1. Trang chủ
  2. » Giáo Dục - Đào Tạo

GT cong nghe day hoc 1

191 2 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 191
Dung lượng 8,5 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Chương 1: Sự hình thành và phát triển của Công nghệ dạy học 5 SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG NGHỆ DẠY HỌC 1 Một trong những đặc tính của công nghệ dạy học nhằm phân biệt nó với

Trang 1

NGƠ ANH TUẤN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

NĂM XÂY DỰNG VÀ PHÁT TRIỂN

50

GIÁO TRÌNH

CƠNG NGHỆ DẠY HỌC

NHÀ XUẤT BẢN

ĐẠI HỌC QUỐC GIA TP HỒ CHÍ MINH

TP HCM

Trang 2

BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO

TRƯỜNG ĐẠI HỌC SƯ PHẠM KỸ THUẬT

TP HCM

Trang 3

TP HCM

Trang 4

3

LỜI NÓI ĐẦU

Công nghệ giáo dục, công nghệ dạy học, thiết kế dạy học… là những khái niệm không mới nhưng chưa được làm rõ và chưa phổ biến ở

nưóc ta Công nghệ giáo dục là những nghiên cứu và ứng dụng nhằm tạo

điều kiện hỗ trợ và cải thiện hiệu quả dạy học thông qua việc tạo ra, ứng

dụng và quản lí các quá trình công nghệ và nguồn tư liệu phù hợp Thuật ngữ Công nghệ dạy học - bao gồm các quá trình, các hệ thống giảng dạy và học tập Thuật ngữ Công nghệ Giáo dục - bao gồm

Công nghệ dạy học và các hệ thống khác được sử dụng trong quá trình phát triển khả năng của con người

Công nghệ Giáo dục được định nghĩa đơn giản là một loạt các công

cụ thực sự hữu ích trong việc nâng cao hiệu quả học tập Công nghệ Giáo dục dựa trên định nghĩa phổ dụng của từ “công nghệ” Công nghệ Giáo dục bao quát hơn công nghệ dạy học

Sự mở rộng khái niệm công nghệ, vốn được áp dụng cho những quá trình xử lí vật chất, khi áp dụng cho những quá trình xử lí những đối tượng phi vật chất, có gây ra những quan niệm và tranh luận khác nhau; trong khi đó xu thế mở rộng khái niệm công nghệ này vẫn tiếp tục diễn ra

và phần nào đã chứng minh được tác dụng tích cực của sự mở rộng này

Do tính chất và qui mô bao quát cả nhân cách cũng như các tiềm năng

to lớn khác của con người nên tài liệu này chỉ đề cập đến một phần của giáo dục đó là dạy học Về kết cấu, giáo trình chia làm 6 chương như sau:

 Chương 1: Sự hình thành và phát triển của công nghệ dạy học

Phần này tóm tắt quá trình hình thành và phát triển của CNDG

 Chương 2: Công nghệ giáo dục và công nghệ dạy học Phần này

trình bày hệ thống các khái niệm, các quan điểm của công nghệ giáo dục và công nghệ dạy học, trong đó nhấn mạnh đến các ảnh hưởng của lí thuyết học tập, chu trình hình thành và phát triển của công nghệ dạy học cũng như các biện pháp áp dụng công nghệ dạy học vào trong các điều kiện thực tế

 Chương 3: Thiết kế dạy học Phần này trình bày chi tiết quá trình

thiết kế dạy học như một thành phần quan trọng của công nghệ dạy học, trong đó nhấn mạnh đến từng qui trình và tính hệ thống của việc ứng dụng công nghệ dạy học cũng như vai trò và ảnh hưởng của mỗi quá trình đến hệ thống

TP HCM

Trang 5

4

này trình bày các đặc tính cơ bản về học tập của con người và ảnh hưởng của các đặc tính này lên việc học , tập trung vào vai trò của

đặc biệt nhấn mạnh đến giới hạn tự nhiên của ký ức làm việc và sự tải nhận thức , mối liên hệ giữa tải nhận thức , ký ức làm việc khi dạy học với sự hỗ trợ của công nghệ

 Chưong 5: Công nghệ Multimedia trong dạy học Phần này trình

bày những cơ sở ứng dụng multimedia và công nghệ thông tin vào quá trình dạy học để làm cho việc học có ý nghiã và hiệu quả hơn Phần này cũng trình bày mô hình tích cực hoá người học cũng như các biện pháp tích cực hóa người học trong môi trường dạy học có

sự hỗ trợ của công nghệ

 Chương 6: Thiết kế bài giảng điện tử và phần mềm dạy học

Phần này trình bày cách thức ứng dụng công nghệ dạy học vào thiết

kế bài giảng, bài giảng điện tử và phần mềm dạy học Trong đó nhấn mạnh đến qui trình thiết kế, biện pháp kỹ thuật và các điểm cần lưu ý khi thiết kế

Tài liệu này được phát triển từ giáo trình Công nghệ dạy học của trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM với mong muốn làm rõ và thúc đẩy những giá trị mà công nghệ dạy học mang lại đồng thời góp phần giới hạn những ảnh hưởng tiêu cực có thể xảy ra

Xin chân thành cám ơn sự đóng góp ý kiến của PGS TS Vũ Trọng

Rỹ - Viện Khoa học Giáo dục Việt Nam, sự ủng hộ và chia sẻ các tư liệu của TS Đỗ Mạnh Cường – Giám đốc Viện Nghiên cứu phát triển giáo dục chuyên nghiệp, tập thể các Thầy Cô, các đồng nghiệp ở trường Đại học Sư phạm Kỹ thuật TPHCM cùng các biên tập viên nhà xuất bản Đại học Quốc gia TPHCM đã biên tập và góp ý để tác giả hoàn thành cuốn giáo trình này

Do kinh nghiệm chưa nhiều và sự hiểu biết còn chưa thấu đáo nên tài liệu này không thể tránh khỏi những thiếu sót, tác giả kính mong quí học giả, quí đồng nghiệp và quí bạn đọc góp ý chân thành để tài liệu được hoàn chỉnh hơn trong các lần tái bản sa

Ngô Anh Tuấn

TP HCM

Trang 6

Chương 1: Sự hình thành và phát triển của Công nghệ dạy học

5

SỰ HÌNH THÀNH VÀ PHÁT TRIỂN

CỦA CÔNG NGHỆ DẠY HỌC 1

Một trong những đặc tính của công nghệ dạy học nhằm phân biệt

nó với các nhánh học thuật khác của giáo dục là sự tập trung vào công nghệ và vai trò của nó trong việc dạy và học Nếu cho rằng công nghệ là kết quả của việc áp dụng kiến thức hiện tại để cải thiện một tác vụ hay một mục đích thì công nghệ phải liên quan đến tác vụ hay mục đích Tất cả các công nghệ có thể được phân thành 2 loại: công nghệ sản phẩm và công nghệ ý tưởng Các công nghệ sản phẩm là các công cụ hay các đối tượng thực được tạo ra thông qua các kiến thức và nghiên cứu để cải tiến công việc (ví dụ như máy tính, bảng sử dụng bút lông để viết, các thiết bị hỗ trợ dạy học…) Các công nghệ ý tưởng là những khám phá về kiến thức không có tồn tại ở dạng vật chất Các công nghệ ý tưởng bao gồm các thuyết về kí ức làm việc, thuyết nhận thức, thuyết kiến tạo, các

mô hình thiết kế dạy học…mặc dù các công nghệ ý tưởng là vô hình nhưng các nguyên tắc và tư tưởng chủ đạo của chúng thường được thể hiện trong công nghệ sản phẩm như các mô hình dạy học và phần mềm dạy học Ví dụ, trong các phần mềm dạy toán được tạo ra bởi những chuyên gia thuyết nhận thức, học sinh học các nguyên lý toán học trong bối cảnh thế giới thực như lái tàu hay lái máy bay Thay vì yêu cầu học sinh chú ý vào các con số, các bài tập tình huống thực tế lại yêu cầu học sinh tính toán các thông số về quãng đường, giá nhiên liệu, hiệu suất của động cơ… Bối cảnh này giúp học sinh nhận ra các thành phần quan trọng của vấn đề vì nó thể hiện dưới các tình huống thực tế Cả công nghệ ý tưởng và công nghệ sản phẩm đã ảnh hưởng đến lĩnh vực công nghệ dạy học theo nhiều cách khác nhau qua hàng trăm năm

Cơ sở của CNDH bắt nguồn từ các ý tưởng của các nhà Hy lạp cổ đại Tuy vậy, lịch sử của ngành CNDH hiện đại lại chủ yếu rơi vào thế kỷ

XX, dựa trên 3 nền tảng hiện đại: Thiết kế dạy học (Instructional design),

phương tiện truyền thông trong dạy học (Instructional Media) và sau này

là Công nghệ máy tính trong giảng dạy (Instructional Computing) Trong

đó, thiết kế dạy học đóng vai trò của công nghệ ý tưởng, các phương tiện truyền thông và máy tính đóng vai trò của công nghệ sản phẩm

Sự phát triển của CNDH trải qua các thời kỳ:

TP HCM

Trang 7

cơ bản giúp chuyển đổi kiến thức được học thành hành vi của người học Mỗi thay đổi quan trọng trong các giá trị văn hóa hay nhận thức qua các thế kỷ đã đưa đến những lý thuyết mới về kiến thức và học tập và cho các phương pháp dạy học mới Công nghệ dạy học trong giai đoạn trước

1900 đều là các công nghệ ý tưởng

Có thể xem những nhà công nghệ dạy học đầu tiên là một nhóm các nhà giáo tinh hoa uyên bác thời Hy lạp cổ đại (nhóm Sophists) Những bài giảng của nhóm Sophists này gây ảnh hưởng lớn đến các nhà triết học Socrate, Plato, Aristotle và đã góp phần tạo nền tảng triết học cơ bản cho tư tưởng phương Tây Ta có thể lấy trường hợp của Socrates (469-399 trước công nguyên) để mô tả cho các quan điểm và công nghệ ý tưởng dạy học thời tiền sử Triết gia người Hy lạp này là một trong những nhà giáo dục đầu tiên nhấn mạnh đến vai trò của người học Socrates cho rằng ngoài kiến thức uyên thâm về môn học người Thầy phải biết cách dạy

Về thiết kế dạy học, Socrates sử dụng một loạt các câu hỏi được thiết kế để hướng dẫn người học thông qua quá trình giải quyết vấn đề Các câu hỏi của Socrates không chỉ được thiết kế để kiểm tra kiến thức người học mà còn giúp họ sử dụng lý luận, logic và thông tin họ đã có để tìm giải pháp cho vấn đề phức tạp Các câu hỏi của Socrates giúp học sinh bày tỏ quan điểm, phê bình, đánh giá, bảo vệ hoặc từ bỏ quan điểm một cách thích hợp

Phương pháp của Socrates phần nào cũng giống với thuyết kiến tạo ngày nay Thuyết kiến tạo là một thuyết giáo dục hướng vào người học,

nó nhấn mạnh đến việc “người học tự kiến tạo kiến thức bằng cách gắn kết thông tin mới với kinh nghiệm sẵn có” Jean Piage, một nhà tâm lý học người Thụy sỹ, đã có những đóng góp nổi trội cho thuyết kiến tạo

Có những điểm tương đồng giữa Piaget và Socrate Theo Piaget, việc học tập ở trường nên đồng thời bao gồm sự trải nghiệm, tính làm việc độc lập

và cộng tác của học viên Các tình huống làm việc theo nhóm, trong đó các quan điểm của các thành viên chứa đựng các yếu tố thách thức và

TP HCM

Trang 8

Chương 1: Sự hình thành và phát triển của Công nghệ dạy học

7

phụ thuộc, có thể đóng góp cho sự phát triển các suy nghĩ khách quan Các kinh nghiệm trực tiếp của học viên đặc biệt quan trọng trong toán học và các môn khoa học tự nhiên vì nó chứng tỏ rằng các môn học này chứa đựng những nguyên tắc có thể thử nghiệm được

Peter Abelard (1079-1142) là một học giả và cũng là một Thầy tu ở Pháp trong thời Trung cổ Ông được xem là một trong những nhà giáo dục đầu tiên và là nhà tiên phong quan trọng của phương pháp kinh viện, Ông cũng là nhà sáng lập ra trường đại học Paris Peter Abelard đã phối hợp phương pháp của nhóm Socrates với phương pháp kinh viện để giảng dạy cho học sinh Phương pháp kinh viện là phương pháp trình bày thông tin cho học sinh dưới dạng các câu hỏi và cho phép các em tự tìm câu trả lời thông qua một quá trình điều tra, suy luận hợp lý Nó là tiền thân của phương pháp khoa học và là cơ sở để xây dựng các trường Đại học ở Châu Âu

