1. Trang chủ
  2. » Giáo án - Bài giảng

Tập 37 trang 23 - 26

4 289 0
Tài liệu được quét OCR, nội dung có thể không chính xác
Tài liệu đã được kiểm tra trùng lặp

Đang tải... (xem toàn văn)

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Tiêu đề Một số kinh nghiệm rèn kỹ năng thực hành tiếng Việt cho học sinh các lớp 2, 3
Tác giả Le Thu Ha
Trường học Trường Tiểu Học Chơn Thanh A
Chuyên ngành Tiếng Việt
Thể loại Báo cáo, sáng kiến kinh nghiệm
Năm xuất bản 2023
Thành phố Chơn Thành, Bình Phước
Định dạng
Số trang 4
Dung lượng 3,22 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

GV cũng ít được dự giờ, học hỏi lấn nhau về những tiết học loại này; các chuyên đề bồi dưỡng GV cũng chưa đề cập đến, chưa có một quy trình cụ thể hay tài liệu tham khảo nào dành cho cá

Trang 1

MỘT SỐ KINH NGHIÊM RÈN KĨ NĂNG THUC HANH TIENG VIỆT CHO HOC SINH CAC LOP 2, 3

giai đoạn đầu cấp học, vốn từ rất nghèo

nàn, kĩ năng sử dụng từ còn hạn chế,

chưa nắm chắc cấu trúc câu, Do đó, khi dùng từ

để nói, viết thành câu, các em sử dụng còn tuỳ

tiện, dựa theo cảm tính mà không biết dùng đúng

với ngữ cảnh Các em hay bắt chước người khác,

không đủ khả năng để chọn lọc hay suy nghĩ xem

từ nào đúng, từ nào sai, cầu này nên nói lúc nào,

nên viết ra sao và dùng trong ngữ cảnh nào

Vì vậy, các câu, bài cứ na ná như nhau HS dùng

câu chưa đúng ngữ điệu, không có sự biểu cảm,

mà đơn thuần chỉ là những câu liệt kê, thông báo

đơn giản; HS dùng từ sai, làm cho người khác

không hiểu ý cần diễn đạt

Vậy, làm thế nào để dạy HS tiểu học sử

dụng tiếng Việt một cách thành thạo, có kĩ

năng nói — viết đúng tiếng Việt để từ đó phát triển

lên mức độ nói - việt hay? Với thời lượng, nội dung

quy định cho từng tiết học môn Tiếng Việt ở tiểu

học như hiện nay thì việc dạy HS sử dụng tiếng

Việt nói chung là hợp tí Tuy nhiên, khi dạy các tiết

ôn luyện, rèn kĩ năng môn Tiếng Việt ở buổi học

thứ hai (lớp học 2 buổingày), GV còn gặp không

ít khó khăn và lúng túng GV cũng ít được dự giờ,

học hỏi lấn nhau về những tiết học loại này; các

chuyên đề bồi dưỡng GV cũng chưa đề cập đến,

chưa có một quy trình cụ thể hay tài liệu tham

khảo nào dành cho các tiết rèn kĩ năng như các

tiết dạy chính khoá Nhiều GV đành “tự biên,

tự diễn” Nếu không sáng tạo, linh hoạt, GV chỉ

dạy theo kiểu lặp lại dạng bài của các tiết chính thì

hiệu quả của tiết rèn kĩ năng chỉ dừng lại ở chỗ

“ôn tập lại bài vừa học” Điều này, làm cho HS giỏi

cảm thấy nhàm chán, HS yếu thi sinh ra ¥ lai,

ngày càng thụ động, khó phát triển được tư duy

ngôn ngư

Từ những lí do trên, tôi đã mạnh dạn áp đụng

T: tực tế cho thấy, HS tiểu học, nhất là vào

LE THU HA

Trường Tiếu học Chơn Thanh A, Chon Thành, Bình Phước

một số biện pháp trong giảng dạy các tiết rèn kĩ

năng ở lớp học 2 buổi/ngày và bước đầu thu được

những kết quả tốt

1 Giúp HS mở rộng vốn từ thông qua việc

chuẩn bị bài

Sau mỗi tiết học Luyện từ và câu trong

SGK, tôi đêu yêu cầu HS về nhà tìm các từ cùng chủ đề đang học Đó là những từ ngữ

