GV cũng ít được dự giờ, học hỏi lấn nhau về những tiết học loại này; các chuyên đề bồi dưỡng GV cũng chưa đề cập đến, chưa có một quy trình cụ thể hay tài liệu tham khảo nào dành cho cá
Trang 1MỘT SỐ KINH NGHIÊM RÈN KĨ NĂNG THUC HANH TIENG VIỆT CHO HOC SINH CAC LOP 2, 3
giai đoạn đầu cấp học, vốn từ rất nghèo
nàn, kĩ năng sử dụng từ còn hạn chế,
chưa nắm chắc cấu trúc câu, Do đó, khi dùng từ
để nói, viết thành câu, các em sử dụng còn tuỳ
tiện, dựa theo cảm tính mà không biết dùng đúng
với ngữ cảnh Các em hay bắt chước người khác,
không đủ khả năng để chọn lọc hay suy nghĩ xem
từ nào đúng, từ nào sai, cầu này nên nói lúc nào,
nên viết ra sao và dùng trong ngữ cảnh nào
Vì vậy, các câu, bài cứ na ná như nhau HS dùng
câu chưa đúng ngữ điệu, không có sự biểu cảm,
mà đơn thuần chỉ là những câu liệt kê, thông báo
đơn giản; HS dùng từ sai, làm cho người khác
không hiểu ý cần diễn đạt
Vậy, làm thế nào để dạy HS tiểu học sử
dụng tiếng Việt một cách thành thạo, có kĩ
năng nói — viết đúng tiếng Việt để từ đó phát triển
lên mức độ nói - việt hay? Với thời lượng, nội dung
quy định cho từng tiết học môn Tiếng Việt ở tiểu
học như hiện nay thì việc dạy HS sử dụng tiếng
Việt nói chung là hợp tí Tuy nhiên, khi dạy các tiết
ôn luyện, rèn kĩ năng môn Tiếng Việt ở buổi học
thứ hai (lớp học 2 buổingày), GV còn gặp không
ít khó khăn và lúng túng GV cũng ít được dự giờ,
học hỏi lấn nhau về những tiết học loại này; các
chuyên đề bồi dưỡng GV cũng chưa đề cập đến,
chưa có một quy trình cụ thể hay tài liệu tham
khảo nào dành cho các tiết rèn kĩ năng như các
tiết dạy chính khoá Nhiều GV đành “tự biên,
tự diễn” Nếu không sáng tạo, linh hoạt, GV chỉ
dạy theo kiểu lặp lại dạng bài của các tiết chính thì
hiệu quả của tiết rèn kĩ năng chỉ dừng lại ở chỗ
“ôn tập lại bài vừa học” Điều này, làm cho HS giỏi
cảm thấy nhàm chán, HS yếu thi sinh ra ¥ lai,
ngày càng thụ động, khó phát triển được tư duy
ngôn ngư
Từ những lí do trên, tôi đã mạnh dạn áp đụng
T: tực tế cho thấy, HS tiểu học, nhất là vào
LE THU HA
Trường Tiếu học Chơn Thanh A, Chon Thành, Bình Phước
một số biện pháp trong giảng dạy các tiết rèn kĩ
năng ở lớp học 2 buổi/ngày và bước đầu thu được
những kết quả tốt
1 Giúp HS mở rộng vốn từ thông qua việc
chuẩn bị bài
Sau mỗi tiết học Luyện từ và câu trong
SGK, tôi đêu yêu cầu HS về nhà tìm các từ cùng chủ đề đang học Đó là những từ ngữ
mà các em thường gặp trong cuộc sống và có
thể tham khảo thêm ý kiến của ba mẹ hoặc
người thân
VD: Học về Từ chỉ sự vật, HS về nhà quan sát
các sự vật xung quanh, tìm từ ngữ để gọi tên sự vật đó để lên lớp ghi vào bảng nhóm (cỡ lớn); nếu
cần thiết, có thể minh hoa bang hình vẽ hoặc giải
thích qụ thể đối với những từ chỉ sư vật lạ, hiếm Những bảng từ được các em treo trên 4 bức tường
của lớp Lúc rảnh rỗi hoặc giờ ra chơi, HS sẽ cùng