Cùng thời với Abelard còn có Peter Lombard (1100 - 1160) Lombard dùng phương pháp khác với Abelard, thay vì để cho học sinh tự tìm kiếm suy luận, Ông trả lời mẫu cho câu hỏi đầu tiên Sau Lombard, St Thomas Aquinas (1225 - 1274) tiếp tục phát triển phương pháp kinh viện, Ông đã đưa ra khái niệm “Tri giác học tập” và đã bổ sung quá trình đặt câu hỏi hợp lý hơn bằng cách loại trừ sự không nhất quán giữa các ý tưởng Cùng với phương pháp kinh viện, sự phát kiến về công nghệ đầu tiên của những nhà giáo dục thời xưa chính là sách giáo khoa Sự khác biệt giữa sách giáo khoa và các tài liệu trước đó nằm ở chỗ trong sách giáo khoa các nhà giáo dục đã trình bày cặn kẽ các phương pháp và quá trình để đưa ra các kết luận thay vì đưa ra một loạt các ý tưởng và kết luận Sách giáo khoa đã khuyến khích sự sáng tạo nên các ý tưởng mới Tuy nhiên, vào lúc đầu, sách giáo khoa chỉ được sử dụng trong các học viện, mãi tới khi công nghệ in được phát minh thì sách giáo khoa mới được nhân bản và phân phối rộng rãi

John Amos Comenius (1592-1670) cho rằng phải giáo dục trẻ em

từ sớm trên cơ sở thế giới xung quanh như Trái đất, các hành tinh, các vì sao và mối liên hệ của chúng với con người Comenski cho rằng thiên nhiên là cái chuẩn, cái mẫu mà giáo dục phải áp dụng, phải bắt chước để

có thể đạt được kết quả mong muốn Theo ông, mối quan hệ chi phối của thiên nhiên đối với giáo dục phản ánh mối quan hệ giữa thiên nhiên và con người: con người là một bộ phận của thiên nhiên; phương thức tồn tại và vận động của thiên nhiên cũng là phương thức tồn tại và vận động của con người Vì vậy con người phải tuân theo những quy luật phổ biến của thiên nhiên Thiên nhiên theo cách hiểu của ông trước hết là bản tính của người đó Chính vì vậy ông luôn nhìn thấy sự giống nhau giữa con người và thiên nhiên Trên cơ sở hoạt hoạt động giáo dục của bản thân và

TP HCM

Trang 9

8

những kinh nghiệm tiên tiến của thời đại mình những tư tưởng sâu sắc về mặt lý luận đã nảy sinh và hình thành ở ông mà điều đó được thể hiện ở trong cuốn “Lý luận dạy học vĩ đại” Điều đó khác với trước đây người ta

lý giải mọi luận điểm giáo dục đều dựa vào những luận điểm tôn giáo được trích dưới dạng những tín điều

Cùng với quan niệm về nguyên tắc thích ứng thiên nhiên của giáo dục như là theo những quy luật phổ biến của tự nhiên, Comenski còn vận dụng nó để lý giải sự phân kì lứa tuổi, hệ thống nhà trường và một số nguyên tắc và quy tắc dạy học Công lao hết sức to lớn của Comeski là hình thành tính trực quan như một trong những nguyên tắc dạy học quan trọng nhất Ông đã lý giải, khái quát, đào sâu, mở rộng những kinh nghiệm dạy học trực quan đã có vào thời gian đó, vận dụng rộng rãi tính trực quan trong thực tiễn, đưa vào sách giáo khoa của mình những hình vẽ

Comenski đòi hỏi dạy học phải đảm bảo tính hệ thống Ông đã chỉ ra

sự cần thiết phải làm cho học sinh hiểu rõ mối liên hệ giữa các hiện tượng

và tổ chức tài liệu học tập như thế nào để họ không cảm thấy lộn xộn, trái lại được trình bày ngắn gọn dưới dạng một vài luận điểm cơ bản

Trong lịch sử giáo dục, nhà trường hình thành rất sớm Hơn 20 thế

kỷ trước Comenski, khắp các nước trên thế giới, việc dạy học tổ chức có tính cá nhân, thiếu khoa học, hiệu quả thấp Vì vậy ông đã chia trường học thành những lớp học Mỗi lớp học có thành phần học sinh đồng nhất

về lứa tuổi, về trình độ học vấn Mỗi trình độ được hoàn thành trong một thời gian đào tạo nhất định, đó là năm học Tóm lại ông đã đặt cơ sở cho

hệ thống bài-lớp mà cho đến nay vẫn chiếm một vị trí quan trọng trong việc tổ chức dạy học cho các trường trên thế giới

Jean-Jacques Rousseau (1746-1827) là nhà lý luận sư phạm lỗi lạc nhất của thế kỷ XVIII Ảnh hưởng của ông tới giáo dục vượt ra cả ngoài

phạm vi của châu Âu Trong cuốn Émile (1762), Rousseau khẳng định

rằng trẻ em nên được đối xử như trẻ em hơn là những “người lớn thu nhỏ” (miniature adults), và rằng tính cách riêng của từng cá thể phải được bồi dưỡng Những công trình nghiên cứu về giáo dục của Rousseau sau này được nhiều người tiếp bước và phát triển cả về lý luận và thực tế Trong số những người chịu ảnh hưởng của Rousseau có cả nhà giáo dục nổi tiếng người Thụy Sỹ Johann Pestalozzi Mục tiêu nguyên tắc của Pestalozzi là cung cấp phương pháp giảng dạy để thúc đẩy phát triển tự nhiên ở trẻ em Để đạt được điều này, ông hướng tới sự phát triển hài hòa, cân đối của tất cả các khả năng của người học

Nếu như Jean Jacques Rouseau mới manh nha quan điểm dạy học người học làm trung tâm, ở Pestalozzi, ý tưởng đó được phát triển cụ thể hóa hơn

TP HCM

Trang 10

Chương 1: Sự hình thành và phát triển của Công nghệ dạy học

9

Qua thực tiễn dạy học và các tiểu thuyết sư phạm của mình, Pestalozzi cho rằng giáo dục cần chú ý ba phương diên trí tuệ, tâm hồn, thể chất - ba thành tố đó tổ hợp thành nhân bản của con người Giáo dục thể chất đào tạo con người với sức khỏe để có khả năng chịu đựng và đặc biệt là biết hoạt động tay chân thành thục khéo léo trong đời sống sinh hoạt hàng ngày Giáo dục đạo đức đào tạo con người biết hành động theo

lẽ phải và lương tâm, không bị lôi cuốn vào những hành động bất chính Giáo dục trí tuệ nhằm đào tạo con người biết sử dụng các giác quan để học hỏi trong mọi hoàn cảnh từ nhà trường, gia đình và xã hội, biết cách

lý luận, so sánh, lựa chọn đúng, kết luận chính xác Trí, tâm, lực chỉ có ý nghĩa khi được liên hệ với các sự kiện thực tế cụ thể

Pestalozzi cho rằng quan điểm giáo dục phải được thực hiện với PPGD thực dụng Kinh nghiệm phải đi trước sáng kiến và óc tưởng tượng Những bài học phải liên hệ với thực tế để HS dễ dàng vận dụng vào đời sống của mình Từ đó, các ý niệm trừu tượng được hình thành dần dần Chúng ta chỉ có thể hành động khi biết hành động như thế nào Điều này có nghĩa là tất cả các điều học hỏi phải được hướng về học sinh, “lấy học sinh làm trung tâm” Để thực hiện quan điểm dạy học lấy học sinh làm trung tâm, thầy đóng vai trò hướng dẫn, giải thích khi cần thiết, thúc đẩy các sinh hoạt giáo dục, kiểm soát sự tiến triển học tập của học sinh qua bài tập, cũng như tìm hiểu các khó khăn trở ngại, theo dõi tâm lý HS, quyết định việc thay đổi chương trình cũng như PPDH Điều này cũng có nghĩa là chương trình giáo dục phải phù hợp với mỗi giai đoạn phát triển thể xác và tâm lý của học sinh

Johann Friedrich Herbart (1776-1841) mong muốn đào tạo con người có đạo đức, có tri thức, kinh nghiệm, dễ phục tùng, ngoan ngoãn,

có kỷ luật Ông coi việc gây hứng thú là yêu cầu quan trọng nhất trong dạy học (có 6 loại hứng thú: thực nghiệm, lý luận, thẩm mĩ, đồng tình, xã hội, tôn giáo) Vì "điều gì thích học thì học được nhanh và nắm được kỹ" Cách dạy phải sinh động, tránh khô khan Theo ông bài giảng cần chia làm 4 giai đoạn (sáng tạo, liên tưởng, hệ thống hoá, phương pháp), qua

đó hình thành kỹ năng, quan niệm, kinh nghiệm

Theo Herbart sự thành công của việc giảng dạy phụ thuộc vào 3 yếu tố: Thầy giáo, học sinh và chủ đề học tập Dựa trên các công trình nghiên cứu của Ông, những nhà giáo dục đã thiết kế ra phương pháp giảng dạy 5 bước: (1) Chuẩn bị cho học sinh sẵn sàng với bài học mới; (2) Trình bày bài mới; (3) gắn kết bài học mới với những kiến thức sẵn

có của người học; (4) Sử dụng các ví dụ để phác thảo những điểm chính của bài học; (5) Kiểm tra học sinh để đảm bảo các em đã học bài mới

TP HCM

Trang 11

10

Ngày nay, các nguyên tắc giáo dục của Herbart có thể được thấy trong lý thuyết “Các nguyên tắc dạy học đầu tiên” của Merill Theo Merrill, môi trường học tập hiệu quả nhất là môi trường học tập trên cơ

sở giải quyết các vấn đề và đưa học viên vào 4 giai đoạn học tập riêng biệt: (1) hoạt hóa các kiến thức đã được học từ trước; (2) trình diễn các

kỹ năng; (3) Áp dụng các kỹ năng và (4) hợp nhất các kỹ năng vào các hoạt động ở thế giới thật

“phương tiện truyền thông” bắt đầu phổ biến Trong giai đoạn này, phương tiện truyền thông trong dạy học bị ảnh hưởng bởi những phát minh của Edison

1.3 TỪ NĂM 1920 - 1940

Thiết kế dạy học: Vào đầu thế kỷ 20, John Dewey phát triển

phương pháp “Học bằng cách làm” (learning by doing) Thordike & Tyler (1922) chú trọng đến “dạy học theo mục tiêu” và “dạy học cá thể hoá”, Sidney Pressey (1925) phát triển máy học thông qua việc mô tả các mục tiêu học tập Trong thập niên 1930, các thiết bị truyền thông đầu tiên như radio và máy thu âm bắt đầu xuất hiện, phim có lời bắt đầu được các nhà giáo dục để ý và tìm cách ứng dụng vào dạy học Trong giai đoạn này thiết kế dạy học được xem là sự kết nối giữa thành quả đào tạo với việc lên kế hoạch và tổ chức đào tạo

Phương tiện dạy học: Sự kết hợp giữa âm thanh và hình ảnh đã

tạo ra phong trào dạy học bằng nghe nhìn Tại Mỹ, người ta đã thành lập cục giảng dạy bằng nghe nhìn thuộc Hiệp hội giáo dục quốc gia vào năm

1923 Đây là tiền thân của Hiệp hội Công nghệ và Truyền thông giáo dục ngày nay, nó luôn là một đơn vị dẫn đầu trong các ứng dụng thiết kế và công nghệ dạy học (TK&CNDH) Sau tám năm nghiên cứu tại trường đại

TP HCM

Trang 12

Chương 1: Sự hình thành và phát triển của Công nghệ dạy học

11

học bang Ohio, Ralph W Tyler, một thành viên của Cục nghiên cứu giáo dục Mỹ đã đưa ra quy trình viết các mục tiêu dạy học dựa trên hành vi của người học Mục tiêu dạy học dựa trên hành vi này được phát triển cho quá trình dạy học và phát triển dạy học Nhu cầu đào tạo phục vụ cho thế chiến thứ II kích thích hàng loạt các phong trào dạy học trực quan với

sự hỗ trợ của âm thanh và hình ảnh

1.4 GIAI ĐOẠN 1940 - 1950

Thiết kế dạy học: quan niệm của Thorndike (1874 - 1949) về quá

trình học ở đầu thế kỷ XX (dựa theo tâm lý học ứng xử/hành vi: kích thích, phản ứng, thưởng/sửa lặp đi lặp lại) được ứng dụng vào phương pháp dạy học (PPDH), phát triển những kỹ năng nhằm đạt mục tiêu đề ra hay kết quả mong muốn Thời thế chiến thứ 2 có phương pháp tiếp cận

hệ thống được dùng để huấn luyện ở trường quân sự,

Phương tiện dạy học: (phát triển song song với thiết kế bài học ở

thế kỷ XX): Ðến đầu những năm 1940, ở Mỹ xuất hiện trung tâm giáo dục theo chương trình dạy học nghe nhìn (năm 1943) Năm 1946, kế hoạch dạy học nghe nhìn được thực hiện ở trường ÐH Indiana – Mỹ Trong thế chiến thứ 2, có nhiều phim huấn luyện được dùng trong giáo dục quân sự Từ đầu thập kỷ 40 đến thập kỷ 50, xuất hiện nhiều phương tiện và công nghệ trình bày thông tin (chữ viết, âm thanh, hình ảnh ) như đèn chiếu, máy thu phát âm thanh… phim ảnh ngày càng được sử dụng rộng rãi trong giáo dục và đào tạo ở khắp châu Âu, Mỹ Từ đó đã

mở ra nhiều tranh luận chung quanh bản chất, đối tượng, khái niệm, thuật ngữ CNGD, dự báo xu hướng công nghệ hóa giáo dục CNGD được hiểu

là ứng dụng các thành tựu kỹ thuật vào quá trình dạy học Giai đoạn này chưa có sự phát triển của công nghệ máy tính

