa cao, ngân sách nhà nướcchỉ hỗ trợ các đối tượng chính sách, đồng bào dân tộc thiểu số và khuyến khích tài năng Tiến tới bình đẳng vềquyền được hỗ trợ của Nhà nước đối với người học ở trường công lập và trường ngoài công lập Bảo đảm bìnhđẳng giữa nhà giáo trường công lập và nhà giáo trường ngoài công lập về tôn vinh và cơ hội đào tạo, bồi dưỡngchuyên môn nghiệp vụ

Thứ năm là chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định

hướng xã hội chủ nghĩa trong phát triển giáo dục Phát triển hài hóa, bình đẳng, hỗ trợ lẫn nhau giữa giáo dục cônglập và ngoài công lập, giáo dục các vùng miền Đồng thời, chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáodục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phải đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước

NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ TRUNG ƯƠNG 8 KHÓA XI

VỀ ĐỔI MỚI CĂN BẢN, TOÀN DIỆN GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

A - Tình hình và nguyên nhân

1- Thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII và các chủ trương của Đảng, Nhà nước về định hướngchiến lược phát triển giáo dục-đào tạo trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, lĩnh vực giáo dục và đào tạonước ta đã đạt được những thành tựu quan trọng, góp phần to lớn vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Cụ thể là: Đã xây dựng được hệ thống giáo dục và đào tạo tương đối hoàn chỉnh từ mầm non đến đại học

Cơ sở vật chất, thiết bị giáo dục, đào tạo được cải thiện rõ rệt và từng bước hiện đại hóa Số lượng học sinh, sinhviên tăng nhanh, nhất là ở giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp Chất lượng giáo dục và đào tạo có tiến bộ

Trang 14

Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phát triển cả về số lượng và chất lượng, với cơ cấu ngày càng hợp lý.Chi ngân sách cho giáo dục và đào tạo đạt mức 20% tổng chi ngân sách nhà nước Xã hội hóa giáo dục được đẩymạnh; hệ thống giáo dục và đào tạo ngoài công lập góp phần đáng kể vào phát triển giáo dục và đào tạo chung củatoàn xã hội Công tác quản lý giáo dục và đào tạo có bước chuyển biến nhất định.

Cả nước đã hoàn thành mục tiêu xóa mù chữ và phổ cập giáo dục tiểu học vào năm 2000; phổ cập giáo dụctrung học cơ sở vào năm 2010; đang tiến tới phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi; củng cố và nâng cao kếtquả xóa mù chữ cho người lớn Cơ hội tiếp cận giáo dục có nhiều tiến bộ, nhất là đối với đồng bào dân tộc thiểu số

và các đối tượng chính sách; cơ bản bảo đảm bình đẳng giới trong giáo dục và đào tạo

Những thành tựu và kết quả nói trên, trước hết bắt nguồn từ truyền thống hiếu học của dân tộc; sự quan tâm,chăm lo của Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân, của mỗi gia đình và toàn xã hội; sự tậntụy của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; sự ổn định về chính trị cùng với những thành tựu phát triểnkinh tế-xã hội của đất nước

2- Tuy nhiên, chất lượng, hiệu quả giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu, nhất là giáo dục đại học,giáo dục nghề nghiệp Hệ thống giáo dục và đào tạo thiếu liên thông giữa các trình độ và giữa các phương thứcgiáo dục, đào tạo; còn nặng lý thuyết, nhẹ thực hành Đào tạo thiếu gắn kết với nghiên cứu khoa học, sản xuất,kinh doanh và nhu cầu của thị trường lao động; chưa chú trọng đúng mức việc giáo dục đạo đức, lối sống và kỹnăng làm việc Phương pháp giáo dục, việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả còn lạc hậu, thiếu thực chất

Quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chấtlượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết,thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp

Đầu tư cho giáo dục và đào tạo chưa hiệu quả Chính sách, cơ chế tài chính cho giáo dục và đào tạo chưaphù hợp Cơ sở vật chất kỹ thuật còn thiếu và lạc hậu, nhất là ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn

3- Những hạn chế, yếu kém nói trên do các nguyên nhân chủ yếu sau:

- Việc thể chế hóa các quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước về phát triển giáo dục và đào tạo, nhất

là quan điểm "giáo dục là quốc sách hàng đầu" còn chậm và lúng túng Việc xây dựng, tổ chức thực hiện chiếnlược, kế hoạch và chương trình phát triển giáo dục-đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội

- Mục tiêu giáo dục toàn diện chưa được hiểu và thực hiện đúng Bệnh hình thức, hư danh, chạy theo bằngcấp chậm được khắc phục, có mặt nghiêm trọng hơn Tư duy bao cấp còn nặng, làm hạn chế khả năng huy độngcác nguồn lực xã hội đầu tư cho giáo dục, đào tạo

- Việc phân định giữa quản lý nhà nước với hoạt động quản trị trong các cơ sở giáo dục, đào tạo chưa rõ.Công tác quản lý chất lượng, thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa được coi trọng đúng mức Sự phối hợp giữa các cơquan nhà nước, tổ chức xã hội và gia đình chưa chặt chẽ Nguồn lực quốc gia và khả năng của phần đông gia đìnhđầu tư cho giáo dục và đào tạo còn thấp so với yêu cầu

B- Định hướng đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo

I- Quan điểm chỉ đạo

1- Giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và của toàn dân Đầu tư chogiáo dục là đầu tư phát triển, được ưu tiên đi trước trong các chương trình, kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội

2- Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo là đổi mới những vấn đề lớn, cốt lõi, cấp thiết, từ quanđiểm, tư tưởng chỉ đạo đến mục tiêu, nội dung, phương pháp, cơ chế, chính sách, điều kiện bảo đảm thực hiện; đổimới từ sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đến hoạt động quản trị của các cơ sở giáo dục-đào tạo vàviệc tham gia của gia đình, cộng đồng, xã hội và bản thân người học; đổi mới ở tất cả các bậc học, ngành học

Trong quá trình đổi mới, cần kế thừa, phát huy những thành tựu, phát triển những nhân tố mới, tiếp thu cóchọn lọc những kinh nghiệm của thế giới; kiên quyết chấn chỉnh những nhận thức, việc làm lệch lạc Đổi mới phảibảo đảm tính hệ thống, tầm nhìn dài hạn, phù hợp với từng loại đối tượng và cấp học; các giải pháp phải đồng bộ,khả thi, có trọng tâm, trọng điểm, lộ trình, bước đi phù hợp

3- Phát triển giáo dục và đào tạo là nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài Chuyển mạnh quátrình giáo dục từ chủ yếu trang bị kiến thức sang phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học Học đi đôivới hành; lý luận gắn với thực tiễn; giáo dục nhà trường kết hợp với giáo dục gia đình và giáo dục xã hội

4- Phát triển giáo dục và đào tạo phải gắn với nhu cầu phát triển kinh tế-xã hội và bảo vệ Tổ quốc; với tiến

bộ khoa học và công nghệ; phù hợp quy luật khách quan Chuyển phát triển giáo dục và đào tạo từ chủ yếu theo sốlượng sang chú trọng chất lượng và hiệu quả, đồng thời đáp ứng yêu cầu số lượng

5- Đổi mới hệ thống giáo dục theo hướng mở, linh hoạt, liên thông giữa các bậc học, trình độ và giữa cácphương thức giáo dục, đào tạo Chuẩn hóa, hiện đại hóa giáo dục và đào tạo

6- Chủ động phát huy mặt tích cực, hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế thị trường, bảo đảm định hướng xã hộichủ nghĩa trong phát triển giáo dục và đào tạo Phát triển hài hòa, hỗ trợ giữa giáo dục công lập và ngoài công lập,giữa các vùng, miền Ưu tiên đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo đối với các vùng đặc biệt khó khăn, vùng dân

Trang 15

tộc thiểu số, biên giới, hải đảo, vùng sâu, vùng xa và các đối tượng chính sách Thực hiện dân chủ hóa, xã hội hóagiáo dục và đào tạo.