mà các em thường gặp trong cuộc sống và có

thể tham khảo thêm ý kiến của ba mẹ hoặc

người thân

VD: Học về Từ chỉ sự vật, HS về nhà quan sát

các sự vật xung quanh, tìm từ ngữ để gọi tên sự vật đó để lên lớp ghi vào bảng nhóm (cỡ lớn); nếu

cần thiết, có thể minh hoa bang hình vẽ hoặc giải

thích qụ thể đối với những từ chỉ sư vật lạ, hiếm Những bảng từ được các em treo trên 4 bức tường

của lớp Lúc rảnh rỗi hoặc giờ ra chơi, HS sẽ cùng

nhau đọc và tìm ra nhưng từ sai hoặc không có

nghĩa để sửa lại cho đúng Cứ như vậy, ngày này qua ngày khác, những dòng chữ hiển hiện trước mắt "thấm” dần vào các em và các em có thêm

rất nhiều từ mới (đôi khi chỉ là những từ ngữ thật giản dị, như: cây hồng, lá bàng, tờ lịch, tách trà, ) Rồi cũng chính thông qua việc này mà

các em tự ngầm hiểu đây chính là các từ chỉ tên sự

vật, hiện tượng Và sau này, khi được yêu cầu

xác định những từ chỉ sự vật trong một văn cảnh

cụ thể, các em có thể xác định khá chính xác và

nhanh (kể cả những HS yếu)

2 Giúp HS mở rộng vốn từ và sử dụng từ

ngữ thông qua hợp tác nhóm trong tiết rèn

kĩ năng

Muốn hiểu rõ nghĩa của từ, phải đưa từ đó vào

văn cảnh cụ thể (trừ trường hợp giải thích theo từ điển) Do vậy, khi dạy học các tiết rèn kĩ năng, tôi thường tổ chức cho HS hoạt động theo nhóm với

CHUYÊN ĐỀ GIÁO DỤC TIỂU HỌC - TẬP 37

Trang 2

nhiệm vụ là luân phiên ghi vảo vào bảng nhóm các

từ chỉ sự vật hay hoạt động, đặc điểm, (tuỳ theo

nội dung mỗi tiết học), sau đó dùng từ tìm được để

đặt câu (lưu ý HS ghi tên hoặc số thứ tự của mình

bên cạnh câu đã đặt) Khi các nhóm đã thực hiện

xong nhiệm vụ, tôi tổ chức cho từng nhóm trình bày

trước lớp để cả lớp cùng nhận xét về cách dùng từ,

đặt câu, về chính tả và chữ viết

Khi được tham gia vào các hoạt động như

trên, các em có thể hiểu rõ nghĩa từ và dễ dàng

xác định được cấu trúc câu cũng như đặc điểm

của câu có liên quan đến loại từ được sử dụng

VD: Bộ phận trả lời cho câu hoi /a gi? trong câu

kiểu Ai /à gì? thường là các từ ngữ chỉ sự vật

(gọi tên); Bộ phận trả lời cho câu hỏi làm gì?

trong câu kiểu Ai iàm gì? thường là những từ

ngư chỉ hoạt động; Bộ phận trả lời cho câu hỏi

thế nào? trong câu kiểu Ai thế nào? thường là

các từ ngữ chỉ trạng thái, tính chất

Bên cạnh đó, việc được tham gia vào quá

trình chữa bài cho bạn cũng góp phần giúp HS

biết cách tự chữa lỗi cho mình về dùng từ, đặt

câu và lỗi chính tả

Với sự hỗ trợ của GV, qua các tiết rèn kĩ năng

HS đã biết đặt câu ngày càng đúng và phù hợp

với văn cảnh Cũng từ những hoạt động luyện tập

như vậy, HS viết chính tả ngày càng chính xác,

chữ viết ngày càng đẹp và tốc độ viết cũng đâm

bảo yêu cầu; HS nắm chắc về cấu trúc câu và đặt

câu theo mẫu nhanh hơn, nội dung diễn đạt đa

dạng, phong phú và bước đâu có hình ảnh

(VD: Những chú bướm tung tăng bay lượn như

đang cùng muôn hoa khoe sắc)

Ngoài ra, để tăng cường thực hành phép nhân

hoá, so sánh đã học, phục vụ các kĩ năng nói,

viết và lam bai tap lam van hay hon, trong các

tiết rèn kĩ năng, tôi thường tổ chức cho HS tìm và

tập sử dụng phép nhân hoá, so sánh (vì các tiết

chính ít có thời gian để tổ chức thực hành)