1.5 GIAI ĐOẠN 1950 - 1960

Thiết kế dạy học: phát triển mạnh hơn về tâm lý hành vi của

Skinner, dựa trên phản xạ có điều kiện Ngoài ra còn xuất hiện lý thuyết mục tiêu của Bloom (1956), tâm lý nhận thức của Gagné (1960), thiết kế bài giảng theo nguyên tắc, đặt ra mục tiêu giảng dạy, thiết kế giảng dạy sao cho đạt mục tiêu, đánh giá đo lường được, tối ưu hoá việc học Phương pháp tiếp cận hệ thống phát triển mạnh

Phương tiện dạy học: Truyền hình ở thập kỷ 50, ngày càng có

nhiều kênh đài phục vụ học tập (khám phá, lịch sử,.) Sau đó thì video trở nên thịnh hành hơn Ban đầu, ý tưởng sử dụng các phương tiện kỹ thuật là chính, về sau mới ứng dụng vào mục đích dạy học bằng cách kết hợp khoa

học nghe nhìn với lý thuyết học tập Đây là thời điểm đánh dấu sự ra đời

TP HCM

Trang 13

Công nghệ máy tính trong dạy học: Với sự phát triển của các

thiết bị phần cứng, máy tính cồng kềnh đầu tiên ra đời năm 46 Máy tính

đã được thu nhỏ dần kích thước qua các thế hệ và càng ngày càng được ứng dụng nhiều hơn Trong giai đoạn này, khái niệm dạy học với sự hỗ trợ của máy tính xuất hiện

1.6 GIAI ĐOẠN 1960 - 1980

Về thiết kế dạy học: Ðến cuối những năm 60, bắt đầu nảy sinh

cách tiếp cận công nghệ đối với việc thiết kế quá trình dạy học nói chung, nghĩa là công nghệ của chính sự thiết kế quá trình dạy học Dạy học chương trình hóa là con đẻ đầu tiên của cách tiếp cận này Quan điểm này được áp dụng triệt để vào dạy học trong những năm 60

Về phương tiện truyền thông trong dạy học: có nhiều thay đổi,

phát triển mạnh mẽ hơn, sử dụng nhiều dạng Media khác nhau Các chuyên gia về Media trở thành các nhân vật quan trọng trong trường học,

họ quan tâm tìm kiếm các dạng Media mới, xem lại bản chất của khoa học nghe nhìn và Media Media trở thành 1 phần quan trọng của CNDH, gắn liền với quá trình thiết kế bài giảng, giao tiếp

Về công nghệ máy tính trong dạy học: thập niên 70 xuất hiện

chips máy tính thế hệ thứ 4 và phát triển quy mô lớn ở cuối thập niên 70 Năm 1976 máy tính cá nhân Apple đầu tiên ra đời, các ứng dụng máy tính vào dạy học phát triển nhanh Năm 1968 chương trình LOGO được hoàn thiện và ứng dụng ở học viện Massachuset - Hoa kỳ Các nhà chuyên môn nghe nhìn và chương trình hóa đã ngồi lại với nhau và thống nhất thuật ngữ Công nghệ dạy học B.P Skinner (1968) là người đầu tiên

xử dụng thuật ngữ công nghệ giảng dạy (Technology of teaching) tạo ra

sự phát triển máy dạy học có sự hỗ trợ bằng máy tính và những thiết bị điện tử trong lớp học để giải quyết tình trạng thiếu GV vào những năm

1970 nhưng đã thất bại sau đó không lâu

Sự xuất hiện của máy tính vào những năm 1950 đã đặt nền tảng cho dạy học với sự trợ giúp của máy tính trong suốt hai thập niên 1960-

TP HCM

Trang 14

Chương 1: Sự hình thành và phát triển của Công nghệ dạy học

13

1970 Tuy nhiên mãi đến năm 1980 các hệ thống máy tính mới bắt đầu có những ảnh hưởng quan trọng đối với giáo dục Các ứng dụng trên máy tính lúc đầu chỉ là những mô phỏng đơn giản, có rất ít hình ảnh minh họa

và chưa có sự phối hợp của các nhà giáo dục nên không tác động sâu sắc đến quá trình học

Như vậy, thập kỷ 1970 được đánh dấu bởi 3 đặc điểm:

a) Phát triển các kỹ thuật nghe nhìn, chương trình hóa, cơ sở tin học, lý thuyết viễn thông, đo lường GD, phân tích hệ thống và các KHGD như tâm lý học, lý thuyết quản lý, họat đông nhận thức, tổ chức quá trình GD và tổ chức lao động sư phạm,

b) Cơ sở phương pháp luận của CNGD chuyển từ dạy học thuyết trình sang dạy học nghe nhìn,

c) Sự tích cực đào tạo các nhà công nghệ dạy học có nghiệp vụ; xuất hiện nhiều loại hình nghe nhìn hiện đại hóa Công nghệ của quá trình dạy học được nghiên cứu theo cách tiếp cận hệ thống và cho rằng

CNGD là nghiên cứu, thể nghiệm và ứng dụng những nguyên tắc tối

ưu hóa quá trình dạy học trên cơ sở các thành tựu mới nhất của khoa học kỹ thuật

1.7 GIAI ĐOẠN 1980 - 1990

Về thiết kế dạy học: Vẫn còn nghiên cứu nhằm vạch ra các

nguyên tắc, các biện pháp tối ưu hóa quá trình đào tạo bằng cách phân tích từng nhân tố nâng cao hiệu quả đào tạo, các phương tiện đánh giá Cách tiếp cận này ngày nay được phổ biến rộng rãi ở của trường học hoặc của bất kỳ khâu thiết kế đào tạo nào Một số nhà khoa học giáo dục

đã muốn phát triển bằng cách quy trình hóa, khách quan hóa quá trình dạy, làm cho nó đạt hiệu quả tối ưu cho nhiều người

Về phương tiện truyền thông trong dạy học: có thêm nhiều dạng

thông tin mới, hình ảnh tĩnh động, hoạt hình, trở nên phổ biến hơn, băng đĩa nhạc, video

Về công nghệ máy tính: Năm1981, các máy tính IBM phát triển

mạnh Năm 1984, hãng Apple sản xuất máy tính Macintosh với nhiều khả năng hơn, nhiều phần mềm, công cụ vi tính ra đời: văn bản word, excel, cơ

sở dữ liệu Năm 1981, ứng dụng vào mục đích dạy các phương tiện chuyên môn chương trình hóa lớp học theo đĩa; 1990 ứng dụng công nghệ liên hoàn trong giáo dục Số lượng máy tính cá nhân phát triển nhanh

Từ đầu thập kỷ 80, CNDH bắt đầu phát triển mạnh với sự thành lập các phòng thực nghiệm máy tính và lớp học theo đĩa, sự lớn mạnh về số

TP HCM

Trang 15

14

lượng và chất lượng các phương tiện giáo dục chương trình hóa và sự nghiên cứu hệ thông video liên hoàn

1.8 GIAI ĐOẠN TỪ 1990 ĐẾN NAY

Về thiết kế dạy học: phương pháp giao tiếp, hợp tác, học theo tình

huống, giải quyết vấn đề và các lý thuyết khác về quá trình học tập, đặc biệt nghiên cứu lý thuyết học tập kiến tạo, lấy người học làm trung tâm (trò tự xây dựng kiến thức cho mình trong bối cảnh xã hội) được quan tâm đặc biệt trong quá trình thiết kế, tích hợp mọi phương tiện kỹ thuật

và nhiều ngành khoa học khác và công tác đánh giá

Về phương tiện dạy học: Media kỹ thuật số phát triển nhanh, tích

hợp vào máy tính, Multimedia, đồ hoạ, hình ảnh âm thanh CD, video đều được kỹ thuật số hoá

Công nghệ máy tính: Ngày nay CNTT và vi tính phát triển mạnh

mẽ lại ảnh hưởng lớn đến GD Sự phát triển của các phần mềm dạy học

và phần mềm dạy học thông minh, học trong môi trương tương tác đa phương tiện có sự hỗ trợ của máy tính ngày càng phát triển mạnh mẽ được kết nối trong mạng Internet

Từ năm 1990 công nghệ máy tính phát triển nhanh chóng đặc biệt

là trong lĩnh vực sản xuất, phân phối và lưu trữ các sản phẩm multimedia Trong suốt thập niên 1990, hàng loạt các phần mềm dạy học multimedia được sản xuất và sử dụng trong các cơ sở đào tạo Sau sự xuất hiện và phổ biến của công nghệ www, sự kết hợp giữa công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông (ICT- information & communication technology)

đã mở ra hàng loạt khả năng sử dụng công nghệ multimedia để làm phong phú môi trường học tập Ngày nay, các cơ sở đào tạo đang đầu tư sức người và của trong lĩnh vực ứng dụng công nghệ multimedia trong giáo dục Việc sử dụng các công nghệ multimedia trong các trường học được xem là hành trang cần thiết để bước vào thế kỷ XXI

Từ khi xuất hiện đến nay, các hình thức của công nghệ dạy học thay đổi theo sự phát triển công nghệ truyền thông và công nghệ thông tin qua các giai đoạn: băng cassette, tivi, truyền hình qua vệ tinh, băng video, đĩa CD, DVD, máy vi tính, mạng internet…người ta đã nghiên cứu ứng dụng các loại hình multimedia theo từng điều kiện cụ thể, đối tượng cụ thể và mục đích cụ thể nhằm mang lại hiệu quả cao nhất, từ đó xuất hiện các công nghệ multimedia cho giáo dục, multimedia cho giải trí, quảng cáo…Hiện nay mạng máy tính và các công nghệ truyền thông trên nền máy tính chính là phương thức truyền thông multimedia hiệu quả nhất, vì vậy khi nói về CNTT người ta hay có sự liên hệ đến máy tính và mạng máy tính Trên thực tế các công nghệ multimedia được phát

TP HCM

Trang 16

Chương 1: Sự hình thành và phát triển của Công nghệ dạy học

15

triển dựa trên các tiến bộ mới nhất của công nghệ thông tin và công nghệ truyền thông, đồng thời việc ứng dụng công nghệ multimedia trong dạy học được khai thác chủ yếu ở khả năng tương tác với người học qua các kịch bản sư phạm đã được lập ra từ trước

Sự phát triển của công nghệ multimedia khi ứng dụng trong lĩnh vực giáo dục và giải trí là sự phát triển của các mức độ tương tác Có ba loại tương tác: tương tác theo chỉ thị của người sử dụng, tương tác cảm ngữ cảnh (người viết chương trình sẽ lường trước một số kiểu tương tác của người dùng và đưa ra các đề nghị tương tác) và tương tác đồng thời theo hai chiều Sự tương tác theo chỉ thị của người sử dụng là tương tác với các

đề mục của chương trình để khám phá thông tin, còn sự tương tác cảm ngữ cảnh lại giúp người sử dụng có thể tạo ra thông tin Thuật ngữ sự tương tác hai chiều được dùng để chỉ một quá trình mà trong đó chương trình máy tính đưa ra các lựa chọn dựa trên câu trả lời của người sử dụng, ví dụ về thể loại tương tác này là thực tại ảo Mức độ tương tác theo những tác giả này là một mức độ nhận thức của sự tương tác mà qua đó người học tương tác với thông tin nhằm hiểu được ý nghĩa của nó Thậm chí người ta còn có thể thiết kế các bài hướng dẫn chi tiết hay hướng dẫn dưới dạng hoạt hình nhằm giúp người sử dụng kiểm soát được tài liệu Mức độ tương tác này cho phép người học xem lại tài liệu với nhịp độ riêng hoặc tránh quá tải nhận thức và làm cho quá trình học tập trở nên dễ dàng

Các chương trình multimedia sử dụng khoảng 2 trong số các loại thông tin sau: văn bản, đồ hoạ, hình ảnh, hình ảnh động, âm thanh và video Những chương trình tương tác tuyến tính (linear) trình bày nội dung theo một kịch bản cố định nhằm cung cấp thông tin cho người học, những chương trình tương tác không tuyến tính (non-linear) thay đổi nội dung hoặc trình tự trình bày nội dung tuỳ thuộc vào các dữ liệu do người sử dụng nhập vào Thiết bị multimedia tương tác đầu tiên là máy tính và khi người ta nói

về các chương trình multimedia tương tác ngày nay, người ta thường nói đến những chương trình được thiết kế trên cơ sở máy tính Ngoài ra, khi được dùng để hỗ trợ cho việc học hoặc đào tạo từ xa, người ta thường giả định rằng những chương trình này được chuyển tải qua mạng internet Siêu phương tiện (hypermedia) là một thuật ngữ gần đúng để chỉ nội dung multimedia được tạo nên từ những đơn vị thông tin có liên quan với nhau

mà người sử dụng có thể xem và khảo sát Ví dụ tốt nhất về multimedia và hypermedia là mạng thông tin toàn cầu (World Wide Web-WWW)

Những chương trình trước đây không mang tính tích hợp như ngày nay vì các máy tính lúc đó chưa đủ mạnh Nội dung multimedia được lưu lại thành chương trình truyền hình tương tự (analog television) và được trình bày thông qua những thiết bị ngoại vi do máy tính điều khiển

TP HCM

Trang 17

16

Người học sẽ tương tác với văn bản trên máy tính để điều khiển thiết bị hiển thị những hình ảnh tĩnh hay những đoạn chuyển động trên những màn hình ti vi riêng rẽ