7- Chủ động, tích cực hội nhập quốc tế để phát triển giáo dục và đào tạo, đồng thời giáo dục và đào tạo phảiđáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế để phát triển đất nước

II- Mục tiêu

1- Mục tiêu tổng quát

Tạo chuyển biến căn bản, mạnh mẽ về chất lượng, hiệu quả giáo dục, đào tạo; đáp ứng ngày càng tốt hơncông cuộc xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và nhu cầu học tập của nhân dân Giáo dục con người Việt Nam phát triểntoàn diện và phát huy tốt nhất tiềm năng, khả năng sáng tạo của mỗi cá nhân; yêu gia đình, yêu Tổ quốc, yêu đồngbào; sống tốt và làm việc hiệu quả

Xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thứcgiáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập; bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đạihóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủnghĩa và bản sắc dân tộc Phấn đấu đến năm 2030, nền giáo dục Việt Nam đạt trình độ tiên tiến trong khu vực

2- Mục tiêu cụ thể

- Đối với giáo dục mầm non, giúp trẻ phát triển thể chất, tình cảm, hiểu biết, thẩm mỹ, hình thành các yếu tốđầu tiên của nhân cách, chuẩn bị tốt cho trẻ bước vào lớp 1 Hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổivào năm 2015, nâng cao chất lượng phổ cập trong những năm tiếp theo và miễn học phí trước năm 2020 Từngbước chuẩn hóa hệ thống các trường mầm non Phát triển giáo dục mầm non dưới 5 tuổi có chất lượng phù hợp vớiđiều kiện của từng địa phương và cơ sở giáo dục

- Đối với giáo dục phổ thông, tập trung phát triển trí tuệ, thể chất, hình thành phẩm chất, năng lực công dân,phát hiện và bồi dưỡng năng khiếu, định hướng nghề nghiệp cho học sinh Nâng cao chất lượng giáo dục toàndiện, chú trọng giáo dục lý tưởng, truyền thống, đạo đức, lối sống, ngoại ngữ, tin học, năng lực và kỹ năng thựchành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Phát triển khả năng sáng tạo, tự học, khuyến khích học tập suốt đời Hoànthành việc xây dựng chương trình giáo dục phổ thông giai đoạn sau năm 2015 Bảo đảm cho học sinh có trình độtrung học cơ sở (hết lớp 9) có tri thức phổ thông nền tảng, đáp ứng yêu cầu phân luồng mạnh sau trung học cơ sở;trung học phổ thông phải tiếp cận nghề nghiệp và chuẩn bị cho giai đoạn học sau phổ thông có chất lượng Nângcao chất lượng phổ cập giáo dục, thực hiện giáo dục bắt buộc 9 năm từ sau năm 2020

Phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tươngđương

- Đối với giáo dục nghề nghiệp, tập trung đào tạo nhân lực có kiến thức, kỹ năng và trách nhiệm nghềnghiệp Hình thành hệ thống giáo dục nghề nghiệp với nhiều phương thức và trình độ đào tạo kỹ năng nghề nghiệptheo hướng ứng dụng, thực hành, bảo đảm đáp ứng nhu cầu nhân lực kỹ thuật công nghệ của thị trường lao độngtrong nước và quốc tế

- Đối với giáo dục đại học, tập trung đào tạo nhân lực trình độ cao, bồi dưỡng nhân tài, phát triển phẩm chất

và năng lực tự học, tự làm giàu tri thức, sáng tạo của người học Hoàn thiện mạng lưới các cơ sở giáo dục đại học,

cơ cấu ngành nghề và trình độ đào tạo phù hợp với quy hoạch phát triển nhân lực quốc gia; trong đó, có một sốtrường và ngành đào tạo ngang tầm khu vực và quốc tế Đa dạng hóa các cơ sở đào tạo phù hợp với nhu cầu pháttriển công nghệ và các lĩnh vực, ngành nghề; yêu cầu xây dựng, bảo vệ Tổ quốc và hội nhập quốc tế

- Đối với giáo dục thường xuyên, bảo đảm cơ hội cho mọi người, nhất là ở vùng nông thôn, vùng khó khăn,các đối tượng chính sách được học tập nâng cao kiến thức, trình độ, kỹ năng chuyên môn nghiệp vụ và chất lượngcuộc sống; tạo điều kiện thuận lợi để người lao động chuyển đổi nghề; bảo đảm xóa mù chữ bền vững Hoàn thiệnmạng lưới cơ sở giáo dục thường xuyên và các hình thức học tập, thực hành phong phú, linh hoạt, coi trọng tự học

và giáo dục từ xa

- Đối với việc dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người Việt Nam ở nước ngoài, có chươngtrình hỗ trợ tích cực việc giảng dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho cộng đồng người Việt Nam ở nướcngoài, góp phần phát huy sức mạnh của văn hóa Việt Nam, gắn bó với quê hương, đồng thời xây dựng tình đoànkết, hữu nghị với nhân dân các nước

III- Nhiệm vụ, giải pháp

1- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước đối với đổi mới giáo dục và đào tạo

Quán triệt sâu sắc và cụ thể hóa các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đổi mới căn bản, toàn diệnnền giáo dục và đào tạo trong hệ thống chính trị, ngành giáo dục và đào tạo và toàn xã hội, tạo sự đồng thuận caocoi giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu Nâng cao nhận thức về vai trò quyết định chất lượng giáo dục vàđào tạo của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục; người học là chủ thể trung tâm của quá trình giáo dục;gia đình có trách nhiệm phối hợp với nhà trường và xã hội trong việc giáo dục nhân cách, lối sống cho con emmình

Trang 16

Đổi mới công tác thông tin và truyền thông để thống nhất về nhận thức, tạo sự đồng thuận và huy động sựtham gia đánh giá, giám sát và phản biện của toàn xã hội đối với công cuộc đổi mới, phát triển giáo dục.