nhau đọc và tìm ra nhưng từ sai hoặc không có
nghĩa để sửa lại cho đúng Cứ như vậy, ngày này qua ngày khác, những dòng chữ hiển hiện trước mắt "thấm” dần vào các em và các em có thêm
rất nhiều từ mới (đôi khi chỉ là những từ ngữ thật giản dị, như: cây hồng, lá bàng, tờ lịch, tách trà, ) Rồi cũng chính thông qua việc này mà
các em tự ngầm hiểu đây chính là các từ chỉ tên sự
vật, hiện tượng Và sau này, khi được yêu cầu
xác định những từ chỉ sự vật trong một văn cảnh
cụ thể, các em có thể xác định khá chính xác và
nhanh (kể cả những HS yếu)
2 Giúp HS mở rộng vốn từ và sử dụng từ
ngữ thông qua hợp tác nhóm trong tiết rèn
kĩ năng
Muốn hiểu rõ nghĩa của từ, phải đưa từ đó vào
văn cảnh cụ thể (trừ trường hợp giải thích theo từ điển) Do vậy, khi dạy học các tiết rèn kĩ năng, tôi thường tổ chức cho HS hoạt động theo nhóm với
CHUYÊN ĐỀ GIÁO DỤC TIỂU HỌC - TẬP 37
Trang 2nhiệm vụ là luân phiên ghi vảo vào bảng nhóm các
từ chỉ sự vật hay hoạt động, đặc điểm, (tuỳ theo
nội dung mỗi tiết học), sau đó dùng từ tìm được để
đặt câu (lưu ý HS ghi tên hoặc số thứ tự của mình
bên cạnh câu đã đặt) Khi các nhóm đã thực hiện
xong nhiệm vụ, tôi tổ chức cho từng nhóm trình bày
trước lớp để cả lớp cùng nhận xét về cách dùng từ,
đặt câu, về chính tả và chữ viết
Khi được tham gia vào các hoạt động như
trên, các em có thể hiểu rõ nghĩa từ và dễ dàng
xác định được cấu trúc câu cũng như đặc điểm
của câu có liên quan đến loại từ được sử dụng
VD: Bộ phận trả lời cho câu hoi /a gi? trong câu
kiểu Ai /à gì? thường là các từ ngữ chỉ sự vật
(gọi tên); Bộ phận trả lời cho câu hỏi làm gì?
trong câu kiểu Ai iàm gì? thường là những từ
ngư chỉ hoạt động; Bộ phận trả lời cho câu hỏi
thế nào? trong câu kiểu Ai thế nào? thường là
các từ ngữ chỉ trạng thái, tính chất
Bên cạnh đó, việc được tham gia vào quá
trình chữa bài cho bạn cũng góp phần giúp HS
biết cách tự chữa lỗi cho mình về dùng từ, đặt
câu và lỗi chính tả
Với sự hỗ trợ của GV, qua các tiết rèn kĩ năng
HS đã biết đặt câu ngày càng đúng và phù hợp
với văn cảnh Cũng từ những hoạt động luyện tập
như vậy, HS viết chính tả ngày càng chính xác,
chữ viết ngày càng đẹp và tốc độ viết cũng đâm
bảo yêu cầu; HS nắm chắc về cấu trúc câu và đặt
câu theo mẫu nhanh hơn, nội dung diễn đạt đa
dạng, phong phú và bước đâu có hình ảnh
(VD: Những chú bướm tung tăng bay lượn như
đang cùng muôn hoa khoe sắc)
Ngoài ra, để tăng cường thực hành phép nhân
hoá, so sánh đã học, phục vụ các kĩ năng nói,
viết và lam bai tap lam van hay hon, trong các
tiết rèn kĩ năng, tôi thường tổ chức cho HS tìm và
tập sử dụng phép nhân hoá, so sánh (vì các tiết
chính ít có thời gian để tổ chức thực hành)
Tôi thường thực hiện hoạt động rèn ki nang
tiếng Việt thông qua các việc sau:
* Mở rộng vốn tu, su dung tir
GV yêu cầu HS tìm các từ chỉ sự vật, hoạt