Ngày nay, có bốn xu hướng chính góp phần làm cho chiếc máy tính trở thành một thiết bị multimedia: Sự biến đổi, sự hợp nhất, khả năng xử

lý, giá cả và tính phổ biến Xu hướng thứ nhất là biến đổi thông tin tương

tự (analog) thành thông tin dạng số (digital) và thay thế các thiết bị analog trước đây bằng các thiết bị kỹ thuật số Đĩa CD (compact dics), máy chụp hình kỹ thuật số, máy quay phim kỹ thuật số và điện thoại kỹ thuật số là những ví dụ thông dụng nhất Việc chuyển đổi sang thông tin

kỹ thuật số đã tạo động lực cho xu hướng thứ hai đó là sự hội tụ hay còn gọi là sự hợp nhất của các công nghệ riêng biệt trước đây Giờ đây người

ta có thể xem truyền hình kỹ thuật số hay gọi điện thoại từ máy tính vì công nghệ thông tin, điện thoại và truyền hình đã được hợp nhất Sự hội

tụ không chỉ áp dụng cho phần cứng mà cả phần mềm Đã có lúc phần mềm xử lý văn bản và chế bản điện tử rất khác nhau nhưng giờ đây ta không thể phân biệt được hai loại công cụ phần mềm này vì các đặc điểm

về dàn trang, xử lý đồ hoạ của chế bản điện tử đã được tích hợp với việc kiểm tra chính tả và các đặc điểm ngữ pháp của phần mềm xử lý văn bản

Có nhiều ứng dụng xây dựng bằng công cụ phần mềm cũng mang tính hội tụ Trước đây những công cụ cho phép người sử dụng biên soạn phần mềm dạy học (Authoring Tool) tạo ra chương trình giảng dạy bằng máy tính để sử dụng trên các máy tính không nối mạng hay đĩa CD giờ đây có thể tạo ra chương trình dạy học dùng trên mạng Internet toàn cầu Trước đây một số chương trình dạy học có hệ thống hỗ trợ thực hành điện tử (EPSS- electronic performance support system) và một số khác chỉ có chương trình dạy học thì ngày nay lại có nhiều chương trình kết hợp cả hai hình thức trên Xu hướng thứ ba ảnh hưởng đến việc xây dựng các

chương trình multimedia trên máy tính là khả năng xử lý và giá cả Khả

năng xử lý thì không ngừng tăng lên trong khi giá cả ngày càng giảm xuống Những khả năng xử lý mới tạo ra nhu cầu mới và hiệu quả kinh tế làm hạ giá thành sản xuất Các nhân tố giá cả và khả năng xử lý đã góp

phần vào xu hướng thứ tư- tính phổ biến Các máy tính đã từng là những

thiết bị dành riêng của một số ít người có kiến thức và được ưu tiên Giờ đây, máy tính có ở khắp nơi, trong chỗ làm việc lẫn ở nhà Khi máy tính

đã trở nên thông dụng hơn, chúng trở nên dễ sử dụng và luôn có sẵn như một công cụ cung cấp chương trình dạy học multimedia

Cùng với sự phát triển của E-learning, công nghệ đã và đang thâm nhập vào quá trình giáo dục với những khả năng tương tác ngày càng cao hơn và hoàn thiện hơn, góp phần vào việc xã hội hoá giáo dục và nâng cao chất lượng đào tạo

TP HCM

Trang 18

Chương 2: Công nghệ giáo dục & Công nghệ dạy học

Có nhiều định nghĩa về công nghệ xét ở các góc độ khác nhau: (1) Kiến thức: Công nghệ là một lĩnh vực kiến thức có liên quan đến việc sử dụng thành tựu kỹ thuật và ứng dụng khoa học để đạt được các mục tiêu cụ thể Công nghệ cũng là các kiến thức ứng dụng trong thực tế (2) Phương pháp: Công nghệ là cách áp dụng kiến thức kỹ thuật để giải quyết các vấn đề trong thực tế

(3) Phương tiện, thiết bị: Công nghệ là tất cả các phương tiện, các máy móc và các hệ thống sẵn có để xử lý các vấn đề thực tiễn

(4) Ứng dụng: Công nghệ là việc ứng dụng các công cụ và phương pháp trong nghiên cứu, phát triển và quá trình sản xuất

Nói chung, công nghệ là cách con người biến đổi thế giới tự nhiên

để thích ứng với nhu cầu riêng của họ, công nghệ theo nghĩa đen là hành động làm ra hoặc tạo ra Do vậy có thể suy ra, bất cứ những phương pháp, kỹ năng, thủ thuật, chiến lược hay bí quyết nào được sắp xếp một cách khoa học, có hệ thống, được đưa vào sử dụng mà đem lại hiệu quả cho ngành nào thì có thể được gọi là công nghệ của ngành đó

Công nghệ có thể liên quan đến các đối tượng vật chất mà con người sử dụng như máy móc hay phần cứng nhưng nó cũng có thể là các

hệ thống, các phương pháp tổ chức và các kỹ thuật nếu xét trong bối cảnh rộng hơn Một số công cụ hiện đại bao gồm các máy chiếu, máy tính xách tay và các loại máy chuyên dụng khác Các công cụ mới hơn như điện thoại thông minh (smart phone) và trò chơi (trực tuyến hay không trực tuyến) đang bắt đầu tạo được sự chú ý nghiêm túc vì những tiềm năng dạy học của chúng

Vậy nội hàm của công nghệ là ứng dụng các thành tựu của khoa học - kỹ thuật vào giải quyết các vấn đề thực tế thông qua các giải pháp, quy trình và hệ thống thiết bị nhằm đạt được các mục tiêu cụ thể

TP HCM

Trang 19

18

2.2 CÔNG NGHỆ GIÁO DỤC - EDUCATIONAL TECHNOLOGY 2.2.1 Các khái niệm cơ bản:

Công nghệ giáo dục (CNGD) - còn được gọi là công nghệ học tập

- learning technology- là những nghiên cứu và ứng dụng nhằm tạo điều

kiện hỗ trợ và cải thiện hiệu quả dạy học thông qua việc tạo ra, ứng dụng

và quản lý các quá trình công nghệ và nguồn tư liệu phù hợp

Thuật ngữ công nghệ dạy học (CNDH) - Instructional technology- bao gồm các quá trình, các hệ thống giảng dạy và học tập.Thuật ngữ Công nghệ Giáo dục (CNGD) - Educational technology

- bao gồm CNDH và các hệ thống khác được sử dụng trong quá trình phát triển khả năng của con người.Thuật ngữ CNDH thường đi với (và

bao gồm) khái niệm lý thuyết dạy học - instructional theory và lý thuyết

học tập- learning theory

CNGD được định nghĩa đơn giản là một loạt các công cụ thực sự hữu ích trong việc nâng cao hiệu quả học tập CNGD dựa trên định nghĩa phổ dụng của từ “công nghệ” Nói một cách khái quát hơn CNGD có nghĩa là một tập hợp đa dạng những các quá trình và kiến thức mà con người sử dụng để mở rộng khả năng và để thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của họ CNGD bao quát hơn CNDH

CNGD là một khoa học về giáo dục con người dựa trên cơ sở ứng dụng những thành tựu của nhân loại từ trước tới nay, đặc biệt những thành tựu hiện đại của các khoa học giáo dục và các khoa học có liên quan như sinh học, tâm lý học, điều khiển học, lý thuyết tổ chức, logic học, kinh tế giáo dục,… CNGD tổ chức một cách khoa học quá trình đào tạo bằng cách xác định một cách chính xác mục tiêu giáo dục, người học, nội dung dạy học, các điều kiện và phương tiện kỹ thuật dạy học, các tiêu chuẩn đánh giá, hệ phương pháp tích cực hóa, chương trình hóa, quy trình hóa và cá thể hóa quá trình dạy học, nhằm đạt được mục đích giáo dục với sự chi phí và thời gian tối ưu

CNGD là sự vận dụng khái niệm công nghệ trong công nghiệp, trong lao động với đối tượng vật chất vào lĩnh vực giáo dục, vào lao động dạy và học, với sự quan tâm đặc biệt đến các yếu tố của con người, vừa

là đối tượng của quá trình giáo dục, vừa là chủ thể của quá trình này Căn

cứ vào những quy luật về tâm lý giáo dục, về giáo dục học, lý luận dạy học, lý luận học tập, lý luận đánh giá…, và những thành tựu về khoa học, công nghệ đặc biệt về công nghệ thông tin, có thể nói CNGD là một hướng nâng cao hiệu quả giáo dục, trên những quan niệm cơ bản là:

TP HCM

Trang 20

Chương 2: Công nghệ giáo dục & Công nghệ dạy học

19

 Sử dụng hợp lý các phương tiện kỹ thuật trong quá trình GD

 Coi người học là chủ thể, tích cực chủ động và sáng tạo thực hiện quy trình giáo dục dưới sự hướng dẫn, tư vấn, điều phối của người thầy… Khái niệm CNGD có thể dùng cho một phương thức đào tạo, ví dụ cho đào tạo từ xa Ngoài ra, CNGD còn có thể dùng cho những công nghệ, những kỹ thuật áp dụng vào quá trình giáo dục – đào tạo (GD-DT),

ví dụ: Công nghệ thông tin, công nghệ multimedia, công nghệ máy tính, công nghệ truyền thông

Ở góc độ tâm lý học, có thể xem gốc lý luận của CNGD là hoạt động tinh thần và hoạt động vật chất, sản phẩm của CNGD là khái niệm CNGD trước hết phải kiểm soát được quá trình hình thành khái niệm CNGD cũng như công nghệ sản xuất đều có lõi là một chuỗi thao tác sắp xếp tuyến tính trong thời gian

Sự mở rộng khái niệm công nghệ, vốn được áp dụng cho những quá trình xử lý vật chất, khi áp dụng cho những quá trình xử lý những đối tượng phi vật chất, có gây ra những quan niệm và tranh luận khác nhau; trong khi đó xu thế mở rộng khái niệm công nghệ này vẫn tiếp tục diễn ra

và phần nào đã chứng minh được tác dụng tích cực của sự mở rộng này

Cụ thể, khi chúng ta áp dụng công nghệ vào dạy học, tức là áp dụng công nghệ cho một quá trình phi vật chất, sản phẩm là sự hoàn thiện và mở rộng khả năng và nhân cách của con người Quá trình học tập kể từ mục tiêu, đến nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức giáo dục cho đến đánh giá, có thể thể hiện bằng khái niệm “Chương trình đào tạo” CNGD khi được áp dụng theo khái niệm này là quy trình “thiết

kế chương trình đào tạo” (Cirriculum Design) và quy trình “triển khai Chương trình đào tạo” (Cirriculum Development), gắn bó các yếu tố từ mục tiêu đến đánh giá của một khóa học, một ngành học (trải qua các năm học, các kì học, các tiêu chí, các học phần…), thành một thể thống nhất, chặt chẽ Làm được việc này, hiệu quả học tập sẽ tăng lên rõ rệt Khái niệm CNGD ở đây có nhiều nội dung liên quan đến quản lý giáo dục (QLGD), cho nên có thể tạo điều kiện cho việc nghiên cứu công nghệ quản lý giáo dục

Một số học giả phản đối khái niệm CNGD vì cho rằng đối tượng tác động là con người với những khả năng vô cùng khác nhau và có khả năng tư duy nên không thể đồng nhất với các sản phẩm khác của công nghệ Thực ra, trong bất kỳ quá trình làm việc nào của con người, dù vô tình hay chủ ý, cũng tồn tại một quy trình hay một giải pháp và công cụ lao động, tức là có yếu tố công nghệ và yếu tố con người Nếu vô tình thì con người vẫn làm theo một thói quen có trình tự và sử dụng những công

TP HCM

Trang 21

20

cụ sẵn có, nếu có chủ ý, con người sẽ tìm kiếm một quy trình, một phương pháp và các công cụ lao động hợp lý để thực hiện công việc của mình Như vậy, bất kì quá trình lao động nào cũng có một phần công nghệ.Giáo dục cũng không phải là ngoại lệ CNGD là phương tiện hoạt động có công cụ và đối tượng lao động Người học vẫn được xemđối tượng lao động nhưng là một đối tượng lao động đặc biệt chứ không phải như các nguyên vật liệu thông thường như sắt, thép, đất, đá… Theo quan niệm mới, các em vừa là đối tượng lao động, vừa là người lao động, nghĩa là người tự đào tạo

CNGD rất coi trọng vai trò của người học và cho rằng việc tìm hiểu người học là một yêu cầu bắt buộc trước khi hình thành CNDG Tinh thần của CNGD mới là đề cao vai trò của người học, là việc đi tìm phương pháp thích hợp để người học là trung tâm trong quá trình đào tạo Cái sáng tạo của những người làm GD là sáng tạo về phương pháp, sáng tạo về công nghệ Còn sự sáng tạo trong nội dung là sự biết chọn lựa, biết kế thừa những tri thức về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội, các giá trị về đạo đức Xét cho cùng việc lựa chọn nội dung cũng nằm trong phạm trù phương pháp