Coi trọng công tác phát triển đảng, công tác chính trị, tư tưởng trong các trường học, trước hết là trong độingũ giáo viên Bảo đảm các trường học có chi bộ; các trường đại học có đảng bộ Cấp ủy trong các cơ sở giáo dục-đào tạo phải thực sự đi đầu đổi mới, gương mẫu thực hiện và chịu trách nhiệm trước Đảng, trước nhân dân về việc

tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ giáo dục, đào tạo Lãnh đạo nhà trường phát huy dân chủ, dựavào đội ngũ giáo viên, viên chức và học sinh, phát huy vai trò của các tổ chức đoàn thể và nhân dân địa phương đểxây dựng nhà trường

Các bộ, ngành, địa phương xây dựng quy hoạch dài hạn phát triển nguồn nhân lực, dự báo nhu cầu về sốlượng, chất lượng nhân lực, cơ cấu ngành nghề, trình độ Trên cơ sở đó, đặt hàng và phối hợp với các cơ sở giáodục, đào tạo tổ chức thực hiện

Phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, giải quyết dứt điểm các hiện tượng tiêu cực kéo dài,gây bức xúc trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo

2- Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng pháttriển phẩm chất, năng lực của người học

Trên cơ sở mục tiêu đổi mới giáo dục và đào tạo, cần xác định rõ và công khai mục tiêu, chuẩn đầu ra củatừng bậc học, môn học, chương trình, ngành và chuyên ngành đào tạo Coi đó là cam kết bảo đảm chất lượng của

cả hệ thống và từng cơ sở giáo dục và đào tạo; là căn cứ giám sát, đánh giá chất lượng giáo dục, đào tạo

Đổi mới chương trình nhằm phát triển năng lực và phẩm chất người học, hài hòa đức, trí, thể, mỹ; dạy người,dạy chữ và dạy nghề Đổi mới nội dung giáo dục theo hướng tinh giản, hiện đại, thiết thực, phù hợp với lứa tuổi,trình độ và ngành nghề; tăng thực hành, vận dụng kiến thức vào thực tiễn Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức,lối sống, tri thức pháp luật và ý thức công dân Tập trung vào những giá trị cơ bản của văn hóa, truyền thống vàđạo lý dân tộc, tinh hoa văn hóa nhân loại, giá trị cốt lõi và nhân văn của chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ ChíMinh Tăng cường giáo dục thể chất, kiến thức quốc phòng, an ninh và hướng nghiệp Dạy ngoại ngữ và tin họctheo hướng chuẩn hóa, thiết thực, bảo đảm năng lực sử dụng của người học Quan tâm dạy tiếng nói và chữ viếtcủa các dân tộc thiểu số; dạy tiếng Việt và truyền bá văn hóa dân tộc cho người Việt Nam ở nước ngoài

Đa dạng hóa nội dung, tài liệu học tập, đáp ứng yêu cầu của các bậc học, các chương trình giáo dục, đào tạo

và nhu cầu học tập suốt đời của mọi người

Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học theo hướng hiện đại; phát huy tính tích cực, chủ động,sáng tạo và vận dụng kiến thức, kỹ năng của người học; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máymóc Tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học, tạo cơ sở để người học tự cập nhật và đổi mới trithức, kỹ năng, phát triển năng lực Chuyển từ học chủ yếu trên lớp sang tổ chức hình thức học tập đa dạng, chú ýcác hoạt động xã hội, ngoại khóa, nghiên cứu khoa học Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thôngtrong dạy và học

Tiếp tục đổi mới và chuẩn hóa nội dung giáo dục mầm non, chú trọng kết hợp chăm sóc, nuôi dưỡng vớigiáo dục phù hợp với đặc điểm tâm lý, sinh lý, yêu cầu phát triển thể lực và hình thành nhân cách

Xây dựng và chuẩn hóa nội dung giáo dục phổ thông theo hướng hiện đại, tinh gọn, bảo đảm chất lượng, tíchhợp cao ở các lớp học dưới và phân hóa dần ở các lớp học trên; giảm số môn học bắt buộc; tăng môn học, chủ đề

và hoạt động giáo dục tự chọn Biên soạn sách giáo khoa, tài liệu hỗ trợ dạy và học phù hợp với từng đối tượnghọc, chú ý đến học sinh dân tộc thiểu số và học sinh khuyết tật

Nội dung giáo dục nghề nghiệp được xây dựng theo hướng tích hợp kiến thức, kỹ năng, tác phong làm việcchuyên nghiệp để hình thành năng lực nghề nghiệp cho người học

Đổi mới mạnh mẽ nội dung giáo dục đại học và sau đại học theo hướng hiện đại, phù hợp với từng ngành,nhóm ngành đào tạo và việc phân tầng của hệ thống giáo dục đại học Chú trọng phát triển năng lực sáng tạo, kỹnăng thực hành, đạo đức nghề nghiệp và hiểu biết xã hội, từng bước tiếp cận trình độ khoa học và công nghệ tiêntiến của thế giới

3- Đổi mới căn bản hình thức và phương pháp thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, bảo đảmtrung thực, khách quan

Việc thi, kiểm tra và đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo cần từng bước theo các tiêu chí tiên tiến được xã hội

và cộng đồng giáo dục thế giới tin cậy và công nhận Phối hợp sử dụng kết quả đánh giá trong quá trình học vớiđánh giá cuối kỳ, cuối năm học; đánh giá của người dạy với tự đánh giá của người học; đánh giá của nhà trườngvới đánh giá của gia đình và của xã hội

Đổi mới phương thức thi và công nhận tốt nghiệp trung học phổ thông theo hướng giảm áp lực và tốn kémcho xã hội mà vẫn bảo đảm độ tin cậy, trung thực, đánh giá đúng năng lực học sinh, làm cơ sở cho việc tuyển sinhgiáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học

Trang 17

Đổi mới phương thức đánh giá và công nhận tốt nghiệp giáo dục nghề nghiệp trên cơ sở kiến thức, năng lựcthực hành, ý thức kỷ luật và đạo đức nghề nghiệp Có cơ chế để tổ chức và cá nhân sử dụng lao động tham gia vàoviệc đánh giá chất lượng của cơ sở đào tạo.

Đổi mới phương thức tuyển sinh đại học, cao đẳng theo hướng kết hợp sử dụng kết quả học tập ở phổ thông

và yêu cầu của ngành đào tạo Đánh giá kết quả đào tạo đại học theo hướng chú trọng năng lực phân tích, sáng tạo,

tự cập nhật, đổi mới kiến thức; đạo đức nghề nghiệp; năng lực nghiên cứu và ứng dụng khoa học và công nghệ;năng lực thực hành, năng lực tổ chức và thích nghi với môi trường làm việc Giao quyền tự chủ tuyển sinh cho các

cơ sở giáo dục đại học

Thực hiện đánh giá chất lượng giáo dục, đào tạo ở cấp độ quốc gia, địa phương, từng cơ sở giáo dục, đào tạo

và đánh giá theo chương trình của quốc tế để làm căn cứ đề xuất chính sách, giải pháp cải thiện chất lượng giáodục, đào tạo

Hoàn thiện hệ thống kiểm định chất lượng giáo dục Định kỳ kiểm định chất lượng các cơ sở giáo dục, đàotạo và các chương trình đào tạo; công khai kết quả kiểm định Chú trọng kiểm tra, đánh giá, kiểm soát chất lượnggiáo dục và đào tạo đối với các cơ sở ngoài công lập, các cơ sở có yếu tố nước ngoài Xây dựng phương thức kiểmtra, đánh giá phù hợp với các loại hình giáo dục cộng đồng

Đổi mới cách tuyển dụng, sử dụng lao động đã qua đào tạo theo hướng chú trọng năng lực, chất lượng, hiệuquả công việc thực tế, không quá nặng về bằng cấp, trước hết là trong các cơ quan thuộc hệ thống chính trị Coi sựchấp nhận của thị trường lao động đối với người học là tiêu chí quan trọng để đánh giá uy tín, chất lượng của cơ sởgiáo dục đại học, nghề nghiệp và là căn cứ để định hướng phát triển các cơ sở giáo dục, đào tạo và ngành nghề đàotạo