động, đặc điểm Sau đó, hướng dẫn các em trao
đổi, tìm ra những sự vật hay hoạt động, đặc điểm
có thể so sánh với nhau (VD: Bàn tay của bà có
thể so sánh với quả mướp héo, vì đều có đặc điểm
nhăn nheo giống nhau; chiếc đồng hồ có thể so
ee CHUYEN DE GIAO DUC TIỂU HỌC - TẬP 37
sánh với anh công nhân, vì đều làm việc chăm
chỉ, ) Việc làm này giúp HS hiểu và nhớ: Muốn
sử dụng phép so sánh thì phải có hai sự vật trỏ lên
và hai sự vật được so sánh với nhau phải có những yếu tố tương đồng (giống nhau) Khi dạy
học về nhân hoá, tôi yêu cầu HS quan sát và tìm
những từ chí đồ vật, con vật, xung quanh, tìm
những từ thường nói về người có thể ghép với chúng để sử dụng phép nhân hoá (VD: bác đồng
hồ, chú mèo mướp, cây dừa sải tay bơi, ) Từ đó,
các em nhớ kĩ rằng: Dùng những từ ngữ thường
chỉ người để gán cho sự vật, hiện tượng chính là nhân hoá sự vật, hiện tượng đó Nhờ đó, HS dẫn
biết sử dụng các phép so sánh, nhân hoá (ở mức
độ đơn giản), bước đầu biết vận dụng vào các
trường hợp cụ thể một cách hợp lí, có chọn lọc và
sáng tạo Càng ngày, các em sử dụng từ càng
hơn, trong sáng hơn, góp phần “Giữ gìn và bao vé ©
sự trong sáng của tiếng Việt”
* Đặt câu, sử dụng câu
Sau khi HS cả lớp đã tìm được nhiều từ ngữ, tôi
cho các em tiến hành đặt câu theo nhóm Trong khoảng thời gian nhất định, 1S lần lượt thực hành
đặt câu và ghí các câu đã đặt vào bảng nhóm
GV yêu cầu các em đánh dấu những câu mình đã
đặt (VD: HS1 trong nhóm ghi các câu của mình đặt được là 1) Việc làm này giúp GV quan sát và ©
đánh giá được mức độ tiến bộ của từng đồi tượng
HS, nắm được điểm mạnh, điểm yếu của từng em
để có kế hoạch bồi dưỡng hoặc phụ đạo
* Cho sắn chủ để, yêu cầu HS tìm từvà dặt câu
Để phát huy khả năng tư duy của mọi đối tượng HS, tôi thường đưa ra một chủ đề và yêu cầu các em tìm từ xoay quanh chủ đề đó (VD:
Nhà em nuôi một con chó/ con mèö , hãy tìm từ
ngữ chỉ một vài đặc điểm của con vật ấy) Sau khi
HS tìm được từ ngữ (VD: súa gâu gâu, màu vàng,
chân khoẻ, ), GV yêu cầu các em đặt câu để diễn tả cảm nghĩ của mình Các câu đều được ghi lên bảng nhóm rồi cử người trình bày Khi thực
hiện hoạt động này, tôi nhận thấy các em đã bước đầu bộc lộ tính cách riêng trong việc dùng từ, đặt
câu Trên cơ sở biết đặt câu thành thạo, HS dễ dàng có khả năng viết được một đoạn văn ngắn theo chú đề cho trước
Việc làm này rất hữu ích, vì trong thời gian
của một tiết học, thay vì một em có thể chỉ tìm
được một, hai từ và đặt được một hai câu, thi
Trang 3nay đã có được hàng chục từ ngữ, câu văn
do học hỏi được ở bạn bè Các em còn được
tạo điều kiện để sửa câu sai, chọn câu hay và
phù hợp với ngữ cảnh Dựa vào những câu, từ
đã có, HS dễ viết được một đoạn văn đạt kết
quả tốt Cũng qua việc làm này, các em còn
được rèn luyện thêm về chính tả, sử dụng dấu
câu, cách lựa chọn và sắp xếp ý trong đoạn