Một số ý kiến cho rằng CNGD làm giới hạn khả năng sáng tạo và giới hạn sự phát triển của người học khi nó xác định những mục tiêu cụ thể cho từng công đoạn nhằm đảm bảo mục tiêu chung Các ý kiến này cho rằng “Nếu đã tôn trọng người học và đặt họ vào trung tâm sự nghiệp giáo dục thì phải nhận thức rằng mỗi người học là một cá thể, với những tiềm năng trí tuệ, tính cách khác nhau và điều kiện phát triển khác nhau Vì vậy không nên tuân thủ hay áp dụng cứng ngắc một quy trình giáo dục nào” Quan niệm như vậy chưa chính xác vì mục tiêu đặt ra nhằm đảm bảo mục tiêu chung của đào tạo và trong quá trình áp dụng CNGD thì không có bất

kỳ điều gì cản trở con người phát huy hết khả năng của mình

Tính công nghệ trong những thành tựu nghiên cứu, đôi khi cũng gây ra sự hoài nghi về mặt thực tiễn giáo dục và những phản ứng về mặt

lý luận, đặc biệt đối với những người cho rằng quá trình giáo dục về cơ bản vẫn là một nghệ thuật.Nhưng những ý kiến phản đối như thế, tuy cũng được chứng minh là đúng, nhưng lại thúc đẩy việc cải tiến những tiếp cận mới, hơn là việc từ bỏ những tiếp cận đó

CNGD ngày càng có ảnh hưởng lớn đối với quan niệm và cách tổ chứcquá trình dạy – học Việc áp dụng khái niệm công nghệ từ công nghiệp sang lĩnh vực hình thành nhân cách gây ra những hoài nghi và phản đối; tuy nhiên, nó vẫn đang được sử dụng khắp nơi trên thế giới và trong các dự án giáo dục của UNESCO, đến mức UNESCO đã soạn thảo một từ điển về những thuật ngữ liên quan đến CNGD, theo những cách hiểu khác nhau (1984)

TP HCM

Trang 22

Chương 2: Công nghệ giáo dục & Công nghệ dạy học

21

Tóm lại,CNGD là những nghiên cứu và ứng dụng phương pháp, phương tiện, kỹ thuật dạy học và đánh giá, được nhận thức và được sử dụng theo những mục tiêu được xác định rõ nhằm tạo điều kiện hỗ trợ cho người học và cải thiện hiệu quả dạy học

2.2.2 Đặc trưng của CNGD:

(1) Đặc trưng của CNGD nằm ở tính công nghệ của nó, tức là phải

có quy trình thống nhất, tính lựa chọn côngcụ lao động phù hợp, tính biến đổi và khả năng kiểm soát ở từng công đoạn theo những mục tiêu cụ thể Các tìm tòi về cải cách phương pháp, phương tiện dạy học, đánh giá, về

tổ chức quá trình dạy – học đều gần gũi với phạm trù CNGD, ở chỗ là hình thành quy trình nhưng chưa đủ cấu thành hệ thống hoàn chỉnh để gọi là CNGD Cũng giống như nền sản xuất công nghiệp, CNGD cũng phải thao tác hoá được quy trình giáo dục, chuyên môn hoá lực lượng

GV, kiểm soát được từng giai đoạn GD và do vậy có thể kiểm soát được sản phẩm cuối cùng.Để hình thành CNGD ổn định, có thể kiểm soát được, chuyển giao được, đảm bảo thực hiện mục tiêu, cần có ba điều kiện tối thiểu là:

a) Mục tiêu được xác định rõ, tức là làm được 2 chức năng: chỉ đạo

tổ chức quá trình đào tạo và làm chuẩn đo kết quả đào tạo (tức là lượng hóa được, đo đạc được, quan sát được) Mục tiêu này là yêu cầu đối với từng người học (với cá nhân)

b) Quá trình đào tạo, nhằm vào mục tiêu, phải được tổ chức thành những hành động, hợp thành những công đoạn,… có thể có sự hỗ trợ của những phương tiện kỹ thuật, sắp xếp thành trật tự trước sau theo thời gian; quá trình này là sự kết hợp của các nhân tố: nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức…giáo dục nhắm vào mục tiêu đào tạo Những quy trình này là những quy trình dạy và những quy trình học, phải hướng vào người học và giúp cho người học tự giác thực hiện

c) Quá trình đánh giá phải được tổ chức thành những quy trình đánh giá Mỗi quy trình gồm những yếu tố: chuẩn, tiêu chí đánh giá (suy

từ mục tiêu đào tạo), nội dung đánh giá (suy từ nội dung đào tạo), phương tiện đánh giá

Quy trình đánh giá phải bám sát quy trình dạy học, không nên dạy theo một kiểu, lại đánh giá theo một kiểu khác Có những đánh giá mang tính kiểm tra để uốn nắn cách dạy – học (formative evaluation); có những đánh giá mang tính tổng kết (summative evaluation) về mức độ đạt yêu cầu để xác nhận trình độ, cấp văn bằng, chứng chỉ Trong quy trình đánh giá, cần bảo đảm độ tin cậy khách quan vừa về mặt kỹ thuật, vừa về mặt

xã hội (tránh tiêu cực) Có thể xây dựng quy trình tự đánh giá

TP HCM

Trang 23

22

(2) Không phải tất cả các mặt của giáo dục đều có thể áp dụng CNGD Vì đối tượng tác động của quy trình công nghệ là con người với những đặc tính tư duy cao cấp và đặc điểm tâm sinh lý phức tạp nên trong quá trình đào tạo nhằm đạt mục tiêu giáo dục, có những mặt có thể hình thành được quy trình giáo dục tức là có thể công nghệ hóa được và

có những mặt chưa thể hình thành được quy trình giáo dục, tức là chưa thể công nghệ hóa được Như vậy tùy thuộc vào mục tiêu giáo dục và điều kiện thực tế mà áp dụng CNDH chứkhông phải tất cả các mặt của giáo dục đều có thể áp dụng CNDH

(3) Điều kiện để áp dụng CNGD phụ thuộc vào các yếu tố chủ yếu sau:

để triển khai CNGD

 Cơ sở vật chất hội đủ các điều kiện cần thiết để ứng dụng CNGD

 Các điều kiện thử nghiệm và đối tượng thử nghiệm phải đuợc chuẩn bị chu đáo trước khi ứng dụng đại trà

 Đã cân nhắc hiệu quả đạt được giữa ứng dụng CNGD và giảng dạy truyền thống

(4) Chỉ có thể xây dựng được CNGD cho các mục tiêu lượng hóa được, đo đạc được, quan sát được Điều này có nghiã là mục tiêu giáo dục nào được xác định đủ rõ để chỉ đạo được việc tổ chức quá trình đào tạo thành quy trình ổn định và để làm chuẩn đo được kết quả đào tạo, qua

đó đánh giá được hiệu quả đào tạo thì mới có khả năng xây dựng được công nghệ giáo dục.Nói một cách khác, CNGD là tập hợp những quy trình ổn định, bao gồm các hành động, các thao tác có thể kiểm soát được hướng tới kết quả cuối cùng là đạt được mục tiêu đề ra tất nhiên nó có thể chuyển giao được Nếu sự thành công trong giáo dục mà không theo các đặc điểm này thì chưa hẳn đã nhờ vào công nghệ mà là nhờ vào kinh nghiệm, nhờ vào nghệ thuật giáo dục, hoặc nhờ vào khoa học.Những mục tiêu có thể lượng hóa được, đo đạc được, quan sát được, thường là những mục tiêu thể hiện yêu cầu về kiến thức, về kỹ năng, về thái độ; Tuy nhiên không phải mọi yêu cầu về những mặt này đều đo đạc được, quan sát được

Về những mục đích của giáo dục có thể có 3 cấp liên hệ chặt chẽ với nhau như một “cây mục tiêu” có trật tự thang bậc của một hệ thống phức tạp: mục đích (thể hiện yêu cầu xã hội, do các nhà cầm quyền đặt ra), mục tiêu chung (có tính thiết chế, do những người quản lý giáo dục

từ bộ đến trường đặt ra), mục tiêu chuyên biệt (có tính giảng dạy, do giáo viên đề ra) Với những ý nêu trên, CNGD có nhiều khả năng hình thành ở

TP HCM

Trang 24

Chương 2: Công nghệ giáo dục & Công nghệ dạy học

23

mục tiêu chuyên biệt, đặc biệt là ở những bài học, môn học, chủ đề,… đòi hỏi sự kiểm tra về kiến thức, kỹ năng mà chuẩn đo đạc dễ xác định, thí dụ như kiến thức về toán, KHTN, KHCN, KHXH-NV Các mục tiêu

về đạo đức, phẩm chất, tư tưởng, tình cảm, thẩm mỹ…thường khó xác định để đo đạc được, nên cũng khó có thể tạo nên CNGD; tuy nhiên vẫn đang có những cố gắng đi vào lĩnh vực này, thí dụ, xử dụng yếu tố “thái độ”, “hành vi” có thể quan sát được, để đánh giá

Tư tưởng cốt lõi của CNGD là sáng tạo quy trình vững bền, đảm bảo thực hiện được mục tiêu giáo dục, trong đó người học có quy trình học, người dạy có quy trình dạy Quy trình dạy và quy trình học được áp dụng linh hoạt cho cá nhân cụ thể Chỉ có những mục tiêu giáo dục nào có thể lượng hóa được, đo đạc được hoặc quan sát được mới có thể dẫn đến thiết

kế và triển khai CNGD tương ứng; sau nữa có thể mở rộng cho mục tiêu chung với ý là quy trình xây dựng và triển khai “Chương trình đào tạo” (5) CNGD phải là một hệ thống các nhân tố của quá trình giáo dục: được tổ chức chặt chẽ, gắn bó mật thiết các nhân tố với nhau thành một thể thống nhất (mục tiêu, nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức…giáo dục, đánh giá); được Chương trình hóa khi thực hiện; có tính

áp dụng cho cá nhân người học (cá nhân hóa) với tinh thần phát huy chủ động, tích cực tự học của cá nhân và tính hợp tác trong hoạt động nhóm, lớp, tập thể; có thể kiểm soát được để đánh giá từng khâu, rồi tổng hợp đánh giá toàn bộ quá trình GD; có thể sử dụng những phương tiện kỹ thuật (nghe – nhìn, máy tính, truyền thông) như những bộ phận hỗ trợ gắn bó hữu cơ với các khâu của quy trình GD; do đó có tính hiệu quả cao

CNGD còn đang là một hướng mới, còn nhiều vấn đề về lý luận và thực tiễn chưa được giải quyết, cần được khai phá, nhưng dù sao cũng là hướng tích cực trong cuộc cách mạng khoa học và công nghệ đang xâm nhập vào mọi lĩnh vực, cần được khuyến khích ở nước ta, trong phạm trù

“cải cách mục tiêu, nội dung, phương pháp giáo dục” Đó là một phạm trù hiện đại của giáo dục học

CNGD không phải là CNTT trong giáo dục, và cũng không phải chỉ là phương pháp giáo dục CNTThiện đang được sử dụng như các phương tiện hỗ trợ giảng dạy và CNGD tận dụng tối đa những phương tiện này

2.3 CÔNG NGHỆ DẠY HỌC - INSTRUCTIONAL TECHNOLOGY 2.3.1 Định nghĩa

Nếu xét trên quan điểm ứng dụng công nghệ, các thuật ngữ công nghệ dạy học đã xuất hiện vào thập niên 1970 vàtừ đó đến nay, các nhà

TP HCM

Trang 25

24

khoa học đã đưa ra nhiều định nghiã, từ những định nghiã gắn CNDH với việc ứng dụng phương tiện kỹ thuật vào dạy học cho đến xem xét CNDH như một hệ thống được xác định rõ nhằm tạo điều kiện hỗ trợ cho dạy và học Nhóm này đồng nhất CNDH với việc sử dụng các phát minh, các sản phẩm công nghệ hiện đại và các phương tiện kỹ thuật hiện đại, các hệ thống

kỹ thuật và phương tiện hỗ trợ vào dạy học để tổ chức quá trình giảng dạy, cải tiến quá trình học tập của con người, nâng cao chất lượng học tập Trong thời kỳ đầu, người ta vẫn đồng nhất hai khái niệm CNDH và CNDG Tuy nhiên, khi khoa học ngày càng phát triển và nhu cầu đào tạo ngày càng đòi hỏi phức tạp hơn thì việc ứng dụng công nghệ vào dạy học chỉ được xem như một tiện ích hỗ trợ chứ chưa thể xem là CNDH hoàn chỉnh Hiện nay nhiều cơ sở đào tạo và giáo viên đang nhầm lẫn giữa các phát kiến (innovation) trong dạy học với ứng dụng công nghệ trong dạy học Phát kiến là giới thiệu những thứ mới không nhắm vào lý do hay mục đích phía sau nó còn công nghệ là sử dụng có mục đích rõ ràng.Ví

dụ, việc cung cấp máy tính cầm tay có chức năng vẽ đồ thị cho người học học toán nhằm mục đích giúp các em có thể thấy một cách trực quan các giới hạn trên và dưới, khám phá các cách để tính diện tích bên trong các đoạn cong, tìm các tiếp tuyến… là ứng dụng công nghệ trong dạy học vì các thiết bị (máy tính) đã cung cấp những trình bày bổ sung cho giảng dạy, hỗ trợ người học tư duy về các nguyên lý toán học bằng cách sử dụng các chiến lược giải quyết vấn đề…Nếu người Thầy giới thiệu máy tính có chức năng vẽ đồ thị trong lớp học vì nó trông có vẻ nhỏ gọn và đẹp thì người Thầy đó đã không sử dụng công nghệ trong lớp học đó vì không có mục đích rõ ràng