4- Hoàn thiện hệ thống giáo dục quốc dân theo hướng hệ thống giáo dục mở, học tập suốt đời và xây dựng

xã hội học tập

Trước mắt, ổn định hệ thống giáo dục phổ thông như hiện nay Đẩy mạnh phân luồng sau trung học cơ sở;định hướng nghề nghiệp ở trung học phổ thông Tiếp tục nghiên cứu đổi mới hệ thống giáo dục phổ thông phù hợpvới điều kiện cụ thể của đất nước và xu thế phát triển giáo dục của thế giới

Quy hoạch lại mạng lưới cơ sở giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học gắn với quy hoạch phát triển kinh

tế-xã hội, quy hoạch phát triển nguồn nhân lực Thống nhất tên gọi các trình độ đào tạo, chuẩn đầu ra Đẩy mạnh giáodục nghề nghiệp sau trung học phổ thông, liên thông giữa giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học Tiếp tục sắpxếp, điều chỉnh mạng lưới các trường đại học, cao đẳng và các viện nghiên cứu theo hướng gắn đào tạo với nghiêncứu khoa học Thực hiện phân tầng cơ sở giáo dục đại học theo định hướng nghiên cứu và ứng dụng, thực hành.Hoàn thiện mô hình đại học quốc gia, đại học vùng; củng cố và phát triển một số cơ sở giáo dục đại học và giáodục nghề nghiệp chất lượng cao đạt trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới

Khuyến khích xã hội hóa để đầu tư xây dựng và phát triển các trường chất lượng cao ở tất cả các cấp học vàtrình độ đào tạo Tăng tỷ lệ trường ngoài công lập đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học Hướng tới cóloại hình cơ sở giáo dục do cộng đồng đầu tư

Đa dạng hóa các phương thức đào tạo Thực hiện đào tạo theo tín chỉ Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nănglực, kỹ năng nghề tại cơ sở sản xuất, kinh doanh Có cơ chế để tổ chức, cá nhân người sử dụng lao động tham giaxây dựng, điều chỉnh, thực hiện chương trình đào tạo và đánh giá năng lực người học

5- Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ vàtrách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo; coi trọng quản lý chất lượng

Xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo và trách nhiệm quản lý theongành, lãnh thổ của các bộ, ngành, địa phương Phân định công tác quản lý nhà nước với quản trị của cơ sở giáodục và đào tạo Đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo của các cơ sởgiáo dục, đào tạo

Tăng cường hiệu lực quản lý nhà nước, nhất là về chương trình, nội dung và chất lượng giáo dục và đào tạođối với các cơ sở giáo dục, đào tạo của nước ngoài tại Việt Nam Phát huy vai trò của công nghệ thông tin và cácthành tựu khoa học-công nghệ hiện đại trong quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo

Các cơ quan quản lý giáo dục, đào tạo địa phương tham gia quyết định về quản lý nhân sự, tài chính cùngvới quản lý thực hiện nhiệm vụ chuyên môn của giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông và giáo dục nghề nghiệp

Chuẩn hóa các điều kiện bảo đảm chất lượng và quản lý quá trình đào tạo; chú trọng quản lý chất lượng đầu

ra Xây dựng hệ thống kiểm định độc lập về chất lượng giáo dục, đào tạo

Đổi mới cơ chế tiếp nhận và xử lý thông tin trong quản lý giáo dục, đào tạo Thực hiện cơ chế người họctham gia đánh giá hoạt động giáo dục, đào tạo; nhà giáo tham gia đánh giá cán bộ quản lý; cơ sở giáo dục, đào tạotham gia đánh giá cơ quan quản lý nhà nước

Hoàn thiện cơ chế quản lý cơ sở giáo dục, đào tạo có yếu tố nước ngoài ở Việt Nam; quản lý học sinh, sinhviên Việt Nam đi học nước ngoài bằng nguồn ngân sách nhà nước và theo hiệp định nhà nước

Trang 18

Giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các cơ sở giáo dục, đào tạo; phát huy vai trò của hội đồngtrường Thực hiện giám sát của các chủ thể trong nhà trường và xã hội; tăng cường công tác kiểm tra, thanh tra của

cơ quan quản lý các cấp; bảo đảm dân chủ, công khai, minh bạch

6- Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo

Xây dựng quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục gắn với nhucầu phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm an ninh, quốc phòng và hội nhập quốc tế Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhàgiáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo Tiến tới tất cả các giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, giáo viên, giảngviên các cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có trình độ từ đại học trở lên, có năng lực sư phạm Giảng viên cao đẳng,đại học có trình độ từ thạc sỹ trở lên và phải được đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ sư phạm Cán bộ quản lý giáo dụccác cấp phải qua đào tạo về nghiệp vụ quản lý

Phát triển hệ thống trường sư phạm đáp ứng mục tiêu, yêu cầu đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán

bộ quản lý giáo dục; ưu tiên đầu tư xây dựng một số trường sư phạm, trường sư phạm kỹ thuật trọng điểm; khắcphục tình trạng phân tán trong hệ thống các cơ sở đào tạo nhà giáo Có cơ chế tuyển sinh và cử tuyển riêng đểtuyển chọn được những người có phẩm chất, năng lực phù hợp vào ngành sư phạm

Đổi mới mạnh mẽ mục tiêu, nội dung, phương pháp đào tạo, đào tạo lại, bồi dưỡng và đánh giá kết quả họctập, rèn luyện của nhà giáo theo yêu cầu nâng cao chất lượng, trách nhiệm, đạo đức và năng lực nghề nghiệp

Có chế độ ưu đãi đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục Việc tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ, tôn vinhnhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phải trên cơ sở đánh giá năng lực, đạo đức nghề nghiệp và hiệu quả công tác

Có chế độ ưu đãi và quy định tuổi nghỉ hưu hợp lý đối với nhà giáo có trình độ cao; có cơ chế miễn nhiệm, bố trícông việc khác hoặc kiên quyết đưa ra khỏi ngành đối với những người không đủ phẩm chất, năng lực, không đápứng yêu cầu, nhiệm vụ Lương của nhà giáo được ưu tiên xếp cao nhất trong hệ thống thang bậc lương hành chính

sự nghiệp và có thêm phụ cấp tùy theo tính chất công việc, theo vùng

Khuyến khích đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ Có chính sách

hỗ trợ giảng viên trẻ về chỗ ở, học tập và nghiên cứu khoa học Bảo đảm bình đẳng giữa nhà giáo trường công lập

và nhà giáo trường ngoài công lập về tôn vinh và cơ hội đào tạo, bồi dưỡng chuyên môn nghiệp vụ Tạo điều kiện

để chuyên gia quốc tế và người Việt Nam ở nước ngoài tham gia giảng dạy và nghiên cứu ở các cơ sở giáo dục,đào tạo trong nước

Triển khai các giải pháp, mô hình liên thông, liên kết giữa các cơ sở đào tạo, nhất là các trường đại học vớicác tổ chức khoa học và công nghệ, đặc biệt là các viện nghiên cứu

7- Đổi mới chính sách, cơ chế tài chính, huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quảđầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo

Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo, ngân sách nhà nước chi cho giáodục và đào tạo tối thiểu ở mức 20% tổng chi ngân sách; chú trọng nâng cao hiệu quả sử dụng vốn ngân sách Từngbước bảo đảm đủ kinh phí hoạt động chuyên môn cho các cơ sở giáo dục, đào tạo công lập Hoàn thiện chính sáchhọc phí

Đối với giáo dục mầm non và phổ thông, Nhà nước ưu tiên tập trung đầu tư xây dựng, phát triển các cơ sởgiáo dục công lập và có cơ chế hỗ trợ để bảo đảm từng bước hoàn thành mục tiêu phổ cập theo luật định Khuyếnkhích phát triển các loại hình trường ngoài công lập đáp ứng nhu cầu xã hội về giáo dục chất lượng cao ở khu vực

đô thị

Đối với giáo dục đại học và đào tạo nghề nghiệp, Nhà nước tập trung đầu tư xây dựng một số trường đạihọc, ngành đào tạo trọng điểm, trường đại học sư phạm Thực hiện cơ chế đặt hàng trên cơ sở hệ thống định mứckinh tế-kỹ thuật, tiêu chuẩn chất lượng của một số loại hình dịch vụ đào tạo (không phân biệt loại hình cơ sở đàotạo), bảo đảm chi trả tương ứng với chất lượng, phù hợp với ngành nghề và trình độ đào tạo Minh bạch hóa cáchoạt động liên danh, liên kết đào tạo, sử dụng nguồn lực công ; bảo đảm sự hài hòa giữa các lợi ích với tích luỹ táiđầu tư

Đẩy mạnh xã hội hóa, trước hết đối với giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học; khuyến khích liên kết vớicác cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín Có chính sách khuyến khích cạnh tranh lành mạnh trong giáo dục và đàotạo trên cơ sở bảo đảm quyền lợi của người học, người sử dụng lao động và cơ sở giáo dục, đào tạo Đối với cácngành đào tạo có khả năng xã hội hóa cao, ngân sách nhà nước chỉ hỗ trợ các đối tượng chính sách, đồng bào dântộc thiểu số và khuyến khích tài năng Tiến tới bình đẳng về quyền được nhận hỗ trợ của Nhà nước đối với ngườihọc ở trường công lập và trường ngoài công lập Tiếp tục hoàn thiện chính sách hỗ trợ đối với các đối tượng chínhsách, đồng bào dân tộc thiểu số và cơ chế tín dụng cho học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn được vay đểhọc Khuyến khích hình thành các quỹ học bổng, khuyến học, khuyến tài, giúp học sinh, sinh viên nghèo học giỏi.Tôn vinh, khen thưởng xứng đáng các cá nhân, tập thể có thành tích xuất sắc và đóng góp nổi bật cho sự nghiệpgiáo dục và đào tạo

Trang 19

Khuyến khích các doanh nghiệp, cá nhân sử dụng lao động tham gia hỗ trợ hoạt động đào tạo Xây dựng cơchế, chính sách tài chính phù hợp đối với các loại hình trường Có cơ chế ưu đãi tín dụng cho các cơ sở giáo dục,đào tạo Thực hiện định kỳ kiểm toán các cơ sở giáo dục-đào tạo.

Tiếp tục thực hiện mục tiêu kiên cố hóa trường, lớp học; có chính sách hỗ trợ để có mặt bằng xây dựngtrường Từng bước hiện đại h óa cơ sở vật chất kỹ thuật, đặc biệt là hạ tầng công nghệ thông tin Bảo đảm đến năm

2020 số học sinh mỗi lớp không vượt quá quy định của từng cấp học

Phân định rõ ngân sách chi cho giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dụcđại học với ngân sách chi cho cơ sở đào tạo, bồi dưỡng thuộc hệ thống chính trị và các lực lượng vũ trang Giámsát chặt chẽ, công khai, minh bạch việc sử dụng kinh phí

8- Nâng cao chất lượng, hiệu quả nghiên cứu và ứng dụng khoa học, công nghệ, đặc biệt là khoa học giáodục và khoa học quản lý

Quan tâm nghiên cứu khoa học giáo dục và khoa học quản lý, tập trung đầu tư nâng cao năng lực, chấtlượng, hiệu quả hoạt động của cơ quan nghiên cứu khoa học giáo dục quốc gia Nâng cao chất lượng đội ngũ cán

bộ nghiên cứu và chuyên gia giáo dục Triển khai chương trình nghiên cứu quốc gia về khoa học giáo dục

Tăng cường năng lực, nâng cao chất lượng và hiệu quả nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ của các

cơ sở giáo dục đại học Gắn kết chặt chẽ giữa đào tạo và nghiên cứu, giữa các cơ sở đào tạo với các cơ sở sản xuất,kinh doanh Ưu tiên đầu tư phát triển khoa học cơ bản, khoa học mũi nhọn, phòng thí nghiệm trọng điểm, phòngthí nghiệm chuyên ngành, trung tâm công nghệ cao, cơ sở sản xuất thử nghiệm hiện đại trong một số cơ sở giáodục đại học Có chính sách khuyến khích học sinh, sinh viên nghiên cứu khoa học

Khuyến khích thành lập viện, trung tâm nghiên cứu và chuyển giao công nghệ, doanh nghiệp khoa học vàcông nghệ, hỗ trợ đăng ký và khai thác sáng chế, phát minh trong các cơ sở đào tạo Hoàn thiện cơ chế đặt hàng vàgiao kinh phí sự nghiệp khoa học và công nghệ cho các cơ sở giáo dục đại học Nghiên cứu sáp nhập một số tổchức nghiên cứu khoa học và triển khai công nghệ với các trường đại học công lập

Ưu tiên nguồn lực, tập trung đầu tư và có cơ chế đặc biệt để phát triển một số trường đại học nghiên cứu đangành, đa lĩnh vực sớm đạt trình độ khu vực và quốc tế, đủ năng lực hợp tác và cạnh tranh với các cơ sở đào tạo vànghiên cứu hàng đầu thế giới

9- Chủ động hội nhập và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong giáo dục, đào tạo

Chủ động hội nhập quốc tế về giáo dục, đào tạo trên cơ sở giữ vững độc lập, tự chủ, bảo đảm định hướng xãhội chủ nghĩa, bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu có chọn lọc tinh hoa văn hóa vàthành tựu khoa học, công nghệ của nhân loại Hoàn thiện cơ chế hợp tác song phương và đa phương, thực hiện cáccam kết quốc tế về giáo dục, đào tạo

Tăng quy mô đào tạo ở nước ngoài bằng ngân sách nhà nước đối với giảng viên các ngành khoa học cơ bản

và khoa học mũi nhọn, đặc thù Khuyến khích việc học tập và nghiên cứu ở nước ngoài bằng các nguồn kinh phíngoài ngân sách nhà nước Mở rộng liên kết đào tạo với những cơ sở đào tạo nước ngoài có uy tín, chủ yếu tronggiáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp; đồng thời quản lý chặt chẽ chất lượng đào tạo

Có cơ chế khuyến khích các tổ chức quốc tế, cá nhân nước ngoài, người Việt Nam ở nước ngoài tham giahoạt động đào tạo, nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học và công nghệ ở Việt Nam Tăng cường giao lưuvăn hóa và học thuật quốc tế