văn Đồng thời, HS cũng phát huy được năng
lực hợp tác trong học tập, biết cách trao đổi
trong nhóm để chọn ý hay, sau đó thống nhất
cách thực hiện mà nhóm cho là tốt nhất
Bước 4: Đánh giá, rút kinh nghiệm
Trong quá trình tổ chức HS trình bày và nhận
xét, GV yêu cầu các em chọn ra những câu hay
(giàu hình ảnh, âm thanh, biểu cảm, ), bước đầu
tìm hiểu xem chúng hay ở chỗ nào (có thể so
sánh với câu khác cùng tả về một sự vật, đặc
điểm) Những câu chưa hay hoặc sử dụng chưa
hợp lí thì yêu cầu các em sửa lại (với sự hỗ trợ của
GV và các bạn), rút kinh nghiệm về cách diễn đạt
VD: So sánh hai câu: Chú chó vẫy đuôi tíu tít,
chạy lại cọ vào chân em như muốn nói: “Tôi đã
canh gác tốt đấy nhé." ¡ Sáng ra, con chó vẫy
đuôi, chạy lại bên em, HS sẽ thấy câu nào hay
hơn và hay hơn ở điểm nào Từ đó, các em dần
biết sử dụng câu có hình ảnh, giàu cảm xúc, đồng
thời biết tự sửa những câu sai ngữ pháp, câu rườm
rà, lủng củng, tối ý,
Việc hướng dẫn đánh giá kết quả thực hành
của HS cũng giúp cho GV nhìn nhận và điều
chỉnh phương pháp, hình thức tổ chức dạy học
của mình Trong quá trình tế chức và đánh giá,
GV cần chú ý ứng xử thật khéo léo, tránh tạo ra sự
mặc cảm, tự ti hay tự hào quá mức dẫn đến chủ
quan ở một số HS VD: khi tìm từ về chủ điểm
Nghệ thuật (lớp 3), có HS cho rằng từ múa chỉ một
bộ môn nghệ thuật, nhưng cũng có HS cho rằng
từ này chỉ hoạt động nghệ thuật Cả hai ý kiến
trên đều không sai, nhưng để HS hiểu rõ "chỗ
đúng” của cả hai bạn, GV nên hướng dẫn các em
đặt câu và dựa vào văn cảnh để xác định nghĩa từ
cho đúng
* Hồ trợ, hợp tác để làm bài
Sau khi HS thực hiện khả thành thạo các yêu
cầu trên, GV cần quan tâm hướng dẫn các em hỗ
trợ, hợp tác trong nhóm để tập viết những đoạn
văn kể, tả ngắn theo chương trình quy đình (VD:
tả ngắn về cây cối, con vật, kể ngắn về gia đình,
bạn bè, người thần, ) Những bài tập viết đoạn
văn của các nhóm đều được giữ lại ít nhất một tuần và được treo trên 4 bức tường của lớp để khuyến khích các bạn đọc, quan sát và “thẩm
thấu" tốt hơn Mỗi HS đều có một thế mạnh về
một lĩnh vực riêng, ngay cả HS học yếu cũng có
uu điểm cần nang niu, tran trong (VD: viét dep, trình bày hợp lí, sử dụng từ tốt, biết sắp xếp câu,
biết chọn ý, ) Qua hoạt động này, các em cũng
được phát triển thêm về kĩ năng học hợp tác
nhóm, kĩ năng trao đổi, chọn lọc ý kiến để đi đến
thống nhất van dé (đây chính là điểm “nóng” mà việc đổi mới phương pháp dạy học ngày nay đang
hướng tới và dẫn hoàn thiện) Bên cạnh đó, các
nhóm cũng được học hỏi lẫn nhau, thay vì trước đây mỗi nhóm chỉ biết một bài, nay được học hỏi thêm nhiều bài của các nhóm khác, lại là bài tương đối hay do có công sức của cả nhóm xây
dựng nên
Để kích thích tinh thần hào hứng thi đua học tập, đôi khi tôi cũng tổ chức cho HS tham gia trò
chơi học tập theo nhóm