Tôi thường thực hiện hoạt động rèn ki nang

tiếng Việt thông qua các việc sau:

* Mở rộng vốn tu, su dung tir

GV yêu cầu HS tìm các từ chỉ sự vật, hoạt

động, đặc điểm Sau đó, hướng dẫn các em trao

đổi, tìm ra những sự vật hay hoạt động, đặc điểm

có thể so sánh với nhau (VD: Bàn tay của bà có

thể so sánh với quả mướp héo, vì đều có đặc điểm

nhăn nheo giống nhau; chiếc đồng hồ có thể so

ee CHUYEN DE GIAO DUC TIỂU HỌC - TẬP 37

sánh với anh công nhân, vì đều làm việc chăm

chỉ, ) Việc làm này giúp HS hiểu và nhớ: Muốn

sử dụng phép so sánh thì phải có hai sự vật trỏ lên

và hai sự vật được so sánh với nhau phải có những yếu tố tương đồng (giống nhau) Khi dạy

học về nhân hoá, tôi yêu cầu HS quan sát và tìm

những từ chí đồ vật, con vật, xung quanh, tìm

những từ thường nói về người có thể ghép với chúng để sử dụng phép nhân hoá (VD: bác đồng

hồ, chú mèo mướp, cây dừa sải tay bơi, ) Từ đó,

các em nhớ kĩ rằng: Dùng những từ ngữ thường

chỉ người để gán cho sự vật, hiện tượng chính là nhân hoá sự vật, hiện tượng đó Nhờ đó, HS dẫn

biết sử dụng các phép so sánh, nhân hoá (ở mức

độ đơn giản), bước đầu biết vận dụng vào các

trường hợp cụ thể một cách hợp lí, có chọn lọc và

sáng tạo Càng ngày, các em sử dụng từ càng

hơn, trong sáng hơn, góp phần “Giữ gìn và bao vé ©

sự trong sáng của tiếng Việt”

* Đặt câu, sử dụng câu

Sau khi HS cả lớp đã tìm được nhiều từ ngữ, tôi

cho các em tiến hành đặt câu theo nhóm Trong khoảng thời gian nhất định, 1S lần lượt thực hành

đặt câu và ghí các câu đã đặt vào bảng nhóm

GV yêu cầu các em đánh dấu những câu mình đã

đặt (VD: HS1 trong nhóm ghi các câu của mình đặt được là 1) Việc làm này giúp GV quan sát và ©

đánh giá được mức độ tiến bộ của từng đồi tượng

HS, nắm được điểm mạnh, điểm yếu của từng em

để có kế hoạch bồi dưỡng hoặc phụ đạo

* Cho sắn chủ để, yêu cầu HS tìm từvà dặt câu

Để phát huy khả năng tư duy của mọi đối tượng HS, tôi thường đưa ra một chủ đề và yêu cầu các em tìm từ xoay quanh chủ đề đó (VD:

Nhà em nuôi một con chó/ con mèö , hãy tìm từ

ngữ chỉ một vài đặc điểm của con vật ấy) Sau khi

HS tìm được từ ngữ (VD: súa gâu gâu, màu vàng,

chân khoẻ, ), GV yêu cầu các em đặt câu để diễn tả cảm nghĩ của mình Các câu đều được ghi lên bảng nhóm rồi cử người trình bày Khi thực

hiện hoạt động này, tôi nhận thấy các em đã bước đầu bộc lộ tính cách riêng trong việc dùng từ, đặt

câu Trên cơ sở biết đặt câu thành thạo, HS dễ dàng có khả năng viết được một đoạn văn ngắn theo chú đề cho trước