Có chính sách hỗ trợ, quản lý việc học tập và rèn luyện của học sinh, sinh viên Việt Nam đang học ở nướcngoài và tại các cơ sở giáo dục, đào tạo có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam

C- Tổ chức thực hiện

1- Các cấp ủy, tổ chức đảng, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tổ chức việc học tập, quán triệt tạo

sự thống nhất về nhận thức và hành động thực hiện Nghị quyết này Lãnh đạo kiện toàn bộ máy tham mưu và bộmáy quản lý giáo dục và đào tạo; thường xuyên kiểm tra việc thực hiện, đặc biệt là kiểm tra công tác chính trị, tưtưởng và việc xây dựng nền nếp, kỷ cương trong các trường học, phát hiện và giải quyết dứt điểm các biểu hiệntiêu cực trong giáo dục và đào tạo

2- Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo việc sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện, ban hành mới hệ thống pháp luật về giáodục và đào tạo, các luật, nghị quyết của Quốc hội, tạo cơ sở pháp lý cho việc thực hiện Nghị quyết và giám sátviệc thực hiện

3- Ban cán sự đảng Chính phủ lãnh đạo việc sửa đổi, bổ sung và ban hành mới các văn bản dưới luật; xâydựng kế hoạch hành động thực hiện Nghị quyết Thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện vàkịp thời điều chỉnh kế hoạch, giải pháp cụ thể phù hợp với yêu cầu thực tế, bảo đảm thực hiện có hiệu quả Nghịquyết

Thành lập Ủy ban quốc gia Đổi mới giáo dục và đào tạo do Thủ tướng Chính phủ làm Chủ tịch Ủy ban.4- Ban Tuyên giáo Trung ương chủ trì, phối hợp với các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trựcthuộc Trung ương thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, tổng kết và định kỳ báo cáo Bộ Chính trị, Ban

Bí thư kết quả thực hiện Nghị quyết

Trang 20

Tóm lại, nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, coi trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống cho học sinh, sinh viên, mở rộng quy mô giáo dục hợp lý Cần coi trọng cả ba mặt giáo dục: dạy làm người, dạy

chữ, dạy nghề; đặc biệt chú ý giáo dục lý tưởng, phẩm chất đạo đức, lối sống, lịch sử, truyền thống văn hoá dântộc, giáo dục về Đảng Ngăn chặn xu hướng coi nhẹ giáo dục chính trị, tư tưởng, xa rời định hướng xã hội chủnghĩa, các biểu hiện tiêu cực trong hoạt động giáo dục Quan tâm hơn nữa đến việc giáo dục nhân cách, kỹ năng vàphương pháp làm việc; nâng cao trình độ về ngoại ngữ, tin học cho học sinh, sinh viên; phát triển năng lực, trình

độ chuyên môn, nghiệp vụ, làm cho thế hệ trẻ có đủ khả năng và bản lĩnh thích ứng với những biến đổi nhanhchóng của thế giới Bồi dưỡng cho thanh thiếu niên lòng yêu nước nồng nàn, tự hào, tự tốn dân tộc và khát vọngmãnh liệt về xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh

Đổi mới mạnh mẽ quản lý nhà nước đối với giáo dục và đào tạo Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản

lý của Nhà nước, vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân các cấp, vai trò của ngành giáo dục và đàotạo để phát triên sự nghiệp giáo dục Đổi mới căn bản chính sách sử dụng cán bộ theo hướng coi trọng phẩm chất

và năng lực thực tế Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác quản lý, chú trọngquản lý chất lượng giáo dục Tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm định chất lượng và giám sát các hoạt động giáodục Tăng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nhà trường đi đôi với việc hoàn thiện cơ chế công khai, minhbạch, bảo đảm sự giám sát của các cơ quan nhà nước, đoàn thể và xã hội Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thôngtin, truyền thông trong quản lý giáo dục ở các cấp

Xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục đủ về số lượng, đáp ứng yêu cầu về chất lượng

Đổi mới mạnh mẽ phương pháp và nội dung đào tạo của các trường và khoa sư phạm Xây dựng một số trường sưphạm thực sự trở thành trường trọng điểm đủ sức làm đầu tàu cho cả hệ thống các cơ sở đào tạo giáo viên Tăngđầu tư cơ sở vật chất nâng cấp các trường, các khoa sư phạm Không ngừng nâng cao chất lượng, bảo đảm đủ sốlượng giáo viên cho cả hệ thống giáo dục Chuẩn hoá trong đào tạo, tuyển chọn, sử dụng nhà giáo và cán bộ quản

lý giáo dục các cấp Nhà nước có chính sách ưu đãi đối với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục về vật chất và tinhthần để thu hút những người giỏi làm công tác giáo dục

Tiếp tục đổi mới chương trình, tạo chuyển biến mạnh mẽ về phương pháp giáo dục Rà soát lại toàn bộ

chương trình và sách giáo khoa phổ thông, sớm khắc phục tình trạng quá tải, nặng về lý thuyết, nhẹ về thực hành,chưa khuyến khích đúng mức tính sáng tạo của người học; chuẩn bị kỹ việc xây dựng và triển khai thực hiện bộchương trình giáo dục phổ thông mới theo chương hiện đại, phù hợp và có hiệu quả Đổi mới, hiện đại hoá chươngtrình giáo dục đại học, giáo dục nghề nghiệp, chuyển mạnh mẽ từ đào tạo theo khả năng sang đào tạo theo nhu cầu

xã hội Thực hiện tốt đào tạo theo chế độ tín chỉ trong hệ thống giáo dục đại học và giáo dục nghề nghiệp Tiếp tụcđổi mới phương pháp dạy và học, khắc phục cơ bản lối truyền thụ một chiều Phát huy phương pháp dạy học tíchcực, sáng tạo, hợp tác; giảm thời gian giảng lý thuyết tăng thời gian tự học, tự tìm hiểu cho học sinh, sinh viên;gắn bó chặt chẽ giữa học lý thuyết và thực hành, đào tạo gắn với nghiên cứu khoa học, sản xuất và đời sống

Tăng cường nguồn lực cho giáo dục Tăng đầu tư nhà nước cho giáo dục và đào tạo; ưu tiên các chương

trình mục tiêu quốc gia, khắc phục tình trạng bình quân, dàn trải

Câu 4) Anh chị hãy trình bày những chính sách cụ thể mà Đảng và Nhà nước đang thực hiện nhằm hiện thực hóa các quan điểm chỉ đạo về phát triển khoa học và công nghệ trong giai đoạn hiện nay? Liên hệ thực tiễn ở nước ta hiện nay.