Ngoài yếu tố phần cứng, việc ứng dụng công nghệ còn có yếu tố phần mềm, nghĩa là trước khi đưa máy tính cầm tay ra ứng dụng, từng mục tiêu ứng dụngđều được nghiên cứu kỹ lưỡng và đưa ra các phương pháp cụ thể nhằm hỗ trợ cho việc học toán

Ngoài ra, sự phát triển của các thành tựu khoa học cũng dần dần được đưa vào quá trình dạy học và góp phần làm cho khái niệm CNDH được hoàn thiện, mở rộng và có chiều sâu hơn.Hội thảo ở Geneve (10-16/5/1970), tổ chức giáo dục của UNESCO định nghĩa: "CNDH là khoa học về giáo dục, nó xác lập các nguyên tắc hợp lý của công tác dạy học

và những điều kiện thuận lợi nhất để tiến hành quá trình đào tạo cũng như xác lập các phuơng pháp và phương tiện có kết quả nhất để đạt mục đích đào tạo đề ra, đồng thời tiết kiệm được sức lực của thầy và trò" Nhìn chung, các định nghiã này chỉ phản ảnh quan điểm của từng tác giả về CNDH tại từng thời điểm chứ chưa có một định nghiã nào bao quát được hết bản chất của CNDH

TP HCM

Trang 26

Chương 2: Công nghệ giáo dục & Công nghệ dạy học

25

Trong bối cảnh khoa học ứng dụng cho giáo dục ngày càng phát triển, các lý luận về dạy học và CNDH cũng thay đổi theo CNDH dần dần chuyển đổi theo hướng đồng hành với lý thuyết thiết kế dạy học và hướng ứng dụng các các thành tựu khoa học cho dạy học Trong bối cảnh

này ta có thể định nghiã CNDH như sau:“CNDH là lý thuyết và ứng dụng các quá trình thiết kế, phát triển, sử dụng, quản lý các hệ thống

kỹ thuật và nguồn lực nhằm cải thiện quá trình học tập của con người trong thời gian ngắn nhất với các chi phí tối thiểu.”

2.3.2 Chu trình hình thành và phát triển của CNDH

Theo định nghiã trên của CNDH, thuật ngữ CNDH được hiểu là lý thuyết và ứng dụng làm cho việc học hiệu quả hơn Lý thuyết ở đây được hiểu theo nghiã rộng, tức là lý thuyết bao gồm các khái niệm, cấu trúc, nguyên tắc và mục tiêu để tạo nên kiến thức Ứng dụng là việc áp dụng các kiến thức đó để giải quyết các vấn đề Thực hành cũng có thể đóng góp vào nền tảng kiến thức thông qua sự trải nghiệm về thiết kế, phát triển, ứng dụng, quản lý và đánh giá

Trên thực tế, CNDH là một lĩnh vực đa dạng Chu trình hình thành

và phát triển CNDH gồm 5 giai đoạn: thiết kế, phát triển, sử dụng, quản

lý, đánh giá

Ta có thể khái quát 5 giai đoạn này như sau:

 Đầu tiên cần phải thiết kế chi tiết cho quá trình dạy học từ xem xét các điều kiện cụ thể về: mục tiêu, đặc điểm của người học… Các thiết

kế này rất chi tiết, rất tỉ mỉ dựa trên các nguyên tắc dạy học và lý thuyết học tập

 Từ các thiết kế, các nhà giáo dục sẽ tiến hành biên soạn tài liệu

và chế tạo phương tiện hỗ trợ dạy học

 Các tài liệu và phương tiện sẽ được đem ra áp dụng trong các điều kiện thực tế Trong giai đoạn này các nhà quản lý và các nhà công nghệ dạy học cũng phải tính đến các chính sách và chế độ để đảm bảo cho CNDH được ứng dụng hiệu quả

 Quản lý các quá trình để mang lại hiệu quả cao nhất

 Đánh giá nhằm đảm bảo các mục tiêu đề ra đã được thực hiện tốt không và đến mức độ nào, mặt nào làm tốt và mặt nào cần phải điều chỉnh Các giai đoạn này được thực hiện theo một chu trình khép kín hình thành nên CNDH

TP HCM

Trang 27

26

Hình 2.2: Chu trình CNDH

2.3.2.1 Giai đoạn thiết kế

Bao gồm: Thiết kế hệ thống giảng dạy, thiết kế thông điệp, xây dựng Chiến lược dạy học và xác định đặc tính của người học

 Thiết kế hệ thống dạy học

Là một trình tự đã được thiết kế bao gồm các bước:

 Phân tích: quá trình xác định cần học nội dung gì

 Thiết kế: quá trình chi tiết để làm rõ từng nội dung cần phải dạy

và học như thế nào

 Phát triển: quá trình thiết kế và tạo ra các tài liệu dạy học

 Thực thi: sử dụng tài liệu và các chiến lược dạy học trong bối cảnh thực tế

 Đánh giá: là quá trình xác định mức độ phù hợp của dạy học

Có 2 mức độ thiết kế: Vĩ mô và vi mô Tầm thiết kế vĩ mô cho phép nhìn toàn cục quy trình đào tạo, kiểm tra giám sát và các điều kiện hỗ trợ, tầm thiết kế vi mô cho phép đi vào chi tiết của từng hoạt động dạy học

 Thiết kế thông điệp

Là quá trình lập kế hoạch triển khai các dạng truyền thông hiệu quả” Nó bao gồm các nguyên tắc gây chú ý, nhận thức và duy trì các dạng truyền thông trong quá trình giao tiếp giữa người truyền và người nhận (GV và HS cũng như giữa HS với nhau) Quá trình này định hướng cho tất cả các mức độ vi mô qua các thành phần như: trình bày thị giác, trình tự trình bày, các trang và các màn hình.Nó phải chỉ ra cả phương

TP HCM

Trang 28

Chương 2: Công nghệ giáo dục & Công nghệ dạy học

27

tiện dạy học lẫn tác vụ học tập dưói dạng tĩnh hay động Các tác vụ bao gồm: sự hình thành khái niệm hay thái độ, phát triển kỹ năng hay chiến lược dạy học hay sự ghi nhớ

 Xây dựng chiến lược dạy học

Là các mô tả chi tiết cho việc chọn lựa và sắp xếp các sự kiện và hoạt động trong một bài học Một nhà thiết kế dạy học phải sử dụng các

lý thuyết về chiến lược dạy học làm nguyên tắc dạy học Các chiến lược dạy học tương tác với các tình huống dạy học Các tình huống dạy học này thường được mô tả bởi các mô hình dạy học

 Mô hình dạy học theo thuyết kiến tạo

Thuyết kiến tạo là một lý thuyết học tập, nhưng nó không cho biết làm thế nào để chuyển các lý thuyết ấy vào trong thực tiễn lớp học Các thầy giáo, các nhà giáo dục có nhiệm vụ phải cung cấp môi trường hỗ trợ cho việc học của người học theo những mô hình lớp học lấy người học làm trung tâm Các nhà giáo dục theo thuyết kiến tạo thường gắn bó với phương châm dạy học “lấy người học làm trung tâm” và họ cố gắng tối

đa theo đường lối ấy

Để so sánh lớp học truyền thống với lớp học lấy người học làm trung tâm, người ta xem xét hai ví dụ

Lớp học truyền thống Giáo viên bắt đầu bài học bằng cách cho

người học đọc to chương sách giáo khoa nói về vùng Tây nguyên Khi người học đọc, giáo viên viết các từ mới lên bảng Người học sử dụng sách giáo khoa để nhận biết những từ này và trả lời những câu hỏi ở cuối chương Giáo viên kiểm tra hiểu biết của người học bằng những câu hỏi ngắn (“Em A, sản phẩm quan trọng nhất của Tây nguyên là gì ? Em B, có

gì khác biệt giữa lúa vụ xuân và lúa vụ đông ?), sau đó giáo viên đưa cho người học một bản đồ chưa điền chữ để các em viết tên các tỉnh Tây nguyên vào đó Người học kiểm tra lẫn nhau việc làm bài tập về nhà hôm trước Trong giờ học, giáo viên chiếu cho người học xem một bộ phim về lịch sử của Tây nguyên Người học được nhắc nhở là các em sẽ phải làm kiểm tra về nội dung của bộ phim và các em cũng có thể đưa ra các câu hỏi của mình Có thể không em nào hỏi gì hết Khi tóm tắt, người học chơi một trò chơi được thiết kế theo các sự kiện quan trọng và các từ mới

và làm một bài kiểm tra

Lớp học lấy người học làm trung tâm Giáo viên bắt đầu bằng việc

hỏi xem người học, từ các chuyến đi chơi, đọc sách, chương trình TV hoặc sách truyện các em biết gì về vùng Tây nguyên (“Bình phước, Buôn Mê Thuột, hồ Lăk có điểm gì chung về tự nhiên và xã hội?”) Trước khi học chương này, giáo viên đã nói với người học rằng, các em sẽ thực hiện một

TP HCM

Trang 29

28

chuyến du lịch văn hoá đến một trong những thành phố của khu vực Tây nguyên và cần suy nghĩ về những nơi các em muốn đến thăm như đọc thấy trong sách giáo khoa Người học sau đó sẽ viết thư cho các cơ quan chức năng ở những địa phương ấy (sở du lịch, sở thương mại.v.v.) để tìm kiếm thông tin về những nơi đó, phỏng vấn những người đã từng sống ở đó hay

đã từng đến đó, tính toán ngân quĩ cho sinh hoạt, thực phẩm, thuê phòng, lập lộ trình chuyến đi, thu thập các báo chí hàng ngày về địa lý, văn hoá, kinh tế và con người của những nơi đó Tất cả các thông tin được tập hợp lại trong một bộ hồ sơ và chia sẻ với những người học khác trong lớp Bộ

hồ sơ bao gồm những thông tin như ngân sách chuyến đi, thời gian xe đi từ nhà của người học tới thành phố định du lịch, tranh ảnh, mô tả những điểm đáng chú ý về con người và địa điểm.v.v

Nhìn bề ngoài, chưa thấy ngay sự khác biệt giữa hai kiểu lớp học

Cả hai đều có nội dung nằm trong phạm vi chương trình yêu cầu, cả hai đều bao gồm việc đọc tài liệu, đều có thảo luận do giáo viên chỉ đạo Tuy nhiên, nếu nhìn chi tiết hơn, chúng ta thấy rằng, chiến lược dạy học ở lớp thứ hai dựa trên những gì chúng ta biết về cách học tập của con người như mới trình bày trên

 Giáo viên đưa ra câu hỏi để đánh thức những hiểu biết đã có của người học, trước hết bằng cách chia sẻ kinh nghiệm của các em đối với nội dung (“Các em biết gì về vùng này ?”), và sau đó bằng kiến tạo của chính những hoạt động Người học phải sử dụng trí nhớ của bản thân về những chuyến đi du lịch trước đó để lập kế hoạch cho chuyến đi này

 Qua một chuyến đi, các em được yêu cầu suy nghĩ về nội dung học tập, khi đó, sách giáo khoa trở nên như một nguồn tài nguyên cung cấp những thông tin thích đáng có thể áp dụng vào việc lập kế hoạch của người học Các em phải đồng hoá thông tin cho thích hợp vào khung công việc Nếu người học khám phá ra những thông tin không phù hợp với hiểu biết của các em về vùng cần đến (ví dụ, không biết ở Tây nguyên có hồ), các

em sẽ phải quyết định để thích ứng với thông tin mới nếu đó là thông tin đúng, hoặc loại bỏ nếu thông tin đó không thích hợp Giáo viên phải có khả năng khám phá, phát hiện ra những quyết định bên trong ấy trong đầu người học Chẳng hạn, bằng trắc nghiệm giáo viên có thể theo dõi, kiểm soát được việc hiểu bài của người học, hay có nhiều phương pháp hiệu quả khác khuyến khích người học giải thích về công việc hoặc chiến lược của các em, cho phép các em trình bày sản phẩm của mình và lắng nghe để trao đổi trong nhóm nhỏ hoặc thảo luận trong nhóm lớn

 Các nguồn tài nguyên đáng tin cậy (thư trả lời từ các cơ quan trong vùng, thông tin thu được từ các cuộc phỏng vấn) hỗ trợ cho nội dung được trình bày trong văn bản

TP HCM

Trang 30

Chương 2: Công nghệ giáo dục & Công nghệ dạy học

29

 Người học tích cực sưu tầm thông tin về điểm đến và hành trình của mình, các em cũng sẽ phản ánh nỗ lực của bản thân bằng cách giữ lại các nhật trình

 Việc trình bày bộ hồ sơ của người học tạo ra cơ hội cho các tương tác xã hội Điều này cho phép người học trình bày công việc của mình và những người khác thảo luận về công việc đó Kịch bản này không đề cập đến những trao đổi, đối thoại không chính thức, mặc dù điều này cũng quan trọng như việc yêu cầu người học trình bày về dự án của các em Giáo viên có thể xây dựng các hoạt động nhóm nhỏ để tạo điều kiện, dành thời gian cho các em chia sẻ công việc của mình với nhau