Việc làm này rất hữu ích, vì trong thời gian

của một tiết học, thay vì một em có thể chỉ tìm

được một, hai từ và đặt được một hai câu, thi

Trang 3

nay đã có được hàng chục từ ngữ, câu văn

do học hỏi được ở bạn bè Các em còn được

tạo điều kiện để sửa câu sai, chọn câu hay và

phù hợp với ngữ cảnh Dựa vào những câu, từ

đã có, HS dễ viết được một đoạn văn đạt kết

quả tốt Cũng qua việc làm này, các em còn

được rèn luyện thêm về chính tả, sử dụng dấu

câu, cách lựa chọn và sắp xếp ý trong đoạn

văn Đồng thời, HS cũng phát huy được năng

lực hợp tác trong học tập, biết cách trao đổi

trong nhóm để chọn ý hay, sau đó thống nhất

cách thực hiện mà nhóm cho là tốt nhất

Bước 4: Đánh giá, rút kinh nghiệm

Trong quá trình tổ chức HS trình bày và nhận

xét, GV yêu cầu các em chọn ra những câu hay

(giàu hình ảnh, âm thanh, biểu cảm, ), bước đầu

tìm hiểu xem chúng hay ở chỗ nào (có thể so

sánh với câu khác cùng tả về một sự vật, đặc

điểm) Những câu chưa hay hoặc sử dụng chưa

hợp lí thì yêu cầu các em sửa lại (với sự hỗ trợ của

GV và các bạn), rút kinh nghiệm về cách diễn đạt

VD: So sánh hai câu: Chú chó vẫy đuôi tíu tít,

chạy lại cọ vào chân em như muốn nói: “Tôi đã

canh gác tốt đấy nhé." ¡ Sáng ra, con chó vẫy

đuôi, chạy lại bên em, HS sẽ thấy câu nào hay

hơn và hay hơn ở điểm nào Từ đó, các em dần

biết sử dụng câu có hình ảnh, giàu cảm xúc, đồng

thời biết tự sửa những câu sai ngữ pháp, câu rườm

rà, lủng củng, tối ý,

Việc hướng dẫn đánh giá kết quả thực hành

của HS cũng giúp cho GV nhìn nhận và điều

chỉnh phương pháp, hình thức tổ chức dạy học

của mình Trong quá trình tế chức và đánh giá,

GV cần chú ý ứng xử thật khéo léo, tránh tạo ra sự

mặc cảm, tự ti hay tự hào quá mức dẫn đến chủ

quan ở một số HS VD: khi tìm từ về chủ điểm

Nghệ thuật (lớp 3), có HS cho rằng từ múa chỉ một

bộ môn nghệ thuật, nhưng cũng có HS cho rằng

từ này chỉ hoạt động nghệ thuật Cả hai ý kiến

trên đều không sai, nhưng để HS hiểu rõ "chỗ

đúng” của cả hai bạn, GV nên hướng dẫn các em

đặt câu và dựa vào văn cảnh để xác định nghĩa từ

cho đúng

* Hồ trợ, hợp tác để làm bài

Sau khi HS thực hiện khả thành thạo các yêu

cầu trên, GV cần quan tâm hướng dẫn các em hỗ

trợ, hợp tác trong nhóm để tập viết những đoạn

văn kể, tả ngắn theo chương trình quy đình (VD:

tả ngắn về cây cối, con vật, kể ngắn về gia đình,

bạn bè, người thần, ) Những bài tập viết đoạn

văn của các nhóm đều được giữ lại ít nhất một tuần và được treo trên 4 bức tường của lớp để khuyến khích các bạn đọc, quan sát và “thẩm

thấu" tốt hơn Mỗi HS đều có một thế mạnh về

một lĩnh vực riêng, ngay cả HS học yếu cũng có

uu điểm cần nang niu, tran trong (VD: viét dep, trình bày hợp lí, sử dụng từ tốt, biết sắp xếp câu,

biết chọn ý, ) Qua hoạt động này, các em cũng

được phát triển thêm về kĩ năng học hợp tác

nhóm, kĩ năng trao đổi, chọn lọc ý kiến để đi đến

thống nhất van dé (đây chính là điểm “nóng” mà việc đổi mới phương pháp dạy học ngày nay đang

hướng tới và dẫn hoàn thiện) Bên cạnh đó, các

nhóm cũng được học hỏi lẫn nhau, thay vì trước đây mỗi nhóm chỉ biết một bài, nay được học hỏi thêm nhiều bài của các nhóm khác, lại là bài tương đối hay do có công sức của cả nhóm xây

dựng nên

Để kích thích tinh thần hào hứng thi đua học tập, đôi khi tôi cũng tổ chức cho HS tham gia trò

chơi học tập theo nhóm

VD: Trò chơi TRẠM DỪNG XE BUÝT

GV tổ chức HS thành các nhóm, mỗi nhóm là

một “trạm dừng xe buýt" Các tấm bằng phụ được

chuyển qua các trạm; bảng được chuyển đến

trạm nào thì các thành viên trong trạm đó phải nhanh chóng ghi vào đây một thông tin (theo chủ