VD: Trò chơi TRẠM DỪNG XE BUÝT
GV tổ chức HS thành các nhóm, mỗi nhóm là
một “trạm dừng xe buýt" Các tấm bằng phụ được
chuyển qua các trạm; bảng được chuyển đến
trạm nào thì các thành viên trong trạm đó phải nhanh chóng ghi vào đây một thông tin (theo chủ
đề GV cho trước) GV đánh giá kết quả, đưa ra
nhận xét và chốt lại những thông tin đúng và hay,
những vấn đề cần phát huy hoặc cần khắc phục (kể cả nội dung công việc lẫn cách thức tham gia
của cá nhân hay nhóm) Trò chơi này còn giúp HS
rèn luyện thể chất (vận động di chuyển giữa các
trạm), tập phản ứng nhanh về tư duy; vừa thể hiện tính hợp tác, kí luật trong công việc vừa giúp các
em phát triển năng lực cá nhân
* Tổ chức học cá nhân
Qua các bước thực hành nói trên, tôi luôn tạo
cơ hội cho HS được nói (trình bày miệng), được
mạnh dạn trình bày và biết cách trình bày một vấn
để nào đó trước tập thể Từ đó, giúp các em rèn kĩ năng giao tiếp, tập biểu hiện thái đô, cử chỉ khi
trình bày để tăng phần biểu cảm, tăng sức thuyết
phục của vấn đề mà mình trình bày Cũng nhờ
vậy, các em tự tín hơn trong giao tiếp, mạnh dạn hơn khi nói trước đông người
CHUYEN ĐỀ GIÁO DỤC TIỂU HỌC - TẬP 37
Trang 4Sau khi HS trình bày miệng, tôi yêu cầu các
em viết lại vào vở và tranh thủ chấm chữa, chỉnh
sửa cho các em Khi tiễn hành chấm chữa, tôi
cũng giúp các em sơ bộ nhận ra sự khác nhau
giữa văn nói và văn viết: Văn nói có thể sử dụng
nhiều từ đệm, từ lặp, ngữ điệu, / Văn viết phải
mach lạc, súc tích, giàu hình ảnh, sử dụng các
dấu câu để diễn đạt sáng ý Dần dần, các em làm
bài ngày càng tốt hơn, dùng từ, đặt câu đúng,
diễn đạt các ý rõ ràng, chặt chẽ, chữ viết ít sai
chính tả và trình bày bài sạch đẹp,
Sau một thời gian thực hiện các biện pháp nêu
trên, tôi rút ra được mấy bài học kinh nghiệm
muốn chia sẻ cùng đồng nghiệp:
(1) Ngay từ đầu năm học, phải trao đổi kĩ với
GV chủ nhiệm lớp trước về năng lực học tập của
từng HS, đồng thời thông qua bài kiểm tra chất
lượng đầu năm để tìm ra điểm mạnh, điểm yếu về
sử dụng tiếng Việt của mỗi em; phải trò chuyện,
trao đổi với từng HS và phụ huynh để tìm ra
nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong việc sử dụng
từ ngữ của các em, đưa ra các giải pháp cụ thể
phù hợp với từng đối tượng HS
(2) Khi tổ chức các tiết rèn kĩ năng tiếng Việt,
GV cần tiên liệu những tình huống có thể Xây ra
để có hướng giải quyết kịp thời những khó khăn,
vướng mắc của HS, tránh nhận xét và trả lời
chung chung, không mang tính thuyết phục
Quá trình hướng dẫn HS thực hành, GV cũng
phải hết sức kiên trì, khéo léo, nhất là trong bước
` "Hạ ade ts bại đinh tủ, Tra lọc mất haế:
Ỷ :
ae | : ` Phi - ¿ Thuả l4 yêu "4 + es + ee sẽ ’
` an: Ese: oe pa gees ve il ia
s si: Ds <
3 "+ : ig l
“
A
đánh giá và nhận xét Làm sao để từng bước giúp HS tìm ra, thu nhận được vốn từ nhiều hơn;