Tham khảo sách học trang 121 và bài 6 trang 177

1 Khái niệm về KHCN – trang 178

2 Bối cảnh mới tác động đến phát triển GD&ĐT KHCN – rang 180

3 Thực trạng phát triển GD&ĐT KHCN ở VN hiện nay – trang 188

4

Bác Hồ có câu "Chúng ta phải học, phải cố gắng học nhiều Không chịu khó học thì không tiến bộ được.Không tiến bộ là thoái bộ Xã hội càng đi tới, công việc càng nhiều, máy móc càng tinh xảo Mình không chịu họcthì lạc hậu, mà lạc hậu là bị đào thải, tự mình đào thải mình "

Quan điểm chủ trương của Đảng cộng sản Việt Nam về khoa học và công nghệ

Khoa học và công nghệ (KH&CN) là động lực của sự phát triển Trong quá trình lãnh đạo cách mạng nước

ta, Đảng Cộng sản Việt Nam luôn luôn xác định KH&CN có vai trò đặc biệt trong sự nghiệp xây dựng chủ nghĩa

xã hội

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951) đã thông qua Chính cương của Đảng Lao động ViệtNam với nội dung cơ bản: Nhiệm vụ cơ bản hiện nay của cách mạng Việt Nam là đánh đuổi bọn đế quốc xâmlược, giành độc lập và thống nhất thật sự cho dân tộc; xóa bỏ những tàn tích phong kiến và nửa phong kiến, làm

Trang 21

cho người cày có ruộng, phát triển kỹ nghệ, hoàn chỉnh chế độ dân chủ nhân dân, xây dựng cơ sở cho chủ nghĩa xãhội, tiến lên thực hiện chủ nghĩa xã hội.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng (1960) đã xác định, ở miền Bắc, công nghiệp hóa xã hội chủnghĩa là nhiệm vụ trung tâm trong suốt thời kỳ quá độ nhằm xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật cho chủ nghĩa xãhội Công nghiệp hoá là con đường tất yếu để phát triển nhanh nền kinh tế, cải thiện đời sống của nhân dân, thựchiện những mục tiêu của chủ nghĩa xã hội

Công nghiệp hoá phải có kế hoạch, phải có giải pháp cụ thể và phải giải quyết những mối quan hệ, trong đó

có mối quan hệ cơ bản là giữa tích luỹ cho công nghiệp hoá và cải thiện đời sống Chú trọng mối quan hệ giữacông nghiệp và nông nghiệp, nông nghiệp là cơ sở để phát triển công nghiệp, công nghiệp phát triển lại thúc đẩynông nghiệp, phải coi công nghiệp và nông nghiệp như hai chân của nền kinh tế "Nền kinh tế xã hội chủ nghĩa cóhai chân là công nghiệp và nông nghiệp" Phát triển kinh tế "gắn liền với phát triển khoa học và kỹ thuật, với sựphát triển văn hóa của nhân dân" Nửa đầu thập niên sáu mươi công nghiệp hóa được đẩy mạnh trên miền Bắc theođường lối Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ III của Đảng Do hoàn cảnh chiến tranh nên từ 1965 phải chuyểnhướng kinh tế Tuy vậy, Đảng ta vẫn chủ trương tiếp tục xây dựng chủ nghĩa xã hội trong điều kiện có chiến tranh,đương nhiên quy mô tốc độ công nghiệp hoá có sự điều chỉnh Với đường lối công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa,miền Bắc đã đầu tư xây dựng những khu trung tâm công nghiệp lớn và cũng hình thành phát triển những ngànhcông nghiệp mũi nhọn của nền kinh tế như điện, than, cơ khí luyện kim, hoá chất, v.v Đẩy mạnh cuộc cách mạngkhoa học, kỹ thuật, coi trọng đưa tiến bộ khoa học kỹ thuật vào các ngành kinh tế, nhất là nông nghiệp (cơ giớihóa, thủy lợi hóa, cách mạng về giống cây trồng và vật nuôi) Phát triển giáo dục, cả giáo dục phổ thông, đại học,trung học chuyên nghiệp và dạy nghề đào tạo đội ngũ trí thức xã hội chủ nghĩa, lớp người lao động mới có giácngộ xã hội chủ nghĩa, tinh thần yêu nước và tác phong công nghiệp Đó là một trong những thành quả cần ghinhận của cách mạng xã hội chủ nghĩa và quá trình công nghiệp hóa ở miền Bắc

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IV của Đảng (1976) đã đề ra đường lối chung của cách mạng Việt Namtrên phạm vi cả nước: (1) "Nắm vững chuyên chính vô sản, phát huy quyền làm chủ tập thể của nhân dân lao động,tiến hành đồng thời ba cuộc cách mạng: cách mạng về quan hệ sản xuất, cách mạng khoa học - kỹ thuật, cáchmạng tư tưởng văn hóa, trong đó cách mạng khoa học - kỹ thuật là then chốt, đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hộichủ nghĩa là nhiệm vụ trung tâm của cả thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội." (2) về đường lối xây dựng kỉnh tế,Đại hội xác định: Đẩy mạnh công nghiệp hóa xã hội chủ nghĩa, xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật của chủ nghĩa

xã hội làm cho nước Việt Nam trở thành một nước xã hội chủ nghĩa có kinh tế công - nông nghiệp hiện đại, vănhóa và khoa học - kỹ thuật tiên tiến

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng (1986) đề ra đường lối đổi mới toàn diện, đã nhấn mạnh:

"Một đặc điểm nổi bật của thời đại là cuộc cách mạng khoa học và kỹ thuật đang diễn ra mạnh mẽ, tạo thành bướcphát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất và đẩy nhanh quá trình quốc tế hóa các lực lượng sản xuất" Trong tìnhhình ấy, nước ta cần thực hiện đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, tạo ra động lực để giải phóng năng lực sản xuất,thúc đẩy tiến bộ khoa học và kỹ thuật, phát triển kinh tế hàng hóa với năng suất, chất lượng, hiệu quả

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VII của Đảng (1991) đã thông qua Cương lĩnh, trong đó có đoạn: "Nước

ta quá độ lên chủ nghĩa xã hội trong hoàn cảnh quốc tế có những biến đổi to lớn và sâu sắc Cuộc cách mạngKH&CN hiện đại đang diễn ra mạnh mẽ, cuốn hút tất cả các nước ở những mức độ khác nhau Nền sản xuất vậtchất và đời sống xã hội đang trong quá trình quốc tế hóa sâu sắc, ảnh hưởng lớn tới nhịp độ phát triển, lịch sử vàcuộc sống các dân tộc Những xu thế đó vừa tạo thời cơ phát triển nhanh cho các nước, vừa đặt ra những tháchthức gay gắt, nhất là đối với những nước lạc hậu về kinh tế"

Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị (1991) về KH&CN đã nêu rõ những mặt yếu kém của KH&CN

ở nước ta, đề ra những nhiệm vụ quan trọng của KH&CN trong giai đoạn cách mạng mới, những biện pháp chủyếu để đẩy mạnh phát triển KH&CN, đổi mới và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, cải tiến sự quản lý của Nhànước đối với KH&CN Đảng ta cho rằng: Phát triển KH&CN là nhu cầu của nước ta nhằm đuổi kịp các nước trênthế giới bằng thực lực kinh tế

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VIII của Đảng (1996) đã xác định đưa nước ta bước vào thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hóa, hiện đại hóa, phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướnghiện đại Tập trung đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, xây dựng cơ cấu côngnghiệp - nông nghiệp - dịch vụ, tận dụng lợi thế của nước đi sau, tranh thủ công nghệ mới Về công nghiệp, đi vàoxây dựng những khu công nghệ cao, coi trọng phát triển một số ngành công nghiệp nặng; lấy ứng dụng, chuyểngiao công nghệ là chính

Hội nghị Trung ương 2 khóa VIII (1996) đã ra Nghị quyết về Định hướng chiến lược phát triển KH&CNtrong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa và nhiệm vụ đến năm 2000, khẳng định vai trò động lực của KH&CNđối với sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Nghị quyết còn đặt ra yêu cầu phải sớm có luật pháp

về KH&CN để thể chế hóa mọi mặt hoạt động KH&CN, phải nhanh chóng đổi mới cơ chế quản lý khoa học, phải

Trang 22

đầu tư thỏa đáng, bước đầu dành tối thiểu 2% chi ngân sách cho KH&CN Năm 2000, Luật KH&CN được banhành.