đề GV cho trước) GV đánh giá kết quả, đưa ra

nhận xét và chốt lại những thông tin đúng và hay,

những vấn đề cần phát huy hoặc cần khắc phục (kể cả nội dung công việc lẫn cách thức tham gia

của cá nhân hay nhóm) Trò chơi này còn giúp HS

rèn luyện thể chất (vận động di chuyển giữa các

trạm), tập phản ứng nhanh về tư duy; vừa thể hiện tính hợp tác, kí luật trong công việc vừa giúp các

em phát triển năng lực cá nhân

* Tổ chức học cá nhân

Qua các bước thực hành nói trên, tôi luôn tạo

cơ hội cho HS được nói (trình bày miệng), được

mạnh dạn trình bày và biết cách trình bày một vấn

để nào đó trước tập thể Từ đó, giúp các em rèn kĩ năng giao tiếp, tập biểu hiện thái đô, cử chỉ khi

trình bày để tăng phần biểu cảm, tăng sức thuyết

phục của vấn đề mà mình trình bày Cũng nhờ

vậy, các em tự tín hơn trong giao tiếp, mạnh dạn hơn khi nói trước đông người

CHUYEN ĐỀ GIÁO DỤC TIỂU HỌC - TẬP 37

Trang 4

Sau khi HS trình bày miệng, tôi yêu cầu các

em viết lại vào vở và tranh thủ chấm chữa, chỉnh

sửa cho các em Khi tiễn hành chấm chữa, tôi

cũng giúp các em sơ bộ nhận ra sự khác nhau

giữa văn nói và văn viết: Văn nói có thể sử dụng

nhiều từ đệm, từ lặp, ngữ điệu, / Văn viết phải

mach lạc, súc tích, giàu hình ảnh, sử dụng các

dấu câu để diễn đạt sáng ý Dần dần, các em làm

bài ngày càng tốt hơn, dùng từ, đặt câu đúng,

diễn đạt các ý rõ ràng, chặt chẽ, chữ viết ít sai

chính tả và trình bày bài sạch đẹp,

Sau một thời gian thực hiện các biện pháp nêu

trên, tôi rút ra được mấy bài học kinh nghiệm

muốn chia sẻ cùng đồng nghiệp:

(1) Ngay từ đầu năm học, phải trao đổi kĩ với

GV chủ nhiệm lớp trước về năng lực học tập của

từng HS, đồng thời thông qua bài kiểm tra chất

lượng đầu năm để tìm ra điểm mạnh, điểm yếu về

sử dụng tiếng Việt của mỗi em; phải trò chuyện,

trao đổi với từng HS và phụ huynh để tìm ra

nguyên nhân dẫn đến hạn chế trong việc sử dụng

từ ngữ của các em, đưa ra các giải pháp cụ thể

phù hợp với từng đối tượng HS

(2) Khi tổ chức các tiết rèn kĩ năng tiếng Việt,

GV cần tiên liệu những tình huống có thể Xây ra

để có hướng giải quyết kịp thời những khó khăn,

vướng mắc của HS, tránh nhận xét và trả lời

chung chung, không mang tính thuyết phục

Quá trình hướng dẫn HS thực hành, GV cũng

phải hết sức kiên trì, khéo léo, nhất là trong bước

` "Hạ ade ts bại đinh tủ, Tra lọc mất haế:

Ỷ :

ae | : ` Phi - ¿ Thuả l4 yêu "4 + es + ee sẽ ’

` an: Ese: oe pa gees ve il ia

s si: Ds <

3 "+ : ig l

A

đánh giá và nhận xét Làm sao để từng bước giúp HS tìm ra, thu nhận được vốn từ nhiều hơn;

dùng từ và đặt câu hay hơn, chính xác hơn, đúng văn cảnh hơn

(3) Cân tạo ra môi trường học tập that thân

thiện cho các em; giúp các em hợp tác tốt hơn trong hoạt động nhóm, phát huy tinh thần “Học