dùng từ và đặt câu hay hơn, chính xác hơn, đúng văn cảnh hơn
(3) Cân tạo ra môi trường học tập that thân
thiện cho các em; giúp các em hợp tác tốt hơn trong hoạt động nhóm, phát huy tinh thần “Học
thấy không tây học bạn” Từ đó, các em sẽ ngày
càng tiến bộ về các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết
tiêng Việt
(4) Nên tổ chức linh hoạt các hình thức học tập
(nhất là thông qua hình thức trò chơi phù hợp với
lứa tuổi) Từ đó, tạo điều kiện để HS tham gia tích
cực, kích thích tinh thần thi đua và sáng tạo, phát
huy tốt nhất năng lực cá nhân trong quá trình học
tập hợp tác của HS
(5) Nên động viên khen thưởng HS kịp thời Đây chính là động lực lớn giúp các em phân chấn
về tinh thần, tích cực tham gia vào các hoại động học tập trên lớp Nhờ động viên HS trong các tiết
rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt ở buổi học thứ hai
(lớp học 2 buổi/ngày) hoặc trong những giờ trống,
tôi đã thu được kết quả đáng mừng: từ tâm lí sợ học các tiết Luyện từ và câu, Tập làm văn, nay
các em đã rất hào hứng tham gia vào các tiết học này và học môn Tiếng Việt tốt hơn Chính vì vậy,
những biện pháp nói trên cũng có thể áp dụng cho các lớp ở tiểu học nói chung
VN, tập n tán oS 2 H a? :
: ce + >3 l
P $ 4 ‹ 4ì Sa
_ r a ccs e © ˆ ora * > ree ec * * -4 "i `
en “
* * * * *
“: + te 4 te ete po eee tế, * Rae `
` ae ops sce iid i z » * Se 4: o> in tìẦ> -« ` ` eit Pei gets ` 7 < i if ev
= ` “>
- + ˆ“*
a tui ety kẻ “Tie: Em lầm được € một cách nhưng n nid
he kí khá Nea Sh Ki UY Hệ
` egies FY gt ấu: a ' là 4 hố ¬ › gc ‘or RSS CP tL or gti :
Rese Ne sys pets” “ ~t : tra net ar : , đài tóc, Ÿ = os Sm OS) 2 <as¢ ge 88 cu k ° ` 77° pte
~ ar ae ` kh é” SẠ0 ° ° * h «$4 * § 7 FC sẽ Nà ra ` i
x ° ° % x 3° ae >s ‹ Sử % > fee ` : te Ye %
Uy es a rtey Spt th là opie Friel dy s1 $F?; aoe ee ? tReet oe
* * * *` * se `+ ® ` `+*8 « ` * `* © * "*
CAN TẾ vn Hư SE Xn VV ah P ai v/I CC v.v bên" ^” xã
có <- a FS 9: " ïn-
.iĐẰ° ove 32,- %F ` °.% s°° s of ee ° ì „ : 4*4,x*e*t#‡£** PP
ra Kia 1s eg aor ° ie *£ vi 1y
“ ` * ® * ° ©®
2 :
Sc +
xá ° ° ° Pa test, ` mt s¬ "+ nese ae ®%®% se ra
H FY - oath ` _=" Nho On z ss, * a *« s" ~s* ` * fie < “ : : ~~ es ` : a * * or ae rie
< 5y? fae eee V" 5" se PaaS Be 3.2 8:08 BY SF pia, Cit toy tts es et Pk ‡ & RCE RE? ee Oe Rt “ get > on oes >Ệ ey ihmresas: :
` RAMA a of ont ow , eet thee co nPA VU “Se © SG: ?aP ch ch ưi, © of" Ui artes t^¿+ Fe ae oh © ate ee
Sen“ I * Sa .* este du 8< ove ` t “ ° wae 2° ° * v A
esis cette : “` Py kets ` °^ˆ te ee Nes Mad oS Oy a) lane E te See eee ee Le aa ae TƑ ire Se
ere 7 ee ie its 42/2 nì4W% or 308 & rot Bee ge eye te 7 a weg beat
Fs 4 ee ° - kì ° fie, | * * Pp , 3 ` : +.ự tha xà tt } *221,vŸ TS x2) Š ^ hˆ S ge .x 4 * ° = ‘are « * «"s .*
CHUYÊN ĐỀ GIÁO DỤC TIỂU HỌC - TẬP 37