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ IX của Đảng (2001) tiếp tục khẳng định, phát triển KH&CN vừa là nềntảng, vừa là động lực đối với sự phát triển kinh tế - xã hội Đại hội đã nhận định: "Thế kỷ XXI sẽ tiếp tục có nhiềubiến đổi, KH&CN sẽ có bước tiến nhảy vọt, kinh tế tri thức có vai trò ngày càng nổi bật trong quá trình phát triểnlực lượng sản xuất" Muốn rút ngắn quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa, phải nắm bắt, khai thác, sử dụng cácthành tựu KH&CN hiện đại và những yếu tố của nền kinh tế tri thức Phát triển KH&CN phải hướng vào việcnâng cao năng suất lao động, đổi mới sản phẩm, xây dựng năng lực cạnh tranh của hàng hóa, xây dựng năng lựccông nghệ quốc gia đi nhanh vào một số ngành, lĩnh vực sử dụng công nghệ hiện đại, công nghệ cao (tin học, sinhhọc, vật liệu mới, tự động hóa) Tăng đầu tư từ ngân sách và huy động các nguồn lực khác cho KH&CN

Hội nghị Trung ương 6 Khóa IX (7- 2002) đã kiểm điểm việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 2 Khóa VIII

và xác định nhiệm vụ của KH&CN trong thời gian tới là: Đẩy mạnh nghiên cứu lý luận và tổng kết thực tiễn; đổimới nâng cao trình độ công nghệ trong nền kinh tế quốc dân; xây dựng và phát triển có trọng điểm các ngành côngnghệ cao đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X (2006) của Đảng tiếp tục khẳng định: "Phát triển mạnh và nâng caohiệu quả hoạt động KH&CN Kết hợp chặt chẽ hoạt động KH&CN với giáo dục và đào tạo để thực sự phát huyvai trò quốc sách hàng đầu, tạo động lực đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa và phát triển kinh tế tri thức Đẩy mạnh nghiên cứu và ứng dụng thành tựu khoa học - công nghệ, tạo bước đột phá về năng suất, chất lượng vàhiệu quả trong từng ngành, từng lĩnh vực của nền kinh tế Cùng với việc đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động khoa học

- công nghệ, Nhà nước tập trung đầu tư vào các chương trình nghiên cứu quốc gia, phấn đấu đạt trình độ khu vực

và thế giới; xây dựng tiềm lực KH&CN cho một số lĩnh vực trọng điểm, công nghệ cao Thực hiện chính sáchtrọng dụng nhân tài, các nhà khoa học đầu ngành, tổng công trình sư, kỹ sư trưởng, kỹ thuật viên lành nghề vàcông nhân kỹ thuật có tay nghề cao "

Hội nghị Trung ương 9 Khóa X (2009) đã ra Nghị quyết 31-NQ/TW "Về một số nhiệm vụ, giải pháp lớnnhằm tiếp tục thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội lần thứ X của Đảng", về KH&CN, Nghị quyết ghi: "Tiếp tụcđổi mới đồng bộ cơ chế quản lý và chính sách phát triển KH&CN; nghiên cứu xây dựng, bổ sung, hoàn thiện cácchiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển KH&CN quốc gia và các ngành, các sản phẩm quan trọng Phát triểrrthị trường KH&CN Nâng cao chất lượng nghiên cứu khoa học, gắn nghiên cứu khoa học với sản xuất kinh doanh,giáo dục và đào tạo Có chính sách, chế độ đãi ngộ và điều kiện làm việc tốt hơn cho cán bộ nghiên cứu khoa học,nhất là cán bộ đầu ngành, có trình độ cao"

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng (2011) đã khẳng định: “Hoạt động nghiên cứu, ứng dụngtiến bộ khoa học, công nghệ được đẩy mạnh, góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế - xã hội Quản lý khoa học, côngnghệ có đổi mới, thực hiện cơ chế tự chủ cho các đơn vị sự nghiệp khoa học, công nghệ Thị trường khoa học,công nghệ bước đầu hình thành Đầu tư cho khoa học, công nghệ được nâng lên”

Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) đãvạch rõ những định hướng lớn về phát triển KH&CN trong thời kỳ mới với những quan điểm cơ bản dưới đây:

“KH&CN giữ vai trò then chốt trong việc phát triển lực lượng sản xuất hiện đại, bảo vệ tài nguyên và môi trường,nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, tốc độ phát triển và sức cạnh tranh của nền kinh tế Phát triển KH&CNnhằm mục tiêu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, phát triển kinh tế tri thức, vươn lên trình độ tiêntiến của thế giới Phát triển đồng bộ các lĩnh vực KH&CN gắn với phát triển văn hóa và nâng cao dân trí Tăngnhanh và sử dụng có hiệu quả tiềm lực KH&CN của đất nước, nghiên cứu và ứng dụng có hiệu quả các thành tựuKH&CN hiện đại trên thế giới Hình thành đồng bộ cơ chế, chính sách khuyến khích sáng tạo, trọng dụng nhân tài

và đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ”

Hội nghị Trung ương 6 khóa XI đã ra Nghị quyết số 20-NQ/TW ngày 31/10/2012 về phát triển KH&CNphục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa vàhội nhập quốc tế đã chỉ rõ: Phát triển và ứng dụng KH&CN là quốc sách hàng đầu, là một trong những động lựcquan trọng nhất để phát triển kinh tế - xã hội và bảo vệ Tổ quốc; là một nội dung cần được ưu tiên tập trung đầu tưtrước một bước trong hoạt động của các ngành, các cấp Sự lãnh đạo của Đảng, năng lực quản lý của Nhà nước vàtài năng, tâm huyết của đội ngũ cán bộ KH&CN đóng vai trò quyết định thành công của sự nghiệp phát triểnKH&CN Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ về tổ chức, cơ chế quản lý, cơ chế hoạt động, công tác xây dựngchiến lược, kế hoạch phát triển KH&CN; phương thức đầu tư, cơ chế tài chính, chính sách cán bộ, cơ chế tự chủcủa các tổ chức KH&CN phù hợp với kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa Đầu tư cho nhân lựcKH&CN là đầu tư cho phát triển bền vững, trực tiếp nâng tầm trí tuệ và sức mạnh của dân tộc Đảng và Nhà nước

có chính sách phát triển, phát huy và trọng dụng đội ngũ cán bộ KH&CN Ưu tiên và tập trung mọi nguồn lựcquốc gia cho phát triển KH&CN Nhà nước có trách nhiệm đầu tư, khuyến khích các thành phần kinh tế tham giaphát triển hạ tầng, nâng cao đồng bộ tiềm lực khoa học xã hội và nhân văn, khoa học tự nhiên, kỹ thuật và côngnghệ Chú trọng nghiên cứu ứng dụng và triển khai; coi doanh nghiệp và các đơn vị dịch vụ công là trung tâm của

Ngày đăng: 07/11/2019, 15:07

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w