thấy không tây học bạn” Từ đó, các em sẽ ngày

càng tiến bộ về các kĩ năng nghe, nói, đọc, viết

tiêng Việt

(4) Nên tổ chức linh hoạt các hình thức học tập

(nhất là thông qua hình thức trò chơi phù hợp với

lứa tuổi) Từ đó, tạo điều kiện để HS tham gia tích

cực, kích thích tinh thần thi đua và sáng tạo, phát

huy tốt nhất năng lực cá nhân trong quá trình học

tập hợp tác của HS

(5) Nên động viên khen thưởng HS kịp thời Đây chính là động lực lớn giúp các em phân chấn

về tinh thần, tích cực tham gia vào các hoại động học tập trên lớp Nhờ động viên HS trong các tiết

rèn kĩ năng sử dụng tiếng Việt ở buổi học thứ hai

(lớp học 2 buổi/ngày) hoặc trong những giờ trống,

tôi đã thu được kết quả đáng mừng: từ tâm lí sợ học các tiết Luyện từ và câu, Tập làm văn, nay

các em đã rất hào hứng tham gia vào các tiết học này và học môn Tiếng Việt tốt hơn Chính vì vậy,

những biện pháp nói trên cũng có thể áp dụng cho các lớp ở tiểu học nói chung

VN, tập n tán oS 2 H a? :

: ce + >3 l

P $ 4 ‹ 4ì Sa

_ r a ccs e © ˆ ora * > ree ec * * -4 "i `

en “

* * * * *

“: + te 4 te ete po eee tế, * Rae `

` ae ops sce iid i z » * Se 4: o> in tìẦ> -« ` ` eit Pei gets ` 7 < i if ev

= ` “>

- + ˆ“*

a tui ety kẻ “Tie: Em lầm được € một cách nhưng n nid

he kí khá Nea Sh Ki UY Hệ

` egies FY gt ấu: a ' là 4 hố ¬ › gc ‘or RSS CP tL or gti :

Rese Ne sys pets” “ ~t : tra net ar : , đài tóc, Ÿ = os Sm OS) 2 <as¢ ge 88 cu k ° ` 77° pte

~ ar ae ` kh é” SẠ0 ° ° * h «$4 * § 7 FC sẽ Nà ra ` i

x ° ° % x 3° ae >s ‹ Sử % > fee ` : te Ye %

Uy es a rtey Spt th là opie Friel dy s1 $F?; aoe ee ? tReet oe

* * * *` * se `+ ® ` `+*8 « ` * `* © * "*

CAN TẾ vn Hư SE Xn VV ah P ai v/I CC v.v bên" ^” xã

có <- a FS 9: " ïn-

.iĐẰ° ove 32,- %F ` °.% s°° s of ee ° ì „ : 4*4,x*e*t#‡£** PP

ra Kia 1s eg aor ° ie *£ vi 1y

“ ` * ® * ° ©®

2 :

Sc +

xá ° ° ° Pa test, ` mt s¬ "+ nese ae ®%®% se ra

H FY - oath ` _=" Nho On z ss, * a *« s" ~s* ` * fie < “ : : ~~ es ` : a * * or ae rie

< 5y? fae eee V" 5" se PaaS Be 3.2 8:08 BY SF pia, Cit toy tts es et Pk ‡ & RCE RE? ee Oe Rt “ get > on oes >Ệ ey ihmresas: :

` RAMA a of ont ow , eet thee co nPA VU “Se © SG: ?aP ch ch ưi, © of" Ui artes t^¿+ Fe ae oh © ate ee

Sen“ I * Sa .* este du 8< ove ` t “ ° wae 2° ° * v A

esis cette : “` Py kets ` °^ˆ te ee Nes Mad oS Oy a) lane E te See eee ee Le aa ae TƑ ire Se

ere 7 ee ie its 42/2 nì4W% or 308 & rot Bee ge eye te 7 a weg beat

Fs 4 ee ° - kì ° fie, | * * Pp , 3 ` : +.ự tha xà tt } *221,vŸ TS x2) Š ^ hˆ S ge .x 4 * ° = ‘are « * «"s .*

CHUYÊN ĐỀ GIÁO DỤC TIỂU HỌC - TẬP 37

Ngày đăng: 13/09/2013, 15:10

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

(4) Nên tổ chức linh hoạt các hình thức học tập (nhất  là  thông  qua  hình  thức  trò  chơi  phù  hợp  với  - Tập 37 trang 23 - 26
4 Nên tổ chức linh hoạt các hình thức học tập (nhất là thông qua hình thức trò chơi phù hợp với (Trang 4)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

w