 Bằng cách để người học làm chủ dự án của mình, người giáo viên tạo ra hứng thú và hoàn cảnh thích hợp cho công việc Vì học tập là một quá trình điều khiển nội tại, bên trong người học, nên người học phải thực hiện các mối liên hệ để xây dựng nên hiểu biết của cá nhân mình Nhìn lại kịch bản thứ nhất, chúng ta thấy rằng, hầu hết nội dung chương trình được kiểm soát, điều khiển bởi giáo viên, còn người học chỉ

là người quan sát chứ không phải người tham dự Chiếu phim có thể là một cách để làm tăng hứng thú học tập nhưng vẫn là một phương tiện bị động Trò chơi có thể là một công cụ có giá trị giúp người học khám phá nội dung, nhưng trò chơi chỉ yêu cầu nhớ lại các sự kiện đơn giản và các định nghĩa chứ không khuyến khích tư duy trình độ cao

Người ta nói rằng, ai đang làm việc thì đó là người đang học Giáo viên xây dựng toàn bộ bài học, do vậy họ thực hiện hầu hết công việc, người học chỉ chộp lấy cơ hội để khám phá điều gì các em thích Có nhiều giáo viên như vậy, sau khi đã trút hết mọi hiểu biết trong giờ học, nhưng đến khi kết thúc, họ lại ngạc nhiên tự hỏi, tạo sao họ nhận được rất ít những phản ứng trở lại từ phía người học Sự thật đã rõ, giáo viên làm hết mọi việc

và người học bị ép buộc phải nghe, các em chỉ mong chờ giờ học kết thúc

 Mô hình dạy học theo dự án

Rõ ràng, về hình thức, mô hình dạy học theo thuyết kiến tạo cơ bản

là mô hình dạy học theo dự án với phương châm lấy người học làm trung tâm Đặc điểm của mô hình này có mấy điểm quan trọng sau:

 Gắn với dạy học trên lớp Nếu như phần lớn các mô hình dạy

học theo thuyết hành vi và thuyết nhận thức chủ yếu đưa đến kết quả là các phần mềm dạy học, các trang web dạy học, thì mô hình dạy học theo

dự án của thuyết kiến tạo lại gắn với học tập trên lớp Công nghệ chỉ là công cụ để tìm kiếm thông tin, xây dựng dự án.v.v những kết quả phải được thể hiện trên lớp cùng với các tương tác giữa người học – giáo viên, người học – người học

TP HCM

Trang 31

30

 Vai trò của người học Người học là các “ngôi sao” trong lớp

học lấy người học làm trung tâm Các em mang đến lớp kiến thức và thông tin đã thu nhận được từ kinh nghiệm trong quá khứ, những gì các

em đã đọc và đã thấy, những gì các em đã nghe và đã nói đến Những hiểu biết trước đó của các em là cơ sở, nền tảng cho những gì chưa học

mà các em sẽ thu lượm được trong lớp học Các em có thể sử dụng nhiều công cụ (máy tính, văn bản, phỏng vấn.v.v.) để tiếp cận vấn đề và phải làm việc trong một nhóm; các em cần có các bạn học cùng với các cố vấn

để thảo luận, phản biện và tranh luận để giúp các em tìm ra các giải pháp giải quyết vấn đề của mình

 Vai trò của giáo viên Giáo viên phục vụ như một người dẫn đầu

lớp học Khi không nhắm tới việc cung cấp tất cả các câu trả lời hoặc không kiểm soát toàn bộ nội dung, các thầy cô giáo cần thiết lập một kiến tạo có tác dụng khởi phát cho sự khám phá của người học Kiến tạo này bao gồm việc thiết lập và duy trì mục tiêu chương trình, đánh giá người học để đảm bảo rằng việc học thực sự đang diễn ra, quản lý hoạt động của lớp học sao cho cân bằng và hài hoà giữa các người học (vì các em

có khả năng khác nhau) và khởi phát giai đoạn khám phá đầu tiên để người học bắt đầu công việc của các em

 Những thay đổi trong lớp học Việc học tập của người học chịu

ảnh hưởng của nhiều yếu tố: thể lực và môi trường xã hội, chương trình hiểu biết và năng lực, óc sáng kiến của cá nhân, kiểu dạy học cũng như

kỹ năng dạy học của giáo viên.v.v và còn nhiều yếu tố khác nữa Khó khăn đối với giáo viên là tạo ra được một lớp học hỗ trợ khả năng học tập vốn có của người học

 Chương trình Vì người học mang theo kiến thức cá nhân của

mình đến lớp, nên phải làm thế nào để liên hệ, kết nối những kinh nghiệm và hiểu biết của các em với nội dung bài học mới Một chủ đề khái quát thể hiện một bức tranh tổng thể, thì dễ nhận biết và có ý nghĩa nhiều hơn là các sự kiện riêng rẽ Một chủ để phức tạp, tổng quát (chẳng hạn như sự phát triển, cách mạng, người địa phương hoặc cộng đồng) cung cấp một khung căn bản để hỗ trợ người học đóng góp Sự liên kết trực tiếp giữa cái nhìn tổng quát với kinh nghiệm của người học

là điều khó Các kỹ năng chuyên môn phải được bắt đầu bằng hứng thú của người học và xây dựng trên cơ sở những hứng thú ấy Trong ví dụ ở phần trước, giáo viên yêu cầu người học thực hiện một nghiên cứu xã hội bằng cách chọn một thành phố cho chuyến du hành của họ, không

có gì đảm bảo rằng tất cả mọi người học đều muốn lập kế hoạch cho chuyến du hành, nhưng yêu cầu đó vẫn đưa đến cho các em một chọn lựa để định hướng hoạt động cho các em Nếu sự kiện hiện tại thu hút

TP HCM

Trang 32

Chương 2: Công nghệ giáo dục & Công nghệ dạy học

31

được sự chú ý của lớp học, giáo viên có thể xem xét biến đổi bài học đi theo con đường khám phá

 Tương tác trong lớp học Tư tưởng chính của các nhà kiến tạo là

học tập chịu ảnh hưởng của tương tác xã hội Thảo luận, đối thoại, giải thích, lắng nghe, là những cách thức mà chúng ta học thông qua tương tác với người khác Hiện nay không có nhiều lớp học khuyến khích thực hiện tương tác xã hội giữa người học với nhau

Đối với mô hình dạy học theo dự án và khám phá trên cơ sở thuyết kiến tạo, công nghệ (đặc biệt là máy tính) được dùng để tạo ra môi trường học tập mới; được sử dụng như một công cụ để người học thực hiện và trình bày kết quả hoạt động học của các em

Mô hình dạy học và chiến lược dạy học cần được áp dụng tùy theo tình huống dạy học, bản chất của nội dung và đặc tính của người học

 Đặc tính của người học

Đặc tính của người học là nền tảng kiến thức, kinh nghiệm và văn hoá của người học có ảnh hưởng đến hiệu quả học tập Trong bất kỳ một hoạt động nào đó, để có thể xác định được phương pháp tốt hơn cả cho hoạt động đó, cần phải hiểu được đặc điểm của đối tượng hoạt động, có vậy mới có thể tác động đến đối tượng một cách phù hợp nhất Trong hoạt động dạy và học cũng vậy, việc hiểu biết về người học và các quy luật của học tập giúp cho giáo viên có thể hình dung được những thuận lợi và khó khăn trong giảng dạy để có những tác động phù hợp nhằm đạt hiệu quả

 Những thông tin cơ bản cần tìm hiểu về người học gồm có:

Người học là những ai? (là các HS từ nhà trường PTTH: việc học ở

nhà trường PT khác với việc học ở nhà trường ĐH (các yêu cầu học tập, cách dạy – học, cách tổ chức và quản lý việc học)

Quan niệm của họ về việc dạy và học (họ có tập trung vào việc nhớ

một loạt các thông tin hay không? Họ có mong đợi Thầy cô cung cấp tất

cả thông tin và nói cho họ cần phải làm gì với những thông tin đó hay không? Họ có chịu khó đọc nhiều không? Có nêu nhiều câu hỏi và tỏ ra

có suy nghĩ không v.v.)

Những kinh nghiệm đã có ở người học: về tri thức hiện có và các kỹ

năng học tập (tri thức đã tiếp thu ở bậc phổ thông; môn học đang được giảng dạy có vị trí nào trong toàn bộ chương trình – Là môn đầu hay cuối trong chuỗi các môn học; các kỹ năng học tập nào đã được người học sử dụng tốt trước đây/hay còn lúng túng như: kỹ năng đọc sách, kỹ năng ghi chép khi nghe giảng, kỹ năng viết hay trình bày các ý tưởng của bản thân v.v.)

TP HCM

Trang 33

32

Mục tiêu/kỳ vọng của NGƯỜI HỌC đối với môn học/khóa học (họ

mong đợi gì ở môn học/khóa học: mong muốn đạt đến sự thông hiểu thực

sự có ích cho nghề nghiệp tương lai hay mong với một sự cố gắng ít nhất

có thể qua được môn học; mong muốn có thể vận dụng được tri thức vào thực tiễn cuộc sống và hoạt động hay chỉ cần đạt điểm số v.v.)

Các kiểu/thói quen hoạt động trí óc của người học: họ có những

thói quen như thế nào khi tiến hành các hoạt động trí óc như: hoạt động quan sát và tái hiện, hoạt động tư duy và tưởng tượng (như việc quan sát, tái hiện thiên về kiểu không gian – trật tự của sự cùng tồn tại hay kiểu thời gian – trật tự của tính liên tục; thói quen suy luận logic và tưởng tượng sáng tạo v.v.)

Trong tất cả những thông tin trên, quan trọng hơn cả là những thông tin về các kiểu/thói quen hoạt động trí óc – yếu tố cơ bản tạo nên phong cách học tập ở NGƯỜI HỌC Mỗi cá nhân có những kiểu/thói quen hoạt động trí óc khác nhau và điều đó sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến việc học của họ Vì vậy NGƯỜI HỌC sẽ gặp khó khăn trong học tập nếu như GV vô tình làm việc không phù hợp với thói quen đó

 Các kiểu học tập cơ bản:

 Xã hội: Học theo nhóm, học bằng cách làm việc cộng tác Thích

học từ những ý tưởng nảy ra từ những người khác, thích làm việc theo nhóm hay làm việc mang tính đồng đội và thích gây chú ý từ thầy Cô Các kỹ năng: hợp tác tốt với người khác, biết đồng cảm, lắng nghe và giao tiếp tốt

 Độc lập: Học một cách độc lập và hướng nội Thích làm việc

độc lập Có khuynh hướng tự vận động và hướng nội, đặc biệt là khi đang ở trong giai đoạn tự suy nghĩ Có khả năng tập trung cao và thích môi trường học tập yên tĩnh

 Thị giác/không gian: Học thông qua quan sát Cần sáng tạo ra

những hình ảnh tinh thần đầy màu sắc để duy trì và củng cố thông tin Thích quan sát bản đồ, biểu đồ, tranh ảnh, video và xem phim Các kỹ năng: lắp ráp các mảnh ghép, đọc, viết, hiểu các biểu đồ và đồ thị, các cảm giác tốt về đường hướng, vẽ phác thảo, vẽ tranh, tạo ra hình ảnh ẩn

dụ và loại suy (có thể thông qua nghệ thuật thị giác), thao tác hình ảnh, xây dựng, sửa chữa, thiết kế

 Ngôn ngữ: Học thông qua nghe Yêu cầu người học phải có các

kỹ năng thính giác phát triển cao, thông thường là các diễn giả hay MC tốt Suy nghĩ theo ngôn từ chứ không theo hình ảnh Các Kỹ năng: nghe, nói, viết, kể chuyện, giải thích, giảng dạy, bằng cách sử dụng sự hài

TP HCM

Trang 34

Chương 2: Công nghệ giáo dục & Công nghệ dạy học

33

hước, thông hiểu cú pháp và ý nghĩa của từ, nhớ các thông tin, lập luận bảo vệ quan điểm, và phân tích ngôn ngữ sử dụng

 Lôgic/thuật toán: Học thông qua các con số và giải thuật Suy

nghĩ về khái niệm theo mô hình số và mô hình lôgic Hay hỏi nhiều câu hỏi và thích làm thí nghiệm Các kỹ năng: giải quyết vấn đề, phân loại thông tin, làm việc với các khái niệm trừu tượng để tìm ra các mối quan

hệ của chúng, xử lý các mối liên hệ phức tạp một cách hợp lý, làm thí nghiệm dưới sự kiểm soát, đặt câu hỏi và băn khoăn về những sự kiện tự nhiên, thực hiện các phép tính phức tạp và giải toán hình học

 Vật lý/vận động: Học thông qua di chuyển, làm việc và tiếp

xúc Thể hiện bản thân thông qua vận động Người học phải có cảm giác cân bằng và phối hợp mắt-tay tốt Nhớ và xử lý thông tin thông qua tương tác với môi trường xung quanh Các kỹ năng: phối hợp các hoạt động thể chất, khả năng thể thao, thực hiện các thử nghiệm, sử dụng ngôn ngữ cơ thể, khéo tay, diễn xuất, khiêu vũ, và biểu lộ cảm xúc qua

cơ thể

 Âm/ nhạc: Học thông qua âm nhạc Suy nghĩ theo âm thanh,

nhịp điệu và giai điệu Người học phản ứng ngay lập tức với âm nhạc: tán thưởng hay phê bình Rất nhạy với các âm thanh từ môi trường Các kỹ năng: ca hát, huýt sáo, chơi nhạc cụ, nhận dạng các mẫu âm, sáng tác nhạc, ghi nhớ giai điệu và hiểu biết cấu trúc và nhịp điệu của âm nhạc Các dạng người học cơ bản: Một kiểu người học có thể được xác định theo 4 câu hỏi dưới đây:

1 Người học nhận thông tin bằng cách nào: thông qua các giác quan hay trực giác

2 Các thông tin bên ngoài được người học cảm nhận hiệu quả nhất thông qua kênh nào: thính giác hay thị giác?

3 Người học thích xử lý thông tin theo kiểu nào? Tích cực hay thụ động?

4 Quá trình hiểu biết vấn đề của người học diễn ra như thế nào? Tuần tự hay đồng thời?

Từ 4 câu hỏi này ta có thể chia ra các dạng người học sau:

 Dạng người học nhạy cảm: người học nhạy cảm thích các sự kiện trong quá trình học tập Họ thường giải quyết vấn đề bằng đúng phương pháp và không thích sự phức tạp hay bất ngờ Có khả năng nhẫn nại với các chi tiết, ghi nhớ các sự kiện tốt và thích bắt tay làm việc Người học dạng này rất thực tế và chu đáo

TP HCM

Trang 35

34

 Dạng người học trực quan: Kiểu người học trực quan thích khám phá các mối quan hệ và các khả năng có thể xảy ra Họ thích phát minh và không muốn lập lại Họ có khả năng nắm bắt tốt các khái niệm mới, thoải mái với các công thức toán học và những kiến thức trừu tượng

 Dạng người học thích quan sát: Có khả năng nhớ tốt nhất những

gì họ nhìn thấy Họ học nhiều hơn khi thông tin được trình bày dưới cả hai dạng ngôn ngữ và hình ảnh Đối với dạng học viên này, GV nên sử dụng biểu đồ để củng cố việc học

 Dạng người học thích lắng nghe: Thích lắng nghe hơn đọc Hợp tác tốt với GV và mong muốn được thuyết trình Dễ hòa hợp với những thay đổi về cường độ và giai điệu

 Dạng người học năng động: Người học năng động có khuynh hướng duy trì và tìm hiểu thông tin bằng cách hoạt động với chủ đề - Thảo luận về nó, áp dụng vào thực tế hay giải thích nó cho người khác Người năng động thường nói: ”Hãy thử xem sao”

 Dạng người học cẩn trọng: Người học cẩn trọng thích suy nghĩ một cách yên tĩnh Người học cẩn trọng thường nói ”Hãy nghĩ cho kỹ đã”

 Dạng người học tuần tự: Có khuynh hướng đạt được sự thông hiểu qua nhiều bước, theo các mạch suy luận hợp lý để tìm ra giải pháp

 Dạng người học đại khái: Người học dạng này có khuynh hướng học theo từng mảng kiến thức lớn, đọc tài liệu một cách ngẫu nhiên mà không xem xét sự liên kết giữa các sự kiện và khái niệm” Họ thường nói

“Làm đi, chỉ có thế thôi” Người học dạng này thường có thể giải quyết các vấn đề nhanh chóng hay đặt mọi thứ chung với nhau một cách lý tưởng khi họ đã nhìn ra vấn đề nhưng lại khó giải thích tại sao họ lại làm như thế Thông qua việc xác định đặc tính của người học, các nhà thiết kế dạy học sử dụng các nghiên cứu về tích cực hoá người học để xác định các biến số quan trọng ảnh hưởng đến quá trình dạy học

Tuy không tương tác với các chiến lược dạy học nhưng đặc tính người học ảnh hưởng đến các tình huống, bối cảnh và nội dung dạy học

2.3.2.2 Phát triển:

Phát triển là một quá trình chuyển đổi những chi tiết thiết kế thành các sản phẩm dạy học cụ thể Nó cũng được xem là giai đoạn tạo ra các sản phẩm công nghệ dùng cho dạy học Nó bao gồm cả phần cứng lẫn phần mềm, các tài liệu nghe nhìn

Giai đoạn này có thể được tổ chức thành 4 mảng: Công nghệ in, công nghệ nghe nhìn, công nghệ dựa trên máy tính và công nghệ tích hợp

TP HCM

Trang 36

Chương 2: Công nghệ giáo dục & Công nghệ dạy học

 Các tài liệu định hướng vào người học và thông tin có thể được

tổ chức và cấu trúc bởi người học

 Công nghệ nghe nhìn

Là cách tạo ra và phân phối tài liệu bằng cách sử dụng thiết bị cơ khí hay điện tử để trình bày các thông tin thính giác và thị giác Các tài liệu nghe nhìn thông thường là các phim, phần mềm dạy học, các slide trình chiếu…

Công nghệ nghe nhìn có một vai trò hết sức to lớn đối với giáo dục

từ đầu thế kỷ 19 cho đến thập niên 1980 khi máy tính trở nên phổ biến Ngày nay máy tính và các công nghệ dựa trên máy tính cũng đóng vai trò của công nghệ nghe nhìn

 Các công nghệ dựa trên máy tính:

Là cách thức để tạo ra hay chuyển giao các nguồn học liệu cần phải

xử lý bằng máy tính Nó bao gồm các dạng sau:

 Dạy học dựa trên máy tính- Computer-based instruction (CBI):

Hiện nay có hai định nghĩa phổ biến về học tập thông qua máy tính

1 Định nghĩa thứ nhất Học tập thông qua máy tính là chiến lược

dạy học mà ở đó môi trường học tập có sử dụng máy tính

2 Định nghĩa thứ hai Học tập thông qua máy tính có thể bao gồm

mô phỏng để trình diễn khái niệm cho cá nhân người học hoặc cho cả lớp; những chương trình học tập này cho phép người học thăm dò, nghiên cứu, khám phá hiện tượng trong môi trường ảo; những hướng dẫn

để dạy người học, cho phép người học thực hành các vấn đề điển hình và đánh giá năng lực của người học; các phần mềm để capture và phân tích

TP HCM

Trang 37

Dạy học với sự hỗ trợ của máy tính là chiến lược dạy học, mà theo

đó, máy tính được sử dụng để hỗ trợ cho giáo viên và người học thực hiện các nhiệm vụ dạy và học với chất lượng cao hơn

Hiện nay, người ta tạm chia ra làm 6 loại CAI: hướng dẫn, luyện tập/thực hành, trò chơi dạy học, mô hình, mô phỏng, giải quyết vấn đề

1 CAI hướng dẫn Đây là dạng phổ biến nhất, người học làm việc

một mình với chương trình phần mềm (một người một máy) Đặc trưng của bài học hướng dẫn là trình bày một số thông tin và sau đó kiểm tra lại hiểu biết của người học Nếu chương trình được thiết kế tốt, người học sẽ

có một hướng dẫn viên giỏi cho riêng mình Phần mềm Learn To Speak English là thuộc dạng CAI này, người học đọc bài, sau đó làm bài tập, bài kiểm tra và có thể lặp đi lặp lại bao nhiêu lần tuỳ ý, cho đến lúc đạt được kết quả yêu cầu thì sẽ chuyển sang bài khác

2 CAI luyện tập/thực hành So với các phương thức CAI khác,

luyện tập và thực hành cần ít nỗ lực để sản xuất hơn Phương thức này lặp đi lặp lại vấn đề cần trình bày với người học Loại CAI này thích hợp

để dạy thuật ngữ hoặc các bước của một quy trình

Đôi khi người ta thực hiện mô phỏng để cung cấp bài luyện tập và thực hành cho một nhiệm vụ cụ thể Người học lặp lại bài học cho tới khi

họ đạt đến mức năng lực mong muốn

Ví dụ dưới đây là CAI luyện tập để ôn tập về vị trí địa lý của các nước, phần mềm này có tên là Seterra

Hình 2.3: Phần mềm dạy địa lý Settera

TP HCM

Trang 38

Chương 2: Công nghệ giáo dục & Công nghệ dạy học

37

3 CAI trò chơi học tập Trò chơi ở đây không đơn thuần có ý

nghĩa giải trí, nhưng khi sử dụng nó thì sẽ có vấn đề được tạo ra và đó chính là vấn đề để học tập CAI trò chơi học tập thường dành cho trẻ em,

do đó, nên nó thường chứa đựng các yếu tố giải trí Ở loại CAI này, máy tính giống như các bảng để làm các phép tính và lưu giữ điểm số Người học có thể tập trung vào các sự kiện của trò chơi Tuy nhiên, không phải

dễ dàng để phân định rạch ròi giữa giải trí và học tập Vả lại, không phải lúc nào cũng cần phân định rạch ròi hai vấn đề đó Điểm mấu chốt là học trong khi đang chơi và chơi mà vẫn học

Hình dưới đây minh hoạ cho CAI trò chơi dạy học có tên Math Studio để dạy toán cho người học tiểu học Người học lựa chọn dạng toán và tập giải các bài toán được đưa ra, sau một số bài luyện tập (10 –

12 bài), tuỳ theo kết quả đạt được mà các em được phần thưởng khác nhau hoặc bị phạt, người học có thể luyện tập bao lâu tuỳ ý Phần mềm này được phân phối trên CD-ROM và có thể sử dụng trong lớp học với máy tính cá nhân hoặc với mạng LAN

Hình 2.4: Phần mềm dạy toán Math Studio

4 CAI mô hình Sử dụng hệ thống học tập trên cơ sở máy tính để

trình bày một hệ thống khác hay một quá trình, được gọi là mô hình Người học có thể thay đổi giá trị và thấy được ảnh hưởng, tác động của những thay đổi đó trên mô hình Nội dung thể hiện ở CAI này chủ yếu là trình tự và các quan hệ mang tính chất định tính, không nhất thiết phải chính xác về giá trị Có nhiều mức CAI mô hình, từ bài học trên lớp có

sự trợ giúp của máy tính đến các phần mềm chuyên dùng Ví dụ dưới đây

là một bài giảng có sự trợ giúp của một multimedia đơn giản để minh hoạ

mô hình về tương quan giữa từ trường và dòng điện

TP HCM

Trang 39

38

Hình 2.5: CAI mô hình

5 CAI mô phỏng Mô phỏng trình bày một trạng thái hoặc một

thiết bị với một mức độ trung thực nào đó Máy tính mô phỏng một chi tiết của một thiết bị, máy móc, hệ thống hoặc hệ thống con Điểm mạnh của mô phỏng là có thể học mà không làm hỏng thiết bị, không gây nguy hại cho người học hoặc người khác Mô phỏng có thể thao tác bằng tay, hay có thể bằng tay kết hợp với sự hỗ trợ của máy tính như ở dạng

“ghép” hoặc có thể mô phỏng thuần tuý với máy tính Mô phỏng học tập trên cơ sở máy tính tương phản với một dạng mô phỏng gần như thế, đó

là thiết bị mô phỏng

Hình vẽ dưới đây minh hoạ cho một CAI mô phỏng hoạt động của máy phát điện xoay chiều Người học có thể thay đổi mật độ từ trường xuyên qua khung dây, kích thước khung dây, tốc độ quay của khung dây

và đọc giá trị điện áp sinh ra trên các đồng hồ Thí nghiệm này có tên là Virtual AC Generator của bộ phần mềm Brad’s free Simulations (version 2.1) và có thể tải về từ trang web www.scienceshaware.com

TP HCM

Trang 40

Chương 2: Công nghệ giáo dục & Công nghệ dạy học

39

Hình 2.6: CAI mô phỏng

Người ta cũng phân mô phỏng ra làm 2 loại: mô phỏng sự kiện và

mô phỏng quy trình Đối với mô phỏng để minh hoạ sự kiện và mô phỏng thủ tục thường sẽ sử dụng hoạt hình (animation) và để làm ra loại

mô phỏng này thì kịch bản sư phạm là quan trọng nhất, vì hiện có nhiều công cụ authoring có sẵn các tiện ích về hoạt hình Khi cần mô phỏng chính xác sự kiện hoặc quy trình cần mức chính xác cao khi tương tác (ví

dụ để dạy thực hành), nhất là sử dụng máy tính kết hợp với các thiết bị bên ngoài, thì ngoài kịch bản sư phạm ra, người làm phần mềm cần khả năng lập trình giỏi

6 CAI giải quyết vấn đề Với CAI giải quyết vấn đề, người học tự

mình sử dụng máy tính như một công cụ để giải quyết một vấn đề (một công việc liên quan) Người ta có thể sử dụng bất kỳ phần mềm nào để tạo ra CAI giải quyết vấn đề, tuỳ theo kỹ năng cần huấn luyện cho người học CAI giải quyết vấn đề áp dụng rất tốt trong dạy học toán và khoa học, nó cũng giúp người học có cơ hội luyện tập và sử dụng máy tính tốt hơn cho công việc của họ

 Dạy học có sự quản lý bằng máy tính - Computer-managed instruction (CMI)

Là “việc sử dụng máy tính trong quá trình dạy học để theo dõi và ghi lại sự tiến bộ của người học, ghi lại trình tự dạy học Hầu hết các trình ứng dụng CMI có khả năng điều chỉnh tài liệu học tập cho phù hợp với khả năng của từng người học”

TP HCM

Ngày đăng: 21/10/2019, 12:57

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w